Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH DỊCH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH DỊCH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2023

1. KINH DỊCH – Mục lục

KINH DỊCH – ĐẠO CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê


MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
Lời nhà xuất bản
Tiểu sử học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)
Lời nói đầu


PHẦN I. GIỚI THIỆU
§I. NGUỒN GỐC KINH DỊCH VÀ NỘI DUNG PHẦN KINH
Nguồn gốc
Một sách bói mà thành sách triết
Truyền thuyết về Kinh Dịch
Ý kiến một số học giả ngày nay
Tiên thiên và Hậu thiên bát quái
Nội quái và Ngoại quái
Nội dung phần kinh

§II. NỘI DUNG PHẦN TRUYỆN
Ai viết Thập Dực?
Nội dung Thập Dực

I. Thoán truyện
II. Tượng Truyện
III. Hệ Từ truyện
IV. Văn Ngôn Truyện
V. Thuyết Quái Truyện
VI. Tự Quái Truyện
VII. Tạp Quái Truyện

§III. CÁC PHÁI DỊCH HỌC TỪ HÁN TỚI NAY
Hán
Từ Tam Quốc tới Ngũ Đại
Từ Tống đến Minh
Thanh
Hiện nay
Ở Việt Nam
Phụ lục
Dịch học ở phương Tây
Phát kiến của Leibniz
Phát kiến – đúng hơn một ý kiến – của nhà tâm lí học C.G. Jung

§IV. THUẬT NGỮ VÀ QUI TẮC CẦN NHỚ
Thuật ngữ
Qui tắc
Ý nghĩa các hào
Tương quan giữa các hào
Những hào ứng nhau
Những hào liền nhau
Hào làm chủ
So sánh các hào
Động và biến
Phép đoán quẻ
Môn đoán số bằng 64 quẻ Dịch
Cách giải thích tên quẻ

§V. ĐẠO TRỜI
Nguồn gốc vũ trụ: Từ nhị nguyên tiến tới nhất nguyên
Đạo âm dương
Dịch là giao dịch
Thành rồi hủy – Quẻ 12 tháng
Âm dương tương giao, tương thành
Âm dương tương cầu, tương ứng
Dịch là biến dịch
Dịch là bất dịch
Luật mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích
Luật phản phục, tuần hoàn
Định mệnh

§VI. VIỆC NGƯỜI
Thiên đạo với nhân đạo là một
Hình ảnh một xã hội trung chính trong 64 quẻ
Việc hàng ngày
Việc trị dân
Tu thân, đạo làm người
Chín đức để tu thân
Thêm vài đức nữa
Tổng hợp lại chỉ có hai chữ chính, trung
Chính, Trung gồm trong chữ Thời
Mỗi quẻ là một Thời
Mỗi hào là một thời trong quẻ
Dịch chỉ là thời
Dịch là đạo của người quân tử

PHẦN II. KINH VÀ TRUYỆN
LỜI NÓI ĐẦU - KINH – 64 QUẺ 

KINH THƯỢNG
1. Quẻ Thuần Càn                            
2. Quẻ Thuần Khôn
3. Quẻ Thủy Lôi Truân                      4. Quẻ Sơn Thủy Mông
5. Quẻ Thủy Thiên Nhu                    6. Quẻ Thiên Thủy Tụng
7. Quẻ Địa Thủy Sư                          8. Quẻ Thủy Địa Tỉ
9. Quẻ Phong Thiên Tiểu Súc          10. Quẻ Thiên Trạch Lí
11. Quẻ Địa Thiên Thái                     12. Quẻ Thiên Địa Bĩ
13. Quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân         14. Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu
15. Quẻ Địa Sơn Khiêm                    16. Quẻ Lôi Địa Dự
17. Quẻ Trạch Lôi Tùy                      18. Quẻ Sơn Phong Cổ
19. Quẻ Địa Trạch Lâm                     20. Quẻ Phong Địa Quán
21. Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp                  22. Quẻ Sơn Hỏa Bí
23. Quẻ Sơn Địa Bác                        24. Quẻ Địa Lôi Phục
25. Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng                26. Quẻ Sơn Thiên Đại Súc
27. Quẻ Sơn Lôi Di                            28. Quẻ Trạch Phong Đại Quá
29. Quẻ Thuần Khảm                        30. Quẻ Thuần Li

KINH HẠ.
31. Quẻ Trạch Sơn Hàm                   32. Quẻ Lôi Phong Hằng
33. Quẻ Thiên Sơn Độn                    34. Quẻ Lôi Thiên Đại Tráng
35. Quẻ Hỏa Địa Tấn                         36. Quẻ Địa Hỏa Minh Di
37. Quẻ Phong Hỏa Gia Nhân           38. Quẻ Hỏa Trạch Khuê
39. Quẻ Thủy Sơn Kiển                     40. Quẻ Lôi Thủy Giải
41. Quẻ Sơn Trạch Tổn                     42. Quẻ Phong Lôi Ích
43. Quẻ Trạch Thiên Quải                  44. Quẻ Thiên Phong Cấu
45. Quẻ Trạch Địa Tụy                       46. Quẻ Địa Phong Thăng
47. Quẻ Trạch Thủy Khốn                  48. Quẻ Thủy Phong Tỉnh
49. Quẻ Trạch Hỏa Cách                    50. Quẻ Hỏa Phong Đỉnh
51. Quẻ Thuần Chấn                          52. Quẻ Thuần Cấn
53. Quẻ Phong Sơn Tiệm                   54. Quẻ Lôi Trạch Qui Muội
55. Quẻ Lôi Hỏa Phong                      56. Quẻ Hỏa Sơn Lữ
57. Quẻ Thuần Tốn                            58. Quẻ Thuần Đoái
59. Quẻ Phong Thủy Hoán                 60. Quẻ Thủy Trạch Tiết
61. Quẻ Phong Trạch Trung Phu        62. Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá
63. Quẻ Thủy Hỏa Kí Tế                     64. Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế

2. KINH DỊCH – Vài lời thưa trước

 

Vài lời thưa trước

Cách đây vài năm, tôi thấy một anh bạn vừa đi làm về thì vội vàng như sắp đi đâu vậy. Tôi hỏi thì anh đáp ngắn gọn: “Đến nhà một ông thầy. Mình đang theo học Kinh Dịch.”

