Hoàng Ngọc Hiến – Cái nước mình nó thế
Phạm Thị Hoài và
Trương Hồng Quang thực hiện
Sinh
thời, nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học Hoàng Ngọc Hiến là một trong những
trí thức phê phán giàu ảnh hưởng tại Việt Nam. Ông nổi tiếng với khái niệm „văn
học phải đạo“ để chỉ nền văn học chính thống xã hội chủ nghĩa. Ông cũng được
coi là người phát hiện và ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp, định hướng rõ rệt cho phong
trào văn học thời Đổi Mới. Mười lăm năm trước, năm 2004, diễn đàn talawas mà tôi là người phụ trách chính có một cuộc phỏng vấn với
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến nhân một lần ông ghé thăm Berlin. Tuy nhiên, ở phút
cuối, ông đã đề nghị talawas hủy đăng bài, vì thời điểm chưa thích hợp. Ông qua
đời đầu năm 2011. Trước đó không lâu, talawas cũng ngừng hoạt động. Nay tôi
chính thức công bố toàn văn bài phỏng vấn dài gần một vạn chữ này trên trang
lưu trữ cá nhân pro&contra của mình. Một số
trích đoạn cũng đồng thời được đăng trên tuần báo Trẻ.
GS Hoàng Ngọc Hiến 2004. Ảnh của talawas.
talawas: Thưa ông Hoàng Ngọc Hiến, cách đây 17 năm, bài viết „Tôi không chúc bạn
thuận buồm xuôi gió“ của ông là khởi đầu của cuộc tranh luận về Nguyễn Huy
Thiệp mà giai đoạn căng thẳng nhất diễn ra khoảng một năm sau đó, liên quan đến
chùm truyện ngắn Kiếm sắc–Vàng lửa – Phẩm tiết. Mới đây, trong bài
viết “Ngẫu hứng qua
mây gió” đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội [1], Trần Đăng Khoa có
nhắc đến cuộc tranh luận này. Điều đặc biệt ở bài viết này là việc đặt lại vấn
đề, nói đúng hơn là sự xét lại những giá trị tưởng chừng đã được công nhận
trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp ở giai đoạn Đổi mới, đồng thời cũng là sự
xét lại những quan niệm tưởng chừng đã đạt tới sự đồng thuận cao trong giới
nghiên cứu và trong công luận văn học. Ông đánh giá như thế nào về việc này?
Hoàng
Ngọc Hiến: Bài này tôi chưa
đọc. Hoa thủy tiên tôi cũng chưa đọc, tôi dạo này lười kinh
khủng, tôi chỉ đọc cái Mổ nhà văn. Tôi nghĩ chỉ đọc Mổ nhà văn là đủ. Tôi có nghe tin, Trần Đăng Khoa
giải thích với mọi người rằng mình viết bài này hoàn toàn vì yêu mến Nguyễn Huy
Thiệp.
talawas: Trần Đăng Khoa
luôn yêu mến cả thế gian.
Hoàng Ngọc Hiến: Chắc thấy mọi người phản ứng quá thì cậu
ấy thanh minh như thế. Về bài tựa mà tôi viết cho cuốn sách của Thiệp: Lúc ấy
Thiệp đã nổi tiếng, đã in Không có vua trên báo Văn nghệ. Nguyễn Khải có nói rằng tinh hoa của Thiệp đã trút hết
ra Tướng về hưu,
không còn gì mà viết nữa. Nhưng khoảng hai tháng sau Tướng về hưu, Thiệp ra tiếp Không có vua, mà theo tôi Không có vua có nhiều mặt còn hơn Tướng về hưu. Lúc đó Thiệp đã có mười mấy truyện đăng báo,
đang nổi như cồn, nên Thiệp nghĩ đến chuyện ra tuyển tập. Lúc đó hoạ sĩ Hồng
Hưng bỏ tiền ra thuê đánh máy bản thảo cho Thiệp. Thiệp đưa đi mấy nhà xuất bản
đều bị từ chối. Tôi cảm thấy giới xuất bản trong chuyện này rất tinh, nó đánh
hơi thấy một người nguy hiểm, nó từ chối. Thiệp kể lại với tôi rằng, Thiệp đến
Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, lúc đó hình như còn tên là Nhà Xuất bản Tác phẩm Mới.
