Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

Nỗi buồn chiến tranh



Nỗi buồn chiến tranh
...
Mến yêu một cô gái cảm nhận về chiến tranh thật ấm lòng.

Nguồn ở đây.


Với những đứa trẻ sinh ra vào những năm 1990, 2000 như chúng tôi, chiến tranh là một điều gì đó xa lạ, một thứ đồ cổ cất trong các ngăn tủ hiếm khi được mở ra. Dù suốt những tháng năm đi học tràn ngập các giờ học lịch sử về những trận chiến, chiến thuật quân sự, các bài hát về thiếu niên dũng cảm thời chiến, với tôi chiến tranh không lưu lại hơn là những con số tồn tại trên trang giấy lẫn các gương mặt người trẻ trung mặc quân phục trong bức hình đen trắng.

Thế đấy, thật khó để hình dung ra rằng, cái thời khói lửa ấy mới kết thúc cách đây 40 năm thôi. Tôi hiếm khi xem phim về chiến tranh, đọc sách viết về thời đại ấy. Với tôi, bối cảnh ấy quá ngột ngạt và bạo lực, và vậy là tôi thấy hoàn toàn xa lạ với một thời quá khứ của đất nước này, còn đọc sách viết với cảm hứng thời đại hào hùng kiểu Rừng xà nu thì lại càng không. Hồi học Văn, tôi chỉ nhớ bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, với những câu thơ ám ảnh như: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” hay “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Một ngày nóng phát rồ của mùa hè 40 độ, tôi lượn lờ vào siêu thị chơi, và lang thang vào cửa hàng sách Fahasa trong đó. Giữa hàng loạt sách phiêu lưu, ngôn tình, cổ điển, có một quyển sách bìa đen lặng lẽ thu hút sự chú ý của tôi, đó là “Nỗi buồn chiến tranh” – Bảo Ninh. Đây sẽ là một trong những cuốn sách ám ảnh nhất tôi từng đọc. Chiến tranh không còn xa lạ nữa, mà trở nên thật, đau đớn và dằn vặt khôn nguôi.

Trong các sách viết về chiến tranh, đến nay tôi mới chính thức đọc được hai quyển và cảm được chúng, đó là All quiet on Western front và Nỗi buồn chiến tranh. Trên goodreads – trang thông tin về sách rất phổ biến trên mạng, Nỗi buồn chiến tranh (The sorrow of war) nhận được rất nhiều bình luận của độc giả nước ngoài, phần lớn là khen ngợi sự chân thật trong miêu tả thân phận con người của sách. Thú vị là, nhiều bạn đọc nước ngoài ban đầu “phải” đọc cuốn sách theo yêu cầu của lớp văn học (English class), sau chuyển sang thật sự yêu thích. Một cuốn sách Việt Nam nhận được sự quan tâm của độc giả quốc tế như thế, có thể là vì: 1. Sách viết về chiến tranh Việt-Mỹ qua cái nhìn của người lính Bắc Việt, 2. Phong cách văn chương đã đạt mức hiện đại, phù hợp với bạn đọc nước ngoài đã quen với các tác phẩm văn học nổi tiếng có lối viết sâu sắc, gọn và miêu tả nhân vật độc đáo, 3. Sự chân thật chạm tới trái tim con người. Có lẽ chính yếu tố thứ 3 mới là điều làm nên sức ảnh hưởng của Nỗi buồn chiến tranh.

Truyện là dòng hồi tưởng của nhân vật Kiên – một trong số ít những người lính còn sống sót trở về sau 10 năm chiến đấu từ Bắc vào Nam. Xuyên suốt hồi tưởng của anh là những kí ức sống động, đau xót về tháng năm cầm súng với đồng đội, hồi ức về thời thơ ấu êm đềm cùng mối tình trong trắng với người bạn gái tên Phương. Chiến tranh đã qua mà Kiên cứ sống giữa hai bờ quá khứ – thực tại, giằng xé lẫn nhau. Anh trở về nhưng cũng không thể ở bên cạnh Phương nữa. Kiên, giống như những người lính trong All quiet on western front đã vĩnh viễn mất đi một điều gì đó trong chiến tranh, và khi quay lại đời thường anh trở nên lạc lõng, không hòa nhập nổi, và anh im lặng trong dòng hồi tưởng và những con chữ mình viết ra.

