Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngụy Thư 2. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngụy Thư 2. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 11, 2022

ĐÀO KHIÊM TRUYỆN

 


Ảnh: Đào Cung Tổ ba lần nhường Từ Châu, tranh thời Minh
(Tam quốc chí không có chuyện này)

Tam Quốc Chí - Ngụy Thư 2

 

 

ĐÀO KHIÊM TRUYỆN

Đào Khiêm tự Cung Tổ, người quận Đan Dương.


Ngô thư viết: "Cha Khiêm trước làm Dư Diêu Trưởng. Khiêm thuở nhỏ cô(1), bất đầu không chịu gò bó ở trong huyện. Năm mười bốn tuổi, vẫn buộc lụa làm khăn, cưỡi ngựa tre mà chơi, trẻ con trong ấp đều đi theo. Thương Ngô Thái thú Cam Công ngày trước là người cùng quận ra đường gặp Khiêm, thấy dáng vẻ ấy mà cho là lạ rồi kêu lại, dừng xe nói chuyện, rất vui, nhân đó hứa gả con gái cho. Phu nhân của Cam Công nghe tin, giận nói: 'Thiếp nghe nói đứa trẻ nhà họ Đào vui chơi không ngừng, sao lại hứa gả con gái cho hắn'? Cam Công nói: 'Hắn có dáng vẻ kì lạ, lớn lên tất làm được công lớn'. Bèn gả con gái cho".


Thuở nhỏ ham học, làm học trò, nhận lời châu gọi, cử Mậu tài(2), làm Lư Lệnh, 


Ngô thư viết: "Tính Khiêm thẳng thắn, có tiết tháo cao đẹp, thuở nhỏ xét Hiếu liêm(3), bái làm Thượng thư lang, làm Thư Lệnh, Quận thú(4) Trương Bàn là người bậc trên cùng quận, làm bạn với cha Khiêm, muốn nhận Khiêm làm người thân nhưng Khiêm xấu hổ vì chịu cúi thân, cùng quân sĩ về thành, nhân đó lấy việc công mà đến gặp, có lỗi bãi quan, nhưng Bàn thường cho mời riêng vào gặp, cùng Khiêm ăn yến, có người ngăn không cho ở lại. Thường cùng múa(5) với Khiêm, Khiêm không đứng dậy, cố ép Khiêm, lúc múa lại không chuyển. Bàn nói: 'Không chuyển được sao'? Đáp nói: 'Không chuyển được, chuyển thì hơn người'. Do đó không vui, rút cuộc hiềm khích. Khiêm làm quan trong sạch, không bị xét hỏi, tế sao Linh, có được năm trăm tiền, muốn đem dấu đi. Khiêm trao lại chức rồi bỏ đi".

TRƯƠNG DƯƠNG TRUYỆN

 



TRƯƠNG DƯƠNG TRUYỆN


Trương Dương tự Trĩ Thúc, người quận Vân Trung. Vì có vũ dũng mà cấp cho Tinh Châu, làm Vũ mãnh Tòng sự. Cuối thời Linh Đế, thiên hạ loạn, Đế lấy quan Tiểu Hoàng môn Cảnh Thạc mà mình sủng ái làm Tây viên Thượng quân Hiệu úy, đóng quân ở kinh đô, muốn để ngăn chống bốn phương, mời bọn hào kiệt trong thiên hạ làm tì tướng. Thái Tổ cùng bọn Viên Thiệu đều làm Hiệu úy, thuộc vào Thạc.


Linh Đế kỉ viết: "Lấy Hổ bôn Trung lang tướng Viên Thiệu làm Trung quân Hiệu úy; Đồn kị Hiệu úy Bao Hồng làm Hạ quân Hiệu úy; Nghị lang Tào Tháo làm Điển quân Hiệu úy; Triệu Dung, Phùng Chi làm Trợ quân Hiệu úy; Hạ Mâu, Thuần Vu Quỳnh làm Tả hữu Hiệu úy".


Tinh Châu Thứ sử Đinh Nguyên sai Dương đem quân đến chỗ Thạc, làm Giả Tư mã. Linh Đế băng, Thạc bị Hà Tiến giết. Dương lại được Tiến sai khiến, về châu cũ mộ quân, được hơn nghìn người, nhân đó ở lại quận Thượng Đảng, đánh giặc trên núi. Tiến thua, Đổng Trác làm loạn, Dương bèn sai thuộc tướng đánh Thượng Đảng Thái thú ở cửa Hồ Quan, không thắng, liền cướp lấy các huyện, quân đến mấy nghìn người. Quân miền Sơn Đông(1) nổi dậy, muốn đánh Trác. Viên Thiệu đến Hà Nội, Dương hợp quân với Thiệu, lại cùng Thiền vu của người Hung Nô là Ư Phù La đóng đồn ở sông Chương. Thiền vu muốn phản, Thiệu, Dương không theo. Thiền vu bắt Dương cùng bỏ đi, Thiệu sai tướng là Cúc Nghĩa đuổi đánh ở phía nam huyện Nghiệp, phá chúng. Thiền vu lại bắt Dương đến Lê Dương, đánh phá quân của Độ liêu Tướng quân Cảnh Chỉ, quân lại hăng, Trác lấy Dương làm Kiến nghĩa Tướng quân, Hà Nội Thái thú. Thiên tử đến ở tại quận Hà Đông, Dương đem quân đến huyện An Ấp, bái làm An quốc Tướng quân, phong làm Tấn Dương Hầu. Dương muốn đón Thiên tử về Lạc Dương, các tướng không nghe; Dương về huyện Dã Vương. Năm Kiến An thứ nhất, Dương Phụng, Đổng Thừa, Hàn Tiêm ép Thiên tử về kinh cũ(2), lương thiếu. Dương đem lương đón ở trên đường, bèn đến Lạc Dương, bảo các tướng nói: "Nay Thiên tử làm việc cùng thiên hạ, may có Công khanh đại thần, Dương mới ngăn được nạn bên ngoài, sao lại coi việc ở kinh đô"? Bèn về Dã Vương, liền bái làm Đại Tư mã.


Anh hùng kí viết: "Tính Dương nhân hòa, không dùng uy phạt. Kẻ dưới mưu phản, phát lộ, đối mặt mà khóc lóc, liền tha không hỏi".


Dương vốn thân với Lữ Bố. Thái Tổ đến vây Bố, Dương muốn cứu hắn, không được, bèn đem quân đến ở huyện Đông Thị làm thế cứu giúp từ xa. Tướng của Dương là Dương Sửu giết Dương để theo về Thái Tổ. Tướng của Dương là Khuê Cố lại giết Sửu, lĩnh hết quân của Sửu, muốn lên phía bắc hợp với Viên Thiệu. Thái Tổ sai Sử Hoán chặn đánh, phá quân Cố ở thành Khuyển, chém Cố, thu hết quân ấy vậy. 


Điển lược viết: "Cố tự Bạch Thố, đã giết Dương Sửu, đem quân đóng đồn ở huyện Xạ Khuyển. Bấy giờ có người khuyên răn Cố nói: 'Tên chữ của Tướng quân là Thố mà tên huyện ấy là Khuyển, thỏ gặp chó thì tất kinh hãi, nên nhanh dời đi'. Cố không nghe, bèn chết trận".


