Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Thị Hảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Thị Hảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

CHUỖI NGƯỜI ĐI TRONG ĐẦM LẦY

 


CHUỖI NGƯỜI ĐI TRONG ĐẦM LẦY

Võ Thị Hảo

Cứ chạng vạng, khi bóng tối đổ sẫm màu một góc rừng U Minh, những tia nắng rụng góc trời cháy rực, khi đàn muỗi bắt đầu cất mình lên như đám mây nặng trĩu những giọt sương máu từ đầm lầy, khi đàn quạ khạc ra tiếng khàn đặc rên rẩm trên những chạc cây bị sét đánh cụt ngọn, đó là lúc người đi rừng chậm chân bắt đầu nghe từng tràng tiếng hú ghê rợn. Không rõ cất lên từ đâu, loạt tiếng hú làm nổi gai lưng này. Chúng rên từng hồi đứt đoạn. Luồn như rắn dưới những tàn lá rậm rịt. Dán mình trườn trên mặt bùn nhão sệt nham hiểm của đầm lầy rồi trôi dạt trong bầu không khí u uẩn bốc lên từ những xác cây mục, đe nẹt ngay cả những kẻ làm nghề sơn tràng táo gan nhất.

Dân quanh vùng chỉ dám kiếm ăn von ven ngoài bìa rừng, ruột cứ cuộn lên nỗi thòm thèm tiếc của. Đời ông đời cha họ truyền lại, ở trong sâu kia, có vô khối chim thú lạ mà chỉ cần bắt được một con cũng đủ để sung sướng cả đời. Chưa kể đến bao nhiêu trầm, kỳ nam đang lặng lẽ toả mùi thơm trong những thân cây huyền hoặc. Nhưng có thèm khát đến mấy, dân sơn tràng cũng chỉ dừng lại ở những lời than tiếc nắc nỏm. Đã không ít kẻ bạo gan chẳng chịu nổi sự cám dỗ, liều mạng dấn sâu vào đầm lầy, đặt chân lên lớp bùn mịn và lập tức cái lớp bùn gian manh kia sụt xuống nuốt từ chân đến bụng rồi đầu kẻ xấu số. Tiếng kêu cứu của người sắp chết chỉ còn ằng ặc sủi bọt trong cái đầm lầy không đáy trước khi mất dạng. Và cứ kéo nhằng nhẵng theo những buổi chiều ngằn ngặt tiếng hú là đoàn người lê thê lết đi không một tiếng động trong sương mờ. Đoàn người không rõ hình hài, được xâu thành chuỗi qua lòng bàn tay bằng một sợi thép gai rỉ bê bết máu khô lẫn máu tươi. Nhìn kỹ, chuỗi người bị xâu đều thiếu gan bàn tay, gan bàn chân. Thiếu tai. Máu đổ ri rỉ chảy dọc lối họ qua. Những bàn tay chìa ra phía trước, rên xiết đòi lại thứ mà họ đã bị cắt, bị chặt, bị xẻo. Cuộc diễu hành rùng rợn kéo dài cho đến khi mặt trời khuất hẳn sau rừng cây thì những tiếng rú ghê rợn cũng dứt. Không gian gần như bình yên cho đến lúc gà gáy canh tư.

Khi tiếng gà đầu tiên vừa cất lên, cuộc diễu hành lại tiếp tục theo hướng ngược lại. Đoàn người trở về. Họ dong theo đoàn một gã to con, mặt trắng bệch với nụ cười gằn ẩn sau khuôn miệng đỏ bầm lượn cong cong như miệng đàn bà. Hai chân hắn bị xiềng. Tiếng xiềng khua xủng xoẻng như kẻng báo giờ chết. Hai tay hắn đỡ một chiếc mâm khổng lồ đầy ụ thức ăn đã chế biến và được bầy biện rất tinh tế, khiến chúng đẹp rực rỡ như một chiếc lẵng lớn đầy hoa lá. Nhìn kỹ, đó là món nộm tai người và món hầm gan bàn tay, gan bàn chân người, dù chúng đã được cắt tỉa, nhuộm màu với một nghệ thuật sành sỏi. Gã to con chìa cái mâm ra trước mặt đoàn người.

- Này là chân, là tay, là tai các người. Nhặt lấy.

Đoàn người xúm lại, chen chúc, vừa rên rẩm vừa rạp xuống, lẩy bẩy lục lọi. Cố tìm ra đâu là tai, đâu là gan bàn chân bàn tay họ đã bị thái nát ra, tẩm ướp mắm muối mỡ đường, nhuộm màu sặc sỡ dưới hình hài những mỹ vị. Sau một hồi tìm kiếm, đoàn người rú lên tuyệt vọng, xô lại túm lấy gã quật xuống đất. Gã chẳng hề hấn gì, nhăn nhở cười với đôi môi bầm đỏ máu thêm nhành rộng trên khuôn mặt trắng bệch.

Một ngày của đặc khu Thủy Yến được bắt đầu và kết thúc như vậy. Tiếng súng đạn của những trận kịch chiến đã qua ba mươi năm, nhưng những cuộc diễu hành thì chưa ngơi lấy một ngày.

° ° °

Con hổ mang bành dữ dằn gồng mình quấn xoắn lấy cánh tay trần mảnh mai rám nâu của vợ Ba Xà. Cái đuôi chơm chởm vảy sừng của nó chọc lên tận cổ chị muốn đâm thủng da thịt. Con rắn rút sống lưng dồn vảy dựng đứng định bẻ gẫy cánh tay. Cái giống vật mốc xì và nồng nặc mùi hôi đầm lầy này lớn cỡ cổ chân, dài gần sải tay. Cổ bạnh ra phun phì phì. Đôi mắt độc địa chằm chằm nhìn, cái ánh mắt sáng rờn rợn hòng thôi miên người đàn bà nhỏ thó mồ hôi chảy thành dòng ướt đẫm mặt.

Vợ Ba Xà không ngán. Dù sao thì ông chồng chị cũng đã nổi tiếng là người bắt rắn giỏi nhất vùng. Nhà lại sẵn môn thuốc gia truyền chữa rắn cắn thần diệu sống để dạ chết mang theo. Vợ Ba Xà bặm môi. Ngón tay cái và ngón trỏ thoăn thoắt lừa miếng thít chặt lấy mang, sát cái miệng đang há ra đỏ lòm của con rắn, khiến nó không có cách gì cắn được và phải nhả nọc độc vào một chiếc lọ nhỏ. Rồi tay trái chị nhúng vào một thứ nước ngải có mùi thơm ngai ngái, vuốt hờ trên đầu rắn. Lập tức con hổ mang bành trở nên ngoan ngoãn, nới lỏng vòng quấn. Vợ Ba Xà thảnh thơi cho nó tuồn vào một chiếc lồng sắt ken dày và cài chặt then lại. Chị cất chiếc bình chứa nọc vào một thùng xốp lớn đựng đầy nước đá. Khi chị trút bỏ quần áo xuống sông tắm, lằn lưng con rắn vẫn hằn đỏ cánh tay.

Nước phù sa ưng ửng màu vỏ trứng gà ve vuốt bộ ngực nở vồng vì căng sữa và cặp mông cũng màu vỏ trứng gà rắn chắc của chị. Mặt sông mênh mang lấp loá nắng. Gió lay lá cây đọng mỡ phù sa long lanh ngọc bích. Nắng soi rõ cái xóm chỉ có bốn căn nhà lẻ loi bên bìa rừng đang đổ bóng nhỏ xíu xuống vệ sông. Tiếng gà gáy trưa loang dài cũng vàng rười rượi. Vợ Ba Xà khoả nước, mỉm cười. Ba Xà người chắc như cây lim, bắt được nhiều rắn nhất xóm. Thằng Rồng đã đầy tuổi thôi nôi, hay ăn chóng lớn. Ghe của cái ông bụng phệ cứ đến đúng hẹn lấy nọc rắn. Nhà chị có bộn tiền mua dưa mắm.