Cuốn tiểu thuyết cứ dằn vặt người đọc, bởi nó quá chân thật về thân phận con người. Với tôi, văn chương chỉ là nghệ thuật thực sự, khi người viết thành thực với trái tim mình, với cuộc đời này, không để bất cứ một thứ gì làm sức ép lên ngòi bút. Chiến tranh đã hủy hoại thật nhiều thứ. Làm sao những chàng trai mới 17, 18 tuổi, vừa mới còn trên ghế nhà trường, có thể ngay lập tức cầm súng, học cách đâm lưỡi lê vào bụng kẻ thù, học cách lái xe tăng cán nát thân người, nhìn đồng đội mình chết hết mà sau đó còn có thể trở về bình thường và nguyên vẹn? “Giết người, thì có gì là vinh?” – Một trong số họ đã lên tiếng tự hỏi. Truyện có những phân cảnh ngột ngạt đến không chịu được, như khi Kiên bắt được 4 người lính phía bên kia, và họ phải đào huyệt tự chôn mình trong buổi chiều hôm ấy. Họ đào một cách bình thản, rồi quỳ xuống để nhận phát đạn vào đầu mình. Tôi thấy sợ cho cái cảnh bạo lực khủng khiếp ấy, khi mà con người lạnh lùng đối xử với nhau như với đồ vật. Nhưng rồi một trong số người lính sắp bị bắn ấy ôm chân Kiên, khóc và xin tha mạng, vì anh ấy còn trẻ quá, vì anh ấy còn mẹ, còn người yêu ở nhà. Những người trai trẻ ấy, dù ở chiến tuyến nào, cũng đều là con người, đều có những ràng buộc thân thích, đều có tuổi trẻ, có ước mơ, có tình yêu. Thật may, cuối cùng Kiên đã không giết người, anh tha cho 4 cậu lính ấy. Chút kí ức này vẫn còn cứu vớt được phần nào tháng ngày về sau của Kiên.

Kí ức của Kiên cứ trở đi trở lại với những oan hồn, những cái chết. Cái chết ngập tràn trong truyện, từ gương mặt Can – người lính trẻ đào ngũ vì muốn gặp mẹ già – nay chết trên đường về, bị đồng đội khinh rẻ, từ người lính ngụy bị ngập trong hố nước, ngạt đến chết, từ những thây người nảy lên khi bị xe tăng cán phải, rồi bẹp dúm, biến thành những rẻo thịt bị giòi bọ bâu đầy trên các rãnh bánh xe. Bảo Ninh phơi bày bộ mặt tàn khốc của chiến tranh, với những cái chết cứ dày lên ở chiến trường, với những đau đớn cho một tâm hồn trẻ trung bị hủy diệt, trở nên bạo lực, chai sạn đi trong những tháng ngày chỉ có chém và giết. Và cái chết cứ ngấm dần vào tuổi trẻ, giết dần đi những ước mơ trong sáng, nhân tính, và khát vọng sống của con người.

Đối lập với sự chết chóc, cô đơn cứ ngập tràn, lại là khoảng thời gian vĩnh viễn bạo lực không thể chạm tới. Và có lẽ vì vậy, mà sự phá hủy của chiến tranh sau này lại càng khiến trái tim con người đau xót hơn. Đó là khoảng thời gian Kiên còn chưa đi lính, vẫn đi học và ở bên Phương. Ở khoảng không gian, thời gian ấy, có nghệ thuật hiện hữu bên cây đàn dương cầm của bố mẹ Phương trong căn nhà nhỏ ở Hà Nội, bên những bức tranh bố Kiên chất đầy trong căn gác. Phương là một biểu tượng cho sự hoàn hảo, trong trắng, một vẻ đẹp cực đoan mà theo như mẹ Phương, cũng mong manh và dễ bị vỡ nát bởi biến động cuộc đời. Tôi rất thích đoạn mẹ Phương miêu tả về cô, có lẽ vì tôi vốn thích sự hoàn hảo của cái đẹp. Mẹ Phương đã mong cô gắn bó với thứ âm nhạc của thiên tài, đàn dương cầm, bởi mẹ cô biết, Phương có vẻ bất cần như vậy, nhưng thực chất tâm hồn cô yếu đuối và luôn cần được bảo bọc. Bên cạnh đó, truyện có một không gian khác cũng êm đềm và thanh tịnh, đó là chỗ bố dượng của Kiên ở. Tôi không thể quên khi ông nói với Kiên tư tưởng của mình: “Con ạ, nghĩa vụ duy nhất của một người trước Trời và Đất là phải sống, chứ không phải hy sinh. Hãy cảnh giác trước những thứ yêu cầu con người phải chứng minh bằng cái chết.” Chỉ có người luôn yêu thương con người, nhìn trước được sự bạo lực sẽ hủy hoại tâm hồn ra sao, mới có thể nói với một người sắp ra trận như thế. Trước khi Kiên đi, Phương nghe lời mẹ, đã đàn tặng anh khúc Sonata cung Mi thứ mộng ảo của Mozart, và Kiên đã khóc. Khúc đàn ấy như tiếng chấm hết cho quãng đời tươi đẹp, cho quá khứ yên bình, cho cả tình yêu giữa hai người.