Chú thích:

(1) Miền Sơn Đông: tức miền phía đông của núi Thái Hàng.

(2) Kinh cũ: tức thành Lạc Dương.

 

TRƯƠNG YÊN TRUYỆN

 


TRƯƠNG YÊN TRUYỆN


Trương Yến, người huyện Chân Định quận Thường Sơn. Vốn họ Trữ. Quân Khăn vàng nổi dậy, Yến tụ họp người trẻ làm bọn cướp, đánh phá ở giữa vùng đầm núi, lại về Chân Định, có đến hơn vạn người. Người huyện Bác Lăng là Trương Ngưu Giác cũng dấy binh, tự xưng là Tướng quân Tòng sự, hợp với Yến. Yến tôn Ngưu Giác làm súy, cùng đánh huyện Anh Đào, Ngưu Giác bị tên lạc đâm trúng, bị thương sắp chết, sai quân theo Yến, lệnh nói: "Phải lấy Yến làm súy". Ngưu Giác chết, quân theo Yến, do đó đổi thành họ Trương. Yến dũng mãnh nhanh nhẹn hơn người, cho nên trong quân gọi là 'Yến bay'. Sau đó quân sĩ thêm đông, bọn cướp vùng quận Thường Sơn, Triệu Quận, Trung Sơn, Thượng Đảng, Hà Nội đều qua lại, bọn súy nhỏ của chúng là Tôn Khinh, Vệ Đương đều đem quân của mình theo Yến, có đến trăm vạn người, hiệu là Hắc Sơn. Linh Đế không dẹp được, các quận phía bắc sông Hà bị chúng gây hại. Yến sai người đến kinh đô xin hàng, bái Yến làm Bình nạn Trung lang tướng.


Cửu châu Xuân thu viết: "Lúc Trương Giác làm phản, bọn giặc Hắc Sơn, Bạch Ba, Hoàng Long, Tá Hiệu, Ngưu Giác, Ngũ Lộc, Đê Căn, Khổ Tù. Lưu Thạch, Bình Hán, Đại Hồng, Tư Lệ, Duyên Thành, La Thị, Lôi Công, Phù Vân, Phi Yến, Bạch Tước, Dương Phượng, Vu Độc đều dấy binh, kẻ lớn thì hai, ba vạn người, kẻ nhỏ thì không dưới vài nghìn người. Linh Đế không đánh được, bèn sai sứ giả đến bái Dương Phượng làm Hắc Sơn Hiệu úy, lĩnh hết bọn giặc của các núi, được cử Hiếu liêm, Kế lại. Sau lại thêm đông, không thể kể hết".


Điển lược viết: "Bọn tướng súy của giặc Khăn vàng, Hắc Sơn vốn là những kẻ không đội mũ lọng, tự gọi tên nhau, nói người cưỡi ngựa trắng là Trương Bạch Kị, nói người nhanh nhẹn là Trương Phi Yến., nói kẻ nói tiếng lớn là Trương Lôi Công, còn người râu rậm thì tự xưng là Vu Đê Căn, người mắt to tự xưng là Lí Đại Mục".


Hán kỉ của Trương Phan viết: "Lại có ba bộ là Tá hiệu, Quách Đại điền, Tá tì trượng bát".


Sau đó, Đổng Trác dời Thiên tử đến Trường An, quân thiên hạ nhiều lần nổi dậy, Yến bèn đem quân mình liên kết với bọn hào kiệt. Viên Thiệu tranh Kí Châu với Công Tôn Toản, Yến sai tướng là bọn Đỗ Trưởng giúp Toản, đánh với Thiệu, bị Thiệu đánh thua, quân sĩ dần dần lìa tan. Thái Tổ đến định Kí Châu, Yến sai sứ đến xin giúp quân của Nhà vua, bái làm Bình bắc Tướng quân, đem quân đến huyện Nghiệp, phong làm An Quốc Đình Hầu, thực ấp năm trăm hộ. Yến hoăng, con là Phương thay. Phương hoăng, con là Dung thay.


Tấn Huệ Đế khởi cư chú của Lục Khải viết: "Môn hạ Thông sự Lệnh sử Trương Lâm là cháu mấy đời của Phi Yến. Lâm cùng Triệu Vương là Luân làm loạn, chưa đến một năm, làm đến Thượng thư lệnh, Vệ Tướng quân, phong tước Quận Công. Rồi bị Luân giết".

 

TRƯƠNG TÚ TRUYỆN

 


TRƯƠNG TÚ TRUYỆN


Trương Tú, người huyện Tổ Lệ quận Vũ Uy, là con trong họ của Phiếu kị Tướng quân Tế vậy. Bọn Biên Chương, Hàn Toại làm loạn ở Lương Châu, người quận Kim Thành là Cúc Thắng đánh úp giết Tổ Lệ Trưởng là Lưu Tuấn. Tú làm quan trong huyện ấy, ngầm đợi giết Thắng, người trong quân khen là có nghĩa. Rồi gọi họp bọn tuổi trẻ làm hào kiệt trong ấp. Đổng Trác thua, Tế cùng bọn Lí Thôi đánh Lữ Bố, trả thù cho Trác. Lời này tại truyện Đổng Trác. Tú theo Tế, vì có công mà dần dần chuyển làm Kiến trung Tướng quân, phong Tuyên Uy Hầu. Tế đóng đồn ở quận Hoằng Nông, quân sĩ đói khổ, xuống phía nam đánh huyện Nhưỡng, bị tên lạc đâm chết. Tú lĩnh quân của Tế, đóng đồn ở huyện Uyển, hợp với Lưu Biểu. Thái Tổ đánh miền nam, bọn Tú đem quân hàng. Thái Tổ lấy vợ của Tế, Tú hận việc này. Thái Tổ nghe nói Tú không vui. Ngầm bày kế giết Tú. Kế lộ, Tú ngầm đánh úp Thái Tổ. Quân Thái Tổ thua, hai con(1) chết. Tú về giữ huyện Nhưỡng.


Phó Tử viết: "Tú có người thân là Hồ Xa Nhi, dũng mãnh đứng đầu quân. Thái Tổ thích sự dũng mãnh ấy, tự tay tặng cho vàng. Tú nghe tin liền ngờ Thái Tổ muốn dùng tả hữu giết mình, bèn phản".


Ngô thư viết: "Tú hàng, dùng kế của Giả Hủ, xin dời quân đến chỗ đường cao, đường đi qua giữa trại của Thái Tổ. Tú lại nói: 'Xe ít mà nặng, xin được sai quân đều mặc giáp'. Thái Tổ tin Tú, đều nghe theo. Tú bèn sửa quân vào trại, đánh Thái Tổ. Thái Tổ không phòng bị, cho nên thua".


Năm đó Thái Tổ đánh Tú, không thắng. Thái Tổ chống Viên Thiệu ở Quan Độ, Tú theo kế của Giả Hủ, lại đem quân hàng. Lời này tại truyện Giả Hủ. Tú đến, Thái Tổ cầm tay Tú cùng vui ăn yến, cho con trai là Quân lấy con gái của Tú, bái làm Dương vũ Tướng quân. Ở trận Quan Độ, Tú gắng đánh có công, chuyển làm Phá Khương Tướng quân. Đi theo phá Viên Đàm ở Nam Bì, lại tăng thực ấp lên hai nghìn hộ. Bấy giờ hộ khẩu trong thiên hạ giảm sút, mười giảm còn một, các tướng được phong chưa có ai được nghìn hộ, mà chỉ có Tú nhiều. Theo đi đánh người Ô Hoàn ở Liễu Thành, chưa đến, hoăng, thụy là Định Hầu.


