Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Dzếnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Dzếnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

ĐỨA CON GIAI


MỘT TRUYỆN NGẮN CỦA HỒ DZẾNH MỚI TÌM THẤY

Trước đây ít năm, tôi tìm thấy và đã giới thiệu lại truyện ngắn Đường Kế Mãnh nhân tham gia biên soạn cuốn "Hồ Dzếnh, một hồn thơ đẹp" (Hà Nội, 2001: Nxb Hội Nhà Văn). Gần đây đọc lại "Trung Bắc chủ nhật" lại thấy thêm truyện "Đứa con giai" này nữa, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Câu chuyện "Đứa con giai" này, trước tiên, có thể coi là thuộc mảng truyện mà tác giả của nó đã rất thành công trong tập "Chân trời cũ". Ấy là chuyện về những người Hoa di dạt đến xứ ta, làm ăn buôn bán và sống cuộc đời thường nhật giữa đất nước này, bên cạnh những người bản địa, hoà hợp theo cách riêng vào cuộc sống tại đây tuy vẫn giữ những nét riêng biệt của mình.
Hồ Dzếnh rất thuộc cái giới người nhập cư này, và ta bỗng nhớ rằng ở ông có sẵn cả khả năng nhìn những người này từ ngoài, − tức là từ phía người bản địa, lại cũng có cả khả năng nhìn họ từ bên trong, − thâm nhập vào tâm tư những con người nhập cư ấy, cảm thông với những ý nguyện thường tình của họ.

Đọc một truyện chưa biết của một cây bút ta đã quen giọng văn, − cũng là điều mang lại nét thú vị riêng.