Bóng cây trứng cá đổ dài trên mặt sông, nghiêng xuống bờ vai lấp lánh nước của vợ Ba Xà một vệt đen mờ. Vợ Ba Xà hối hả vơ vội chiếc áo, chạy tấp vào nhà. Trên bộ ván ngựa, thằng Rồng đang giơ cả bốn chân lên trời khóc. Thằng bé có đôi mắt nâu hình lá trâm bầu của mẹ, đường viền môi rõ nét như cánh cung của cha. Không chỉ vợ chồng Ba Xà, mà cả xóm đều cưng thằng bé hết cỡ. Người mẹ vội ấn vú vào miệng con. Vừa kịp ngẩng đầu lên đã thấy có bóng người đổ tối sầm trước cửa. Chị há miệng kêu không ra tiếng.

Ba Xà không về một mình. Nằm thượt trên lưng anh, trông như đã chết là một người tóc tai râu ria lòng thòng, mặt sưng phù bầm tím, chân dài quết đất. Ba Xà thở hồng hộc, nặng nhọc bước qua bậc cửa, ghé vai đặt cái gã trên lưng xuống bộ ván ngựa duy nhất trong nhà, rối rít gọi vợ:

- Để thằng Rồng đó. Mở khạp lấy cho tui chai thuốc chữa rắn cắn. Cầu may. Thằng này bị rắn lục cắn. Không chắc sống...

Vợ Ba Xà lập cập giằng đầu vú ra khỏi miệng con, đặt nó nằm chỏng chơ trên bộ ván, cạnh cái gã trông như quỷ xồm đang bất tỉnh kia, hối hả đi lấy thuốc. Trong lòng chị có những cảm giác trái ngược. Vừa muốn giúp người gặp nạn. Vừa lo sợ. Cái thứ thuốc bí truyền này, chỉ có những gia đình mà tổ tiên làm nghề bắt rắn nhiều đời, từng bị rắn cắn chết đi sống lại nhiều lần, trong gia tộc đã có người nộp mạng cho thần Rắn mới có được. Lúc sắp chết, người giữ bí truyền mới vẫy đứa con tin cậy nhất đến, thều thào trăng trối vào tai, mà không bao giờ quên dặn một câu rằng thuốc này chỉ truyền chữa cho người nhà. Nếu chữa ra ngoài, thần Rắn sẽ bắt đổi mạng. Vợ Ba Xà cầm lọ thuốc, ngần ngừ không muốn đưa. Biết ý vợ, Ba Xà mắng át:

- Chần chờ gì nữa. Mặc người ta chết à? Đưa đây. Lạy thần Rắn tha tội. Ba Xà này không thể thấy người sắp chết mà không cứu.

Nhà hàng xóm nghe rộn rạo cũng đổ sang. Người lấy đũa cậy răng đổ thuốc. Nhìn Ba Xà cầm lưỡi lam rạch chỗ vết cắn ghé miệng hút nọc, ông Bẩy Trăn thất kinh.

- Liều mạng vậy, Ba Xà. Coi chừng mầy chết thay nó, nếu mồm hoặc lưỡi mầy bị chảy máu đó nghe.

Vật lộn toát mồ hôi một hồi. Khi mọi người đã bải hoải cả chân tay, tính đi kiếm bộ ván chôn người xấu số, thì gương mặt tím bầm của kẻ bị nạn bỗng thoáng chút sinh khí. Gã thở dài, từ từ mở mắt ngơ ngác nhìn quanh, rồi kêu lên yếu ớt, nghe không giống tiếng người. Thế mà tiếng kêu đó được phát ra từ một lồng ngực đang rất phổng phao của một gã trai áng chừng chưa qua ba mươi tuổi. Cái miệng rất đẹp, hàm răng chắc khoẻ sáng loà ló dạng giữa đám râu ria rậm rịt rối bù như dây rừng. Từ đôi mắt đen, sâu, hoang dại nhưng hiền như mắt bò con của gã ứa ra những giọt nước.

Nắng tắt hẳn. Xa xa vọng ngàn ngạt những tiếng hú từ rừng sâu.

° ° °

Ba năm sau.

Cái gã đó, giờ đây mang tên Pạng, đã coi Ba Xà như cha và ở hẳn trong nhà anh. Sở dĩ gã mang tên Pạng, vì cách đây ba năm, khi vợ Ba Xà đổ cháo vào mồm hắn, ra hiệu hỏi nhà đâu, hắn giơ ngón trỏ và ngón tay cái lên làm thành hình quả trứng, ý là "không". Khi hỏi tên, gã đập tay bồm bộp vào ngực, kêu " Pạng pạng..." . Khi vừa đứng lên đi lại được, gã quỳ sụp xuống trước mặt Ba Xà, lạy như tế sao, gọi anh là "pạ pạ", nghĩa là bố, gọi vợ Ba Xà là "chị", và thằng Rồng là "em", rồi xin ở lại nhà.

Gã theo Ba Xà đi bắt rắn, nay đã thành thạo. Nhưng Ba Xà nể hơn nhiều khi nhìn gã vồ chuột. Chỉ đôi bàn tay không, hễ trông thấy chuột là hắn đổi khác, vươn mình dẻo như một con vượn, lẹ làng khác thường. Những con chuột rừng thân dài, thịt không béo mà rắn chắc, lọt vào nằm gọn trong tay gã như có phép dính. Những khi cầm con chuột giẫy giụa trong tay, đôi mắt bò non của gã bỗng sần lên những tia khoái trá. Từ ngày có gã, nhà Ba Xà lúc nào cũng sung túc chuột, nhím, vui lên vì thỉnh thoảng hắn đã có thể nói dăm câu và cười. Vợ Ba Xà thì dạy hắn đọc và viết. Khi chiếc tivi chạy bằng máy nổ phát ra chương trình ca nhạc, hắn khẽ nhún nhẩy và ê a hát theo như trẻ con. Hắn cung kính với Ba Xà như cha đẻ. Thường cho thằng Rồng quà là những con chuột nướng to bằng bắp tay. Khi rừng ngập, khan hiếm thức ăn, hắn nhịn phần ăn của mình cho thằng Rồng. Nhưng cả xóm đều thấy lạ là không bao giờ hắn chịu bế thằng bé. Hễ thằng bé đến gần là hắn bối rối lảng đi, mà con mắt vẫn vụng trộm ngoái lại. Nghĩ rằng hắn thèm bế thằng bé mà không dám, có lần vợ Ba Xà đặt thằng Rồng vào tay hắn, hắn lắc đầu quầy quậy và lảng ngay ra xa. Đôi khi, vợ Ba Xà bắt gặp hắn ngồi xổm ở góc vườn, nhìn thằng Rồng đang chạy chơi như nhìn một con chuột lạ.

° ° °

Hăm hai tháng chạp. Xóm bốn nhà rình rang giã gạo làm bánh đón Tết.

Hai tay xách nặng. Lỉnh kỉnh những bánh trái, gạo thịt, quần áo mới, Ba Xà cột ghe, hăm hở bước lên bờ. Đáp xuống chợ tỉnh từ chiều qua để sắm Tết giờ mới về đến nhà, chưa chi Ba Xà đã nhớ con. Anh nghĩ đến gương mặt tươi rói của vợ, nụ cười toét miệng của thằng Rồng khi trông thấy những thứ trên tay anh. Anh cũng mường tượng thấy khuôn mặt sáng lên của thằng Pạng, gã trai lầm lì nhưng chăm chỉ mà ba năm nay anh đã coi như đứa con nuôi dù tuổi nó kém anh chưa tới một giáp. Anh thương nó không cha mẹ, không biết gia đình ở đâu, khi hỏi đến chỉ biết lấy tay chỉ vào rừng. Quà anh mua cho nó kỳ này là một chiếc quần bò màu tím than.