Ngụy lược viết: "Ngũ quan tướng(2) nhiều lần nhân đó xin gặp, nổi giận nói: 'Ông giết anh ta, còn đem mặt nào mà nhìn người ta nữa'! Lòng Tú không tự yên, bèn tự sát.


Con là Tuyền thay, có tội mưu phản với Ngụy Phúng, giết, nước bỏ.


Chú thích:

(1) Hai con: tức con trai cả là Tào Ngang và con của chú là Tào An Dân.

(2) Ngũ quan tướng: tức Tào Phi lúc chưa lên ngôi được bái làm Ngũ quan Trung lang tướng, nói gọi là Ngũ quan tướng.

 

TRƯƠNG LỖ TRUYỆN

 


TRƯƠNG LỖ TRUYỆN


Trương Lỗ tự Công Kì, người huyện Phong nước Bái. Ông nội là Lăng, làm khách ở quận Thục, học đạo ở trong núi Hộc Minh, viết thành sách đạo để mê hoặc trăm họ, người theo học đạo phải đem năm đấu gạo, cho nên người đời gọi là 'giặc gạo'. Lăng chết, con là Hành truyền đạo của Lăng. Hành chết, Lỗ lại truyền đạo ấy. Ích Châu Mục là Lưu Yên lấy Lỗ làm Đốc nghĩa Tư mã, cùng Biệt giá Tư mã Trương Tu đem quân đánh Hán Trung Thái thú Tô Cố, Lỗ bèn đánh úp giết Tu, lấy quân của Tu. Yên chết, con là Chương thay lập, thấy Lỗ không theo, giết hết người nhà của mẹ Lỗ. Lỗ bèn ở tại Hán Trung, lấy đạo quỷ để dạy dân, tự xưng là 'Sư quân'. Người đến theo học Lỗ, lúc đầu đều đặt tên là 'Quỷ tốt', truyền đạo ấy cho người tin mình, gọi là 'Tế tửu', đều được lĩnh quân, nhiều kẻ làm Duyên đầu Đại Tế tửu. Đều dạy thành tín không được lừa dối, người có bệnh phải tự nói ra lỗi của mình, đại khái giống với quân Khăn vàng. Các 'Tế tửu' đều làm nhà nghĩa giống trạm dịch của ngày nay. Lại đặt cơm thịt nghĩa treo ở nhà nghĩa, người đi đường thu lấy dùng đủ; nếu nhiều quá, đạo quỷ liền khiến người đó mắc bệnh. Kẻ phạm pháp thì ba lần tha, sau có lỗi mới xử phạt. Không đặt ra Trưởng lại, đều lấy 'tế tửu' trông coi, dân yên ổn lại vui vẻ. Chiếm giữ miền Ba, Hán(1) gần ba mươi năm.


Điển lược viết: "Giữa năm Hi Bình, giặc quái nổi dậy, quan Tam phụ(2) có Lạc Diệu. Giữa năm Quang Hòa, phương đông có Trương Giác, quận Hán Trung có Trương Tu. Lạc Diệu dạy dân biết làm phép 'ẩn thân', Giác dạy đạo 'thái bình', Tu dạy đạo 'năm đấu gạo'. Đạo 'thái bình' là thầy đạo cầm gậy chín đốt làm phép chúc, dạy người bệnh gõ đầu mà suy nghĩ lỗi lầm, nhân đó đem nước bùa cho uống, người bị bệnh trọn ngày mà tự khỏi thì nói người đấy tin đạo, có người không khỏi thì nói là không tin đạo. Đạo của Tu đại khái giống với đạo của Giác, lại có thêm 'nhà lặng', sai người bệnh ở trong đó mà suy nghĩ lỗi lầm của mình. Lại sai người làm 'Gian lệnh Tế tửu'. Tế tửu coi việc dùng năm nghìn chữ của Lão Tử, sai đều tập đọc, gọi là 'Gian lệnh'. Lập ra 'Quỷ lại', làm chủ việc xin cầu đảo cho người bệnh. Cách cầu đảo là, là viết họ tên của người bệnh lên giấy, nói rõ tội lỗi, làm ra ba bản, một bản trong đó ném lên trời, rớt trên núi, một bản chôn dưới đất, một bản bỏ chìm dưới sông, gọi là chữ viết tay của ba quan. Sai người nhà của người bệnh đem ra năm đấu gạo để trả, cho nên gọi là giặc năm đấu gạo. Thực là không có ích cho chữa bệnh, nhưng là say mê, mà dân thường ngu dốt, thay nhau thờ nó. Sau đó Giác bị giết, Tu cũng chết. Lúc Lỗ ở tại Hán Trung, nhân có dân tin mà truyền đạo của Tu, lại sửa thêm đạo ấy. Thầy đạo làm 'nhà nghĩa', lấy gạo thịt đặt ở trong ấy mà níu chân người đi đường; lại dạy cách tự ẩn thân, có kẻ mắc lỗi nhỏ, nếu đi đường được trăm bước thì tha tội; lại dựa vào nguyệt lệnh(3), mùa xuân mùa hạ thì cấm giết, lại cấm uống rượu. Người ở trọ đi lại ở đất ất, không ai dám không theo".


Thần là Tùng Chi cho rằng: Trương Tu phải là Trương Hành, nếu không phải là cái sai của Điển lược thì là cái lầm của truyện này.

CÔNG TÔN TOẢN TRUYỆN

 


Tranh vẽ Công Tôn Toản của một danh họa đời nhà Thanh

CÔNG TÔN TOẢN TRUYỆN


Công Tôn Toản tự Bá Khuê, người huyện Lệnh Chi quận Liêu Tây. Lệnh âm lang định phiên. Chi âm kì nhi phiên. Làm Môn hạ Thư tá trong quận. Có dáng vẻ đẹp, tiếng nói lớn, Hầu Thái thú kính trọng, gả con gái cho Toản, Điển lược viết: "Tính Toản nhanh nhẹn, hễ bàn việc gì không chịu nói trước, thường tổng kết các việc lại sau cùng, không có chỗ sai sót, quan Thái thú khen tài của Toản".