Xin giới thiệu với bạn đọc.
LẠI NGUYÊN ÂN

ĐỨA CON GIAI

HỒ DZẾNH
truyện ngắn
Chú Vằn quê ở tỉnh Quảng Tây. Chú thường nói đến quê hương mình với một vẻ kiêu hãnh lộ ra mặt:
− Ở pên Coỏng Sáy, già, chể, lớn, pé, tều pít pắn súng hết!
Vừa nói chú vừa cầm lên cây đòn gánh đã bóng nhẵn vì sự cọ sát lâu ngày – chú Vằn đi bán thuốc ê – như kiểu cầm cây súng thật. Lũ trẻ con bụng ỏng, có đứa không mặc quần, có đứa đóng khố, cùng một loạt giãn vòng vây chú ra, kháo nhau:
− Coi khéo chú nớ bắn cho đó, bay ạ.
Một thày nhiêu, chừng là chân khoá sinh đã ở qua tỉnh, tạt vào đám đông, làm ra vẻ thành thạo, dùng một thứ tiếng Tàu nửa mùa hỏi chú:
− Ê chú, “nị mại mắn dể” (chú bán cái gì?)
Chú Vằn khinh mạn nhìn con người dám xâm phạm cái tinh hoa ngôn ngữ của nước chú, trả lời buông thõng:
− Pán thố pắc!
Thày nhiêu tưởng đã bắt chuyện, hỏi luôn:
− A mại… à mại… mại… mắn dể mậu?
Chú Vằn không chịu được nữa, vung tay ra hiệu bảo nhiêu xê ra:
− Ờ, không pít nói tiếng Tàu mà cũng nói. Ti!
Rồi không cần để ý đến những tiếng chửi rủa lúng búng của thày nhiêu, chú lặng lẽ quảy gánh vào trong làng, kéo dài cái tiếng rao lạnh lùng và buồn bã trong bầu không khí chờ đợi một tiếng gà gáy ban trưa: “Thố…ố…ốc ê! Thô…ô…ốc ê!”
Chú Vằn đã hơn một lần lập gia đình trên đất Việt. Đã hơn một lần, con người đó hưởng cái thanh thú của ái tình với một người đàn bà. Chú không kén. Nhưng chú đã lầm. Người thiếu phụ xuất thân từ một gia đình không quý giá. Nào trát trên mặt một lớp phấn rẻ tiền và có một cách phục sức đàng điếm, lẳng lơ. Giọng nói của người đó thì tuyệt. Nó ngọt và trơn, ngoáy êm ru trong lỗ tai của chú Vằn chưa được ai rót cho nhiều dịu dàng và nũng nịu như thế. Chú Vằn mê vợ lắm. Vợ chú ngồi lên đùi chú, hai chân đong đưa, vừa ôm chú vừa bảo:
− Mình sắm cho em đồng hồ tay nhé! Mình mua cho em cái kiềng vàng nhé! Em yêu mình quá, mình tử tế quá. Người Tàu hồ dễ mấy ai được như mình!
Chú Vằn thấy mình được nịnh nọt, dễ xiêu. Chú hôn má vợ mà bảo:
− Ai tiếc với mình, muốn mua cứ bảo!
Muốn được sống gần gũi với vợ luôn, chú xếp gánh thuốc lại, mở một cửa hàng tạp hoá, với số vốn ba nghìn đồng, để vợ chủ trương. Ở với nhau được gần hai năm, một hôm chú Vằn sốt ruột, hỏi vợ:
− Sắp hai năm rồi mà mình không “tẻ”, “tái” gì cả hở?
Vợ chú đánh yêu chú, làm ra vẻ thẹn:
− Đẻ cũng có lúc chứ! Dễ muốn thì đẻ được ngay đấy! Thế mình muốn đẻ con trai hay con gái nào?
Mắt chú Vằn long lanh sáng:
− Con trai! Tôi chỉ thích có đứa con trai cho nó nối nghiệp.
Rồi như lo lắng vì sự tuyệt tự của mình, chú chỉ bụng vợ, bảo bâng quơ:
− Tàn pà An Nam lâu tể quá!
Vợ chú chỉ cười, và một hôm, lừa lúc chồng ngủ, thu vén tất cả của cải bồ hôi nước mắt của người yêu, tếch thẳng. Chú Vằn nằm ngủ, giật mình, dậy bật đèn nhìn chung quanh, nhìn hòm tiền đã mở rộng, rồi trở vào, ngồi xuống ghế, ném ra mấy tiếng nguyền rủa:
− Mẹ nó, ăn cắp của ông!
Lòng chú Vằn ngao ngán mênh mông. Những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán chú. Tay chú nắm chặt lấy thành ghế như muốn bóp nát gỗ ra. Bỗng chú đứng phắt dậy, giật cái ảnh của người vợ bất nhân treo trên tường ném mạnh xuống đất. Một tiếng “choang” đập vào không khí, lạnh lẽo và dữ tợn. Chú Vằn trở vào giường nằm, tay vắt lên trán…
Từ ngày đó chú lại bắt đầu quẩy gánh thuốc ê trên những con đường cũ. Bóng chú nhiều lúc len lỏi giữa những tiếng động của thành phố, cô độc, buồn bã như một niềm ẩn hình đau đớn. Chú ít nói đi. Tâm tính rắn lại. Dải đất Việt Nam, với chú chỉ là nơi để chú doanh nghiệp, hết là nơi mà chú tưởng đầy rẫy ân tình. Trong câu chuyện của chú với vài người quen lẩn vào đôi lời oán trách:
− Người lời tồi lắm, xấu lắm!
Có người bảo chú:
− Xấu cũng tuỳ từng mặt, chú ạ. Ai bảo chú lấy phải một con cô đầu dở.
Chú Vằn vẫn lắc đầu, dường như chú đã chán tất cả mọi người.
− Thế chú nhất định không lấy vợ nữa à?
− Ối dào! Khôông pít! Sau này hãy hay, bây giờ thì tương ghét “chúng nó” lắm.
Nói vậy nhưng nhiều lúc chú Vằn thắc mắc suy nghĩ. Chú muốn khạc nhổ lên tình yêu, nhưng tình yêu vẫn tìm đến chú. Chú thiếu một cái gì cần lắm cho sự sống hằng ngày.
− Xấu thật, cái gì lại cứ phải ăn cắp mới được chứ!
Chí lớn của chú không hề bị hao hụt vì sự thử thách đau đớn của tình đời. Mắt chú vẫn sáng, trán vẫn cao. Trên vai vẫn đè nặng cái vốn liếng xê dịch hằng ngày bằng đủ các thứ thuốc. Có lúc chú ở Hà Nội, Hải Phòng, lúc ở Vinh, chuyển dịch từ nơi này đến nơi khác trên đôi dép da trâu cứng đét. Cảnh sắc của đất nước Việt Nam biến hết ra cây tiền, lá bạc. Mưa nắng không được thi vị trong lòng khách giang hồ, vì lòng khách giang hồ không phải là lòng nghệ sĩ. Tâm hồn tha hương khô khan đó đã mở cho người ta thấy cái rắn rỏi, lạnh lẽo của mình khi có người hỏi về phong cảnh của những nơi kinh qua:
− Ồ! Tệp cái gì! Ti dọc lắm!
Và, phủi lớp bụi đường bám vào quần áo, khách phiêu lưu chép miệng:
-- Mệ nó! Pụi! Pụi dìu quá!
Ở những nơi chú Vằn đi đến, người ta thầm thì kháo nhau:
− “Khách Tàu ô” đi tìm vàng đấy! Kìa, trông con mắt sáng quắc của nó cứ hướng về đình làng. Kìa, nó lại đưa tay chỉ cánh đồng!
Có người không chịu được sự tò mò, hỏi chú:
− Này chú, ở làng chúng tôi liệu có nhiều vàng không?
− Dìu vàng? Dìu vàng ở tâu? Tui khô…ông pít!
Không cần, người ta cứ gán cho chú cái tên “Khách tìm vàng”, mặc dầu chú chỉ là một Hoa thương chịu cảnh hàn vi ban đầu như bao nhiêu bạn đồng bang khác, trước khi ra giật lấy các địa vị to tát về tiền tài.
Hai năm qua. Vết thương tình yêu đã thành sẹo. Chú Vằn là chủ một cửa hiệu cao lâu. Những phút nhàn rỗi ngồi sau quầy thu tiền, chú Vằn đã có dịp ngắm kỹ mình. Chú Vằn đã bốn mươi hai tuổi. Bóng chú in già nua lên nền kính của tủ bánh ngọt; một chiếc bóng cô độc, chênh chếch như mặt giăng hạ tuần vùng mạn ngược. Ý kiến lấy vợ loé ra trong óc chú khiến chú phân vân. Từ thời xa nhô lên hình ảnh một người vợ bạc bẽo, dày xéo lên cơ nghiệp của chú. Nỗi mong ước có một đứa con trai kế nghiệp của chú, thấy nó khó khăn và chua chát làm sao! Nhiều lúc, tiền bạc trở nên vô nghĩa đối với chú, vì đời chú không được ấm áp trong cái hương khói thiêng liêng của một gia đình thân mật.
Chú Vằn nhìn về nước Tàu. Nước Tàu xa lắm. Gió Giang Nam. Mây Hồ Bắc. Tất cả trải ra đìu hiu như một nỗi buồn rộng loãng làm ngấy lên một lạnh lẽo rét mướt vô cùng! Ở nơi xa đó, chú Vằn nhớ mang máng còn rung động cái hình bóng yếu ớt hổn hển, cái hơi thở gần tàn của một người vợ Tàu già bằng tuổi chú. Người vợ đó yên phận ngày ngày chăn mấy con lợn nái, trồng trọt mấy luống khoai ngoài vườn, không hy vọng gì còn được chồng yêu nữa, vì không con, vì già, vì… xa chồng lâu ngày lắm. Những bức tường cao và dày hàng hai thước, chắc nịch, âm thầm, ném xuống đời vợ chú Vằn những lớp bóng nặng chĩu, lấn át chút sinh khí yếu ớt của người đàn bà tuyệt tự kia. Đôi khi, chú Vằn ngoái lại với tình tao khang về chiều, ở quê cũ bằng một bức thư đầy giọng phàn nàn oán hận:
“Từ ngày quê hương vĩnh biệt ○ thấm thoắt mười thu ○ tất dạ nhớ thương ○ đêm ngày vương vấn ○ nhưng vì chí bình sinh chưa đạt ○ nguyện vọng chưa thành ○ khó liệu ngày về cố quận ○ Mong rằng chút tình hương lửa ○ vị kẻ muôn xa ○ chầu chực miếu đường ○ trọn bề hiếu thuận ○” vân vân (bức thư đầy những khuyên tròn).
Nhưng con người thuộc lòng những danh từ khiêm tốn, hương lửa đầy lời, liệu có còn trong thâm tâm chút tình gì với người vợ cũ?
− Tẻ! Phải lấy một con tàn pà nào cho nó tẻ mới tược! Cái lị không thể cho tiền của này về tay người khác được!
Chú Vằn tinh tường, thấy rằng phàm đàn bà đẹp thì nhác đẻ, vì đàn bà đẹp phải qua tay nhiều người khác trước khi rơi vào đời chú. Chú không chịu được sự lang chạ về tình cảm, không chịu được một cảnh phản phúc thứ hai, chú Vằn chỉ nghĩ đến một người đàn bà đẻ ra một đứa con. Nhan sắc vắng mặt cũng chẳng sao, dây thiêng liêng nối dõi đời mình mới đáng quý.
Người mối thứ nhất được chú ngỏ cho biết ý kiến lấy vợ, đập tay xuống chiếu một cái mạnh, nhìn chú rồi nói một cách lưu loát:
− Hoài của chưa! Sao lại không bảo người ta từ trước! Cứ để mà ngâm trong lòng thế này! Muốn lấy người trạc bằng bao nhiêu nào?
− Lớn, bé khô…ông cần. Cốt tẻ tược là tốt!
Bà mối nghĩ ngay đến một người quen biết. Đó là người vú em bà nuôi dạo trước, nay đã về quê, và goá chồng. Bà bảo chú Vằn:
− Con này không đến nỗi! Già lắm là hai năm, thế nào “chú thím” cũng có con. Chỉ sợ con đàn cháu lũ rồi lại oán trách già này vụng tay xe duyên thôi.
Lời người đàn bà nói có duyên làm chú Vằn thấy thinh thích:
− Nếu có con tui píu pà ba trăm ngay.
Bà mối nói giọng cong cớn:
− Thế tôi gả vợ cho chú, hẳn chú quên tôi chắc?
− Cái lị quên thế nào được! Này bà cầm đã.
Vừa nói chú vừa rút ngăn kéo đưa cho bà mối một trăm, và dặn:
− Bà xem có khỏe không nhá. Có thể đẻ được hãy lấy.
Bà mối mừng rơn, giọng thân thuộc đã thành suồng sã và nịnh nọt, lấy tay chỉ vào ngực mình:
− Chú cứ tin ở già này. À mà có phải biên giấy nhận tiền của chú không nhỉ?
− Ối dào, thôi! Tui tin ở bà mà. Người Tàu không pít gì lôi thôi cả.
Ba ngày sau, bà mối dẫn đến một thiếu phụ vào khoảng ba mươi tuổi, nước da ngăm ngăm đen, mình mẩy chắc nịch. Thiếu phụ đứng nép sát vào quầy, tay vân vê dải yếm, đầu cúi xuống. Bà mối đưa mắt hỏi ý kiến người Tàu kén vợ. Người Tàu kén vợ đưa mắt nhìn khắp mình người đàn bà sắp lấy chồng Tàu một lượt nữa, rồi bảo bà mối:
− Tược. Pà tem “nó” xuống dưới nhà cho “nó” ăn cơm.
Từ ngày đó, vú Tản, tên người đàn bà, nghiễm nhiên là vợ chú Vằn, ban ngày ở dưới bếp hay ngồi trên gác, thư nhàn trong cảnh sung sướng nhưng cũng buồn bã trong sự rỗi rãi quá chừng. Chú Vằn luôn luôn hỏi vợ:
− Thế nào, nị đã thấy cái gì khác chưa?
Cấy bón chăm, chắc chắn quả phải đậu; những thức ăn bổ béo ngon lành, nhất là lạ miệng, quả nhiên đã kết một hòn máu cựa quậy trong bụng vú Tản. Có cái gì sung sướng nhảy nhót trong lòng người khách thương lần đầu nhận biết hạnh phúc của đời mình. Chú Vằn trẻ ra hai mươi tuổi. Tin mừng làm mọi người trong nhà đều vui. Vú Tản bỗng thấy mình là thứ sinh vật được người ta quá trọng vọng. Vú bắt đầu nhìn ra xung quanh bằng con mắt khác. Đúng kỳ đúng tháng, cái thai rộn rã ra khỏi lòng mẹ: một thằng bé vạm vỡ béo tròn. Ấy dà! Chú Vằn tới tấp lùa vào vợ vào con không biết cơ man nào là những sự sốt sắng và nâng giấc. Vú Tản kiêu hãnh chìm trong sự kính nể của mọi người. Thời gian làm vú giữ em đã xa tắp. Cánh đồng ruộng bạc màu thấm nhuần sự cần lao khổ hạnh xưa kia, bây giờ cũng đã mờ nhạt… Vú Tản đã là bà chủ, một bà chủ được công nhận, đảm bảo hẳn hoi, chỉ vì sinh được một đứa con trai rồi đây không biết thông minh hay đần độn. Sau mấy tháng nằm bếp, dùng đủ những thức bổ béo ngay trên chính giường mình nằm, thím Vằn đã nghiễm nhiên ra ngồi trông cửa hiệu, trong tay xun xoe một chùm chìa khóa tủ bạc. Đôi lúc, trong cảnh gia đình êm ấm nổi lên những tiếng quát mắng đầy tớ rất đài các và dài dài.
Đúng vào hôm ăn mừng đầy tháng con mình, chú Vằn cẩn thận lấy ba trăm bạc gói vào một miếng giấy đỏ sai người cầm lại nhà bà mối ngày xưa.
Trong lúc gia đình chú Vằn đang tươi đẹp bỗng một đám mây lù lù từ phía trời Quảng Tây lại, thong thả hạ xuống cửa hiệu chú Vằn, biến ra thành một người đàn bà Tàu, vai xách một cái sọt to đựng chặt hành lý, lững thững tiến vào. Một linh giác kỳ dị xui thím Vằn hiểu ngay rằng người đó là vợ Cả chú Vằn từ bên Tàu lặn lội sang thăm chồng. Hai bên không hiểu sao không chào nhau. Thím Vằn Việt Nam bĩu môi lườm thím Vằn Trung Quốc. Chú Vằn đương ngồi trong nhà tính sổ, thấy vợ vào, ngạc nhiên đứng dậy:
− Sang đấy à? Ai bảo sang?
Người đàn bà Tàu lạnh lùng:
− Nghe người về bảo nị đã lấy vợ, có con. Tôi sang xin nị ít tiền về dưỡng già và cho mấy cháu đi học. Nhà ở bên Tàu bây giờ đói lắm.
Từ ngày có thím Vằn Cả trong nhà, cơm được dọn ra trên ba bàn. Bàn thứ nhất dành cho chú Vằn, vợ hai và đứa con. Bàn thứ hai trơ trọi thấy có một mình thím Vằn Cả. Bàn thứ ba thuộc về những người làm. Hai con sư tử cái nhốt cùng chuồng chỉ chực hầm hè cắn xé nhau. May được chú sư tử đực và con sư tử nhỏ hoà giải.
Thấy ở lâu càng thêm khó chịu, và kém thế, thím Vằn Cả xin về nước. Hôm thím ra đi, thím Vằn hai ngồi trên gác chơi với con. Chú Vằn trao cho vợ hai nghìn bạc và đưa chân vợ ra bến Sáu Kho. Hôm đó trời đầy sương đục. Thím Vằn không dặn chồng điều gì, yên lặng bước xuống tàu, sau câu chào ngắn ngủi:
− Nị ơi, ngộ về nhé.
Chú Vằn đứng trên bến dặn to xuống phía vợ mấy tiếng gì nghe oang oang. Con tàu phun khói, chuyển mình lừ đừ lủi vào màn sương. Hình như thím Vằn Trung Quốc có khóc, − hình như thôi, vì chú Vằn sau khi tàu mới quay mũi, đã vội vã trở về nhà. Vừa đi chú vừa lẩm bẩm:
− Ừ, phải tặt cho thằng pé cái tên hiệu này mới tẹp: Lẳm dẩu tắc.