Sau đó tôi có hỏi anh ấy về “Kinh Dịch”. Anh nói là “Phức tạp lắm, e là học cả đời cũng chưa hiểu hết. Mà học nó thì phải có thầy giảng.”

Kinh Dịch khó hiểu như vậy sao? Vậy nó nói về bói toán hay nó là hệ thống triết học?


Trong lúc dò tìm thông tin về Kinh Dịch qua Internet, tôi tìm thấy quyển này, “Kinh dịch – Đạo của người quân tử”, ở trang vnThuQuan và cũng thấy eBook do Santseiya thực hiện. Nhưng xem lướt qua thì thấy bản này còn nhiều thiếu sót, nhất là thiếu Hán tự.

Vẫn mong muốn có một bản eBook tương đối rõ ràng, hoàn chỉnh để tìm hiểu. Nhưng làm sao để sửa các lỗi và những chỗ thiếu?

Sau đó tôi thấy anh Goldfish đăng mấy bài liên quan đến cuốn Kinh Dịch – Đạo của người quân tử (như bổ sung: một đoạn về phép nhị tiến của Leibniz, nguyên văn chữ Hán trong Hệ Từ truyện, bảng Tóm tắt ý nghĩa các quẻ, cách tìm một quẻ khi chỉ biết hình quẻ…), tôi liền gửi file.DOC – chuyển đổi từ file.PRC của Santseiya – để nhờ anh Goldfish hiệu chỉnh và bổ sung[1].

Trong eBook mới này, về mặt kỹ thuật, tôi cố gắng trình bày sao cho việc đọc tác phẩm này được dễ dàng hơn như đặt nhan đề các tiết mục lên đầu mỗi trang, tăng cường khả năng tìm kiếm các tiết mục (liên kết “Tìm” ở đầu mỗi trang, danh mục trong menu Contents), chép thêm một số hình quẻ…

Dù đã cố gắng, nhưng chúng tôi e là vẫn còn nhiều sai sót, rất mong các bạn góp ý.


Chân thành cảm ơn bạn Santseiya.

Trân trọng giới thiệu eBook này với các bạn.

16/02/2011
QuocSan.

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Kinh Dịch ra đời đã bao nghìn năm qua, nhiều nhà nghiên cứu Đông phương và Tây phương nói chung và các nhà nghiên cứu Trung Hoa nói riêng đều khẳng định đây là một công trình hiếm thấy trên thế giới.

Ở ta trước Cách Mạng Tháng Tám, Kinh Dịch đã được nhà nước đưa vào khoa trường, nó đã trở thành sách gối đầu giường của các nhà Nho.

3. PHẦN I. Chương I - NGUỒN GỐC

Bài 3

PHẦN I. GIỚI THIỆU

Chương I. NGUỒN GỐC KINH DỊCH VÀ NỘI DUNG PHẦN KINH

Nguồn gốc

Một sách bói mà thành sách triết


 

Khắp thế giới có lẽ không có bộ sách nào kì dị như bộ Kinh Dịch.

 

Nó là một trong ba bộ kinh cổ nhất của Trung Hoa, sau Kinh ThiKinh Thư, nhưng nguồn gốc của nó – tức bát quái – thì có thể sớm hơn vào cuối đời Ân, 1.200 năm trước Tây Lịch.

 

Nó không do một người viết mà do nhiều người góp sức trong một ngàn năm, từ Văn Vương nhà Chu mãi đến đầu đời Tây Hán nó mới có hình thức gần như hình thức ngày nay chúng ta được biết. Từ Tây Hán đến nay, trên 2.000 năm nữa, thời nào cũng có người tìm hiểu nó thêm, đem ý riêng của mình và tư tưởng của thời đại giọi vào nó, khiến cho ý nghĩa và công dụng của nó mỗi ngày một nhiều và một xa nguồn gốc.

 

Do đó, không thể gọi nó là tác phẩm của một nhà nào cả, không phải của Khổng gia cũng không phải của Lão gia, và Vũ Đồng, tác giả bộ Trung Quốc triết học đại cương (Thương vụ ấn thư quán) gọi nó là tác phẩm chung của một phái, phái Dịch học, mà những người trong phái nầy gồm nhiều triết gia xu hướng khác nhau.

 

Mới đầu nó chỉ là sách bói, tới cuối đời Chu thành một sách triết lí tổng hợp những tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa thời Tiên Tần; qua đời Hán nó bắt đầu có màu sắc tượng số học, muốn giải thích vũ trụ bằng biểu tượng và số mục, tới đời Ngũ Đại nó được dùng trong môn lí số, đời Tống nó thành lí học; ngày nay một số nhà bác học phương Tây như C.G Jung tâm lí gia nổi danh của Đức và Raymond de Becker (Pháp) muốn dùng nó để phân tích tiềm thức con người, coi nó là một phương pháp phân tâm học.

 

Điều kì dị nhất là môn “dịch học” nó chỉ dựng trên thuyết âm dương, trên một vạch liền  tượng trưng cho dương, một vạch đứt  tượng trưng cho âm, hai vạch đó chồng lên nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành ra tám hình bát quái, rồi tám hình bát quái này lại chồng lẫn lên nhau thành sáu mươi bốn hình mới: Lục thập tứ quái.

 

Dùng sáu mươi bốn hình này, người Trung Hoa diễn được tất cả các quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, từ những hiện tượng trên trời dưới đất, những luật thiên nhiên tới những đồ dùng, những công việc thường ngày như trị nước, ra quân, trị nhà, cưới hỏi, ăn uống, xử thế…

 

Các ông “Thánh” Trung Hoa đó quả thực có một sáng kiến mới mẻ, một sức tưởng tượng, suy luận lạ lùng, khiến người phương Tây ngạc nhiên và có người Âu (J. Lavier) đã dùng một vài quẻ để giải thích một vài hiện tượng khoa học, sự tiến triển của khoa học.

 

Sự kiện dùng hai vạch để giảng vũ trụ, xã hội đó thật ít ai quan niệm nổi, cho nên ngay người Trung Hoa đã tạo ra nhiều truyền thuyết để giải thích nguồn gốc Kinh Dịch.