Sai đến nhà Lư Thực ở Trác Quận đọc sách kinh, rồi làm quan trong quận ấy. Lưu Thái thú làm việc mắc lỗi bị gọi đến phủ Đình úy, Toản làm người đánh xe, tự thân chăm sóc. Đến lúc Lưu Thái thú dời đến quận Nhật Nam, Toản sắm sửa gạo thịt, ở tại huyện Bắc Mang cúng tế người trước, nâng chén rượu chúc nói: "Trước làm người con, nay làm bầy tôi, nay đến quận Nhật Nam. Quận Nhật Nam khí chướng, chỉ sợ không về được, nay cùng người quen từ biệt ở đây". Lại bái lạy rùm rụp rồi đứng dậy, bấy giờ người ta thấy vậy chẳng ai không than thở. Lưu lại được tha về. Toản vì cử Hiếu liêm mà làm quan Lang, bái làm Liêu Đông thuộc quốc Trưởng sử. Thường dẫn mấy chục quân kị đi ra biên giới, thấy mấy trăm quân kị người Tiên Ti, (1) Toản bèn lùi về giữa ngôi đình trống, hẹn quân kị đi theo nói: "Nay nếu không xông ra tất chết hết vậy". Toản liền tự cầm mâu, đao có hai lưỡi nhảy ra đâm quân Hồ, (2) giết chết mấy chục người, cũng giết được nửa quân kị đi theo trong bọn chúng, bèn thoát được. Người Tiên Ti sợ hãi, sau không dám vào lại biên giới. Chuyển làm Trác Lệnh. Giữa năm Quang Hòa, giặc vùng Lương Châu nổi dậy, phát ba nghìn quân đột kị của vùng U Châu, lấy Toản làm Đô đốc trông coi, sai đem quân đi. Quân đến giữa huyện Kế, người quận Ngư Dương là Trương Thuần dụ người Ô Hoàn (3) ở quận Liêu Tây là bọn Khâu Lực Cư làm phản, cướp bóc giữa huyện Kế, tự xưng Tướng quân, Cửu châu Xuân thu viết: "Thuần tự hiệu Di thiên Tướng quân, An Định Vương". bắt quan dân, đánh các thành của quận Hữu Bắc Bình, thuộc quốc Liêu Đông, chỗ đi qua đều phá hoại. Toản dẫn bộ tướng đuổi đánh bọn Thuần có công, chuyển làm Kị Đô úy. Người Ô Hoàn của thuộc quốc là Tham Chí Vương đem dân chúng đến chỗ Toản hàng. Chuyển làm Trung lang tướng, phong Đô Đình Hầu, đến đóng đồn ở thuộc quốc, đánh phá nhau với người Hồ năm, sáu năm. Bọn Khâu Lực Cư cướp bóc bốn châu Thanh, Từ, U, Kí, bốn quận bị gây hại nhưng Toản không ngăn được.


Triều đình bàn bạc thấy người quận Đông Hải là Tông chính Lưu Bá An vốn có đức nghĩa, trước làm U Châu Thứ sử, ân tín sáng rõ, người Nhung Địch nương dựa, nếu được sai đến vỗ về thì không cần đem quân đánh mà định được, bèn lấy Lưu Ngu làm U Châu Mục.

HẠ HẦU ĐÔN TRUYỆN

 

NGỤY THƯ QUYỂN 9 - Chư Hạ Hầu Tào truyện

Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên, Tào Nhân, Tào Hồng, Tào Hưu, Tào Chân, Hạ Hầu Thượng

 


Hạ Hầu Đôn 
giao chiến với Lã Bố  

HẠ HẦU ĐÔN TRUYỆN


Hạ Hầu Đôn tự Nguyên Nhượng, người Tiêu huyện nước Bái, là con cháu dòng dõi của Hạ Hầu Anh(1). Năm mười bốn tuổi, theo học thầy, có người làm nhục thầy, Đôn giết kẻ ấy, bởi thế có tiếng là người cứng cỏi. Lúc Thái Tổ mới khởi sự, Đôn thường làm Tỳ tướng, theo đi chinh phạt. Khi Thái Tổ làm Hành Phấn vũ tướng quân, lấy Đôn làm Tư mã, được giữ riêng một cánh quân ở đóng Bạch Mã, sau được thăng làm Chiết xung Hiệu uý, lĩnh chức Thái thú Đông Quận.


Thái Tổ đi đánh Đào Khiêm, lưu Đôn trấn thủ Bộc Dương. Trương Mạc làm phản nghênh đón Lã Bố, gia quyến Thái Tổ ở Quyên Thành, Đôn đem số ít quân vận tư trang nhẹ tới đó, vừa hay gặp Bố, cùng giao chiến. Bố lui về, vào thành Bộc Dương, tập kích quân chở đồ truy trọng của Đôn. Rồi phái tướng đến trá hàng, chung sức bắt giữ Đôn, đòi của cải, trung quân của Đôn kinh hoàng chấn động. Tướng của Đôn là Hàn Hạo lập tức thống suất số binh lính trong doanh trại của Đôn, triệu quan lại cùng chư tướng đến, bắt thuộc hạ đều phải mặc nguyên áo giáp không được kinh động, các doanh trại mới được yên. Sau đó Hạo đến dinh sở của Đôn, thét gọi kẻ bắt con tin ra chất vấn rằng: "Bọn hung nghịch chúng bay, dám bắt giữ bức hiếp Đại tướng quân, có còn muốn sống nữa chăng! Ta vâng mệnh đi đánh dẹp bọn phản tặc, có thể đảm nhiệm công việc của một vị tướng quân, đâu có buông tha cho chúng mày được?" Rồi khóc hỏi Đôn rằng: "Ta nên thực thi quốc pháp thế nào đây?" Xong lập tức triệu binh sĩ tới đánh bọn bắt con tin. Bọn chúng sợ hãi vội vã rập đầu xuống, nói "Tôi chỉ muốn xin lấy ít đồ tư trang rồi bỏ đi thôi!" Hạo trách mắng mấy đứa, đều đem chém cả. Đôn được thoát, Thái tổ nghe chuyện, bảo Hạo rằng: "Khanh làm thế là để khuôn phép cho vạn đời vậy." Rồi xuống lệnh, từ nay về sau kẻ nào bắt giữ con tin, mọi người phải hợp sức mà đánh, không phải hỏi han gì. Bởi thế việc bắt bớ con tin dứt tuyệt hẳn.


[Tôn Thịnh nói: Xét Quang Vũ bản kỷ, năm Kiến Vũ thứ chín, bọn cướp bắt mẹ và em của Âm quý nhân, quan lại vì không tiếp cận được bọn cướp bắt con tin, bọn cướp bèn giết con tin. Thế thì cái việc hợp sức đánh bọn cướp, là phép từ xưa vậy. Từ đời Thuận đế, An đế đã bỏ phép ấy, chính giáo trì trệ hủ bại, bọn bắt con tin chẳng kiêng kỵ gì bậc vương công, mà Hữu ti cũng chẳng ai tuân theo phép nước, Hạo mới khôi phục lại việc chém bọn ấy, cho nên Nguỵ Vũ mới khen ngợi.]


Thái tổ từ Từ Châu về, Đôn đi theo đánh Lã Bố, bị lạc tên bắn trúng, bị thương ở mắt trái.


[Nguỵ lược chép: Bấy giờ Hạ Hầu Uyên và Uyên và Đôn đều làm tướng quân, trong quân gọi Đôn là Manh Hạ Hầu(2). Đôn ghét bọn ấy, cứ soi gương là tức giận, lập tức đập gương xuống đất.]

HẠ HẦU UYÊN TRUYỆN

   


Chân dung Hạ Hầu Uyên
trong 
Tam Quốc Diễn Nghĩa thời nhà Thanh

HẠ HẦU UYÊN TRUYỆN


Hạ Hầu Uyên tự Diệu Tài, là em họ Đôn. Thời Thái tổ còn ở nhà, từng vướng vào chuyện quan sự ở huyện, Uyên nhận trọng tội thay cho, Thái tổ tính kế cứu Uyên, Uyên được thoát tội.