Người phụ trách mảng văn xuôi ở đó là bà Xuân Quỳnh. Người ta bảo, Xuân Quỳnh
không bao giờ đến nhà xuất bản. Thế là Thiệp mang bản thảo đến nhà riêng của
Xuân Quỳnh. Thiệp tả lại cho tôi thế này: Vào ngõ, lên một cái hành lang dài,
dọc hành lang có bốn, năm cái vòi nước, Xuân Quỳnh đang ngồi quay mặt vào tường
giặt quần áo. Người ta chỉ cho Thiệp, bà đang ngồi giặt quần áo, đấy là Xuân
Quỳnh. Thiệp đến đứng sau lưng Xuân Quỳnh, bảo: „Thưa chị, em đến nhà xuất bản,
họ bảo chị nhận bản thảo ở nhà. Em đến để đưa chị.“ Xuân Quỳnh không quay lại,
bảo: „Tôi chỉ nhận bản thảo ở nhà xuất bản, không nhận bản thảo ở nhà.“ Thiệp
ra về, Xuân Quỳnh chắc chắn không biết ai đứng sau lưng mình lúc đó.
Dịp ấy tôi có việc đi công tác Campuchia một
năm hai lần, đi Campuchia thì phải ghé Thành phố Hồ Chí Minh, tôi bảo Thiệp:
“Cậu đưa tớ bản thảo, đem vào Thành phố Hồ Chí Minh, trong ấy thoáng hơn.” Ở
Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đưa bản thảo của Thiệp cho Nguyễn Duy và Thu Bồn, cả
hai đều đồng ý ngay. Tôi đi công tác về, trở lại Hà Nội, chờ mãi không thấy hồi
âm. Hai tháng sau tôi lại có dịp đi Campuchia nữa, lại gặp Nguyễn Duy và Thu
Bồn, nhưng cả hai đều quên, không nhớ gì đến bản thảo này nữa. Hỏi thì họ thú
thật rằng đã quên. Nhưng Nguyễn Duy sau đó có đặt điều kiện là sẽ in Thiệp nếu
có lời giới thiệu của tôi. Đi công tác Campuchia về, trong một tuần trước khi
sang trường Gorki tu nghiệp, tôi viết bài tựa „Tôi không chúc bạn thuận buồm
xuôi gió“ cho tuyển tập của Thiệp. Như vậy bài đó ra đời trong một hoàn cảnh
rất cụ thể, không có bài đó thì Nguyễn Duy không in tuyển tập của Thiệp. Tôi
buộc phải viết, chứ không phải vì thấy rằng đó là một hiện tượng văn học quan
trọng.
talawas: Nhưng sau đó ông
có thấy đây là một hiện tượng văn học quan trọng không?
Hoàng Ngọc Hiến: Có, sau đấy nó thành một hiện tượng quan
trọng. Nhân đây tôi muốn nói, không phải chỉ trong lĩnh vực phê bình văn học,
mà trong mọi lĩnh vực liên quan đến việc đi tìm cái Thật, cái Đẹp, tôi càng
ngày càng nghiệm ra câu nói của Évariste Galois, một nhà toán học Pháp thế kỉ
19, chết rất trẻ: „Chúng ta không đi đến chân lí, chúng ta chỉ va chạm vào chân
lí.“ Trong công việc phê bình văn học của tôi, ở trường hợp bài „Tôi không chúc
bạn thuận buồm xuôi gió“ và một số bài khác, hình như tôi đã chạm được vào chân
lí, chạm một chút.
talawas: Mà lúc ấy không biết mình đang chạm?
Hoàng Ngọc Hiến: Vâng, lúc ấy không biết.
talawas: Nhưng những cú chạm may mắn ấy không dành cho
tất cả mọi người.
Hoàng Ngọc Hiến: Thì đúng rồi. Mà ở chính tôi, không phải
lúc nào nó cũng xảy ra.
talawas: Trường hợp của hai chữ “phải đạo” cũng như vậy
sao? Có người nói rằng, chỉ để lại hai chữ „phải đạo“ là Hoàng Ngọc Hiến đã có
thể hài lòng với sự nghiệp của mình.
Hoàng Ngọc Hiến: Đúng thế, hai chữ “phải đạo” cũng ra
đời trong một hoàn cảnh rất ngẫu nhiên. Dạo đó cuốn Cha và con của Nguyễn Minh Châu được giải thưởng
văn học. Hôm ấy tôi cũng đến thư viện làm việc như mọi ngày (tôi nổi tiếng là
người chăm đi thư viện, nhưng có gì đâu, đơn giản là nhà chật quá, không có chỗ
làm việc thì phải ra thư viện), lúc ra sân đi dạo một lát thì gặp Hà Minh Đức.