Truyền thuyết về Kinh Dịch

 

Những truyền thuyết đó nhiều khi mâu thuẫn, vô lí, như huyền thoại, nhưng vì có nhiều người tin chắc hoặc “đành phải chấp nhận” vì không có thuyết nào hơn cho nên chúng ta cần biết qua, chứ đi sâu thì theo tôi, chỉ mất thì giờ vô ích.

 

1. Truyền thuyết vua Phục Hi tạo ra bát quái:

4. Chương II. NỘI DUNG PHẦN TRUYỆN

 

Chương II. NỘI DUNG PHẦN TRUYỆN


 

Ai viết Thập Dực?



Có lời đoán cho mỗi quẻ (Thoán Từ tức Quái Từ), và lời đoán cho mỗi hào (Hào Từ) rồi, thế là sách Chu Dịch hoàn thành. Người đời sau chỉ thêm những lời chú giải. Không có cuốn nào được nhiều người chú giải như cuốn đó. Tới đầu đời Thanh đã có trên một trăm bảy chục bản chú giải còn giữ được, nếu kể cả những bản đã thất lạc, chỉ còn lại cái tên thì con số phải gấp hai, gấp ba. Tiếp tục cho tới nay vẫn còn có người chú giải lại, có cả người Nhật, người Âu (Đức, Anh, Pháp…), người Việt mình nữa. Và chắc chắn sau này sẽ còn thêm nhiều. Ai cũng muốn xen ý kiến riêng của mình, của thời đại mình vô bộ Kinh đó. 

Quan trọng nhất vẫn là chú giải đầu tiên, tức Thập Dực, cũng gọi là Thập Truyện.

Đại đa số các học giả Trung Hoa thời xưa cho rằng: Thập Dực là công trình của Khổng Tử. Sách Hán thư – phần Nghệ văn chí, bảo “Dịch đạo thâm hĩ nhân canh tam thánh, thế lịch tam cổ”. Nghĩa là: Đạo Dịch rất thâm thúy, là công của ba vị thánh, trải ba đời mới xong. Ba vị thánh đó là Phục Hi, Văn Vương, Khổng Tử; ba đời là đời Thượng cổ (Phục Hi), đời Trung cổ (Văn Vương) đời Hạ cổ (Khổng Tử). (Hán thư cho công việc viết quái từ và Hào Từ đều là của Văn Vương; nhưng thuyết Chu Công viết Hào Từ được nhiều người chấp nhận hơn; và các thầy bói ngày nay khi bói đều khấn cả bốn vị Thánh: Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử).

 

Nhưng Khổng Tử có thực là người viết Thập Dực không? Điều đó còn đáng ngờ.

Trong tập Khổng Tử, tôi đã dẫn nhiều chứng cớ rằng muốn biết đời và tư tưởng Khổng Tử thì chỉ nên căn cứ vào Luận Ngữ, những sách khác đều không đáng tin.

Trong Luận Ngữ chỉ có hai bài nhắc tới Kinh Dịch: bài Tử Lộ – 22, Khổng Tử dẫn một Hào Từ trong quẻ Hằng; và bài Thuật nhi – 16, Khổng Tử nói: “Gia ngã sổ niên, ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ” (Cho ta sống thêm ít năm nữa, tới 50 tuổi để nghiên cứu Kinh Dịch, thì có thể không lầm lỗi lớn).


Bài sau, có người cho là chép sai, hai chữ “ngũ thập” 五十 chính là chữ “tốt” , chữ dịch chính là chữ diệc . Và phải chấm câu như sau: “Gia ngã sổ niên tốt dĩ học, diệc khả dĩ vô đại quá hĩ”, dịch là: “Cho ta sống thêm ít năm nữa để học thì cũng có thể không lầm lỗi lớn”[21].


Dù chép đúng chăng nữa, thì bài đó cũng như bài trên chỉ đủ chứng tỏ rằng Khổng Tử có đọc Kinh Dịch, chứ không có gì chắc chắn rằng ông đã viết về Kinh Dịch.

5. Chương III. CÁC PHÁI DỊCH HỌC TỪ HÁN TỚI NAY

 

Chương III. CÁC PHÁI DỊCH HỌC TỪ HÁN TỚI NAY


 

Vì Dịch học chỉ xây dựng trên 64 quẻ do hai vạch âm, dương chồng lên nhau, đổi chỗ cho nhau ba bốn lần mà thành, cho nên nó có một sức hấp dẫn lạ lùng, ai cũng tò mò muốn biết, mà những người có óc tưởng tượng dồi dào có thể dễ dàng cho mỗi quẻ một ý nghĩa mới, giảng mỗi quẻ theo vũ trụ quan, nhân sinh quan của mình, ý nghĩa đó càng huyền bí thì lại càng có vẻ thâm thúy; do đó mà không một danh Nho nào từ đời Hán đến đời Thanh không tìm hiểu Kinh Dịch, hiệu đính, chú thích và một số đã tạo cho nó một nội dung mới khác xa nội dung thời Văn Vương, Chu Công. Nó gần thành một thứ khoa học biến hóa theo thời đại.

 

Số sách viết về Kinh Dịch trong hơn 2.000 năm nay rất nhiều, không ai đọc hết được; nhưng tài liệu chúng tôi có về các phái Dịch học thì rất ít, chỉ vài chục trang, cho nên chúng tôi chỉ có thể phác dưới đây vài nét chính về lịch sử Dịch học trong mỗi thời đại thôi.


 

Hán


 Ở trên tôi đã nói Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt hết các sách và triết học, văn học, sử học… chỉ cho giữ những sách dạy nghề, mà môn bói thời đó là một nghề được trọng, cho nên Kinh Dịch không bị hủy; một số học giả nhân cơ hội đó nghiên cứu Kinh Dịch lén gài vô các “Truyện” một số tư tưởng của Nho, Lão hoặc của chính họ để giải thích Kinh Dịch. Nhờ vậy mà qua đời Hán, Dịch học rất thịnh.

 

Đại khái có thể chia làm hai phái.

 

     Phái thứ nhất gồm: Phí Trực, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Tiêu Diên Thọ, theo truyền thống của Nho giáo, vẫn coi Dịch là sách bói và luân lí mà phát triển thêm.