● Nguồn:
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s.235 (7 Janvier 1945)


Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2022

Hồ Dzếnh, vườn Thanh và nỗi sầu vạn cổ

 

Hồ Dzếnh, vườn Thanh và nỗi sầu vạn cổ

 
 

 

Ðất Thanh Hóa, vườn Thanh, quê ngoại Hồ Dzếnh, cũng là quê hương mối tình thứ nhất với người yêu Hồng Phúc, biệt hiệu "người em gái", người mà Hồ Dzếnh đã phác họa bằng những nét:

 Em ăn em nói em cười,
 Kiếp này không có hai người như em

người mà Hồ Dzếnh nhắn nhủ:

 Ðừng mong ước cả Thiên Ðường
 Hãy xin lấy một tấc vườn vắng hoa.

 Những câu thơ viết cho Hồng Phúc trong bài Giản dị, Mai Thảo nhớ lầm, sửa thành:

 Dẫu cho lỡ cả Thiên Ðường
 Thì xin một nửa tấc vườn vắng hoa.

 Sự nhớ lầm gây thêm nồng độ tha thiết của mối tình, và dẫn ngọn bút của Mai Thảo đến một triền vực khác: "Thì xin một nửa tấc vườn vắng hoa. Thế đâu là xin. Có gì mà xin. Thế là cho. Cho hết cả mùa hồn, gặt hái được nhánh nào cho luôn nhánh ấy, cuống quít thơ ngây và hồn hậu sống. Thế là thơ đầu đời, thế là sức khỏe của thơ có, thế là thơ không yếu đau. Rồi ý thức tới. Chứ sao. Nhưng cái gì tạo thành ý thức sinh động hồng hào [...] nếu không là những va chạm tình cảm bàng hoàng dội đập lại thành những cực điểm hân hoan hay thành những tận cùng bi đát?

 Trời đẹp như trời mới tráng gương
 Chim ca ánh sáng rộn ven tường
 Có ai bên cửa ngồi hong tóc
 Cho chảy lan thành một suối hương

 Trời, đất, chim ca, ánh sáng, mái tóc trở thành một suối hương. Tạo vật trong thơ Hồ Dzếnh, cuộc đời vào thơ Hồ Dzếnh biến hình từ một chủ quan không bao giờ chối từ cái quyền uy tỏa chiếu rạng ngời vả đổi thay lộng lẫy của nó. Như thế là chủ động. Như thế là sáng tạo. Như thế là thơ. Thơ là mặt trời và đời người Hồ Dzếnh."  Ðó là văn Mai Thảo.