Tôi chợt nhớ đến bộ phim The pianist, khi người nghệ sỹ ngồi vào đàn chơi bản Ballade của Chopin, chơi mê mải như thoát ra tháng năm sống chui lủi sắp bị biến dạng cả về nhân dạng và con người, chơi như không còn gì để mất trước sỹ quan người Đức, chơi như thăng hoa khát vọng sống và đau đớn cho nghệ thuật đã bị bạo lực làm cho câm tiếng. Tiếng đàn của Phương, xót xa hơn, khi nó cất lên báo hiệu cho những khổ đau sắp chuẩn bị vùi dập cuộc đời con người, khi nó vang lên đẹp đẽ để rồi những năm tháng sau vĩnh viễn câm lặng.

Tôi đã biết về một thời đạn bom như thế, qua những con chữ không màu mè, không có gì ngoài sự trần trụi của Bảo Ninh. Tôi nhớ tới ông nội mình, người tôi chưa hề biết mặt. Ông cũng đã đi chiến trường từ ngày bố tôi còn bé, và không quay về nữa. Những lá thư gửi đi tìm mộ cứ lần lượt được hồi đáp về, không có kết quả. Chiến tranh đã hết, nhưng cái bóng của nó vẫn vươn dài đến tận ngày nay. Trong từng lá cây ngọn cỏ ngoài kia đều thấp thoáng dáng hình của người lính đã vùi tuổi xuân của mình trên từng tấc đất quê hương.

Tôi chỉ có thể cúi đầu trước bia mộ của hàng bao liệt sỹ đã hy sinh ngoài kia, bỏ lại tuổi xuân trên chiến trường khốc liệt, và thầm mong sau này, sau này sẽ không bao giờ ước mơ, tuổi trẻ và thân phận con người lại bị hủy hoại và chôn vùi lần nữa. Mãi mãi.

Con Bồ lao

Giữa biển có cá lớn gọi là cá kình, trên bờ biển lại có loài thú gọi là bồ lao. Bồ lao vốn rất sợ cá kình. Khi cá kình đánh bồ lao thì bồ lao kêu rất to. Vì thế muốn làm chuông kêu to thì người ta đặt bồ lao ở trên đỉnh chuông và chày đánh chuông được chạm hình cá kình.

Cũng lạ bây giờ cá kình đâm gặm ngoài biển mà bồ lao im thin thít. 

Ảnh. Bồ lao ở quai chuông tại hành cung Võ Đang, Dương Châu. 


Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai

Thưởng thức hội họa của ‘bậc thầy ánh sáng’ Vermeer: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
·        
Nhắc đến hội họa Hà Lan, ngoài những cái tên như Anthony van Dyck, Rembrandt… người ta không thể nào bỏ sót “bậc thầy ánh sáng” Johannes Vermeer. Johannes Vermeer (1632 – 1675) cùng với Rembrandt và Frans Hals đã làm nên thời hoàng kim của hội họa Hà Lan thế kỷ 17.