     Phái thứ nhì chỉ có Kinh Phòng là trứ danh, lập ra môn học “Tượng số”.

 

Phí Trực sắp đặt lại Kinh Dịch, (như cuối chương trên tôi đã nói) giải thích Dịch theo tư tưởng của Nho gia. Ông truyền cho Mã Dung, Mã Dung lại truyền cho Trịnh Huyền.

 

Trịnh Huyền dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc để giảng Kinh Dịch, cho nên rất chú trọng về học vấn, ông chú giải thích tinh vi, dẫn chứng kĩ lưỡng. Ông còn coi mười hai hào của quẻ Càn và quẻ Khôn là 12 thần tức 12 ngôi sao vào hàng thứ (hành tinh?), muốn dùng Dịch để lập một thuyết về thiên văn học, nhưng sáng kiến đó không có giá trị, ít người theo.

 

Tuân Sảng đưa ra thuyết “Thăng, giáng” bảo “hào 2 của quẻ Càn nên thăng lên hào 5 của quẻ Khôn” v.v… Hào dương của quẻ Càn mà thăng lên ở quẻ Khôn thì gọi là “Vân hành” (mây bay); hào âm của Khôn giáng xuống ở quẻ Càn thì gọi là “Vũ thí” (mưa rơi).

 

Thuyết đó hẹp hòi, cũng không ai theo.

6. Chương IV. THUẬT NGỮ VÀ QUI TẮC CẦN NHỚ Thuật ngữ

 

6. Chương IV. THUẬT NGỮ VÀ QUI TẮC CẦN NHỚ 


Thuật ngữ

Dịch là một môn học có một số thuật ngữ và qui tắc mà chúng ta phải nhớ cũng như nhớ các định nghĩa, định đề của môn hình học.

Trong mấy chương trên, độc giả đã gặp vài ba chục thuật ngữ mà tôi xin kể lại dưới đây: 

Lưỡng Nghi

Tứ tượng

Bát quái: Càn, Khôn, Li, Khảm, Cấn, Đoái, Chấn, Tốn

Tiên thiên bát quái 

Hậu thiên bát quái 

Đơn quái, Trùng quái, Thuần quái, Hỗ quái, Nội quái, Ngoại quái

 

     Cách vạch và xét trùng quái: từ dưới lên.

 

     Cách gọi tên thành phần trùng quái: từ trên xuống. 

Hào:

     Dương (cũng gọi là hào thực)

 Âm (cũng gọi là hào hư)

     Lẻ (tiếng Hán gọi là cơ)

     Chẵn (tiếng Hán gọi là ngẫu)

     Sơ.

     Thượng.

 

Bạn lại nên nhớ thế nào là: Hà đồ Lạc Thư Thoán (soán) Tượng Từ (như Thoán Từ) 

Truyện (như đại tượng, Tiểu Tượng truyện)

Có tất cả mấy truyện, tên và nội dung mỗi truyện.


Tôi đã để trắng cả hàng, sau mỗi thuật ngữ, để nếu bạn quên nghĩa thì tìm lại ở những trang trên rồi hoặc ghi số trang hoặc tóm tắt định nghĩa vào chỗ để trắng, cho dễ tìm, dễ nhớ.


 

Trong chương này tôi sẽ giảng thêm một số thuật ngữ và ít qui tắc chính của môn Dịch học.

 

Hào cửu – Hào lục:

 

Trong một trùng quái, hào dương (vạch liền) còn gọi là hào cửu []. Hào âm (vạch đứt) còn gọi là hào lục [].

 

Ví dụ: quẻ Thủy hỏa Kí tế và quẻ Hỏa thủy Vị tế:

7. Chương V. ĐẠO TRỜI

 

7. Chương V. ĐẠO TRỜI


 

Chu Dịch vốn là sách bói. Nếu chỉ xét phần Kinh – Thoán Từ (tức quái từ) và Hào Từ thì không thấy có tư tưởng gì quan trọng về đạo lí cả. Phần đó là tác phẩm cuối đời Ân, đầu đời Chu.

 

Phải đợi sáu, bảy trăm năm sau từ cuối đời Xuân Thu trở đi suốt thời Chiến Quốc, mới có những triết gia, học giả lần lượt viết nên phần Truyện để giải thích phần Kinh và qua đời Hán thì phần Truyện mới có hình thức như ngày nay. Những tác giả phần Truyện có đem tư tưởng của Nho, Lão gài, “cột” vào phần Kinh, làm cho Chu Dịch thành một tác phẩm triết lí có đủ vũ trụ quan, nhân sinh quan và có thể coi là một tổng hợp các tư tưởng phổ biến của Trung Hoa thời Tiên Tần.

 

Trong chương này chúng tôi xét về vũ trụ quan, để nhân sinh quan lại chương sau. Chúng tôi sẽ căn cứ vào Hệ Từ truyện, Thoán truyện, Tượng truyện, Văn Ngôn truyện, bốn truyện mà chúng tôi cho là quan trọng nhất.


 

Nguồn gốc vũ trụ: Từ nhị nguyên tiến tới nhất nguyên


 

Chu Dịch hoàn toàn xây dựng trên quan niệm âm dương, sáu mươi bốn quẻ chỉ do hai vạch âm và dương (đứt và liền) chồng lên nhau, thay đổi cho nhau mà thành.

8. Chương VI. VIỆC NGƯỜI

 

8. Chương VI. VIỆC NGƯỜI


 

Thiên đạo với nhân đạo là một


 

Các học giả phương Tây đều nhận thấy triết học Trung Quốc có đặc điểm này: cho vũ trụ vạn vật cũng một thể. Tư tưởng đó là tư tưởng căn bản của dân tộc Trung Hoa mà triết gia nào: Nho, Lão, hay Mặc cũng chấp nhận[47].