 Vẫn Mai Thảo, bừng bừng, xung bút và chủ quan: "Trong cái thế giới ngột ngạt bít bưng tức thở của những tháp ngà tiền chiến như những phần mộ lạnh buốt, thơ Hồ Dzếnh, hơn cả Xuân Diệu và theo tôi, hơn cả Nguyễn Bính đầu mùa, là những xâu chuỗi lanh lảnh nhạc vàng, gõ vui từng nhịp nắng mênh mông đài trán thanh niên. Tôi nhớ mãi cái cảm giác của tôi, hai mươi tuổi, tiếp nhận một tập thơ còn trẻ hơn hồn mình phơi phới. [...] Thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng. Ngó thật kỹ Quê Ngoại không hằn một vết nhăn. Nó là một khối lạc quan và tin tưởng toàn vẹn.(1)"

 Lạc quan và tin tưởng toàn vẹn? Có thật thế không? Hình như Mai Thảo hơi quá tay. Như Mai Thảo quá chén mỗi lần uống rượu. Như Mai Thảo sa đà mỗi lần được chữ đưa đi. Quê Ngoại hẳn là không hằn một vết nhăn, dù có cộng thêm ba mươi năm nữa. Nhưng niềm lạc quan và tin tưởng toàn vẹn là của Mai Thảo, chỉ là tâm tư Mai Thảo về Hồ Dzếnh. Còn Hồ Dzếnh, Hồ Dzếnh mang một tâm tư bi đát, một mối "sầu vạn cổ". Hồ Dzếnh đã gieo lên tiếng thơ tình yêu tan vỡ: Tình yêu và tan vỡ như một "thú đau thương" đặc dị, phát sinh một giọng thơ reo vui, mời gọi sự lỗi hẹn như một chén rượu nồng, như một trái cấm không cay:

 Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
 Ðể lòng buồn tôi dạo khắp trong sân,
 Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần...
 Tôi nói khẽ, gớm, làm sao nhớ thế!
 ...
 Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
 Tôi sẽ trách - cố nhiên! - nhưng rất nhẹ;
 Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
 Tình mất vui khi đã vẹn câu thề,
 Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dỏ.
 Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
 Cho nghìn sau ... lơ lửng ... với nghìn xưa....
........                                        (Ngập ngừng)

 Cuộc đời riêng của Hồ Dzếnh ghi đậm dấu ấn trong thơ. Người yêu đi lấy chồng. Người yêu trở thành trái cấm. Và trái cấm trong đời trở thành đối tượng trong thơ:

 Mộng tàn nước chảy mây trôi
 Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa.
  (Trở lại)

 Trời không nắng cũng không mưa
 Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung

 Chiều buồn như mối sầu chung
 Lòng im nghe thoảng tơ trùng chốn xa

 Ðâu hình tầu chậm quên ga
 Bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày
 (Mùa thu năm ngoái)

 Tính chất bi đát nơi Hồ Dzếnh không phải là do ngôn ngữ tạo thành mà như chính nó là hiện thân của không gian, cảnh vật, chính nó là chất liệu tác thành hình ảnh, tạo nên dư âm, tạo nên một thứ âm nhạc mới: âm nhạc nhẹ nhàng mà tha thiết; một thứ buồn mới: buồn chiều, buồn Hồ Dzếnh, lâng lâng, nhanh hơn slow, chậm hơn valse, buồn toả khắp không gian trong âm thanh và mầu sắc, một thứ sương mây của tiên nâu, một từ trầm không khói mà cay. Sự dịu nhẹ nơi Hồ Dzếnh ẩn dấu một chất buồn mỏng và nhẹ như sương, nhưng khi thấm vào người thì chẳng mạch huyết nào mà không rạn vỡ:

 Trên đường về nhớ đầy
 Chiều chậm đưa chân ngây
 Tiếng buồn vang trong mây
 Chim rừng quên cất cánh
 Gió say tình ngây ngây
 Có phải sầu vạn cổ
 Chất trong hồn chiều nay?
 Tôi là người lữ khách
 Màu chiều khó làm khuây
 Ngỡ lòng mình là rừng
 Ngỡ hồn mình là mây
 Nhớ nhà châm điếu thuốc
 Khói huyền bay lên cây ...
 (Màu cây trong khói)

 Dương Thiệu Tức phổ nhạc, đổi nhan thành Chiều, điệp hai lần Tiếng buồn vang trong mây, tiếng buồn vang trong mây... Chất trong hồn chiều nay, chất trong hồn chiều nay làm dài thêm dư âm, sâu hơn nỗi buồn.
 Nhạc ở Màu cây trong khói là nhạc tự chữ, ảnh hưởng tượng trưng, Dương Thiệu Tước trong Chiều vẫn giữ nguyên nhịp điệu Hồ Dzếnh, chỉ nhấn thêm một "ton", gia tốc thêm một chút, tạo ra một thứ biến điệu đồng điệu, một tiến độ tiệm tiến, khiến như Dương Thiệu Tước đã không làm vỡ chất buồn nhẹ mà trĩu như sương nơi Hồ Dzếnh, mà chỉ làm cho nó say sưa hơn, mờ nhạt hơn, quyến rũ hơn.

TRONG BÓNG RỪNG

 


TRONG BÓNG RỪNG

Hồ Dzếnh



Nói đến rừng, tôi quên sao được lớp nhà lá đẹp đẽ của ba tôi dựng trên một cánh đồng lớn, lớp nhà đổ xuống sân một đường bóng dài đậm, mỗi lần mặt trời nghiêng xuống dãy đồi cong. Chính ở nơi đó, tôi lớn lên, giữa những cuộc kinh doanh còn bề bộn của ba tôi. Chính ở nơi đó, trên đôi mắt trong và sáng của tôi, lần đầu tiên bóng rừng núi chạy qua, ánh sáng chiều phản lại và hai thứ này cùng nhịp nhàng trong tôi những cảm tưởng về thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng. Tôi thở cái hương rừng mọi rợ, yêu say mê mùa sim vừa chín đến, và tự mê hoặc mình bằng cách mê tín những bùa phép của dân Mường, Mán xung quanh.

Trước nhà tôi, thường thường đi về những người mặc áo chàm ngắn cỡn, tay cầm lăm lăm dao quai. Trong đám người đó, lẩn vào những khuôn mặt mùa xuân đặc biệt sáng lên bởi những cặp mắt to và trong suốt. Bóng họ bình yên trộn vào bóng rừng thẳm và mỗi bước chân gieo xuống đất, làm sống lại những nỗi u kín của ngày xưạ.

Tôi có trông theo toán người xa lạ ấy thì bất quá cũng chỉ để buồn vơ vẩn trước những sợi khói lam chầm chậm tỉa khỏi mấy nóc nhà chơ vơ trên lưng chừng núi.

Nhà tôi ở quay mặt ra hướng Bắc, gió tiện lối vào, đem theo về lòng tôi nỗi hoang mang của bốn chân mây vắng ngắt.

Ba tôi thường ngồi ngó ra khoảng cao rộng, lâu hàng giờ không nói và thỉnh thoảng gợi về cho tôi, bằng những câu chuyện kín đáo hơn tiếng thở dài của người, cả một xứ Trung Hoa bí mật, cái tình yêu tiềm tàng trong tôi, âm thầm như một niềm đau xót.

Tôi ngơ ngác theo từng chiều mắt, dò từng sợi tóc bay lên của người, và sau khi không biết được thêm điều gì, tôi cất tiếng hỏi:

- Ba tìm gì đấy, ba ?

Ba tôi không đáp, đưa mắt nhìn xuống ngọn đèn dầu lạc. Những cử chỉ ấy, thoạt đầu còn làm tôi khó chịu, sau tôi quen dần đi, và thầm nhủ như thế này:

- Ba mình già rồi. Chỉ biết hút thuốc phiện. Thôi kệ!

Tôi nghĩ thế, rồi bỏ ba tôi, chạy đi tìm các trẻ nhỏ thân mật đến nỗi bây giờ tôi đâm ngờ cả những sự thân mật nhất mà loài người ban cho tôi, vì cớ là không còn tình gì trên thế gian, dưới mắt tôi, đẹp hơn thứ tình tôi đã để trôi mất.

Mỗi lần nghe anh tôi học về sự hại của thuốc phiện, tôi sốt sắng chạy lên gác, lại bên bàn đèn của ba tôi, mà khuyên người:

- Này ba ạ, thuốc phiện tối chi là hại đấy. Nó làm cho người ta xấu đi và tồi lắm. Ba bỏ thuốc phiện đi, ba ạ, không nhỡ nguy mất.

Một nụ cười hiếm hoi nở trên đôi môi của ba tôi. Người thủng thẳng:

- Ai bảo con là thuốc phiện làm cho người ta xấu đi ?

- Anh Hai học thế!

Ba tôi đáp lạnh nhạt:

- Không có thuốc phiện thì ba đã chết từ lâu rồi. Không có thuốc phiện cũng không có con ngày nay.

Tôi ngạc nhiên, trụt đôi guốc, trèo lên giường rồi hỏi gặng:

- Thế thuốc phiện nó... đẻ được ra người ta, à bả

- Đẻ thì không đẻ được, nhưng nó giải được thủy thổ bất phục.