Vừa dợm chân đặt lên ngõ, Ba Xà rởn người vì nghe thấy tiếng gào rú. Ba Xà quay ngoắt về phía có tiếng rú, thấy một đám đông đang xúm xít dưới gốc cây xoài lớn đầu xóm, ngửa cổ nhìn lên cây, vẻ mặt rất hoảng sợ. Ba Xà buông mấy thứ đồ mới sắm ngả ngớn trên mặt đất chạy tới. Thì thấy vợ anh, mặt tái dại, miệng há ra nhưng không nói được, như người bị trúng gió cấm khẩu, đang quỳ, chắp hai tay vái cái gì đó ghê gớm lắm trên ngọn cây .

Ba Xà nhìn lên.

Cheo leo cao tít tắp trên cành chĩa lên trời, mềm oặt xuống như sắp gẫy vì sức nặng, là một thằng người cao lớn chân dài, cái miệng với hàm răng trắng ngậm dao bầu lấp loá nhô ra trong nắng, nhìn từ dưới lên cao đã thấy chói mắt. Thằng người nhìn xuống đám đông vẻ vừa sợ sệt, vừa đe dọa, một tay hắn bám ngọn cây, một tay hắn giấu một vật gì đang động đậy, trông như một con gà trắng. Đôi mắt bò non trợn trừng lừ lừ hắt ra màu xanh như màu rắn lục.

- Thằng Pạng. - Ba Xà hét lên.

Nghe tiếng hét, thằng người giật mình. Nhìn rõ đôi chân dài thượt của gã run lẩy bẩy. Gã lấm lét nhìn Ba Xà, co một chân lên. Lúc đó, Ba Xà mới nhìn rõ, thằng Pạng không ở trên cây một mình. Cái bọc động đậy đó, chính là thằng Rồng con anh. Thằng bé khóc không ra tiếng, giẫy giụa trong những ngón tay đen đúa quắp chặt như vuốt diều của thằng Pạng. Hết hồn hết vía, Ba Xà lấp bấp vỗ vào gốc cây, rối rít gọi:

- Pạng, sao nghịch dại vậy. Đưa em xuống ngay. Chết cả hai bây giờ.

Pạng có vẻ phân vân. Trong tay hắn, thằng Rồng mở con mắt lờ đờ ngó xuống, bật lên một tiếng khóc, rồi tắt lịm. Pạng lom lom ngó xuống, canh chừng, hét lên với đám người:

- Thả tao đi. Nếu không, tao giết thằng Rồng.

Lúc đó, Ba Xà mới nhìn rõ, trên cổ gã đeo lòng thòng một cái tai người mà máu đã khô quánh đen bầm. Một mùi tanh nồng nặc bốc lên trong buổi trưa oi nồng khiến người ta nghĩ đến không khí của những bữa tiệc máu. Cả đám người lặng ngắt nín thở, nhìn thằng bé đung đưa mềm oặt trong móng vuốt thằng Pạng. Ông Bẩy Trăn run rẩy ghé tai Ba Xà:

- Tai bà Hai Rỗ đó. Thằng Pạng cắt khi bà đang ngủ. Nghe bà Hai rú, cả xóm rần rần đổ đến. Thằng Pạng mới cắp thằng Rồng leo lên cây. Nó nhe răng gớm ghiếc, như sắp ăn thịt thằng Rồng. Cả giờ nay rồi. Vợ mày té xỉu mấy lần mới hồi lại. Coi chừng đừng leo lên cây nghe, Ba Xà. Nó bóp chết thằng Rồng tức khắc đó. Dùng lời ngọt mà dỗ. Nó chỉ nể riêng mầy ...

Chưa nghe dứt lời can của ông Bẩy Trăn, Ba Xà đã trèo lên cây. Vừa lên ba nấc đã nghe tiếng rít ghê rợn trên đầu. Con dao nhọn dùng để lột da rắn của nhà anh từ tay thằng Pạng sượt qua mang tai, cắm phập xuống đất, ngập tận cán. Từ tai Ba Xà, một dòng máu đỏ ri rỉ chảy dài. Ba Xà buông tay, rơi thịch xuống đất. Vợ Ba Xà lao đến ôm chặt lấy chồng. Mắt chị lạc đi, con ngươi đảo lên.

- Thằng Pạng. Mày đang tâm giết cả pạ pạ mày sao?

Nghe hai tiếng "pạ pạ", thằng Pạng như sực tỉnh, ngó xuống. Hình như hắn nhận ra Ba Xà. Mắt đã bớt xanh lẹt. Nhưng bàn tay quắp thằng Rồng vẫn huơ lên hăm dọa trên đầu. Ba Xà nén đau, cất tiếng dỗ dành:

- Con ơi, con quên rồi sao? Ai đã cõng mày về từ trong rừng, cứu mày, nuôi mày như con? Thằng Rồng là em con đó, Pạng! Mày nỡ làm pạ pạ đau lòng sao? Mau mau xuống đây. Pạ không đánh, không mắng, cũng không cho ai đánh con đâu. Mày không xuống mau, thằng Rồng em mày chết mất.

Nghe những lời đó, cành cây đang đỡ thằng Pạng bỗng rung chuyển. Gã chuyền xuống một cành cây thấp hơn, ngó lom lom vào mặt thằng Rồng đang thoi thóp thở. Răng nhe sáng loá. Cái miệng dẹp phát ra những âm thanh nghe không giống tiếng người :

- Pạ ơi! Tôi đâu có định ăn thằng Rồng. Dù thịt trẻ nít thơm ngon lắm. Ba năm nay, ơn pạ cứu mạng, tôi đã cố nhịn....

Gã bỗng ôm mặt khóc, hú lên qua dòng nước mắt li ti rỏ xuống như những giọt nọc rắn.

- Pạ ơi! Sao bỗng dưng pạ lại bỏ đi. Tôi không thể làm người được nữa. Pạ cứ đi khỏi nhà là tôi thèm những bữa tiệc tai người. Từ nhỏ, tôi đã ăn như vậy. Ông chủ bảo tôi cách đi bắt người như bắt chuột rồi vác về đặc khu. Ông dạy tôi cách làm nộm tai người.

Ba Xà rùng mình, lạnh tận sống lưng. Anh nhớ lại những câu chuyện về đoàn người lũ lượt đi trong tiếng hú khóc trong đặc khu Thủy Yến, trong ánh vàng vọt của những tia nắng rụng, đi đòi lại tai và gan bàn chân bàn tay của mình đã bị xẻo trong những ngày chiến tranh. Mấy chục năm qua rồi cơ mà? Chiều chiều đi bắt rắn về muộn, Ba Xà vẫn nghe tiếng hú, nhưng cứ tự nhủ rằng không biết mình mơ hay tỉnh. Vậy, cái gã đang đung đưa mình trên cây kia, quắp chặt đứa con của anh trong tay, là người hay ma? Ba Xà cố hết sức trấn tĩnh, lấy giọng ngọt ngào.

- Pạng này, tỉnh lại đi con. Con không cha không mẹ. Con là con của ta. Ba năm nay con sống ở xóm này. Mọi người thương con mà. Xuống đây, ba đón. Nào, nghe ba, đưa em con xuống trước rồi ba đỡ con xuống sau. Ta bảo đảm cho con mà.

Nước mắt Ba Xà rơi lã chã. Thằng Pạng dịu nét mặt. Mắt gã trở lại gần như mắt bò con. Gã nghi ngại nhìn mọi người đang đứng quanh Ba Xà, bàn tay quắp chặt thằng Rồng đã nới lỏng. Ba Xà biết ý, nói:

- Bà con về nhà giùm đi. Không việc gì đâu. Để thằng Pạng mang em nó xuống đây. Nào Pạng con. Ngoan lắm.

Ánh mặt trời đã úa vàng chiếu qua kẽ lá xoài, hắt lên mặt thằng Rồng những tia vàng vọt. Pạng trừng trừng nhìn thằng Rồng. Rồi nó thẫn thờ lần xuống từng cành cây, thấp xuống tới mức Ba Xà cập rập đưa tay ra định bồng lấy con. Nhưng thằng Pạng lại dừng phắt. Nó riết chặt con mồi trong vòng tay, mắt nhìn trừng trừng, nước miếng chảy ròng ròng qua khoé mép. Họng nó nhẩy nhẩy, lên xuống bật ra những tiếng hực hực thèm khát. Ba Xà níu chặt gốc cây. " Pạ...Pạ...!"...Tiếng nức nở của thằng Pạng. Như trong cơn mơ, cái thân thể bé bỏng của thằng Rồng chợt được Pạng buông xuống nằm gọn trong tay Ba Xà. Ba Xà muốn ngẹt thở, hối hả ấp mặt vào ngực thằng con.