Johannes Vermeer xếp hạng thứ 48 trong danh sách các Họa sĩ nổi tiếng, ông sinh ngày 31-10-1632 tại Thành phố Delft, Hà Lan.
Cha của ông là một nhân viên và đại lý lụa nghệ thuật. Ông có 14 người con với người vợ của mình, Catharina Bolenes.
Johannes Vermeer. (Ảnh Pinterest.cl)

Sau khi qua đời, cái tên Vermeer nhanh chóng rơi vào quên lãng. Mãi cho đến năm 1866, nhà phê bình nghệ thuật người Pháp Thore Burger cho xuất bản tập chuyên luận về các bức tranh của Vermeer mới làm sống lại tên tuổi nghệ thuật của ông.


Và gần đây nhất (năm 1996), một cuộc triển lãm toàn bộ tranh của Vermeer đã diễn ra tại Bảo tàng Mauritshuis ở thành phố Dan Haag, Hà Lan. Đây là một sự kiện văn hóa lớn trong sinh hoạt văn hóa thế giới như công tác tổ chức triển lãm, công tác bảo tồn bảo tàng, vấn đề khoa học và nghệ thuật thương mại… nhưng gây tiếng vang và tranh luận sôi nổi nhất lại là bàn về thuần túy nghệ thuật Vermeer.
Thủ pháp nghệ thuật bậc thầy của Vermeer
Bước vào thế giới nghệ thuật Vermeer ta thấy tỏa ra một thứ ánh sáng hiền dịu, nhẹ nhàng, cảm giác chỉ có trong mơ. Ông tạo ánh sáng ở mọi góc độ: có lúc từ một góc, có lúc nhiều chỗ, có khi thì chan hòa. Và ở bất kỳ góc độ nào, ông cũng đều thành công.

Bức tranh The Milkmaid

Ở Vermeer, do bắt đầu từ ánh sáng nhiều hướng, thậm chí là ánh sáng contre soleil (ngược sáng) nên ông đã vẽ được khoảng không giao thoa ánh sáng, không có vật mà vẫn vẽ được ánh sáng, điều mà không phải ai cũng làm được kể cả những họa sĩ bậc thầy.
Bởi mỗi một vật chịu ảnh hưởng của nhiều nguồn sáng khác nhau nên không hề đơn giản. Để làm được điều này, đòi hỏi người họa sĩ phải có một kiến thức uyên bác về vật lý quang học, toán học, hóa học… và sự dày công trong quan sát, sự nhạy cảm tinh tế về không gian, chứ không phải chỉ có “tu họa” mà được.
Bức tranh. Quý cô viết thư và người hầu gái.
Qua đó cũng phần nào hé lộ cho chúng ta biết vì sao số lượng tác phẩm Vermeer để lại không nhiều. Cách diễn đạt không gian, ánh sáng, màu sắc trong tranh ông đạt đến độ chính xác tuyệt vời. Sắc độ đậm nhạt hợp lý và đầy chất thơ. Phương pháp khai thác ánh sáng siêu việt của Vermeer đã khiến cho phần phối nhạc, phối màu của bức tranh thêm ngân nga, biểu cảm.
Nhân vật trong tranh Vermeer: tĩnh lặng, nội tâm và riêng tư.

Là bậc thầy về cách xử lý và sử dụng điêu luyện ánh sáng và bóng tối như một chất thơ tạo hình và như một phương tiện kỹ thuật để thể hiện tư tưởng, tình cảm, niềm vui, nỗi buồn của nhân vật. Ông chăm chút từng tác phẩm một cách rất kỹ càng. Do đó nhân vật của Vermeer không chỉ đẹp về hình họa mà còn luôn trong một trạng thái tâm lý ổn định. Sự riêng tư là đặc trưng điển hình trong tranh Vermeer.
Vermeer đã tạo nên những ấn tượng đa dạng và tinh tế huyền ảo trong tranh của mình. Vì lẽ đó mà Salvador Dali (1904 – 1989) – họa sĩ siêu thực trứ danh người Tây Ban Nha – đã coi Vermeer là họa sĩ toàn diện nhất, giỏi nhất kể cả về kỹ thuật.
Bảng màu tranh Vermeer đa dạng, phong cách hiện thực nhưng rất tinh tế, sâu sắc, tài hoa bay bổng. Ông có biệt tài vẽ những cảnh sinh họa mà chủ yếu là trong nhà, như các bức: Cô gái viết thư, Cô gái chơi guitar, Cô gái bên cửa sổ, Bài học âm nhạc… gợi một không khí nhớ nhung, luyến tiếc và bí ẩn.