- Giải được thủy thổ bất phục là gì, hả ba ?

- Là như có sơn lam chướng khí thì thuốc phiện đánh cho tan ra.

- Thế sơn lam chướng khí là gì, ba ?

- Là hơi núi, khí đất không hợp với người ta.

- Ờ... ờ... Thế sơn lam chướng khí nó có biết đánh ba không mà ba đánh nó?

- Nó quấy ba như quấy mọi người. Ba hút thuốc phiện cho tiêu nó đi.

Ba tôi vốn hà tiện lời nói. Người khó khăn và nghiêm. Tôi còn nhớ rõ cái sống mũi dọc dừa trên một khuôn mặt xương gầy. Mẹ tôi bảo ba tôi giàu vì có hai cái tai nhọn. Tôi, tôi tin rằng ba tôi giàu vì ba tôi là người Trung Hoạ ý nghĩ ấy đem tôi đến một cuộc phỏng vấn ngây thơ này:

- Ba hả, tại làm sao người Tàu không ở bên Tàu lại cứ sang bên nước Nam?

- Tại vì người Tàu thích đi ra ngoài. Tại vì người Tàu nghèo, dân nhiều, gạo ít. Tại vì ở bên Tàu lắm cướp. Cướp nó ở rừng, cướp ở đâu cũng có ăn, vì nó ăn cướp.

Ở vùng đây, ba tôi chiếm một địa vị khả quan. Không phải người có quyền tước gì, nhưng vì người buôn bán phát đạt nên được những cái đầu to, mặt lớn nể. Thêm nữa, ba tôi có tài ngoại giao, có cái oai thầm của những người Trung Hoa khiến kẻ bên cạnh phải sợ vì, những kẻ gian phi xa lánh. Ba tôi thường bảo trong đời một người đàn ông, không nên sợ gì hết, cứ thẳng mà tiến, ngang nhiên mà làm. Nhưng ba tôi làm tôi nghi hoặc câu nói cứng đó, nên tôi hỏi:

- Thế ba không sợ dì Hai là gì?

- À chuyện, người ta là đàn bà, nể người ta một chút cũng chẳng sao.

Nơi ba tôi đi lại thân mật nhất là gia đình ông Châu Khâm. Ông Châu Khâm sống yên lặng ở trên một chiếc nhà sàn với người vợ, cô con gái - cô Fin - và con chó mực. Cả ba thứ động vật sau này đều học được tính chủ, nghĩa là rất ít nói, ít cắn, mơ màng. Cô Fin thì ngày ngày vẫn quay tơ, để tiêu bình thản thời giờ bằng cách rút hết guồng sợi này đến guồng sợi khác. Đời nàng như một dòng suối tù hãm, trên dải nước chết chỉ hơi lờ mờ gợn bóng mây, nó là những vẩn sống buồn bã, không đủ sức hun ấm động mạch cơ chừng đã chết lạnh trong người nàng. Fin có đôi mắt rất đẹp, vì chúng rất to và sáng, nhưng không phải là gương thông minh mà là biểu chứng của một tấm lòng ngây dại. Đôi mắt ấy, ngày nay vẫn còn mở trong trí tôi, như một ảnh hình khó mất.

Chúng tôi thường sang chơi nhà Fin bằng xe ngựa. Không biết tôi có nên gọi đó là chiếc xe ngựa không, vì đó thực là mấy mảnh gỗ chắp lại thành hình mui thuyền, và đúng là có họ gần với chiếc xe bò kéo.

Tuy nhiên, giữa cánh đồng lúa non thì con gái, chiếc xe ấy cũng đã đem lại cho tôi những giờ phút khoái trá, khi tôi thấy giàn giụa ra hai bên mình màu cỏ xanh thắm, đậm đà thêm vị hương sắc thanh bình của thôn quê. Mỗi lần chiếc roi ngựa hạ xuống, mỗi lần chiếc xe chạy mau thêm, tôi rùng mình bảo ba tôi:

- Ba nhỉ, những con rắn con nhái chắc chả dám lên cắn con đâu.

Tôi còn nhớ con đường trải thứ đá răm từ ngoài ngõ chạy vút vào nhà Fin, nên mỗi lần xe ngựa của chúng tôi đến, Fin đều dừng tay việc nhìn lên vì nghe tiếng bánh sắt lăn trên đá.

Ba tôi để tôi ngồi cạnh mẹ Fin và Fin, rồi lên gác hút thuốc phiện với ông Châụ Tôi ngồi chăm chú ngắm Fin đắm chìm trong công việc, trong lòng trẻ nhỏ thốt nổi dậy một thứ rung động thầm kín, cái cảm giác đẹp đẽ mà tôi không tìm thấy được nữa trên đường đời. Trái hẳn với bản tính của những người Kinh trẻ tuổi, Fin rất ít nói. Nàng hồn hậu và nghiêm nghị, tươi tắn nhưng mơ màng. Nhiều lúc Fin nghiêng đầu, lắng tai vào không khí, tựa hồ như nghe ngóng một tiếng gì huyền bí, trong cái dáng điệu lơ đãng rất đáng yêu.

Năm ấy, tôi lên mười và Fin lên tám.

Bầu trời sáng và rộng, luôn luôn thấy những buổi hiền hòa, cây xanh gió mát nhịp nhàng với nhau như trong một bài thơ cổ. Tuần lễ một lần, ba tôi đánh xe ngựa sang nhà Fin, và cứ thế, yên yên, lặng lặng, trong tôi đã nảy nở tự bao giờ mối thiện cảm sâu xa đối với người em gái Kinh lai Mán.

Một lần tôi đột ngột hỏi Fin:

- Fin này, Fin có muốn lấy chồng không? Fin lấy tôi nhé?

Fin nhìn vào mắt tôi hồi lâu rồi cười:

- Lấy nhau là cái gì?

- Là ăn cơm với nhau, như ba và mẹ tôi ấy.

Không hiểu sao, Fin vụt cười lên một cách vô cùng lạnh lẽo:

- À! Lấy thế thì không lấy.

Đương vui, bỗng như bị ai đánh, tôi sa sầm ngay nét mặt xuống.

- Thế là... Fin không thích tôi rồi nhé. Để tôi bảo ba tôi không đánh xe sang đây nữa cho mà xem.

Tôi rơm rớm nước mắt, chạy mách ba tôi thực.

- Ba này, Fin nó ghét con, nó không chơi với con, về đi, ba ạ.

Ông Châu ngồi dậy, nhại cái miệng mếu của tôi, rồi cười:

- Không, Fin nó thích con đấy, nó không ghét con đâu. Ra ngoài chơi rồi chốc nữa ông đánh nó cho.

Tôi thui thủi lại ngồi cạnh Fin, đưa mắt buồn nhìn cảnh rừng núi trước mặt, tâm hồn lần đầu rạo rực trong những cảm giác chán nản mênh mông. Lúc ấy, tôi mang máng nhận thấy rằng Fin là người con gái kỳ lạ, không bao giờ có thể trở nên bạn tôi. Và sau này, mỗi lần nhớ đến Fin, tôi vẫn rùng mình trước vẻ lạnh lẽo ấy.

Một hôm, tôi và Fin vào cánh rừng nhỏ gần đấy hái sim. Chúng tôi đi giữa hương mùa thu mới chớm, thanh sắc kỳ lạ của cỏ hoa không quen tên. Lòng tôi rộn lên một niềm say sưa, còn lòng Fin thì vẫn lạnh lẽo. Khi đến một gốc cây gần đấy, tôi chỉ tay bảo Fin:

- Fin này, ổi chín quá, tôi hái cho Fin ăn nhé.

Fin vẫn đi, trả lời buông thõng:

- Tôi không ăn, anh muốn ăn thì lấỵ

Tôi tức giận nhìn Fin bước đi, hằn học, nhủ thầm:

- Đã làm bộ thế, ta cho biết tay.

Rồi tôi gọi Fin:

- Fin ạ, con ong nó đốt tôi.