 

Đại biểu vũ trụ là trời, đất; đại biểu vạn vật là người. Trời, đất, người cùng một thể, cho nên người được sắp ngang hàng với trời đất, thành một bộ “tam tài” (ba ngôi). Trời (đất) với người quan hệ mật thiết với nhau (thiên nhân tương dữ); phép tắc của trời đất làm mô phạm cho hành vi của người, thiên đạo tức là nhân đạo; hơn nữa, trời với người còn tương cảm tương ứng với nhau, cho nên người Trung Hoa thời xưa rất coi trọng phép bói, mà quan “Chúc” coi về thiên sự (cầu nguyện trời ban phúc lành cho dân, xem tượng trời, làm lịch để ứng dụng vào nhân sự, coi việc bốc phệ để đoán việc cát hung) luôn luôn làm cố vấn cho các vua chúa, chức ngang với quan “Sử” coi về nhân sự.

 

Thuyết “Thiên nhân tương dữ” đó chắc đã có từ đời Thương hay trước nữa, và tôi đoán rằng nó với thuyết âm dương phải có liên quan với nhau. Cả vũ trụ chỉ là âm dương, trời là dương, đất là âm, trai là dương, gái là âm, như vậy là “nhất thể” rồi; mà loài người bị luật âm dương chi phối, tức luật tự nhiên của trời đất chi phối, thì thiên đạo tức là nhân đạo.

 

Hệ Từ hạ, Ch.10 bảo trong Dịch “gồm cả đạo trời, đạo người, đạo đất, thế là đủ tam tài; rồi nhân hai lên thành sáu hào (dịch… hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên; kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố viết lục). Ý muốn nói mỗi quẻ gồm sáu hào thì hào 1, 2 là đất; 3, 4 là người; 5, 6 là trời.

 

Thuyết Quái truyện Ch.2 nói rõ thêm, “cho Dịch lập đạo trời là âm dương đạo đất là cứng mềm, đạo người là nhân nghĩa” (lập thiên chi đạo viết âm dữ dương, lập địa chi đạo viết cương dữ nhu, lập nhân chi đạo viết nhân dữ nghĩa)…

KINH THƯỢNG. 1. Quẻ Thuần Càn

Quẻ Thuần Càn

 

9. PHẦN II. KINH VÀ TRUYỆN


 

LỜI NÓI ĐẦU


 

Trong phần II này tôi sẽ chép chữ Hán, phiên âm và dịch trọn phần Kinh gồm Thoán Từ tức lời đoán mỗi quẻ của Văn Vương; và Hào Từ, tức lời đoán mỗi hào của Chu Công. 

Thoán Từ và Hào Từ rất gọn, chỉ ghi lại ít chữ, như một thứ “aide mémoire” cho người đọc dễ nhớ thôi (chẳng hạn Thoán Từ quẻ Trung phu số 61[52], Hào Từ hào 4 quẻ Bí số 22[53]); vì vậy rất tối nghĩa, phải có lời giảng mới hiểu được, và dưới mỗi lời dịch, tôi sẽ thêm lời giảng. 

Để giảng Thoán Từ, dĩ nhiên tôi phải căn cứ trước hết vào Thoán truyệnĐại Tượng truyện; để giảng Hào Từ, tôi căn cứ trước hết vào Tiểu Tượng truyện. Tôi sẽ không dịch trọn Thoán truyện và Tượng Truyện (Đại và Tiểu) mà chỉ tóm tắt ý nghĩa và trích dẫn một số câu quan trọng cho xen vào lời giảng. 

Riêng về hai quẻ Càn và Khôn, tôi trích dẫn thêm Văn Ngôn truyện, và trong một số quẻ khác, tôi cũng lác đác dùng lời bình luận trong Hệ Từ truyện mà tôi sẽ dịch trọn và đặt sau phần Kinh. Tôi lại tham khảo thêm những chú giải của Chu Hi, lời giảng của Phan Bội Châu, đôi khi của James Legge, của Richard Wilhelm, của Cao Hanh, Nghiêm Linh Phong và vài nhà khác nữa. 

Đầu mỗi quẻ tôi dẫn một câu trong Tự quái truyện cho biết vì lí do gì cố nhân sắp quẻ đó tiếp theo quẻ trước, nói cách khác, là cho biết sự liên lạc giữa ý của quẻ đó và quẻ trước.

 

Tóm lại, như vậy là trong bảy truyện: Thoán truyện, Tượng Truyện, Hệ Từ truyện, Văn Ngôn truyện, Tự quái truyện, Thuyết quái truyện, Tạp quái truyện, tôi dùng năm truyện đầu để giảng phần kinh, cho xen vào phần kinh, nhưng chỉ dịch trọn Hệ Từ truyện thôi; còn hai truyện Thuyết quái và Tạp quái thì không dùng tới. 

Chủ trương của tôi giống chủ trương của cụ Phan Bội Châu, chú trọng về ý nghĩa triết lí, nhất là về nhân sinh quan, mà coi nhẹ phần bói toán, phần huyền bí. Như vậy là phiến diện, không hợp với bản ý của những người đầu tiên đặt ra Kinh Dịch, nhưng hợp với tư tưởng của Dịch học phái, tức của một số học giả chịu ảnh hưởng của Nho, Lão ở thời Chiến Quốc và đã soạn Thoán truyện, Tượng Truyện, Văn Ngôn truyện, một phần Hệ Từ truyện làm cho Kinh Dịch thành một tác phẩm triết lí quan trọng ngang với các kinh khác thời Tiên Tần; vì nếu nó chỉ là một sách bói như hồi đầu, thì dân tộc Trung Hoa tất không gọi nó là một kinh và coi nó là một môn học trong các kì thi cho mãi tới cuối thế kỉ trước. 

Tôi không có tham vọng nghiên cứu Kinh Dịch, chỉ tìm hiểu được tới đâu rán chép lại tới đấy một cách gọn và sáng để giúp các bạn không biết chữ Hán mà muốn đọc Kinh Dịch. 

Bản tôi tham khảo nhiều nhất là bản của cụ Phan Bội Châu (Khai Trí – 1969) mà tôi cho là bản giảng kĩ nhất từ trước đến nay. Chỉ tiếc cụ có lối giảng của một thầy đồ trước một nhóm môn sinh có vốn Hán học kha khá rồi, cho nên hơi rườm rà và nhiều bạn trẻ ngày nay không hiểu được hết, nhất là bản của nhà Khai Trí để sót nhiều lỗi in quá, mà không đính chính nên càng khó hiểu. Phần dịch này của tôi có thể nói là chỉ diễn lại phần giảng của cụ cho gọn hơn dễ hiểu, dễ nhớ, và thêm vài ý kiến của các nhà khác, thế thôi.