Bức “Lacemaker’ “Cô gái thêu đăng ten”







Bức tranh. Cô gái chơi guitar
Bút pháp của ông tiết kiệm trong miêu tả nhưng lại thể hiện được những tình cảm tinh tế nhất. Ví như trên một gương mặt có đôi mắt nhắm mà lại đầy biểu cảm. Nghệ thuật Vermeer là vang hưởng giữa những mảng màu và ánh sáng nên nhiều họa sĩ thuộc trường phái ấn tượng sau này rất hâm mộ tài năng của ông.
Đặc biệt bức Quang cảnh thành phố Delf, nhờ xử lý ánh sáng siêu thường, Vermeer đã thu cả phố vào mắt người xem; bố cục thoải mái, tuyệt vời và như thật. Bức tranh gây một hiệu quả thị giác sâu thẳm.



Bức ‘Quang cảnh thành phố Delf



Bức tranh ‘Cô gái chơi đàn’

Bằng sự quan sát tinh tế, kỹ và trong lúc làm việt lại hết sức tỉ mỉ, chậm rãi, Vermeer luôn đặt nhân vật vào tình huống điển hình, chọn động tác đẹp nhất, và khó nhất để đặc tả. Vì thế mà hình họa Vermeer rất sinh động, đầy sức sống. Ông không những vẽ vẻ đài các thành công mà vẽ sự nghèo kém cũng thành công.
Tuy nhiên người nghèo trong tranh Vermeer không khắc khổ như ta vẫn thường thấy ở các tác phẩm của những họa sĩ khác mà dường như họ biết bằng lòng và thi vị hóa cái nghèo của mình. Thậm chí người xem còn cảm thấy có một sự an vui ở trong đó.
Vermeer không bắt người xem phải thương hại hay mặc cảm về họ, trái lại, như muốn được sống cùng họ. Đó cũng chính là nhân sinh quan của Vermeer. Ông thấy được chất thơ trong sự nghèo khổ; người nghèo trong tranh Vermeer vẫn có được hạnh phúc.
Các nhân vật của ông luôn gần với đời thường: Người đàn bà vắt sữa, Cô thợ may, Người phụ nữ đang cân ngọc trai… làm cho người thưởng ngoạn cảm thấy như gặp được người hàng xóm của mình nên gần gũi, thân thương. Giữa người xem và bức tranh dường như có sự giao cảm. Vì thế mà làm nên linh hồn của tác phẩm.
Bức họa nổi tiếng nhất của Vermeer: Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
Từ lâu các nhà nghiên cứu đã bị “mê hoặc” với bức tranh (Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai)

Bức tranh “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai”


Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai là một trong số các tác phẩm về phụ nữ của Vermeer. Ông thường miêu tả những người phụ nữ của mình trong khoảnh khắc rất riêng tư với biểu cảm trầm ngâm và tĩnh lặng.
Khả năng xử lý ánh sáng siêu việt và kỹ thuật dùng sơn lót tạo độ phản quang dữ dội cho chủ thể. Nhìn vào bức tranh Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai, người xem bắt gặp ngay ánh mắt của cô gái và có cảm giác cô ấy đang quay đầu lại để nhìn mình, khuôn miệng hé mở như muốn tâm sự nhiều điều.
Bức tranh mô tả chân dung của một cô gái trẻ nhìn nghiêng với trung tâm là chiếc khuyên tai bằng ngọc trai. Bức tranh được tác giả thể hiện hết sức sống động.
Bức tranh hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Mauritshuis ở Den Haag, Hà Lan.
Tác phẩm Cô gái với chiếc khuyên tai ngọc trai cũng là nguồn cảm hứng cho tiểu thuyết “Cô gái đeo chiếc khuyên tai ngọc trai” của nhà văn Trauy Chevalier đã được dịch ra tiếng Việt.
Mỗi thiên tài đều biết cách tạo nên không gian cho riêng mình, với Vermeer không gian ấy chính là ánh sáng. Tài năng độc đáo nhất của Vermeer là sự kết hợp giữa độ chính xác về mặt hình thức và cái vang hưởng sắc màu, ánh sáng chứa chan thi vị.
Vermeer rất thích “bắt” những khoảnh khắc hết sức riêng tư và đặc tả nội tâm nhân vật trong luồng ánh sáng mờ ảo. Thật không ngoa khi người ta tôn vinh ông bằng những danh xưng mỹ miều như “bậc thầy ánh sáng”, “chuyên gia quang học” hay “phù thủy ánh sáng”.