Fin hốt hoảng chạy lại, hỏi tôi:

- Ong đốt đâu, anh có đau không?

Tôi cầm lấy bàn tay Fin hờ hững đưa ra, và sau câu nói:

- Nó đốt thế này này.

Tôi cắn mạnh vào tay Fin với tất cả sức điên rồ của một tấm lòng thơ trẻ. Tôi chỉ buông Fin ra cho nàng giãy giụa trên mặt đất, khi những tiếng kêu bất thần của Fin làm tôi chợt tỉnh. Tiếng kêu ấy làm giật mình ông bà Châu, ba tôi, và tất cả, người cầm súng, người cầm dao chạy lại cứu, vì đều ngỡ là chúng tôi bị nạn. Tôi quên làm sao được đôi mắt hờn oán của bà Châu, đôi mắt dữ dội của Fin nhìn tôi, sự yên lặng đầy miệt thị, lãnh lẽo như nước đá của con người sinh ra tôi. Tôi xấu hổ, đi lại phía sau, đưa tay áo ra gạt nước mắt...

Cuối năm ấy, ba tôi mất, vết xe ngựa hằn trên dải đường đưa đến nhà Fin đã mòn dần đi, và chận lên đó những bước chân yếu ớt của chúng tôi, những người đôi lúc sang nhà Fin để làm sống lại chút ít sự thân thiết ràng buộc hai gia đình. Ông Châu bỏ tiền ra mua con ngựa trắng của ba tôi và giữ hộ ít hàng cho khỏi bị tịch ký. Thời gian êm đềm trôi qua, tôi và Fin đã lớn. Xung quanh người con gái mười sáu tuổi ấy, mùa xuân bắt đầu rạo rực, ngày tháng bắt đầu thêu hoạ Fin đẹp một cách mọi rợ trong bóng rừng đã thấy nàng lọt lòng mẹ rồi sẽ đi lấy chồng.

Rồi tôi lên hai mươi, Fin mười tám tuổi.

Cách đây hai năm, nhân dịp nghỉ hè, tôi về chơi nhà ông Châụ ông Châu già rồi, sinh lực tàn như ánh đèn dầu lạc. Mẹ Fin và con chó mực đã chết. Riêng Fin vẫn đẹp. Nàng vẫn ngồi quay chỉ, đạp guồng, mắt vẫn nhìn những đường trắng của lớp chỉ chạy đi, quên rằng thời gian bên nàng đã thay đổi tất cả.

Tôi ngồi cạnh Fin, hôm đó là một buổi chiều, một buổi chiều sương đục lờ mờ rây trên dải núi đằng xa. Tôi nhắc lại cuộc chơi bời ngày nhỏ và hỏi Fin:

- Fin còn nhớ ngày nào tôi cắn tay Fin không?

Nhưng Fin trả lời hời hợt:

- Lâu quá rồi, ai mà còn nhớ được!

Nói xong, Fin không tỏ vẻ gì buồn bã cả. Fin điềm nhiên một cách lạnh lẽo, cả đến khi nghe tôi hỏi nàng câu thứ hai:

- Cô Fin sắp lấy chồng chưa ?

Fin đáp một giọng lơ lớ:

- Tôi sắp lấy, anh nà. Tôi lấy một người con trai làng tử tế lắm.

Không dưng, lòng tôi nhói lên, như bị ai chích. Rồi tôi chợt hiểụ Tôi hiểu rằng, trong lòng người con gái của xứ rừng núi này, ẩn một cảm tình khác, nó chỉ đặc biệt ràng buộc với những cái gì thuộc về quê hương, mà không có sức mạnh nào, quyền phép nào, dẫu nhiệm màu, cao cả ở trên thế gian này mua được.

Nhiều lần, ở xa, nhớ đến người con gái vô tình đi qua ngày tháng của tôi, tôi mang máng nghe tỏa từ quãng mênh mông một tiếng gọi gì buồn bã, một tiếng gọi không hiểu chính của lòng tôi hay của khu rừng linh thiêng nghìn đời lặng lẽ:

- Em Fin! Em Fin!

Tôi còn yêu Fin được đến ngày nay, đó chỉ vì tôi ở xa Fin, và không bao giờ tôi gặp Fin nữa. Muôn trùng sở dĩ rạo rực được lòng người, vì muôn trùng là nỗi thương nhớ mênh mông của những tấm lòng rất bạn.


2-1942

ANH ĐỎ PHỤ



ANH ĐỎ PHỤ

Hồ Dzếnh 


Đã lâu, lâu lắm rồi, người dân xã Hòa Trường không ai còn nghe nói đến tăm hơi anh đỏ Phụ Ở đâu nữa. Nhiều người đồn rằng anh đã chết bên Tân thế giới. Riêng tôi, tôi không sao quên được anh, mà không quên được anh, có nghĩa là anh vẫn sống, ít nhất là trong ký ức tôi.


Mãi đến năm hơn ba mươi tuổi, anh đỏ Phụ mới đến làm rể mẹ tôi để chờ ngày cưới chị Yên về làm vợ. Đó là một anh chàng rụt rè, nhút nhát, đối với nhà vợ rất nể sợ, nhưng lại tỏ ra hết sức tháo vát trong mọi công việc. Lui tới nhà tôi trong hơn hai năm, anh giữ gìn từng cử chỉ, lời nói, ngay cả việc giáp mặt chị Yên, anh cũng cố tránh để khỏi mang tiếng là suồng sã. Mẹ tôi thương anh vì anh nết na, cần cù, giao cho việc gì cũng làm đến nơi, đến chốn. Mẹ tôi thường nói:

- Thằng Phụ nó nghèo nhưng là cái nghèo thanh bạch. Ông Biếm lại là ông đồ nho hay chữ nhất xã.

Ông Biếm là bố anh đỏ Phụ. Vác lều chõng đi thi hỏng tú tài, thất thế, ông quay về làng mở lớp dạy học. Cái thuở "chi, hồ, giả, dã" nhanh chóng qua đi, học trò ông Biếm sớm đổi ngọn bút lông sang ngòi bút sắt. Trong đám môn sinh thưa vắng dần, chỉ còn một người theo học, ngoan ngoãn nằm rạp trên chiếc chiếu, mài mực, chép bài. Người đó là anh đỏ Phụ, vừa là con, vừa là môn đệ của thầy.

Rồi anh Phụ cũng thôi học nốt. Vốn liếng chữ nghĩa bố ban cho, anh Phụ chỉ còn giữ lại được mươi trang luận ngữ và anh chuyển sang đọc chữ Nôm, dựa vào cuốn Kim Vân Kiều truyện khắc gỗ, in chân phương trên nền giấy bản:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.


Tiếng anh đỏ Phụ ngâm Kiều nghe buồn như tiếng xẻ gỗ vào những chiều nắng tà hiu hắt. Và cái nghèo, cái đói cũng len lỏi vào ba gian nhà lá thừa tự, làm hốc hác thêm nét mặt người bố và làm rạn dần hai bộ quần áo may bằng vải trúc bâu, lâu ngày sợi đã bở, của hai bố con ông Biếm.

Hồi gia đình tôi mới đến "ngụ cư" ở xã Hòa Trường này, ba tôi tìm tới kết thân với ông Biếm. Ông là người được xóm làng vị nể, họ bên ngoại ông lại trùng với họ chúng tôi. Theo một tập tục đã có từ nhiều đời, ba tôi, mỗi khi đến ngụ cư ở đâu, thường vẫn tìm những người "đồng tính", hoặc "đồng tuế", "đồng hương" để kết nghĩa. Hơn nữa, ông Biếm lại am hiểu Hán học, nên qua những câu chuyện trao đổi, ông trở thành người bạn tâm đắc với ba tôi. Mỗi lần sang nhà ông chơi, ba tôi đều dắt tôi đi theo. Đó cũng chính là đầu mối thân quen đưa đẩy anh đỏ Phụ trở thành người con rể trong gia đình chúng tôi

Còn chị Yên, chị gái nuôi, thì mẹ tôi đặt đâu chị ngồi đó, tuổi chị cũng xấp xỉ tuổi anh Phụ, và cũng ước mong kín đáo một tấm chồng chân chỉ như anh.