Nguỵ lược chép: Bấy giờ vùng Duyện, Dự đại loạn, Uyên vì túng thiếu, đem bỏ đứa con trai nhỏ của mình, mà nuôi nấng đứa con gái nhỏ côi cút của người em đã chết(1). 


Thái tổ khởi binh, lấy Uyên làm Biệt bộ tư mã, Kỵ đô uý đi theo bên mình, sau thăng làm Thái thú Trần Lưu, Dĩnh Xuyên. Lúc Thái tổ và Viên Thiệu giao chiến ở Quan Độ, Uyên làm Hành Đốc quân Hiệu uý. Thiệu bị phá, Thái tổ sai Uyên đôn đốc việc quân lương ở các châu Duyện, Dự, Từ. Thời ấy quân lương thiếu thốn, Uyên đem quân lương tiếp tế, binh lính nhờ đó mà phấn chấn lên được. Xương Hi làm phản, Thái tổ phái Vu Cấm đến đánh, chưa thắng được, Thái tổ lại phái Uyên và Cấm cùng hợp sức, sau đánh được Hi, thu hàng hơn một chục đồn binh, Hi đến chỗ Cấm đầu hàng. Uyên quay về, được bái làm Điển quân Hiệu uý.

TÀO NHÂN TRUYỆN

 


Tào Nhân. Tranh minh họa đời Thanh

TÀO NHÂN TRUYỆN


Tào Nhân tự Tử Hiếu, là em họ của Thái tổ vậy.


[Nguỵ thư chép: Tổ phụ của Nhân là Bao, làm Thái tú Dĩnh Xuyên. Cha là Sí, làm Thị trung, Trường Thuỷ hiệu uý.]


Nhân thời trẻ thích cung ngựa, săn bắn. Sau khi hào kiệt các nơi nổi dậy, Nhân cũng ngầm tụ tập với những người trẻ tuổi, được hơn nghìn người, đi khắp vùng Hoài, Tứ, sau đi theo Thái tổ làm Biệt bộ Tư mã, Hành Lệ phong Hiệu uý. Thái tổ phá viên Thuật, Nhân chém được khá nhiều giặc. Rồi theo đi đánh Từ Châu, Nhân thường đốc xuất kỵ binh, làm quân tiên phong. Được biệt phái đi đánh tướng của Đào Khiêm là Lã Do, phá được, quay về cùng với đại quân họp ở Bành Thành, đại phá quân của Khiêm. Sau theo đi đánh các huyện Phí, Hoa, Tức Mặc, Khai Dương, Khiêm phái biệt tướng đến cứu các huyện, Nhân dùng kỵ binh đánh phá được. Thái tổ đi đánh Lã Bố, Nhân được biệt phái đi đánh Câu Dương, hạ được thành, bắt sống tướng của Bố là Lưu Hà. Thái tổ bình định Hoàng Cân, nghênh đón Thiên tử định đô ở huyện Hứa, Nhân mấy lần lập công, được bái làm Thái thú Quảng Dương. Thái tổ quý trọng sự dũng lược của Nhân, không để giữ ở quận, cho làm Nghị lang đốc quân kỵ(1). Thái tổ đi đánh Trương Tú, Nhân được biệt phái đi đánh chiếm huyện Bàng, bắt sống được hơn ba nghìn dân nam nữ huyện ấy. Quân của Thái tổ quay về, bị Tú truy đuổi, quân bất lợi, sĩ tốt mất chí khí, Nhân động viên khích lệ khiến tướng sĩ rất phấn chấn, Thái tổ khen ngợi Nhân, sau phá được Tú.

TÀO CHÂN TRUYỆN

 

Tào Chân.
Tranh minh họa đời Thanh

TÀO CHÂN TRUYỆN


Tào Chân tự Tử Đan, là con cháu trong họ tộc của Thái tổ. Thái tổ khởi binh, cha của Chân là Thiệu chiêu mộ binh lính, bị châu quận giết hại.


Nguỵ lược chép: Chân gốc họ Tần, được họ Tào nuôi dưỡng. Có người nói rằng cha của Chân là Bá Nam ngày trước có giao hiếu với Thái tổ. Năm Hưng Bình mạt, bè lũ bộ đảng của Viên Thuật đánh cướp nhà Thái tổ, Thái tổ chạy ra, bị bọn cướp đuổi theo, liền trốn vào nhà họ Tần, Bá Nam mở cửa chứa chấp. Bọn cướp hỏi Thái tổ ở đâu, đáp rằng: "Chính là ta đây." Liền bị hại. Vì thế Thái tổ nghĩ đến công lao, cho Chân đổi sang họ của mình.


Nguỵ thư chép: Thiệu vì rất một lòng trung thành mà có tài trí, được Thái tổ tin tưởng thân gần. Năm Sơ Bình trung, Thái tổ hưng nghĩa binh, Thiệu chiêu mộ binh lính, theo Thái tổ đi khắp nơi. Bấy giờ Thứ sử Dự Châu là Hoàng Uyển muốn hại Thái tổ, Thái tổ tránh được nhưng riêng Thiệu bị hại 


Thái tổ thương Chân mồ côi sớm, đem về nuôi dưỡng cùng với các con mình, cho ở cùng với Văn Đế. Chân có lần đi săn, bị con hổ đuổi, Chân ngoảnh lại bắn hổ, nghe tiếng dây cung thì hổ đã ngã ngửa. Thái tổ khen Chân là bậc chí dũng, sai nắm quân kỵ hổ báo. Chân đánh dẹp giặc Linh Khâu, hạ được, được phong tước Linh Thọ đình hầu(1). Sau lấy Chân làm Thiên tướng quân dẫn binh tập kích biệt tướng của Lưu Bị ở Hạ Biện, phá được, Chân được bái làm Trung kiên tướng quân. Chân theo đến Trường An, lĩnh chức Trung lĩnh quân. Bấy giờ, Hạ Hầu Uyên chết ở Dương Bình, Thái tổ lo lắng. Lập tức dùng Chân làm Chinh Thục hộ quân, đốc xuất bọn Từ Hoảng đánh phá Biệt tướng của Lưu Bị là Cao Tường ở Dương Bình. Thái tổ thân đến Hán Trung, triệt quân trở về, sai Chân đến Vũ Đô nghênh đón bọn Tào Hồng về đóng đồn ở Trần Thương. Văn Đế tức vương vị, lấy Chân làm Trấn tây tướng quân, ban cho Giả tiết, đô đốc các việc quân sự ở hai châu Ung, Lương. Xét công lao trước sau, tấn phong Chân làm Đông hương hầu.

TUÂN ÚC TRUYỆN

 

NGỤY THƯ QUYỂN 10 - Tuân Úc Tuân Du Giả Hủ truyện

Tuân Úc, Tuân Du, Giả Hủ

 



TUÂN ÚC TRUYỆN


Tuân Úc tự Văn Nhược, người quận Dĩnh Xuyên huyện Dĩnh Âm. Tổ phụ là Thục, tự Quý Hoà, làm Lãng Lăng lệnh. Thời nhà Hán khoảng những năm đời Thuận-Hoàn, nổi danh đương thời. Có tám người con, hiệu là Bát Long. Cha Úc là Cổn, làm tướng ở Tế Nam . Chú là Sảng, làm Tư không.