Ánh sáng và nội tâm nhân vật trong tranh Vermeer tỏa ra một ánh sáng êm dịu, chan hòa và chính xác ở từng góc độ. Vermeer không chỉ thể hiện ánh sáng trên một đồ vật hay từ một nguồn sáng nhất định, tài năng siêu việt của ông là “tải” ánh sáng khắp không gian, phủ lên mọi thứ và giao thoa nhiều nguồn sáng. Đó là điều cực kỳ khó, kể cả đối với những họa sĩ bậc thầy. Điều đó khiến nội tâm nhân vật của ông cũng lan tỏa ra không gian xung quanh, tạo cho người chiêm ngưỡng một cảm giác êm ái nhưng sâu thẳm, như chính bút pháp ánh sáng tuyệt vời của ông.
Lucas Lương (T/H)
Nguồn ở  đây

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

Tiểu Cần một khúc tình ca



Từ lâu mình đã mến yêu bài hát này của Huy Phương, cũng như bài Gởi Huế của ông. Lời ca bài Tiểu Cần, giai điệu buồn thấp thoáng trên sông, Mang tình giòng sông thương nhớ/ Thêm thương hạt nước yêu tình.

Tiểu cần là huyện nằm về phía tây của tỉnh Trà Vinh, thuộc tả ngạn sông Hậu.




Thêm yêu hạt luá Tiểu Cần
Những chuyện kể dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền mãi, nói về nguồn gốc ra đời tên gọi Tiểu Cần. Trong những chuyện dân gian ấy có chuyện kể rằng: đã lâu lắm rồi – vào cái thời mà vùng đất này còn rất hoang vu, có một con rạch chảy qua, con rạch này có tên gọi “Kal Chon” tiếng Khmer, tiếng Việt biến âm thành “Cần Chông” và về sau vùng đất có con rạch chảy qua này được gọi là “Xẻo Cần Chông”. Rồi “Tiểu Cần Chông” và rút gọn lại còn “Tiểu Cần”… Thế rồi con rạch này được gọi là “Xẻo Cần Chông” và miền đất có con rạch chảy qua được gọi là “Miệt xẻo Cần Chông”. Thời gian trôi đi, miệt xẻo Cần Chông được gọi là “Miệt Tiểu Cần”…






Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Cửu Vị Thần Công


Cửu Vị Thần Công 
Hai bên Quảng trường Ngọ Môn ở Huế, có 9 khẩu đại bác cổ bằng đồng rất lớn, bên phải 5 khẩu có tên là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bên trái 4 khẩu có tên là: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đó là 9 khẩu súng thần công mà người Huế thường gọi với một cái tên sang trọng là “Cửu Vị Thần Công”. Trên súng có ghi tước vị do Vua Minh Mạng phong cho súng: Thống lĩnh quân đội, uy dũng ngang hàng với thần linh, vô địch tướng quân, niên hiệu 15 Gia Long, ngày tháng tốt Bính Tý… Đến Xuân Tân Mão này, “Cửu Vị Thần Công” có lịch sử đúng 207 năm và có nhiều huyền thoại linh thiêng đáng được kể lại.


Sử Gia Long chép rằng: Sau khi thắng Tây Sơn (1801), năm sau lên ngôi vua, Gia Long đã cho thu về tất cả các đồ vật bằng đồng chiếm được đúc thành 9 khẩu đại bác, tượng trưng cho sức mạnh và sự trường tồn của triều đại Nguyễn. Ngày khởi đúc là mùa Xuân Qúy Hợi (31-1-1803 ), đến cuối tháng 12-1804 các thợ đúc đồng Huế báo tin hoàn thành công việc đúc và họ chỉ còn hoàn thiện, chạm khắc trên súng! Chín khẩu súng được đúc cùng một lúc. “Cửu Vị Thần Công” được đặt tên theo 4 mùa và ngũ hành. Thứ tự tên và khối lượng các khẩu: Xuân 17.700kg ; Hạ 17.200kg; Thu 18.400kg; Đông 17.800kg; Mộc 17.100kg; Hỏa 17.200kg; Thổ 17.800kg; Kim 17.600kg; Thủy 17.200kg. Chưa có tài liệu nào giải thích tại sao khối lượng các khẩu súng lại không giống nhau. Chiều dài súng đồng nhất là 5,10m; đường kính nòng là 0,22m; đường kính ngoài nòng đoạn giữa là 0,54m; đế súng dài 2,75m; cao 0,73m; bánh xe đường kính 0,62m…