Trên cây, thằng Pạng vẫn ngồi lặng. Nó nhìn chị Ba Xà ôm chặt thằng Rồng, bỏ chạy vào nhà, chốt chặt cửa. Nó nhìn thấy lũ người lúc nãy nghe Ba Xà tản vào nhà, bây giờ đang lấp ló chạy trở ra. Còn Ba Xà thì vẫn đứng dưới gốc cây, vẻ bồn chồn, như đợi hắn nhẩy xuống. Pạng nhìn đôi tay chằng chịt sẹo của pạ pạ. Đôi tay này là hình ảnh đầu tiên hắn nhìn thấy sau khi tỉnh lại từ lần hút chết do rắn lục cắn. Một lần nữa, những giọt nước mắt li ti lại ứa ra trên đôi mắt hắn. Hắn bất giác mím miệng dợm chân bước xuống. Chỉ một nhành ngang nữa là tới tay pạ pạ. Đúng lúc đó, tia nắng vàng vọt cuối cùng rớt xuống. Và, nghe rất rõ, một chuỗi tiếng hú ảo não vọng tới từ ruột rừng sâu. Thằng người đang đứng trên cây bỗng sựng ngược. Hắn vùn vụt leo trở lại ngọn xoài, dỏng tai nghe. Tiếng hú vẫn vọng lại, nghe rõ mồn một. Gương mặt thằng người bỗng nhiên xa vắng. Màu xanh rắn lục trở lại trong cặp mắt bò non.

Hắn nhìn lên trời, nhìn về phía đầm lầy hun hút sâu trong rừng. Rồi nhìn xuống gốc cây, nơi pạ pạ của hắn đang đứng. Bỗng hắn ngửa cổ lên trời, cất lên một tiếng rú. Tiếng rú này nghe giống tiếng người não nuột nối dài muôn ngàn tiếng hú vọng lên từ phía đầm lầy, trước khi hắn nhảy dựng lên lần cuối, rơi xuống gốc xoài, dội óc chết tươi với một dòng máu nhỏ ri rỉ chảy bên mép. Từ đôi mắt bò non mở trừng trừng của hắn, Ba Xà thấy dường như in hình một gương mặt trắng bệch với đôi môi nhành ra trong một nụ cười khó tả.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2020

Người chăn bò thần thánh

Người chăn bò thần thánh, là thứ hiện thực huyền ảo trắng trợn, vẽ hẳn một bức tranh khôi hài, hãi hùng: Tổ chức nhân đạo quốc tế gửi tặng đàn bò sữa cho một vùng mà nhà nghiên cứu của tổ chức này đã mục kích tận mắt cảnh cả trăm người cầm dao quắm xông vào tranh nhau xẻo thịt một con trâu chết, loáng cái hết nhẵn. Lễ "khánh thành bò" được tổ chức vô cùng trọng thể, vú bò được thắt nơ, cổ bò được đeo các khẩu hiệu kinh điển: "cần kiệm liêm chính", "học tập đạo đức Hồ Chí Minh", "cán bộ là đầy tớ của nhân dân", v.v... Mọi việc được phân công rành rẽ, đàn bò trở thành bò tập thể dưới sự quản lý của nông trường...
Người đọc giật mình, quái đản, không hiểu từ đâu ra lối huyền ảo này ?


Đàn Trâu đang nối nhau di cư ở Dallas (bang Texas, Mỹ).

Người chăn bò thần thánh 


Truyện ngắn của Võ Thị Hảo

Lời tác giả:
(...) (xin lỗi các bạn phải cắt bỏ 1 đoạn vì quá nhạy cảm)

Tôi đã viết về nạn tham nhũng và lạm dụng quyền lực trong nhiều bài báo của tôi trước đây.

Và đã viết về nó trong truyện ngắn “Người chăn bò thần thánh”. Truyện này đã đăng ở Việt Nam và dịch, in ở Nhật bản

Truyện ngắn này tôi viết đã cách đây cả chục năm. Gần đây nhất, nó được in trong “ Võ Thị Hảo- Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm”.

Tôi gửi lên đây. Vì nó, buồn thay, vẫn mang tính thời sự!

Tôi gửi bạn. Cũng như là tiếng kêu của con chim đỗ quyên về vận nước.
Nhà văn Võ Thị Hảo

Dân vùng ấy chẳng mấy khi biết đến miếng thịt. Nhất là thịt bò thì càng hiếm hoi. Hồi ức sang trọng của một vài kẻ sành điệu, là những lúc kẻ ấy lim dim nhớ lại những bữa cỗ có bát rượu nhấm thả cửa với thịt bò chết. Mùa rét, mùa trâu bò bị cước chân, ngã nước, ấy mới chính là mùa tràn trề hy vọng của dân nhậu trong vùng.

Thịt bò chết mà còn hiếm hoi đến thế, thì còn nói chi đến sữa! Phần lớn trẻ con trong vùng không phát âm được từ “sữa”, mà đều nói thành ”sứa”. Nghe quê đành đạch!

“Man rợ quá! Thảm thương! Rùng rợn quá!”.

Dây neo trần gian

Gieo quẻ- Tranh Lê Thiết Cương

Dây neo trần gian


Truyện ngắn Võ Thị Hảo

Nàng gục xuống những lá cháo, những lá gạo và muối bày la liệt trên mặt đất trong căn buồng tối mờ nghi ngút khói hương. Những muôi cháo lá đa. Cháo đổ vào lá để yên ủi những cô hồn váng vất.

Sao trước đây nàng chưa bao giờ để ý đến những mẹt lá đa đong đầy cháo nhỉ? Đựng vào bát không xuể, người ta phải đong vào lá để đủ ban phát cho những hồn côi?

Dưới ánh đỏ vàng của nến được uốn vặn qua làn khói hương, lung linh của một người đàn bà áo xanh khăn đỏ đang ê a trong nhịp phách điệu Bỉ:

… Sống đã chịu một đời phiền (a)… não (chứ)… Thác lại nhờ (hờ)… hớp cháo lá đa…

Nghiệt Kiếp



Nghiệt Kiếp

Truyện ngắn Võ Thị Hảo


Cứ chạng vạng, khi bóng tối đổ sẫm màu một góc rừng U Minh, những tia nắng rụng góc trời cháy rực. Khi đàn muỗi bắt đầu cất mình lên như đám mây nặng trĩu những giọt sương máu từ đầm lầy. Khi đàn quạ khạc ra tiếng khàn đặc rên rẩm trên những chạc cây bị sét đánh cụt ngọn. Đó là lúc người đi rừng chậm chân bắt đầu nghe từng tràng tiếng hú ghê rợn.

Không rõ cất lên từ đâu. Loạt tiếng hú làm nổi gai lưng này. Chúng rên từng hồi đứt đoạn. Luồn như rắn dưới những tàn lá rậm rịt. Dán mình trườn trên mặt bùn nhão sệt nham hiểm của đầm lầy rồi trôi dạt trong bầu không khí u uẩn bốc lên từ những xác cây mục, đe nẹt ngay cả những kẻ làm nghề sơn tràng táo gan nhất.

Dân quanh vùng chỉ dám kiếm ăn von ven ngoài bìa rừng, ruột cứ cuộn lên nỗi thòm thèm tiếc của. Đời ông đời cha họ truyền lại, ở trong sâu kia, có vô khối chim thú lạ mà chỉ cần bắt được một con cũng đủ để sung sướng cả đời. Chưa kể đến bao nhiêu trầm, kỳ nam đang lặng lẽ toả mùi thơm trong những thân cây huyền hoặc. Nhưng có thèm khát đến mấy, dân sơn tràng cũng chỉ dừng lại ở những lời than tiếc nắc nỏm. Đã không ít kẻ bạo gan chẳng chịu nổi sự cám dỗ, liều mạng dấn sâu vào đầm lầy, đặt chân lên lớp bùn mịn và lập tức cái lớp bùn gian manh kia sụt xuống nuốt từ chân đến bụng rồi đầu kẻ xấu số. Tiếng kêu cứu của người sắp chết chỉ còn ằng ặc sủi bọt trong cái đầm lầy không đáy trước khi mất dạng.