Tục Hán thư chép: Thục có tài cao, Vương Sướng-Lý Ưng đều coi là thầy, là hầu tướng ở Lãng Lăng, có danh hiệu là Thần Quân.


Hán kỷ của Trương Phan chép: Thục học rộng cao siêu khôn lường, cùng với Lý Cố-Lý Ưng có cùng chí hướng kết giao thân thiết, đề bạt Lý Chiêu làm tiểu lại, là bạn người chú của Vua là Độ từ thuở ấu thơ, được Hiền lương phương chính cho vời đến, xét hỏi đến các việc cấp thiết về Lương thị, rồi bổ nhiệm ra ngoài làm hầu tướng ở Lãng Lăng, chết khi làm quan. Có tám người con là: Kiệm, Cổn, Tĩnh, Đảo, Sân, Sảng, Túc, Phu. Sảng tự Từ Minh, lúc nhỏ đã hiếu học, năm mười hai tuổi, lầu thông kinh Xuân Thu-Luận Ngữ, rất thích nghiền ngẫm kinh sách điển cố, chẳng chịu vâng mệnh làm quan, đến tận năm ba mươi tuổi. Đổng Trác nắm chính sự, lại cho vời Sảng, Sảng định bỏ trốn, quan địa phương liền giữ lại. Chiếu xuống đến quận, lập tức bái làm Bình Nguyên tướng. Khi đi đến Uyển Lăng, lại cho người đuổi theo bái làm Quang Lộc huân. Coi xét việc được ba ngày, có sách mệnh bái làm Tư Không. Sảng phát lên từ kẻ áo vải, sau chín mươi lăm ngày mà ngôi vị đến chức Tam công. Trước đây Thục ở phía tây làng Hào, huyện lệnh Uyển Khang nói rằng ngày xưa họ Cao Dương có tám người con tài giỏi, nên gọi làng ấy là làng Cao Dương. Tĩnh tự Thúc Từ, cũng là người rất có đức, danh vọng gần như Sảng, chung thân đi ở ẩn.


Dật sĩ truyện của Hoàng Phủ Mật kể: Có người hỏi Hứa Tử Tương, rằng Tĩnh với Sảng ai hiền hơn? Tử Tương nói: "Hai người đều là ngọc báu vậy, Từ Minh sáng rọi ở ngoài, Thúc Từ thấm nhuận ở bên trong."

TUÂN DU TRUYỆN

 


Tào Tháo đón Tuân Úc và cháu - Tuân Du

TUÂN DU TRUYỆN


Tuân Du tự Công Đạt, là cháu của Úc. Tổ phụ là Đàm, là Thái thú Quảng Lăng.


Tuân thị gia truyện(1) chép: Đàm tự Nguyên Trí. Anh là Dục, tự Bá Tu.


Hán kỷ của Trương Phan khen Dục, Đàm đều có tài hơn người. Dục cùng với bọn Lý Ưng, Vương Sướng, Đỗ Mật có danh hiệu là Bát tuấn, ngôi vị đến Bái tướng. Cha của Du là Di, làm Tòng sự trong châu. Di với Úc là anh em con chú con bác ba đời.


Du mồ côi từ nhỏ. Khi Đàm chết, có kẻ lại cũ là Trương Quyền xin coi giữ mộ phần của Đàm. Năm Du mười ba tuổi, hoài nghi việc ấy, bảo với người chú là Cù rằng: "Kẻ lại ấy có sắc diện phi thường, ngờ rằng là kẻ gian tà!" Cù ngộ ra, bèn tìm cách tra hỏi, quả nhiên là tên giết người bỏ trốn. Bởi thế lấy làm lạ về Du.


Nguỵ thư chép: Năm Du được bảy, tám tuổi, Cù từng say rượu, hiểu lầm Du; về sau Du ra ngoài rong chơi, thường lánh mặt không muốn cùng với Cù tương kiến. Sau này Cù nghe chuyện ấy, mới kinh sợ vì Du sớm hiểu biết đến như thế.


Tuân thị gia truyện chép: Con của Cù là Kỳ, tự Bá Kỳ, cùng với người chú họ là Âm đều nổi danh. Những lời Kỳ cùng với Khổng Dung luận về nhục hình(2),


lời Âm cùng với Khổng Dung luận về những điều hơn kém của thánh nhân, đều chép ở Dung tập(3). Kỳ làm quan đến Thái thú Tế Âm; Âm về sau được vời làm Hữu đạo, rồi làm đến chức Thừa tướng Tế tửu.

GIẢ HỦ TRUYỆN

 


GIẢ HỦ TRUYỆN


Giả Hủ tự Văn Hoà, người quận Vũ Uy huyện Cô Tang. Thuở nhỏ người đời chẳng ai biết đến, chỉ người ở Hán Dương là Diêm Trung cho là người khác thường, nói rằng Hủ có cái tài lạ của Lương-Bình(1).


Đến kỳ xét Hiếu liêm Hủ được làm chức Lang, vì bị ốm nặng bèn từ quan, quay về phía tây tới đất Khiên, trên đường đi gặp lúc rợ Đê làm phản, mấy chục người đi cùng đều bị bắt giữ ở đó. Hủ nói: "Ta là của cháu ngoại Đoàn công, mày đem giấu ta đi, gia đình ta tất đem tiền chuộc đến cho mày." Bấy giờ Thái uý Đoàn Quýnh, trước đó ít lâu là tướng ở biên ải, uy chân tây thổ, Giả Hủ mượn danh để doạ rợ Đê. Rợ Đê quả nhiên không dám hại, cho người đưa đi, những người khác đều chết cả. Hủ quả thật chẳng phải là cháu ngoại của Đoàn, quyền biến để xong việc, hết thảy đại loại như thế.


Đổng Trác vào Lạc Dương, Hủ được lấy làm Thái uý duyện rồi Bình tây Đô uý, lại thăng lên làm Thảo lỗ Hiệu uý. Con rể của Trác là Trung lang tướng Ngưu Phụ đóng quân ở Thiểm tây, Hủ ở đó giúp việc quân. Trác bại vong, Phụ cũng chết, mọi người rất sợ hãi, bọn Hiệu uý Lý Thôi-Quách Dĩ-Trương Tế muốn giải tán, sắp sửa quay về quê. Hủ nói: "Nghe nói người trong thành Trường An bàn định muốn giết hết người Lương Châu, mà các ông bỏ mọi người ra đi một mình, thì một người đình trưởng cũng có thể bắt được các ông vậy. Chẳng bằng thống lĩnh mọi người ở phương tây, thu nhặt binh sĩ ở đó, vây đánh Tràng An, vì Đổng công mà báo hận, may mà nên việc, phụng sự quốc gia để chinh phạt thiên hạ, nếu chẳng xong việc, bỏ chạy cũng chưa muộn vậy." Chúng cho là phải. Thôi bèn ở phía tây đánh Trường An. Việc này có ở truyện về Trác.