Hà Minh Đức hỏi tôi nghĩ như thế nào về cuốn sách ấy. Tôi nói, hai cha con
trong cuốn sách ấy (cha là trung đoàn trưởng, con hình như là sĩ quan) trò
chuyện với nhau. Trong thực tế, tôi đã nghe những bố con trò chuyện với nhau
theo kiểu như vậy, tức cuốn sách ấy không bịa đặt. Nhưng người ta trò chuyện
với nhau theo kiểu như vậy là vì phải đạo. Đấy là lần đầu tiên tôi dùng chữ
này. Tôi cố tìm một chữ cho đúng với cuốn sách của Nguyễn Minh Châu, cuối cùng
bật ra hai chữ „phải đạo“. Cũng ngẫu nhiên thôi, trong lúc đi dạo ngoài sân thư
viện.
talawas: Và một lần nữa lại chạm vào chân lí?
Hoàng Ngọc Hiến: Vâng. Ngẫu nhiên. Thực ra chân lí định trước
là một thứ rất nguy hiểm. Chân lí theo kiểu một cái đích, bắt mình phải đi đến
nó, là rất nguy hiểm. Triết gia François Jullien, người mà gần đây tôi dịch khá
nhiều, có nói rằng: Đạo phương Tây bao giờ cũng đặt ra một cái đích. Cái đích
đó có thể là một Thượng đế, một đấng toàn thiện toàn năng, nhưng cái đạo của
phương Đông thì thường không có đích, mà nếu có đích thì cái đích của nó là sự
thay đổi chính bản thân nó. Tôi nghĩ cũng có thể đặt ra một cái đích nào đó, và
trong lúc mình toàn tâm toàn ý đi tới nó thì rất có thể thỉnh thoảng chạm được
vào chân lí, chứ vấn đề không phải là nắm được cái đích. Đích là ảo tưởng,
nhưng trong lúc đi đến ảo tưởng thì bất chợt mình có thể chạm vào chân lí. Hai
trường hợp vừa nêu, bài „Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió“ và khái niệm
„phải đạo“ là những kết quả bất chợt như vậy.
talawas: Sau cú „ngộ” bất chợt ở sân thư viện, ông liền
viết bài về „Hiện thực phải đạo“?
Hoàng Ngọc Hiến: Không, phải một thời gian sau, năm 1979. Bài
viết xong thì đem đăng, đơn giản thế thôi, không nghĩ nó sẽ gây chuyện om sòm
đến thế. Bài ra xong, Chế Lan Viên có nói: Bài „Hiện thực phải đạo“ của tôi đi
đến đâu là chia rẽ thành hai phe, một phe ủng hộ nhiệt liệt, một phe đả kích và
mạt sát. Hình như Tố Hữu phản đối quyết liệt, nên đón ý Tố Hữu, người ta bố trí
người để viết bài đập lại. Lúc đầu nhờ Lưu Quý Kỳ, nhưng Lưu Quý Kỳ không viết,
thế là đến Tô Hoài, tiếp theo là Chế Lan Viên và hai ba người nữa, đăng
trên Văn nghệ.
talawas: Ông Tô Hoài phản bác thế nào?
Hoàng Ngọc Hiến: Tô Hoài viết đại loại là Hoàng Ngọc Hiến
đã quên mất đường cấm chỉ, đã vượt qua đường cấm chỉ.
talawas: Như vậy cũng có thể hiểu là một lời khen?
Hoàng Ngọc Hiến: Không, ông ấy phê, nhưng phê theo kiểu
tinh tế.
talawas: Còn bài của ông Chế Lan Viên?
Hoàng Ngọc Hiến: Bài của Chế Lan Viên tên là “Thư gửi chị
Kim Nga”, Kim Nga tức là “nước Nga mới”.
talawas: Theo ông Bùi Minh Quốc, trong bài “Làng văn
một thời, và…”, Lê Kim Nga là tên thật của bà Vũ Thị Thường, vợ ông Chế Lan
Viên.
Hoàng Ngọc Hiến: Thế à? Mọi người lại đoán rằng chữ đó ám
chỉ việc Hoàng Ngọc Hiến đem tư tưởng xét lại từ nước Nga mới về Việt Nam.
Nhưng màn kịch đươc chờ đợi nhất là cuộc họp toàn quốc của Ban Tuyên huấn Trung
ương, mời đại diện của tất cả các tỉnh, các trường, các viện, do Trần Độ chủ
trì, có Lê Đức Thọ dự từ đầu chí cuối, vào tháng Hai, tháng Ba năm 80.
talawas: Tức sau vụ “Đề dẫn” [2]?