Người gánh nước thuê


Người gánh nước thuê

Truyện ngắn Võ Thị Hảo


Chẳng ai biết lai lịch của bà, chỉ biết tên bà là Diễm. Diễm là đẹp, là diễm lệ. Ngoài vẻ đẹp, còn mang vẻ sang. Có ai gọi một củ khoai là diễm lệ đâu. Hẳn bố mẹ xưa đặt tên cho con cũng thầm ao ước sao cho con vừa đẹp lại vừa khỏi lầm than. Nhưng trông bà cả một sự nhạo báng cái mong ước đó.

Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt. Bà vừa đi vừa lắc lư cái lưng còng. Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bà. Nó bám chặt lấy bà như một thứ nghiệp chướng. Chiếc đòn gánh của bà cũng thật đặc biệt. Nó nhẵn bóng. Ngay cả những vết sẹo cũng đã nhẵn bóng và cũng khó đoán tuổi như chủ nhân của nó vậy. Nó đã tồn tại cùng bà không biết tự bao giờ. Nó được đẽo gọt từ một thân tre cong hằn dấu vết của những cơn gió táp và ra đời chỉ để đón đợi đôi vai còm cõi của bà Diễm mà thôi. Nó và chủ nhân của nó hợp thành một chỉnh thể của sự bất hạnh, hợp thành biểu tượng của một thân cây vừa mới ra đời đã bị gió mưa vùi dập. Cuối hai đầu đòn gánh là đôi thùng đầy nước lắc lư theo những bước chân không đều của bà Diễm và để lại những vệt nước rỏ ròng ròng như suối nước mắt cạnh đường đi. Những lúc đôi vai được rảnh rang, đôi môi bà lại lẩm nhẩm những câu không đầu không cuối. Bà đi và nói như người lẩn thẩn, nhưng những cử chỉ của bà vẫn chính xác một cách kỳ lạ. Đến máy nước bao giờ bà cũng đi sát mép đường bên phải và lặng lẽ đợi đến lượt mình, không xin xỏ, không tranh giành.

Vũ điệu địa ngục

Vũ Ðiệu Ðiạ Ngục là vũ điệu của bà mẹ điên, dơ tay với cầu vồng mà nhẩy. "Ðỏ lên trời đó con ơi!" Bà tìm trên khung trời đỏ áu tội lỗi hình dáng người con gái đã chết. Con bà, trong quãng thời gian ngắn ngủi tạm trọ cuộc đời, thất nghiệp triền miên, đã hành nghề bán máu nuôi thân, cho đến khi "cạn vốn". Tự tử.


Vũ điệu địa ngục

Truyện ngắn Võ Thị Hảo


Tôi ớn lạnh toàn thân khi nghĩ đến cầu vồng, ớn lạnh khi tưởng thấy những tia nắng vàng khé lao qua màn mưa. Khi đó, ngẩng nhìn thường đã thấy những chiếc cầu vồng bảy màu còng lưng trên trời.

Khi ấy, người đàn bà ở nhà đối diện bên kia đường sẽ chạy ra, mái tóc xổ bạc bời trong gió:

- Đỏ lên trời đó! Con ơi!

Và bà nhảy nhấp nhểnh trên đôi chân yếu như cẳng sậy. Hai cánh tay trắng nhợt dăn deo quào mười ngón lên trời, như hòng túm chặt lấy dải cầu vồng. Bà cố nhảy thật cao, rồi rớt xuống, rớt xuống lại nhảy lên.

Người qua đường dừng lại, hàng xóm đổ ra xem. Người điên xưa nay không hiếm. Nhưng điên chỉ muốn kéo cầu vồng thì quả thực chưa thấy bao giờ.

Khi ấy, tôi, một kẻ hèn, sẽ lủi vào nhà như một con chuột chũi và đổ ra giường.

Ngoài kia, người đàn bà tóc hoa râm vẫn nhảy lên kéo cầu vồng. Sẽ tiếp tục vũ điệu địa ngục ấy cho đến lúc bà kiệt sức, gục xuống như một tàu môn héo.

Vườn yêu



Vườn yêu

Truyện ngắn Võ Thị Hảo


Tôi nhón chân trên đôi giày giấy thiếu nữ đi vào Vườn Yêu.

Tôi bận trên người cũng một thứ quần áo bằng giấy không sột soạt, lóng lánh và nhẹ bỗng. Né người xa một chút vì sợ anh làm hỏng đôi giày và bộ quần áo tôi. Anh nhìn dáng đi liệng chiệng của tôi và cười hiểu biết. Tôi cũng vui thích cười vang. Thú vị quá, vì mình đã có một bộ quần áo và đôi giày dễ hỏng khiến người khác phải kiêng dè.

Đêm ấy trăng quánh lắm. Đến nỗi vướng víu vì trăng. Dưới những gốc cây to, trăng từng sợi chảy qua vòm lá, kết nhiều đôi trai gái trong vòng tay nhau. Đôi khi tôi nhìn thấy một bộ quần áo bằng giấy giống mình. Càng vững dạ. Mỗi gốc cây đã đơm đầy một đôi. Phần lớn họ đứng ngồi theo những hình khối kỳ cục và im lặng. Tôi không thể hiểu nổi tại sao họ lại có thể im lặng như thế mà không chán khi ngồi bên nhau. "Họ giận nhau đấy à anh?". Anh lại lần nữa mỉm cười ra dáng hiểu biết. Trông anh thật từng trải.


Biển cứu rỗi




Biển Cứu Rỗi, truyện một người lính trở về, nhưng số phận không dành cho anh một nàng Tô thị vọng phu. Mà đợi anh, chỉ có những đứa trẻ khác bố, không cha, tàn tích của những cuộc giao hoan vội vã -trên con đường quốc lộ số một, động mạch của chiến tranh- của người vợ lạc loài, ngơ ngác, bán trôn nuôi miệng, chờ chồng.

Chờ anh, còn có nụ cười hơi sữa, đổi chác của đứa con gái ruột 15 tuổi, đồng nghiệp của mẹ, gặp bố mà không biết là cha. Nụ cười chào khách của nó đuổi anh ra khỏi cõi người, cõi thanh bình. Anh bèn về với hoang đảo, sống như loài cầm thú, sống bệnh hoạn và hoang loạn. Nói chuyện với bóng mình trong gương để nghe rõ giọng nói lạ hoắc của chính mình, giọng nói thời sau chiến, giọng nói của những số phận quờ quạng đi cho hết nửa đời còn lại.

Nhưng, các tình tiết sau của câu chuyện thật đau xót.

Biển cứu rỗi

Truyện ngắn Võ Thị Hảo

Anh rùng rẩy toàn thân, thấy đôi chân mình đang veo dần, von veo dần, hóa ra cái đuôi nhọn hoắt của một con ốc mượn hồn và “òa… òa…” anh sẽ lẫn, lẫn trong muôn vàn con ốc, giữa tiếng sóng quét.

Thứ ốc mượn hồn đầy chặt đảo đèn. Mỗi sáng, trong bước chân đưa tang lượt thượt của gió, biển lại quật lên thềm đảo những ruột ốc nát bét - những ruột ốc câm lặng chẳng ai biết chúng từng sống cũng như từng chết.