MAO GIỚI TRUYỆN

 

NGỤY THƯ QUYỂN 12 - Thôi Mao Từ Hà Hình Bảo Tư Mã truyện Thôi Diễm, Mao Giới, Từ Dịch, Hà Quỳ, Hình Ngung, Bảo Huân, Tư Mã Chi

 


MAO GIỚI TRUYỆN


Mao Giới tự Hiếu Tiên, người quận Trần Lưu huyện Bình Khâu. Thời trẻ làm huyện lại, vì thanh liêm công chính nên được ngợi khen. Lúc đi tránh loạn ở Kinh Châu, chưa đến nơi, nghe nói Lưu Biểu chính lệnh không nghiêm, bèn qua huyện Lỗ Dương. Thái tổ đến Duyện châu, cho vời Giới đến làm Trị trung tòng sự. Giới nói với Thái tổ rằng: "Nay thiên hạ tan lở chia lìa, quốc chủ bị di dời, sinh dân bỏ nghiệp, mất mùa đói kém lưu vong, Công gia(1) không năm nào có của tích trữ, trăm họ không có chí an cư, khó mà giữ được lâu. Nay Viên Thiệu, Lưu Biểu, tuy sĩ dân đông đảo cường thịnh, đều không lo tính đường xa, chưa gây dựng được cái gốc rễ nền móng vậy. Kẻ dấy binh có chính nghĩa thì thắng, giữ được địa vị bởi có tài lực, nên phụng mệnh thiên tử để ra lệnh cho kẻ không làm thần tử, chấn chỉnh việc canh tác lương thực, tích trữ quân nhu của cải, như thế thì cái nghiệp bá vương có thể thành vậy." Thái tổ cung kính thu nhận lời ấy, chuyển Giới làm Mạc phủ Công tào.


Thái tổ làm Tư không Thừa tướng, Giới từng làm Đông tào duyện, cùng với Thôi Diễm đều chủ trì việc tuyển cử. Những người được họ tuyển cử, đều là kẻ sĩ trong sạch chính trực, còn dù là kẻ có danh lớn mà phẩm hạnh không đoan chính giữ bổn phận, nhất định không được tiến cử. Diễm lấy sự cần kiệm để mọi người noi theo, bởi thế kẻ sĩ trong thiên hạ tuyệt chẳng ai không lấy tiết tháo và liêm khiết để tự cố gắng, dẫu là kẻ bầy tôi địa vị tôn quý được ân sủng, thì xe ngựa y phục chẳng dám vượt khuôn phép. Thái tổ than rằng: "Dùng người như thế, khiến cho người trong thiên hạ tự sửa mình, ta sao làm được như vậy!" Lúc Văn đế làm Ngũ quan tướng, đích thân đến chỗ Giới, phó thác thân quyến của mình nhờ Giới giúp. Giới đáp rằng: "Lão thần nhờ năng lực giữ chức phận, may mắn được miễn trách tội, nay lại nói giúp để thăng quan cho người ta là có lỗi, thế nên thần chẳng dám vâng mệnh." Đại quân về huyện Nghiệp, kẻ bàn luận muốn hợp nhất cơ cấu hành chính(2). Giới xin yết kiến nói không nên thi hành, người bấy giờ đều sợ Giới, đều muốn giảm bớt chức Đông tào. Bèn cùng bẩm bạch rằng: "Từ trước đây chức Tây tào là trên, chức Đông tào là dưới, nên giảm bớt Đông tào." Thái tổ hiểu rõ nội tình, xuống lệnh rằng: "Mặt trời mọc ở phương đông, mặt trăng tròn đầy ở phương đông, phàm khi người ta nói đến phương vị, cũng lại nói đến phương đông trước, vì sao lại triệt tiêu chức Đông tào?" Bèn giảm bớt chức Tây tào. Khi trước, Thái tổ bình Liễu Thành, ban phát các đồ vật lấy được ở đó, đặc biệt đem tấm bình phong sắc trắng không thuê thùa và ghế tựa bằng gỗ mộc không chạm khắc ban cho Giới, nói: "Ngài có phong độ của cổ nhân, cho nên ta ban cho ngài vật dụng của cổ nhân." Giới giữ ngôi vị quý hiển, thường mặc áo vải ăn cơm rau, vỗ về nuôi nấng con côi của anh rất hậu, những đồ được ban thưởng đem phát chẩn giúp đỡ người nghèo khó trong họ tộc, trong nhà không có đồ đạc của cải dư thừa. Giới được thăng làm Quân sư. Nước Nguỵ mới kiến lập, Giới làm Thượng thư bộc xạ, lại chủ trì việc tuyển cử.

TƯ MÃ CHI TRUYỆN

 


Dã độ vô nhân chu tự hoành
Tranh đời Tống

TƯ MÃ CHI TRUYỆN


Tư Mã Chi tự Tử Hoa, người quận Hà Nội huyện Ôn. Thời trẻ là học trò, đi tránh loạn ở Kinh Châu, thốt nhiên gặp bọn giặc ở núi Lỗ Dương, những kẻ đi cùng đều bỏ người già yếu mà chạy, Chi còn một mình ở lại che chở cho mẹ già. Giặc đến nơi, chĩa mũi dao nhọn vào người, Chi lạy rập đầu nói: "Mẹ già tôi, chỉ còn nhờ ở các ông!" Giặc nói: "Kẻ này là hiếu tử vậy, ta giết là bất nghĩa." Vì thế thoát bị hại, Chi lấy xe hươu đẩy mẹ đi. Ở phương nam hơn chục năm, tự mình cầy ruộng giữ khí tiết.


Thái tổ bình Kinh Châu, cho Chi làm trưởng huyện Gian. Bấy giờ thiên hạ mới gây dựng, nhiều kẻ không vâng theo vương pháp. Lưu Tiết là Chủ bộ ở quận, đại tộc cũ, là kẻ hào kiệt hiệp khách, có hơn nghìn tân khách, ra ngoài thì làm đạo tặc, về quận lại nhiễu loạn sở trị. Được ít lâu, Chi phái khách của Tiết là bọn Vương Đồng tòng binh, quan duyện sứ ngăn cản bẩm: "Nhà Tiết trước nay chưa từng cung cấp kẻ lao dịch nào, nếu đến lúc có kẻ trốn tránh, tất làm đình trệ công việc." Chi không nghe, gửi thư cho Tiết nói: "Ngài là Đại tông(1), hơn nữa lại là chân tay của quận, nhưng tân khách thường không giúp việc lao dịch, đã có nhiều người oán vọng, ngờ là tiếng tăm sẽ truyền lên trên. Nay tôi sai bọn Đồng tòng binh, mong ngài phát lệnh phái họ đi đúng lúc." Quân binh đã tập hợp ở quận, nhưng Tiết che giấu đồng bọn, nhân đó ra lệnh cho Đốc bưu nói dối là điều động quân binh đi làm nhạc khí, quan Duyện sử cùng khốn, xin đi thay Đồng. Chi bèn truyền hịch đến Tế Nam, trình bầy đầy đủ tội của Tiết. Thái thú Hác Quang vốn kính trọng và tin tưởng Chi, lập tức dùng Tiết thay Đồng tòng binh. Dân Thanh châu gọi Chi là người "cho Chủ bộ đi tòng binh." Chi được thăng làm Quảng Bình lệnh. Chinh lỗ tướng quân Lưu Huân, vì được quý hiển nhận ân sủng mà kiêu căng ngang tàng, Chi lại là tướng cũ ở quận, tân khách đệ tử trong địa giới mấy lần phạm pháp. Huân gửi thư cho Chi, không ghi rõ danh tính, nhưng phó thác công việc nhờ vả nhiều người ở đấy, Chi không đáp thư của Huân, nhất nhất đều xử theo phép. Về sau Huân vì không tuân phép tắc bị kể tội rồi giết, những kẻ giao du với Huân đều bị bắt tội, nên Chi vì thế được khen ngợi.