Bốn khẩu có tên Xuân, Hạ, Thu, Đông


-----------

Năm khẩu trong Cửu vị thần công có tên Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ



Theo giáo sư H.Lebris trong tập Những người bạn Cố đô Huế (bản dịch tiếng Việt của NXB Thuận Hóa, 1997), việc đúc súng thần công đặt dưới quyền giám sát của Đô Thống chế Nguyễn Văn Khiêm (Khiếm Hòa hầu) và Chánh quản cơ Hoàng Văn Cẩn, phó quản cơ Ích Văn Hiếu (Hiếu Thuận Hầu ), Phan Tấn Cẩn, Tham tri Bộ Công (Cẩn Tín hầu). Vua ban cho 4 vị tướng chỉ huy đúc súng các chức hầu có ý nghĩa: Khiếm hòa, cẩn thận, hiếu thuận, cẩn tín. Đại bác Thần công có mâm xoay nòng như pháo hiện đại. Ở trên súng có ghi rõ cách bắn như sau: Muốn bắn phải nạp 4 lớp thuốc súng. Lớp đầu 30 cân thuốc súng cộng 40 cân đất; lớp thứ hai 30 cân thuốc súng cộng 105 cân đất; lớp ba: 40 cân thuốc súng cộng 120 cân đất; lớp cuối cùng 20 cân thuốc súng để bắn trái đạn. Muốn bắn mạnh hơn thì gia tăng thuốc súng lớp thứ tư, tối đa 30 cân sẽ đạt mức công phá mạnh nhất.



Giáo sư H.Lebris cho biết: Súng này rất lợi hại cho người bắn! Cho đến thời Tự Đức, súng vẫn chưa một lần xung trận để bảo vệ Hoàng thành, mà chỉ dùng để bắn các phát súng lệnh ở Kinh Đô khi diễn ra lễ cung đình như Mừng Khánh Thọ vua, Lễ, Tết hay Tế Nam Giao… “Cửu Vị Thần Công” được trang trí rất đẹp, có thếp vàng trên súng. Người ta chạm một con rồng đang đè lên một con rồng khác buộc nó phải chạy trốn. Ngày xưa súng được đặt ở Tả Xưởng Tướng Quân (ở bên trái Ngọ Môn), chứ không phải đặt chia ra hai bên như bây giờ.

Xung quanh Cửu Vị Thần Công có nhiều huyền thoại thiêng liêng. Ngày xưa dân kinh đô Huế ai đi qua trước súng phải ngả nón cúi chào như chào một vị Thần. Tương truyền, cửu vị có thể hòa giải cho các gia đình li hôn, phù hộ cho các nhà an khang, thịnh vượng. Sử cũ chép rằng: Vua Tự Đức một hôm định đưa Cửu Vị Thần Công ra chiến trường. Quan quân đã cột ngựa rất mạnh để kéo, nhưng súng không hề nhúc nhích. Vua nổi giận viết bức thư với lời lẽ kiên quyết, cho quan triều đem đọc trước súng Thần Công: “Nếu Ngài không chịu tham chiến thì đích thân Trẫm sẽ đến phạt trượng và Ngài sẽ mất hết chức tước”. Sau khi tuyên đọc thư Hoàng Thượng, tự nhiên ngựa kéo súng bỗng rất nhẹ nhàng. Có nhà thơ dân gian đã viết thơ buồn về Cửu Vị Thần Công, đại ý: Hỡi Thần Công, lẽ nào Ngài chịu để đánh bại dễ dàng? Không! Ngài chỉ ngủ dưỡng sức để thức dậy biểu dương sức mạnh. Thật ra dưới triều Tự Đức cũng có đúc 9 khẩu súng Thần Công khác giống với “Cửu Vị Thần Công” nhưng nhỏ hơn chút ít đặt ở bên phải Ngọ Môn. 9 khẩu súng này được điều vào tham chiến ở Gia Định, Sơn Trà (Đà Nẵng), Thuận An (Huế). Còn các khẩu đúc thời Gia Long vẫn đặt ở chỗ cũ Tả Xưởng Tướng Quân cho đến bây giờ, chưa một lần phát hỏa đánh quân xâm lược...