Cách đây không lâu, anh chỉ mới hạ mình xuống địa vị của một con hạc biển, vì nhận ra rằng đôi đầu gối mốc xì của anh cũng giống đôi đầu gối xù xì mốc mác của chúng, và còn cảm được tầm vóc to lớn của mình trước đám đông đủ loài chim biển tẹp nhẹp kéo tới chí choé, lắm lời tranh nhau chỗ đậu, vào mỗi buổi chiều chạng vạng hay lúc trở trời. Đảo mang một màu trắng xỉn xo - màu phân chim biển vào ban ngày. Còn ban đêm, dưới ánh hải đăng lừ lừ không đổi, loài cua âm thầm bò lên. Ánh mắt tù đọng và lối đi ngang không một tiếng động của loài cua khiến trái tim anh càng tê dại trong tiếng rì rầm não ruột của sóng. Ở đâu anh cũng bị vây trong ánh mắt dò hỏi tù đọng của loài cua.

Một đôi lần như thế, khi vết thương cũ cắn nhức nhối, anh đã từng nổi điên, ngồi thu lu đầu gối quá tai, tay cầm gậy, rình đập nát bét dăm chục con cua mới lóp ngóp ló lên khỏi mặt nước trong một đêm cua động rồ, khiến cho đảo đèn tanh sặc mùi cua chết đến ba tháng ròng.

Anh từng lặng ngắt vì hoảng sợ, khi bất chợt mình truồng như nhộng qua một giấc mơ đêm, và cứ thế lừng lững đi. Anh đánh mất thói quen mặc quần áo do thiếu vắng đồng loại lâu ngày. Thiếu một đồng loại nhìn vào anh, khả dĩ giữ cho anh cảm giác xấu hổ, ranh giới cuối cùng nhằm phân biệt anh với một con cua hay một con bò.

Những khi ấy, anh xòa tay ôm mặt. Dòng nước rỉ qua hàng mi trắng xóa hơi muối biển, qua đám râu ria lồm xồm không cạo, và khi xuống đến môi, chúng đã mang màu đục nhờ nhờ của nước đá vôi.

“Ba năm thôi. Ba năm rồi sẽ có người thay”.

Người ta nói, tránh nhìn vào mắt anh khi lần đầu đặt chân lên đảo đèn.

Hồi ấy anh nhếch cười khinh thị. Từ giã đời lính anh trở về với một con mắt giả và thân hình tiểu tụy. Một con búp bê tóc vàng mắt xanh tòn ten đung đưa trên nắp ba lô. Con anh đã qua tuổi chơi búp bê từ lâu. Song búp bê là vật phẩm lộng lẫy nhất mà con người có thể tạo ra, dưới con mắt của những anh lính nhà quê chất phác ở rừng lần đầu tiên đặt chân vào thành phố.

Bàn tay lạnh


Bàn tay lạnh

Truyện ngắn Võ Thị Hảo

Đàn bà gì mà lòng bàn tay lạnh buốt - anh bạn cùng phòng tôi xoa xuýt hai bàn tay vào nhau, thốt lên. Không ngẩng đầu, tôi nói cho có chuyện: "Nghe nói: Ai có bàn tay lạnh thì có trái tim nóng".

Anh ta cúi xuống gần tôi:

- Trông tôi có đến nỗi nào không?

Tôi ngước lên nhìn anh như thầm cân đo, rồi nói khá chân thành:

- Rất được! Đẹp trai là đằng khác!

Anh ta nhếch cười, thẳng người lên mãn nguyện, nhưng tôi bỗng lập tức cau mày:

- Thế mà ánh mắt cô ta nhìn tôi cũng lạnh, còn lạnh hơn cả bàn tay. Lẽ nào cô ta không coi tôi là đàn ông?

Vừa gỡ nới nút cà-vạt mầu xám đậm nơi cổ, anh vừa kết luận:

- Tôi ghét những loại đàn bà như thế, mặc cho cô ta đẹp!

Tôi nhướng mắt nhìn anh, ngạc nhiên:

- Can gì tới anh cơ chứ?

- Sao không? Bạn tưởng chỉ có đàn bà mới đo ảnh hưởng của mình trong ánh mắt người khác giới? Đàn ông còn quan tâm tới điều đó hơn nhiều.

- Thôi được! Tôi dàn hòa - nhưng anh đang nói tới ai vậy?

- Kia kìa, - người đàn bà ngồi quay lưng lại đây, trên chiếc ghế thứ hai của hàng thứ ba.

Tôi vươn cổ nhìn theo tay anh ta. Một đôi vai thon nhỏ được phủ mềm mại một lần áo mầu khói nhạt bằng vải sít lạnh. Những nếp áo rủ trông thật yêu kiều. Thế nhưng dáng ngồi thì quá thẳng, thẳng đáng ngờ, với cái đầu ngẩng cao. Ký ức tôi thảng thốt, bắt chợt một nét quen quen nào đó tự ngày xưa.

Chắc linh cảm thấy ai đó đang nhìn mình chằm chằm từ sau lưng, người đàn bà ấy giật mình quay lại:

Làn môi đồng trinh


... cô gái mù hình dung cuộc đời qua âm thanh vọng lại từ chiếc tivi bên nhà hàng xóm, cẩn trọng đến từng hạt mưa rơi trong lòng bàn tay, thầm mong đủ mười giọt để tình yêu đến với mình ...
"Bao nhiêu kiếp đàn bà đã xoè tay hứng mưa dưới bầu trời nay, nhưng có ai đã hứng ngay được mười giọt mưa long lanh như ngọc rơi trọn vào lòng tay!"

Ngắm sen - Tranh Lê Thiết Cương
Làn môi đồng trinh

Truyện ngắn Võ Thị Hảo

Mưa rồi! Mẹ nói. Và Hằng chống gậy lần ra sân. Nàng ngửa mặt lên trời, để cho những giọt mưa lây phây nhẹ bỗng đậu xuống má.

Một vài giọt lớn vô tình đáp xuống làn môi hé mở, Hằng lại rùng mình bởi một cảm giác xao xuyến mơ hồ. Làn môi của nàng chưa một lần có được cảm giác ấy. Hằng thoáng nghĩ đến một thiên thần trong suốt vừa lướt qua và đặt lên môi nàng một chiếc hôn vô hình.

Mưa này sát vào Tết là đúng tiết lắm đây!

Mẹ lại nói vọng ra từ trong bếp. Hằng cứ ngước khuôn mặt nhỏ thoáng chút e lệ lên trời, mong những giọt mưa lại đậu xuống môi, để một lần nữa tìm lại cảm giác cái hôn của người trời. Nhưng những giọt mưa đã nặng, quất vào mặt Hằng những tia nước lạnh buốt. Hằng loạng choạng quờ gậy lùi vào hàng hiên.

- Con hứng mưa đấy ư? Vào nhà đi khỏi ướt. Hồi nhỏ mẹ cũng chơi trò hứng mưa. Bà bảo rằng nếu ngửa bàn tay ra trong một trận mưa mà hứng ngay được đúng mười giọt, không phải chín hoặc mười một đâu nhé, thì sẽ lấy được chồng sang, sẽ suốt đời được yêu chiều, sung sướng. Mẹ đã xòe tay hứng mưa dễ đến trăm bận, mà chẳng lần nào được đúng mười giọt…

Hằng nghe tiếng thở dài từ trong bếp. Phải rồi, nếu mẹ xoè tay hứng ngay được mười giọt mưa, thì mẹ đã không phải có một đứa con như Hằng. Một đứa con hai mươi chín tuổi mà mỗi khi ra đường, mẹ vẫn phải dắt. Ăn cơm, cô gái hai mươi chín tuổi ấy còn có lúc đưa nhầm thức ăn vào mũi. Và, đã hai mươi chín tuổi rồi mà chưa hề biết đến một nụ hôn!

Nói thế không có nghĩa là Hằng chưa hề biết đến đàn ông. Một lần, cả nhà đi vắng. Buổi trưa nắng, Hằng đang ngồi hóng mát ngoài hiên nhà, bỗng nàng vươn thẳng người lên, cảnh giác vì một mùi lạ khen khét bỗng từ đâu xộc vào mũi khiến nàng rùng mình sợ hãi. Liền đó, nàng nghe tiếng thở hồng hộc bên cạnh. Và rồi một bàn tay thộp vào ngực nàng, bóp mạnh. Hằng hét lên, ngã lăn ra thềm, ngất đi. Hàng xóm chạy sang chỉ còn kịp nghe thấy tiếng chân chạy thình thịch xa khuất sau hàng rào găng. Hằng tỉnh lại, nghe mọi người lao xao: “Thằng đàn ông nào lên cơn động rồ chắc! Khổ thân con bé!”.