Thấy anh đỏ Phụ lần nào đến với chúng tôi cũng chỉ với cái áo cánh nâu, chiếc quần nâu, tôi hiểu ngay rằng anh chỉ có độc một bộ như thế mà khi về nhà anh cởi ngay ra, để mặc vào chiếc quần vá, hoặc đóng một cái khố nâu. Ở quê tôi ngày xưa, đàn ông nghèo đóng khố ra đường là chuyện thường thấy. Một lần, tôi bảo nhỏ anh Phụ:

- Anh em còn mấy bộ quần áo đấy. Hay là em lấy đưa anh mặc tạm nhé?

Tức thì anh Phụ rối rít xua tay, mặt ửng đỏ:

- Chết! Ai lại làm thế. Mẹ biết, mẹ cười cho!

Ý anh Phụ muốn nói:

-... Chị Yên biết, chị Yên cười cho.

Nhưng anh không dám nhắc đến hai tiếng "chị Yên".

Đã là người thân của anh Phụ, tôi hay sang nhà anh chơi. Nhà anh ngăn nắp nhưng có vẻ trống trải, mái lá, vách đất, sân bằng đất nện, nửa sào vườn trồng mấy hàng cây cam, cây bưởi, vài thân cau. Từ ngõ chạy vào là hai hàng rào râm bụt cắt tỉa gọn gàng. Những ngày hè oi ả, sang nhà anh chơi, tôi có cái cảm giác như được hưởng những làn gió mát rợi, làn gió thường ngày vẫn lay động nhẹ nhàng chiếc quần vải trúc bâu phơi trên dây thừng, cái quần độc nhất ông Biếm đợi khô để nương nhẹ mặc vào, mỗi khi có việc ra đường hay đi ăn cỗ. Ông Biếm sống bằng nghề viết câu đối và tính hộ ngày giờ hung cát cho những đôi lứa thành thân.

Vốn liếng hàng năm của gia đình ông là hai mùa trẩy quả vườn đem ra chợ bán, chắt chiu để dành trong cái tráp gỗ sơn đen. Từ ngày được nhận làm thông gia với nhà tôi, ông Biếm mỗi năm ba bốn lần biện một món lễ sang sêu tết, có khi là mâm xôi, con gà, có khi là mấy gói chè hương, khay ngũ quả. Tôi còn nhỏ, nhưng cũng hiểu ra rằng, để sắm được một món lễ cho ra lễ như thế, ông Biếm và anh Phụ đã phải bóp bụng, bớt ăn trong nhiều ngày.

Hơn hai năm qua đi. Sắp đến ngày mãn tang ba tôi. Sắp đến ngày anh Phụ bỏ miếng trầu ăn hỏi, và thế là niềm mong ước bao lâu nay của ông Biếm đã có cơ thành sự thật. Lấy anh đỏ Phụ, chị Yên không phải sống xa nhà, chị có nhiều dịp tạt về thăm chúng tôi, cũng như tôi, bất cứ lúc nào, cũng có thể dễ dàng đến với chị. Cái hạnh phúc nhỏ bé của lòng tôi sao mà náo nức, thiết tha và gần gũi đến thế!

Chị Yên! Nếu đời chị đừng gặp một tai họa éo le, nếu chị cứ là chị Yên ước mong thầm kín một người chồng hiền lành như anh Phụ, thì đâu đến nỗi chị phải xa lìa tôi, lẩn tránh mọi người, và tôi đâu có phải viết ra câu chuyện tình đau xót hôm nay!

Cả anh Phụ nữa, sao cái bóng dáng hiền lành của anh lúc này không còn thấp thoáng hiện ra qua hàng rào cây ruối nữa, cái bóng dáng cố làm ra thản nhiên, nhưng kỳ thực là bối rối, xao xuyến, mỗi lần anh đến nhà tôi?

Chỉ còn một tháng nữa, ba mươi ngày nữa, một tuần trăng nữa, là anh đỏ Phụ sẽ đem lễ sang nhà tôi xin cưới chị Yên! Đột nhiên, như một cơn gió độc, người cậu họ tôi, không rõ từ đâu, sà xuống mái nhà chúng tôi, ở lỳ làm một vị khách báo hại. Những cái gì xấu xa, bỉ ổi xảy đến với người con gái đang khấp khởi tin vui, người con gái đau khổ, tôi đã có dịp viết hết ra trong truyện "Chị Yên".

Anh Phụ không biết gì hết.

Mọi người trong nhà tôi không ai biết gì hết.

Chỉ có hai người biết: cậu tôi - tên tội phạm - và tôi. Nhưng cậu tôi đã bỏ nhà tôi, trốn biệt. Tôi ở lại, nhưng tôi lại phải ngậm miệng, giấu tận đáy lòng một sự thật tàn nhẫn mà nếu hở ra, tôi chắc sẽ làm cho đời anh đỏ Phụ tan nát. Thà cứ để anh ấy không biết gì cả, cứ để anh ngờ vực, phỏng đoán, kín đáo dò hỏi xung quanh. Rồi không dằn lòng được mãi, một hôm anh kéo tôi lại sát gần, hỏi rất nhỏ:

- Nói thật cho anh biết đi em. Tại sao chị Yên lại bỏ nhà ra đỉ Ai đánh chị hay đuổi chị?

Tôi trả lời mà đôi mắt cay sè, nóng bỏng:

- Em không biết. Em không biết thật mà. Chắc là... chắc là chị ấy bị mẹ mìn dỗ đi không chừng. Giá như mọi lần, nghe tôi nói như thế, anh Phụ đã cười. Nhưng lần này anh không còn có thể cười được nữa. Mặt anh đanh lại. Tiếng anh nói, tôi nghe thều thào, không thật, tiếng nói như rơi vào một khoảng trống rỗng mơ hồ:

- Lạ thật em nhỉ? Sao chị Yên lại bỏ nhà ra đi?

Rồi anh nằm vật xuống giường, một tay vắt lên trán, thở dài. Đó là một dáng nằm chán chường, tuyệt vọng. Tại sao tôi không nói thẳng cho anh biết rằng chị Yên của tôi, người vợ sắp cưới của anh, đã bị một tên khốn nạn làm nhục? Tại sao? Tôi chỉ còn biết trả lời cho chính tôi nghe mà thôi.

Từ hôm chị Yên bỏ nhà ra đi, việc làm đầu tiên của mẹ tôi là sang xin lỗi ông Biếm và xin trả của lại cho ông. Mẹ tôi tính nhẩm lại những món lễ ông mang sang biếu nhà tôi, hết bao nhiêu, để mẹ tôi đáp lại bằng số tiền rộng rãi gấp bội.

Nhưng ông Biếm một mực từ chối. Đôi mắt ông vốn đã buồn, lúc này càng buồn hơn. Ông vẫn mặc bộ quần áo vải trúc bâu đã sờn để tiếp chuyện mẹ tôi, bộ cánh ngày nào ông mặc vào những lần sang sêu tết. Tôi nhận thấy ông già đi nhiều, đôi gò má nhô lên và nước da khô héo. Giọng ông run run, chậm rãi:

- Bà cũng như tôi, có ai muốn chuyện xảy ra như thế này đâu. Chỉ thương thằng Phụ nhà tôi, hơn ba chục tuổi đầu rồi mà vẫn còn chịu cảnh hẩm hiu. Chỗ đi lại thân tình từ ngày còn ông cụ, xin bà chước cho món tiền trả của.

Nói xong, ông lim dim mắt nhìn ra ngoài vườn đầy nắng gió. Vẫn là thứ gió hiền hòa, nhẹ nhàng phe phẩy ngọn cau, giậu hoa râm bụt, thứ gió đã đón tôi ngày nào tôi sang chơi với anh đỏ Phụ.