 

KINH – 64 QUẺ


DỊCH VÀ GIẢNG

Số của mỗi quẻ trong phần dịch này không phải là số trong phương vị 64 quẻ của Phục Hi.

 

KINH THƯỢNG


(Gồm 30 quẻ đầu)


 

1. Quẻ Thuần Càn

Nội quái, ngoại quái đều là Càn



Thoán Từ


 

乾:元,亨,利,貞。

Càn: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.

 

Dịch: Càn (có bốn đức – đặc tính): Đầu tiên và lớn, hanh thông, thích đáng, chính và bền.

 

Giảng: Văn Vương cho rằng bói được quẻ này thì rất tốt, hanh thông, có lợi và tất giữ vững được cho tới lúc cuối cùng.

 

Về sau, tác giả Thoán truyện (tương truyền là Khổng Tử, nhưng không chắc), cho quẻ này một ý nghĩa về vũ trụ, Càn gồm sáu hào đều là dương cả, có nghĩa rất cương kiện, tượng trưng cho trời.

 

Trời có đức “nguyên” vì là nguồn gốc của vạn vật; có đức “hanh” vì làm ra mây, mưa để cho vạn vật sinh trưởng đến vô cùng, có đức “lợi” và “trinh” vì biến hóa, khiến cho vật gì cũng giữ được bẩm tính được nguyên khí cho thái hòa (cực hòa).

 

Bậc thánh nhân đứng đầu muôn vật, theo đạo Càn thì thiên hạ bình an vô sự.

 

Tác giả Văn Ngôn truyện cho quẻ này thêm một ý nghĩa nữa về nhân sinh, đạo đức. Càn tượng trưng cho người quân tử. Người quân tử có bốn đức. 

Nhân, đức lớn nhất, gốc của lòng người, tức như đức “nguyên” của trời. 

Lễ, là hợp với đạo lí, hợp với đạo lí thì hanh thông, cho nên lễ tức như đức “hanh” của trời. 

Nghĩa, đức này làm cho mọi người được vui vẻ sung sướng, tức như đức “lợi” của trời.

Trí, là sáng suốt, biết rõ thị phị, có biết thị phi mới làm được mọi việc cho nên nó là đức cốt cán, cũng như đức “trinh” – chính và bền – của trời.

 

Nguyên, hanh, lợi, trinh mà giảng thành nhân, lễ, nghĩa, trí, (bốn đức chính của đạo Nho) thì rõ là chịu ảnh hưởng nặng của Nho gia mà ý nghĩa và công dụng của Dịch đã thay đổi khá nhiều rồi.

 

Trở lên trên là cách hiểu của tiên Nho, các nhà Nho chính thống. Còn vài cách hiểu “mới mẻ” hơn của một số học giả gần đây, như Phùng Hữu Lan, Tào Thăng, Cao Hanh mà ở phần I, Chương IV, chúng tôi đã ghi lại rồi.


 

Hào Từ


 

Từ đây trở xuống là Hào Từ, lời Chu Công đoán về mỗi hào.


 

 

初九:潛龍勿用。

Sơ cửu: Tiềm long vật dụng.

 

Dịch: Hào 1, dương: Rồng còn ẩn náu, chưa (đem tài ra) dùng được.

 

Giảng: Người Trung Hoa cho con rồng là thần vật, rất biến hóa, lúc ẩn lúc hiện, mà lại thuộc về loài dương, cho nên Chu Công dùng nó để cho ta dễ thấy ý nghĩa các hào – đều là dương cả – trong quẻ Càn.

 

Hào 1, ở dưới thấp nhất, cho nên ví nó với con rồng còn nấp ở dưới vực sâu, chưa thể làm mây biến hóa được, còn phải đợi thời. Ý nghĩa rất rõ. Tiểu Tượng truyện không giảng gì thêm. Còn Văn Ngôn truyện thì bàn rộng ra về cách xử sự của bậc thánh nhân, người quân tử: chưa gặp thời thì nên tu đức, luyện tài, không vì thế tục mà đổi chí, không cầu danh, ở ẩn, không ai biết mình cũng không buồn, không gì lay chuyển được chí của mình.


 

 

九二:見龍在田。利見大人。

Cửu nhị: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân.

 

Dịch: Hào 2, dương: Rồng đã hiện ở cánh đồng, ra mắt đại nhân thì lợi.

 

Giảng: Hào 2 là dương, ở giữa nội quái là đắc trung, như vậy là gặp thời, tài đức giúp ích cho đời được: lại thêm hào ứng với nó là hào 5, cũng là dương, cũng đắc trung (vì ở giữa ngoại quái); cho nên hào 2 có thể ví với con rồng đã rời vực mà hiện lên cánh đồng; mà cũng như người có tài đức gặp thời, nên kiếm người đồng tâm đồng đức với mình mà làm việc (lợi kiến đại nhân).

 

Văn Ngôn: khuyên người có tài đức gặp thời này nên giữ đức tín, đức thận trọng trong ngôn, hành, tránh tà bậy, giữ lòng thành, giúp đời mà không khoe công, như vậy là giữ được đức trung chính của hào 2.


 

 

九三:君子終日乾乾,夕惕若。厲,無咎。

Cửu tam: Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược. Lệ, vô cữu.

 

Dịch: Hào 3, dương: Người quân tử mỗi ngày hăng hái tự cường, đến tối vẫn còn thận trọng như lo sợ.

 

Nguy hiểm, nhưng không tội lỗi.

 

Giảng: Hào 3 là dương lại ở vị ngôi dương, như vậy là rất cương, mà không đắc trung. Hơn nữa, nó ở trên cùng nội quái mà chưa tiến lên ngoại quái, nghĩa là ở một chỗ chông chênh, rất khó xử, cho nên bảo là nguy hiểm (lệ). Nhưng nó vẫn là quân tử, có đức tự cường không ngừng, rất thận trọng, lúc nào cũng như lo sợ, cho nên tuy gặp thời nguy mà cũng không đến nỗi tội lỗi.