Đêm bướm ma

Đêm bướm ma

Truyện ngắn Võ Thị Hảo

Riêng Thuận trông thấy nó. Đó là một con bướm to cỡ bàn tay. Đôi cánh đen điểm vằn nâu và xanh biếc của nó xoã im lìm trên bậc thềm mé lối đi. Đoàn người đi qua rầm rập. Vậy mà không bắt gặp con bướm. Thuận lại gần, ngần ngại chạm tay vào. Cánh bướm khẽ động đậy. Thuận lập tức rụt tay lại. Một luồng ớn lạnh người lên ngực. Từ bé Thuận vẫn vừa sợ vừa thích những bướm ma. Chúng đẹp một cách rầu rĩ, huyền bí thách đố. Và thông thường, chẳng bao giờ gặp chúng, trừ phi chúng sắp chết. Như hôm nay chẳng hạn. Con bướm ma này không biết từ đâu đến nằm xệ bên đường dưới gốc cây mộc lan trong biệt điện. Nơi đây, xưa kia đã in gót sen của các phi tần. Thuận ngước lên những vòm cây cổ thụ xanh thẫm tuyệt đẹp và tự hỏi: Ngày xưa, mỹ nhân nào đã được vua dìu trên cánh tay đưa về động phòng trong biệt điện thênh thang này? Bao năm đã trôi qua. Ông vua cuối cùng giờ đã sống nốt trong những ngày cuối đời tại một chung cư ở Pháp. Song biệt điện này vẫn phảng phất mùi đế vương. Trong vẻ hoang phí vẫn có chút gì đó thiêng liêng và thành kính. Lìa bỏ cõi đời trong một chung cư. Biết đâu hồn ông đã tìm về lơ lửng đêm nay trong biệt điện và phả vào buổi chiều sám sẫm này một nỗi buồn lạnh lẽo bể dâu?

Sợ run người lại xéo vào con bướm. Thuận cố nén sợ hãi, run run nâng cánh bướm ma để đặt vào tờ báo nàng vừa mua đang cầm trên tay, mang về phòng đặt bên cửa sổ. Nàng hé cửa. Cửa sổ được chắn bằng những song sắt uốn hoa lá màu xanh. Có lẽ đêm nay con bướm sẽ hồi lại. Và nếu hồi lại, nó sẽ bay đi. Nàng vẫn để con bướm trên bậu cửa, rồi quay ra bàn pha trà. Cảm thấy như có ai nhìn mình chằm chằm từ phía sau, nàng quay phắt lại. Nhưng không thấy gì khác. Trời đã tối. Cây ngoài vườn đứng lặng. Cánh bướm vẫn nằm im trên tờ báo. Nàng thở phào quay lại, rót nước ra cái chén sứ rẻ tiền trông thấy nhan nhản khắp hè phố, thong thả nhấm nháp thỏi kẹo mè xửng một người bạn ở Huế vừa cho.

Người sót lại của rừng cười

Truyện ngắn "Người sót lại của rừng cười". Câu chuyện phản ánh những ước mơ thầm kín nhưng mãnh liệt, đến độ bộc phát thành những cơn điên dại bản năng của những cô thanh niên xung phong giữ kho quân nhu giữa rừng sâu Trường Sơn thời chống Mỹ. Một sự thật tàn nhẫn mà theo gác giả, "chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi"... Có người hiểu, có kẻ hoài nghi. Nhưng cái bạn đọc cần trước hết là một cách nhìn, một sự cảm thông. 
Và Rừng Cười, là cái cười méo mó man dại của chiến tranh, của những cô gái Trường Sơn mà "những dòng nước khe màu đen xanh thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc họ". Ở đây không có liệt oanh, liệt sĩ, chỉ tuyền rừng với người vượn lõa thể, vừa cười vừa khóc, tay dứt tóc xé quần xé áo. Ở đây chỉ có những nụ cười sằng sặc quánh đặc lá cây của "những người đàn bà vác cày, cầm súng, đi lấp hố bom", "bị buộc phải trở thành đàn ông". Và người con gái duy nhất may mắn sót lại của rừng cười sẽ mãn kiếp bị loại khỏi vòng tình ái, chỉ sống với những giấc mơ triền miên về mái tóc đã bị rừng già cướp giật: "từ trong đám tóc rối ấy lẩy ra hai giọt nước mắt trong veo và rắn câng như thủy tinh, đập mãi không vỡ".



Người sót lại của rừng cười

Truyện ngắn Võ Thị Hảo

Một kho quân nhu và bốn cô gái náu mình dưới tán cây rừng Trường Sơn. Bốn cô gái trẻ măng nhưng mái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác. Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc của họ.
Hôm đón Thảo – cô gái thứ năm về, bốn người cũ mừng rỡ khi nhìn thấy mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô. Họ cưng Thảo như vàng, nhất trí rằng không thể để rừng cướp mất mái tóc ấy của họ. Nhưng rừng mạnh hơn.
Hai tháng sau, bất chấp đủ loại lá thơm mà đồng đội đã mang về cho gội, tóc Thảo chỉ còn là một túm sợi mỏng mảnh xơ xác.
Cả bố cô gái ôm nhau khóc cay đắng, còn Thảo thì cười: “Các chị khóc làm gì. Đằng nào thì em cũng đã có người yêu. Người yêu em chung thuỷ lắm nhá. Em thế này chứ giá như có bị trọc đầu thì anh ấy vẫn yêu cơ mà.
Và thế là các cô gái nín khóc, tròn xoe mắt nghe Thảo kể về mối tình của cô với chàng sinh viên Văn khoa Hà Nội. Người con trai ấy được khúc xạ qua bao lớp bụi và khói, cuối cùng đến lớp sương mù lung linh huyền ảo của ký ức Thảo, hiện lên như một chàng hoàng tử hoà hiệp thuỷ chung.
Cả bốn cô gái đều đem lòng si mê chàng trai ấy, nhưng không phải cho họ, mà là cho Thảo. Cái sự si mê người khác ấy không hy vọng cắt nghĩa nổi trong thời bình, dưới những ánh đèn màu huy hoàng, mà chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải qua nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi.
Họ ở đây đã qua ba mùa mưa rầu rĩ và đang ở giữa mùa khô thứ ba bỏng rát. Kho quân nhu im lìm nép trong vòng tay ma quái của rừng sâu. Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân tạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi. Họ đến mang theo những câu bông đùa suồng sã, dăm ba cái cấu véo của những người đàn ông sống xa thế giới người đàn lâu ngày có xu hướng trở nên hoang dã. Thảng hoặc cũng có những người lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng, chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến cho các co gái càng thấm thía nỗi cô đơn.

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2020

Quà tặng từ thượng đế

Tranh Lê Thiết Cương 
Quà tặng từ thượng đế
Truyện ngắn Võ Thị Hảo
Thế là anh đã bay rồi.
Chiếc máy bay Boing 767 nuốt anh vào bụng, lao vụt đi. Còn lại cho nàng một vực thẳm hun hút trống hoang giữa trời. Cái miệng phễu tham lam há hoác trong đường vằn khói bắt đầu tan ra, lổn nhổn tựa những tảng đất sét trắng mới được cày vỡ trên cánh đồng xanh băng giá.
Không một tiếng nhắn gọi. Không gian câm lặng. Bao nhiêu lời yêu thương không thể cất lên. Cổ họng tắc nghẹn.
Cứ thế. Anh lao vút vào cõi trời. Biển xanh lặng lẽ nhìn từ trên cao như chết lịm. Bay qua bờ biển Nhật bản vừa có đợt sóng thần dìm chết gần ba mươi ngàn sinh mạng. Xuyên qua đám mây phóng xạ, lướt như mê sảng trên những thây người nát bấy dưới đống hỗn mang. Trước khi động đất và sóng thần ập đến, dưới kia có vô số người đang cười đang khóc hoặc yêu đương. Bây giờ, dưới xa kia, anh nhìn thấy vô số linh hồn bay lượn trên mặt biển. Anh đưa tay vẫy chào họ. Nhưng họ chẳng để ý anh. Họ đã quên kiếp sống trước. Họ chẳng việc gì phải nhớ rằng trên đời lại có những thứ tầm thường và phi lý như một chiếc máy bay.