Không trả được của cho ông Biếm, mẹ tôi tính sang một chuyện khác, hy vọng có thể làm nguôi ngoai được nỗi lòng anh Phụ. Dạo đó, mẹ tôi quen biết một nhà thuyền chuyên đến khắp nẻo bến chợ, buôn bán, đổi chác các mặt hàng. Chủ thuyền là một bà trước đây ở thị xã, có một cô gái lớn chưa chồng. Họ cần một tay chèo lái. Dịp may hiếm có, mẹ tôi giới thiệu anh đỏ Phụ. Thoạt đầu, anh không bằng lòng. Mẹ tôi cố nói vào để anh xiêu lòng dần:

- Anh chịu khó xuống thuyền với họ. Họ là những người làm ăn thật thà, may ra anh cũng có phận nhờ. Con Yên nó không lấy được anh là một thiệt thòi cho nó lắm. Anh phải thương lấy ông cụ, thương lấy anh.

Mẹ tôi đã tính toán và xếp đặt rất khéo. Anh đỏ Phụ đến sống trong khoang thuyền chật hẹp, làm sao khỏi có những "ra đụng vào chạm" với cô gái con bà chủ? Trước lạ, sau quen, huống hồ anh Phụ lại là người cần cù, chịu thương, chịu khó, thì sớm hay muộn, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.

Cuộc đời sông nước của người con trai xã Hòa Trường bắt đầu từ đó. Đã nhiều canh gà lạ eo óc trên những bến sông xạ Đã nhiều lần sao hôm, sao mai thay nhau hiện ra rồi lịm tắt. Nhưng hình bóng anh đỏ Phụ vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức tôi, thấp thoáng bên kia hàng rào cây ruối, mỗi lần anh đến nhà tôi. Cũng như còn nguyên vẹn cái vẻ hớt hải của chị Yên, khi chị nắm chặt cánh tay tôi lần chót, rồi vội vã bỏ ra đi vào một buổi sáng còn chưa rõ mặt người.

Chị Yên! Chị đi đâu đấy? Tại sao tôi không đủ can đảm nói thật tất cả cho anh đỏ Phụ biết? Tôi không dám nói ra vì đó là sự thật! "Có những sự thật không nên nói ra", ai đã viết nên câu chân lý đó?

Tôi mong cho con thuyền đưa anh Phụ trên các triền sông được thuận buồm, xuôi gió, cuộc đời anh được bình an ghé lại một bờ bến yêu thương. Mẹ tôi có lần vui vẻ nói với chúng tôi:

- Thằng cha đỏ Phụ tưởng không gặp may, thế mà lại hóa ra tốt số. Thôi thì cũng mừng cho nó. Nhưng mẹ tôi mừng hơi vội, vì một hôm, bất ngờ, anh đỏ Phụ đã trở lại. Anh không còn là anh đỏ Phụ ngày nào nữa. Nước da anh đã sạm nắng gió. Anh gầy đi trông thấy, đôi mắt đăm chiêu mỏi mệt. Chỉ khác trước đây là anh đã có thêm bộ quần áo bằng vải thô nhuộm mầu chàm xanh lơ như mầu sông nước.

Anh trở về, nhưng không còn ghé lại nhà chúng tôi như bao nhiêu lần trước nữa. Trong ba gian nhà lá thừa tự, bên cạnh người bố già, anh sống lùi lũi như một chiếc bóng cô đơn. Đã tắt hẳn cái giọng kể chuyện Kiều kéo dài và buồn man mác. Ngay cả tôi là người anh vẫn từng tỏ ra trìu mến, anh cũng tìm cách lánh mặt, hôm tôi đến gặp anh, trước khi lên đường ra thị xã học tiếp. Tuy anh không hé môi nói vì sao anh bỏ mẹ con bà chủ thuyền để trở về với cái xã Hòa Trường heo hút này, nhưng chúng tôi đều biết rằng, một lần nữa, đời anh lại "đứt gánh". Con thuyền buôn ghé lại ăn hàng trên các bến sông, đã thay chủ, và người chủ thuê mướn anh cũng đã thay lòng. Không còn chuyện "lửa gần rơm" như hôm nào mẹ tôi từng mong ước cho anh đỏ Phụ, cho chú rể hờ.

° ° °

Tôi ra tỉnh vừa học, vừa làm "gia sư" cho một nhà hàng cơm sát ngay ga xe lửa thị xã. Tại đây, có nhiều toán người thay nhau đến ăn cơm và ngủ trọ. Hầu như ngày nào cũng diễn ra những quang cảnh lạ lùng: những đợt mộ phu đi đất đỏ cao su và sang Tân thế giới. Những tên cai mộ phu lỳ lợm, mặt cắt không ra một giọt máu, mở túi bạc trả tiền mua người theo một giá ấn định, sau khi đã cầm từng ngón tay bắt lăn và điểm chỉ lên tờ giấy cam đoan đóng sẵn con dấu nhà thầu: mười đồng một đầu phu sang Tân thế giới và năm đồng đến đất đỏ Nam Kỳ. Chỉ sau một cử chỉ khô, gọn là nhận số tiền định mạng, con người chợt thấy hoang mang, nghe như có nhát dao nào cắt đứt lìa mình khỏi cuộc đời quen thuộc, khỏi thân thích, quê hương.

Một hôm, đang đứng chứng kiến cảnh đau lòng kia, tôi bỗng giật mình nghe có tiếng ai gọi:

- Cậu! Cậu út!

Tôi đưa mắt tìm: anh đỏ Phụ! Bên cạnh anh là người chị gái nghe tin em đi phu, nên vội ra thị xã tiễn chân. Tôi chạy lại với anh. Anh vẫn mặc bộ quần áo xanh lơ màu sông nước, chỉ khác là phía trên ngực, vừa đính thêm một mảnh vải trắng mang hàng chữ số phu phen! Tôi nghẹn ngào hỏi anh:

- Anh đi đâu đấy anh Phụ? Sao anh lại ở đây?

Anh đưa ống tay áo lên gạt nước mắt, trả lời tôi:

- Tôi đi phu Tân Thế Giới cậu ạ. Ra đây tìm mãi không được việc làm. Thôi thì cũng liều một chuyến, có người, có ta, lo gì!

Từ phút gặp lại nhau, anh đỏ Phụ và tôi không lúc nào còn muốn rời nhau ra nữa. Cả hai chúng tôi cùng nằm chờ tàu ngoài sân ga, suốt một đêm dài. Chúng tôi yên lặng nhiều hơn là nói chuyện, những câu chuyện ngày xưa vô cùng, vô tận, nhưng lại đứt đoạn, rời rạc, vì tâm trạng chúng tôi đang ở vào một cực độ hoang mang. Cũng như tôi, anh Phụ tránh không nhắc đến tên chị Yên, tuy anh có hỏi thăm mẹ tôi.

Đêm đó, tôi mong cho con tàu đừng đến, mong anh Phụ đổi ý, trở về. Nhưng tất cả chỉ là ước mơ hờ hão. Anh đỏ Phụ đã lăn tay, đã điểm chỉ rồi. Anh đã dúi vào bàn tay người chị gái tờ giấy bạc con công năm đồng, nửa số tiền bán đời mình để gửi về phụng dưỡng bố.

Và con tàu đang lù lù tiến đến, sau một hồi còi thét lên, xé ruột. Anh đỏ Phụ đứng bật dây. Tôi ôm ghì lấy anh, khóc nức nở. Một bàn tay chắc nịch kéo tôi ra, ấn anh Phụ và toán phu vào trong cái toa sắt đen ngòm, cái toa thường ngày vẫn dùng chở súc vật, khóa lại.

Khi đoàn tàu lừ lừ chuyển bánh, từ giữa đám người còn hoang mang, ngơ ngác, chị gái anh đỏ Phụ vụt lao ra, đâm bổ chạy theo tàu, chạy theo em, chạy thật nhanh, gào khóc, vẫy gọi, như muốn giằng lại khối thép, cho đến khi đứt hơi, chị nằm ngã vật xuống bên đường.

Con tàu mở hết tốc lực, phun khói mịt mù.

Từ phút đó, không bao giờ tôi còn gặp lại anh đỏ Phụ nữa.