 

Văn Ngôn bàn thêm: người quân tử giữ trung tín để tiến đức; sửa lời nói (lập ngôn), vững lòng thành để lập sự nghiệp… nhờ vậy mà thấu được đạo lí, giữ được điều nghĩa làm được sự nghiệp tới cùng, ở địa vị cao mà không kiêu, địa vị thấp mà không lo (coi toàn văn ở phần I, Chương II…). Lời khuyên đó cũng tựa như lời khuyên ở hào 2.


 

 

九四:或躍,在淵,無咎。

Cửu tứ: Hoặc dược, tại uyên, vô cữu.

 

Dịch: Hào 4, dương: Như con rồng có khi bay nhảy, có khi nằm trong vực (biết tùy thời như thế thì) không lầm lỗi. 

(Có người dịch là như con rồng có khi bay nhảy trên vực sâu, không lầm lỗi).

 

Giảng: Hào 4 là dương ở vị (ngôi) âm, như vậy là bất chính và bất trung; nó lại cũng như hào 3 ở địa vị chông chênh, mới rời nội quái tiến lên ngoại quái, tiến chưa chắc đã tốt mà thoái thì dở dang. Cho nên phải thận trọng xem xét thời cơ, nên tiến thì tiến (như con rồng bay nhảy) nếu không thì chờ thời (con rồng nằm trong vực), cho nên Chu Công dùng chữ “hoặc”: không nhất định.

 

Tuy bất chính, bất trung nhưng nó có chất cương kiện (hào dương trong quẻ Càn) nên cũng như hào 3 là bậc quân tử, biết giữ tư cách, biết tùy thời, và rốt cuộc không có lỗi.


Hào này chỉ khác hào 3 ở chỗ nó có thể tiến được, còn hào 3 chưa thể tiến được.

 

Văn Ngôn không giảng gì khác, chỉ khuyên người quân tử tiến đức tu nghiệp, chuẩn bị cho kịp thời để có lúc ra giúp đời.


 

 

九五:飛龍在天,利見大人。

Cửu ngũ: Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân.

 

Dịch: Hào 5, dương: Rồng bay trên trời, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi.

 

Giảng: Hào 5 là dương ở vị (ngôi) dương cao nhất trong quẻ lại đắc trung (ở giữa ngoại quái), như vậy là có đủ những điều tốt, vừa cao quí vừa chính trung. Nó lại được hào 2 ở dưới ứng với nó, mà hào 2 cũng cương kiện, đắc trung như nó. Nó là hào tốt nhất trong quẻ, cho nên ví nó với con rồng bay trên trời, và ngôi của nó là ngôi chí tôn (ngôi vua).

 

Chữ đại nhân (người có tài đức) trỏ cả hào 5 lẫn hào 2: hai đại nhân ở hai hào đó nên gặp nhau, hợp lực với nhau thì có lợi.

 

Văn Ngôn giảng thêm rất rõ và hay về bốn chữ lợi kiến đại nhân: “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; nước chảy xuống thấp, lửa bén tới chỗ khô; mây bay theo rồng, gió bay theo cọp, thánh nhân xuất hiện mà vạn vật đều trông vào (…). Mọi vật đều theo loài của nó” (Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; thủy lưu thấp, hỏa tựu táo, vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đổ (…) các tùy kì loại dã).


 

 

上九:亢龍有悔。

Thượng cửu: Kháng long hữu hối.

 

Dịch: Hào trên cùng, dương: Rồng lên cao quá, có hối hận.

 

Giảng: hào dương này ở trên cao của quẻ, cương kiện đến cùng rồi, như con rồng bay lên cao quá, không xuống được nữa, nếu vẫn còn hành động thì sẽ có điều đáng tiếc, vì lẻ thịnh quá thì tất suy, đầy thì không được lâu, (doanh bất khả cửu).

 

Văn Ngôn: giảng thêm: Hào 5 địa vị rất quí (vì ở trên cao hơn hết) nhưng không có ngôi, cao mà không có dân (vì hào 5 là vua mới có dân), các người hiền ở dưới mình mà không giúp đỡ mình (vì hào 3 tuy ứng với hào 6 nhưng lại ở nội quái, mà giữa hào 3 và hào 6 có hào 5 là vua làm chủ hào 3 rồi) cho nên hào 6 mà hoạt động thì tất có điều phải ăn năn. (Lời giảng trong Văn Ngôn, tác giả Hệ Từ truyện dẫn lại trong thiên Thượng, Chương VIII, Tiết 9).

 

Tóm lại thời của hào này là thời không nên hoạt động gì cả, sớm rút lui đi thì còn giữ được tư cách người quân tử.


 

7


 

用九:見群龍無首。吉。

Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ. Cát.

 

Dịch: (nghĩa từng chữ) Dùng hào dương: thấy bầy rồng không có đầu, tốt.

 

Chú thích: Chu Hi giảng: Gặp quẻ Càn này mà sáu hào (dương) đều biến (ra âm) cả, tức là cương mà biến ra nhu, thì tốt. Thánh nhân dùng cái tượng bầy rồng (sáu hào dương) mà không đầu (tức là nhu) để diễn ý đó.

 

J. Legge, R. Wilhelm đều hiểu theo Chu Hi mà không giảng gì thêm. Duy Phan Bội Châu đưa thêm ý kiến riêng, đại ý bảo “Dụng cửu” không phải là một hào, nhưng theo Hào Từ của Chu Công thì cũng giả thiết là một hào. “Quần long vô thủ” là sáu hào dương đều biến cả. Con rồng hoạt động khác thường là cốt cái đầu. Sáu hào dương đã biến (ra âm) hết thì không còn hình tích hoạt động nữa, cho nên gọi là rồng không đầu.

 

Nhưng cụ cũng nhận rằng đó chỉ là mặt chữ mà giải thích nghĩa đen thôi, chứ cái “ý thâm diệu của thánh nhân thì sâu xa huyền bí quá”. Nghĩa là lời kinh tối nghĩa quá, cụ không hiểu nổi.

 

     Cao Hanh hiểu khác, bảo “bầy rồng không đầu, nghĩa là bầy rồng đã bay lên trời, đầu bị mây che, nên chỉ thấy mình và đuôi. Đó là cái tượng rồng cưỡi mây lên trời, tốt”.