Mọi cảm thán của loài người cũng đều câm bặt. Nơi đây, trên cao này, vô nghĩa là lời và mạng người! Còn dưới kia, chỉ còn là một hơi thở dài sườn sượt âm u thổi kéo lê qua biển, qua đồng bằng qua rừng núi qua muôn vạn kiếp thương đau.

Võ Thị Hảo: Huyền ảo, độc tài và tội ác


Võ Thị Hảo: Huyền ảo, độc tài và tội ác
Thụy Khuê

Dưới tựa đề khá xếch- xy Ngồi hong váy ướt là một tập 17 truyện ngắn, với những bức tranh siêu thực hoang vu, ngập mùi tử khí, viết từ ngòi bút của một người đàn ông đã chết "chấm bút lông vào mạch máu đang chảy ở khuỷu tay mình viết lên những trang giấy trắng", về cái thế giới mà ông ta đã sống.
Sau hơn ba mươi năm kết thúc chiến tranh, những đề tài về chiến tranh dường như cũng biến mất trên văn đàn chính thống Việt Nam. Chúng đã đầu thai kiếp khác hoặc tìm cách trốn ra nước ngoài. Ngồi hong váy ướt, tập truyện mới nhất của Võ Thị Hảo hội đủ hai yếu tố: đầu thai kiếp khác mà vẫn phải chạy ra nước ngoài, tháng 7 năm 2012, tủ sách Thi Văn Hồng Lĩnh của Bùi Xuân Quang ở Paris, xuất bản. 
Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại Diễn Châu, Nghệ An, nổi tiếng trên văn đàn với các tập truyện ngắn Biển cứu rỗi, 1992, Chuông vọng cuối chiều, 1994, Người sót lại của rừng cười, truyện dài Giàn thiêu, 2003, vv...

NGHỊCH TỬ


Tranh của hoạ sĩ Lê Thiết Cương.

NGHỊCH TỬ

Truyện ngắn của Võ Thị Hảo

Văn Việt:  Nhà văn Võ Thị Hảo sinh tại Diễn Bình, Diễn Châu, Nghệ An, hiện đang sống tại Hà Nội. Chị viết tiểu thuyết, truyện ngắn, viết báo, viết kịch bản phim, vẽ tranh sơn dầu…
Tác phẩm:
Truyện ngắn: Biển cứu rỗi, Người sót lại của Rừng Cười, Tuyển tập truyện ngắn Võ Thị Hảo, Ngậm cười… Góa phụ đen, Hồn trinh nữ, Võ Thị Hảo – Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Ngồi hong váy ướt…
Tiểu thuyết: Giàn thiêu, Dạ tiệc quỷ.
Kịch bản phim: Võ Thị Hảo – Kịch bản phim truyện.

Khuỵu chân, đổ gục.
Vành móng ngựa.
Mắt Kinh nhoè nhoẹt. Kể từ ngày chỉ còn một con mắt, Kinh không có cách gì phân biệt được cái chất dịch cứ thỉnh thoảng rỉ ra nơi mắt mình là nước mắt, huyết tương hay máu.
Cũng không thể nhìn rõ các gương mặt. Không phân biệt được già trẻ trai gái. Thứ Kinh nhìn rõ nhất là những nắm đấm. Như vô số chiếc vồ đập đất. Bạt ngàn cánh tay. Thực ra là một rừng dùi đục bằng thịt, đang vung cao, theo nhịp của tiếng thét căm hờn từ đám người ngồi dưới kia.
Ngoài sân, bao quanh khuôn viên toà án, cũng đông đặc những nắm đấm, những chiếc vồ đập đất và những chiếc dùi đục được đẽo bằng xương, gân và rốt cục, được bọc bằng da người.
 ***

Sóng từ trường Võ Thị Hảo, vầng trăng mồ côi


Sóng từ trường
Võ Thị Hảo,
vầng trăng mồ côi

Thụy Khuê
     Võ Thị Hảo xuất hiện năm 1993 qua tập truyện ngắn Biển Cứu Rỗi do nhà xuất bản Hà Nội phát hành. Tác phẩm đoạn tuyệt cuộc chiến đã qua và khai chiến với hòa bình hiện tại. Mười hai truyện ngắn với bút pháp chắc nịch, những nhân vật rờn rợn, điên người, trong không khí hậu chiến của một đất nước ham sống, sợ chết, một đất nước muốn vươn lên nhưng cứ rũ ra, gục xuống, ôm bụng cười sặc sụa, cười ằng ặc trong bàn tay đùa dai của tử thần chơi trò ú tim bóp cổ.

     Võ thị Hảo thuộc thế hệ chối bỏ cổ tích, không tin "thần thoại chiến trường". Chị viết với niềm tin của chị về một xã hội tan chiến nhưng chưa tàn chiến.

VÀI NÉT VỀ VÕ THỊ HẢO QUA LỜI GIỚI THIỆU CỦA UYÊN THAO



VÀI NÉT VỀ VÕ THỊ HẢO QUA LỜI GIỚI THIỆU CỦA UYÊN THAO 

Bút danh Võ Thị Hảo trở nên quen thuộc không chỉ do thái độ bất khuất trước các hiểm họa đe dọa cuộc sống an lành của con người mà còn qua các sáng tác văn học độc đáo từ tố chất nội dung tới phong cách nghệ thuật. 

Võ Thị Hảo sinh ngày 13 tháng 4 năm 1956 tại nguyên quán Diễn Bình, huyện Diễn Châu, Nghệ An, từ năm 1973 là sinh viên Văn Khoa Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. 

Sau khi tốt nghiệp năm 1977, Võ Thị Hảo tham gia sinh hoạt báo chí với các vai trò biên tập viên, phóng viên, và năm 2002 được trao vai trò phó tổng biên tập một tạp chí nhưng chỉ sau ba tháng đã rời bỏ chức vụ này, vì từ chối yêu cầu gia nhập Đảng Cộng Sản. 

Năm 1989, Võ Thị Hảo khởi sự góp mặt trong dòng văn học nghệ thuật với các sáng tác ngắn đăng tải trên báo. Năm 1992, tác phẩm đầu tay Biển Cứu Rỗi được xuất bản và Võ Thị Hảo mau chóng xác định vị thế trong làng văn. 

Tới nay, Võ Thị Hảo đã xuất bản gần 20 tác phẩm gồm hầu hết là truyện ngắn, ba kịch bản phim và cuốn tiểu thuyết dã sử Giàn Thiêu. 

Dị sắc hiển lộ của nghệ thuật sáng tác Võ Thị Hảo là cách ly với vùng trời nghệ thuật từng bao trùm sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam từ thập niên 1930 mà nét đặc trưng có thể tóm gọn theo một phát biểu trước đây của Nhất Linh: Hai tiêu điểm trong nghệ thuật văn chương là đơn giản và trong sáng.

Hai tiêu điểm đơn giản, trong sáng là đòi hỏi mà người sáng tác văn học không chỉ riêng tại Việt Nam theo đuổi và đã khởi từ nhiều thế kỷ trước so với cột mốc văn học Việt Nam 1930. 
Cho tới thời điểm hiện nay, hai tiêu điểm này chưa rời vị trí chủ đạo, bất kể qua nhiều đoạn đường thời gian từng xuất hiện không ít người nỗ lực mở ra những khung trời nghệ thuật với các đặc trưng mới. 

Võ Thị Hảo chính là một tác giả trong đội ngũ cầm bút chia xẻ ý hướng này.