CHUNG DO TRUYỆN

 

NGỤY THƯ QUYỂN 13 - Chung Do Hoa Hâm Vương Lãng truyện Chung Do, Hoa Hâm, Vương Lãng

 


CHUNG DO TRUYỆN


Chung Do tự Nguyên Thường, người huyện Trưởng Xã quận Dĩnh Xuyên vậy. [1] Từng cùng cha họ là Du cùng đến Lạc Dương, trên đường được người giúp, nói: "Đứa trẻ này có tướng quý, nhưng bị khổ vì nước, phải gắng cận thận"! Đi chưa đến mười dặm, qua cầu, ngựa sợ, rơi xuống nước suýt chết. Du ngẫm lời người giúp lúc trước, càng quý Do, lại cung cấp tiền của, sai phải chăm học. Cử làm Hiếu liêm. [2] Bổ làm Thượng thư lang, Âm Lăng Lệnh, lấy cớ bệnh xin bỏ. Từ chối Tam phủ, làm Đình úy chính, Hoàng môn Thị lang. Bấy giờ, Hán Đế ở tại kinh sư miền tây, bọn Lí Thôi, Quách Dĩ làm loạn trong thành Trường An, cắt dứt với miền Quan Đông. Thái Tổ lĩnh chức Duyện Châu Mục, bắt đầu sai sứ dâng thư. [3] Bọn Thôi, Dĩ cho rằng người miền Quan Đông muốn tự lập Thiên tử, nay Tào Tháo dẫu có lệnh sai, không phải là thật vậy. Bàn giữ sứ giả của Thái Tổ lại, chống lại ý ấy. Do khuyên bọn Thôi, Dĩ nói: "Nay anh hùng đang cùng nổi dậy, đều ra lệnh chuyên chế, chỉ có Tào Duyện Châu là có lòng với nhà vua, mà làm trái ý tốt của người ta thì không phải là điều mà người muốn đến giúp trông mong vậy". Bọn Thôi, Dĩ theo lời Do, báo đáp nồng hậu, do đó lệnh sai của Thái Tổ mới được thông. Thái Tổ đã nhiều lần nghe Tuân Úc khen Do, lại nghe nói Do khuyên bọn Thôi, Dĩ như thế, càng thêm nghĩ đến. Sau đó Thôi hiếp Thiên tử, Do và Thượng thư Hàn Bân cùng mưu tính. Thiên tử ra khỏi Trường An, Do có công vậy. Bái làm Ngự sử Trung thừa, chuyển làm Thị trung Thượng thư Bộc xạ, lại xét công trước phong làm Đông Vũ Đình Hầu.

 

[1] Tiên hiền hành trạng viết: "Chung Hạo tự Quý Minh, hiền lành cẩn thận, học rộng luật thơ, dạy hơn nghìn học trò, làm quan Công tào trong quận. Bấy giờ Thái Khâu Trưởng là Trần Thực làm Tây Môn Đình trưởng, chỉ có Hạo rất kính trọng. Thực ít hơn Hạo mười bảy tuổi, thường dùng lễ đối đãi người cùng chức phận. Lúc từ quan ở phủ công, sắp đi, Thái thú hỏi nói: 'Ai thay được ông?' Hạo nói: 'Ông phủ muốn có được người mình chọn thì Tây Môn Đình trưởng là dùng được'. Thực nói: 'Ông Chung thường không có ý xét cử người khác, không biết sao chỉ biết ta'? Hạo làm Tư đồ duyện, có việc công đi ra, trên đường gặp bùn lầy, người dẫn đường ghét Hạo cầu cạnh, bỏ cách xa xe công, Hạo gắng tựa vào đòn xe nói: 'Ngày nay quan Tư đồ chỉ làm một mình mà thôi'! Trở về lên gác, rung chuông cũng không giúp, bèn lệnh họp các quan thuộc, Hạo dương tay cũng không ngoảnh theo. Bấy giờ các quan thuộc trong phủ đều hạch tội mình xin ra ngoài, Hạo làm Tây tào duyện, liền mở cửa phủ bố cáo cho bọn đã ra ngoài hiểu nói: 'Kẻ dưới không thể nói thẳng với vua thì như quan Tư lệ coi việc nảy mực mà làm mất lễ với quan Tể tướng, lại không được tin dùng, các ông cả đời còn dùng ở chỗ nào nữa'? Các quan thuộc do đó đều thôi. Đô quan đến phủ Tây tào duyện, hỏi qua việc bỏ phủ, Hạo mời Đô quan ra gặp các quan thuộc để cho họ hiểu, mới thôi. Trước sau chín lần từ chối ba phủ, gọi chuyền làm Nam Hương, Lâm Lư Trưởng, không đến nhận chức. Bầy giờ những kẻ quan trước đây trong quận được người trong nước theo về, có Thương Ngô Thái thú người Định Lăng là Trần Trĩ Thúc, Lê Dương Lệnh người Dĩnh Âm là Tuân Thục và Hạo. Thiếu phủ Lí Ưng thường trọng ba người này, nói: 'Ông Tuân trong sạch hiểu biết nhưng khó làm nên, chỉ có ông Trần, ông Chung đức cao là có thể làm thầy'. Cô của Ưng là vợ của em Hạo, sinh con là Cận, cùng tuổi với Ưng, đều có tiếng tăm. Cận lại ham học theo người xưa, có đức hạnh nhún nhường. Thuở còn nhỏ bé, cha Ưng là Thái úy Du nói: 'Cận giống tính con nhà ta, nước có đạo thì không bỏ, nước không có đạo thì bị hình pháp bãi bỏ vậy'. Lại đem em gái của Ưng gả cho Cận. Cận từ chối làm quan trong châu, chưa từng chịu đến nhận chức. Ưng bảo Cận nói: 'Mạnh Kha cho rằng người ta không ưa làm điều ác là không phải trong lòng người ta, đấy không phải người vậy. Vả lại người ta há thường không có trắng đen sao'! Cận từng đem lời Ưng nói với Hạo, Hạo nói: "Cha của Nguyên Lễ đang giữ chức, các quan lớn đang mạnh, cháu của Hàn Công do đó mà được nhờ vậy. Quốc Vũ Tử ưa mời người có lỗi, cho rẳng đấy là gốc của oán thù, ngày nay tựa như thời ấy! Giữ thân giữ nhà là đạo của ngươi vậy'. Cận chết sớm, Ưng dẫu lập được công lao, chức chỉ đến hàng Khanh tá, mà rút cuộc gặp họa tổn thân. Hạo lúc sáu mươi tuổi thì chết tại nhà. Hai con Hạo là Địch, Phu, đều giữ người nhà không làm quan. Do là cháu của Địch vậy".