 

Cách giảng đó dễ hiểu, nhưng hai chữ “dụng cửu” có nghĩa gì đây, phải là một “hào” mới không, thì ông không cho biết. Cứ theo cách ông giảng “dụng lục” của quẻ Khôn – coi quẻ sau – cho “dụng lục” là một hào, thì chắc ông cũng cho “dụng cửu” của quẻ Càn là một hào. Nếu vậy thì “hào” này ra sao? Có phải là cả sáu hào của quẻ đều từ dương biến ra âm, như Chu Hi giảng không?

 

     Tào Thăng giải nghĩa khác nữa: “Cửu” là hào dương biến; “dụng” là lợi dụng, “vô thủ” là không có đầu mối. Đạo Càn (quần long) vận hành, biến hóa kì diệu, vạn vật nhờ đó mà thành công, nhưng cái lí do nó không thể thấy được (vô thủ), hễ dùng nó hợp thời thì tốt.

   Vậy cơ hồ Tào không cho “Dụng cửu” là một hào, mà chỉ có nghĩa là cách dùng quẻ Càn.

     Chu Tuấn Thanh trong “Lục thập tứ quái kinh giải” – Cổ tịch xuất bản xã – đưa ra một cách giải nữa cho “Dụng cửu” là tóm lại nghĩa của sáu hào thuần dương. Thuần dương là cái đức của trời, là gốc của vạn vật không có gì ở trước nó được, ở trước nó thì xấu, theo sau nó thì tốt. Đó là ý nghĩa của hai chữ “vô thủ”. Nghĩa này theo tôi, khó chấp nhận được.

 

     Nghiêm Linh Phong trong “Chu Dịch tân luận” – Chính trung thư cục – dẫn nhiều thuyết nữa.

 

Thuyết của Vương An Thạch, Đô Khiết, cho câu: “dụng cửu: Kiến quần long vô thủ, cát” không phải là một tiết riêng mà chỉ là tiếp theo tiết Thượng cửu”

 

Thuyết của Ngô Nhân Kiệt, bảo các bản Dịch thời cổ, cho đến đời Phi Trực nhà Hán không có hai chữ “Dụng cửu”, đời sau thêm vào v.v…

 

Tóm lại câu “Dụng cửu…” này, tới nay vẫn còn là một bí mật, không ai hiểu rõ nghĩa, toàn là đoán phỏng. Nếu coi nó là một hào thứ bảy tức trường hợp cả 6 quẻ Càn biến một lần ra âm hết, thì trường hợp đó cả ức triệu lần chưa chắc đã xảy ra một[54], các sách bói, đoán số không khi nào dùng nó cả. Về triết lí, thì ý nghĩa của nó chẳng có gì đặc biệt, cũng chỉ là biết cương mà cũng biết nhu, hợp thời mới tốt.


 

Phụ lục


 

Dưới đây chúng tôi trích dẫn vài cách giải hào 1 quẻ Càn của một số học giả gần đây, để độc giả so sánh.

 

     Chu Tuấn Thanh (sách đã dẫn): 

“Rồng có 81 cái vảy! đủ chín lần chín, cho nên dùng nó để tượng trưng hào dương. Rồng tới tiết xuân phân thì lên trời, tiết thu phân thì nấp dưới vực. Hào dương ở vị trí 1, tức là tháng giêng theo lịch nhà Chu, tháng tí. Khí dương lúc đó mới động ở suối vàng (hoàng tuyền) chưa manh nha, còn tiềm phục, như người có thánh đức ở giữa đám người ngu… cho nên chưa dùng được, tài đức chưa thi thố được”.

 

     Tào Thăng (sách đã dẫn):

“Người thời cổ thấy con rồng khéo biến hóa, cho nó là thần kì, dùng nó để đại biểu năng lực. Nếu lấy chữ “long” (rồng) làm chữ “năng” (lực) mà giảng thì con rồng ở dưới vực không dùng được, vì năng lực nó còn tiềm phục, chưa hiện, chưa sinh tác dụng được (…).” 

Dùng cái phép của hào mà giảng thì hào 1 ở dưới hào 2, hào 2 chưa động thì hào 1 không thể động trước. Hào 1 biến động quẻ Càn này thành quẻ Cấu (trên là Thiên, dưới là Phong) thì cũng chỉ là mới gặp “ở âm” (?) mà thôi, cho nên bảo là rồng còn ẩn náu, chưa dùng được (Cấu có nghĩa là gặp).

 

     Cao Hanh (sách đã dẫn). Tôi chỉ trích câu cuối:

“Con rồng còn ẩn ở dưới vực mà không hiện, có cái “tượng” tĩnh mà không động. Bói được quẻ này thì không nên thi hành”. 

Chúng tôi không biết các học giả Trung Hoa gần đây còn những cách giảng nào mới mẻ hơn không, chứ ba cách trên không kĩ gì hơn cách của người xưa, mà cũng chẳng phát huy thêm được gì.


Chú thích 9

           [52]. Thoán Từ quẻ Trung phu: “Đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên”; dịch nghĩa từng chữ: “Heo, cá, tốt, lội qua sông lớn”; phải hiểu là: “Lòng chí thành đó mà ứng phó với những gian hiểm như vượt qua sông lớn thì thành công”.


         [53]. Hào Từ hào 4 quẻ Bí : “Bí như, bà như, bạch mã, hàn như, phỉ khấu, hôn cấu”, dịch nghĩa từng chữ: “Trang sức, trắng toát, ngựa trắng chạy mau, không phải giặc, kết hôn”; phải hiểu là: “Muốn trang sức cho nhau, nhưng không được. Hào 4 cưỡi ngựa trắng mà chạy như bay, đuổi kịp hào 1, rốt cuộc cưới nhau được, vì Hào 3 ở giữa ngăn cách 1 và 4 không phải là kẻ cướp, không phải là người xấu. Ý nói bị ngăn trở một chút, nhưng sau sẽ tốt.


            [54]. Muốn vậy thì dùng cách gieo ba đồng tiền (coi cuối Phần I), phải gieo 6 lần, lần nào cũng có 3 đồng đều sắp cả, điều đó theo luật xác suất khó xảy ra lắm.