Cửu Vị Thần Công đến nay vẫn uy nghi trước kinh thành Huế, là một phần Di sản thế giới thu hút khách du lịch, là chứng tích lịch sử một thời, đồng thời tượng trưng cho tài nghệ đúc đồng điêu luyện của người Việt Nam đầu thế kỷ XIX.
Ngô Minh
____

Oiseaux


Oiseaux
by Blog của 5xu

Trong ảnh là trường Les Oiseaux trước năm 1975!
Trần Lệ Xuân (1924-2011) sinh ra trong gia đình khá đặc biệt. Ông nội là tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông, ông ngoại là thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề. Cả hai ông trước khi làm quan to đều là Giám đốc Trường Hậu Bổ Hà Nội (trường đào tạo quan chức hành chính, dạy cả Hán văn lẫn Pháp văn, tốt nghiệp ra được bổ làm tri huyện). Bà nội Trần Lệ Xuân là em ruột Bùi Quang Chiêu. Bùi Quang Chiêu là người thành lập Đảng Lập Hiến và là người mở tờ báo La Tribune Indigène cùng Nguyễn Phú Khai. Nguyễn Phú Khai là bố của bà Thụy Nga (Bảy Vân), người vợ miền nam của ông Ba Duẩn. Sau CMT8, Bùi Quang Chiêu lúc này 70 tuổi bị giết cùng các con của mình.
Bố của Trần Lệ Xuân là ông là Trần Văn Chương. Ông này hơn Ngô Đình Nhu khoảng một giáp, và rất thích sự học giỏi giang của ông Nhu. Ông Chương được đi du học, có bằng luật sư, rồi trở về Sài Gòn hành nghề. Hai con gái của ông là Lệ Chi và Lệ Xuân giai đoạn này được gửi đi học ở Couvent des Oiseaux trên Đà Lạt. Đây là trường nữ sinh, dành cho quý tộc Đông Dương.
Nam Phương Hoàng Hậu hồi còn là con gái thì đi học ở  Couvent des Oiseaux bên Pháp. Khi bà làm hoàng hậu, vua Bảo Đại hiến tặng một khu đất ở Đà Lạt (Hoàng triều cương thổ) để xây trường Couvent des Oiseaux Đà Lạt. Một thời gian sau, ông Chương chuyển ra Hà Nội, Trần Lệ Xuân ra theo. Lúc này Les Oiseaux đã có cơ sở Hà Nội, tên là Notre Dame du Rosaire ở đường Thành (digue Parreau), trên khu đất thuộc làng Vĩnh Phúc, nằm liền kề làng Liễu Giai và làng Đại Yên, nay là Hoàng Hoa Thám (Đại chủng viện Xuân Bích cũng ở gần khu đất này, nằm trên đất làng Liễu Giai, nay là khu Quần Ngựa). Trần Lệ Xuân đi học có lái xe riêng và cô sen theo hầu. Từ Couvent des Oiseaux cô chuyển qua học Albert Sarreau, lấy tú tài nhất năm 17 tuổi thì bỏ học lấy chồng.


Năm 1946, cô Xuân lúc này 22 tuổi, vì nạn Việt Minh mà phải bỏ trốn vào Sài Gòn, rồi lên Đà Lạt.
Đến năm 1952, người vợ trẻ Trần Lệ Xuân sau nhiều năm nuôi ông chồng trí thức trùm mền ở Đà Lạt, bắt đầu rơi vào cảnh kiệt quệ tài chính. Cùng thời gian này, Ngô Đình Diệm bôn ba hải ngoại. Sự nghèo khó không hạ gục bà Xuân. Nhờ học Couvent Des Oiseaux, bà Nhu có quan hệ tốt với hoàng hậu Nam Phương, và cùng Ngô Đình Luyện là bạn của Bảo Đại, bà giúp đặt những bậc thang đầu tiên cho sự nghiệp chính trị của Ngô Đình Diệm, giúp ông Diệm trở thành thủ tướng của quốc trưởng Bảo Đại.


Cũng nhờ các cô bạn học hồi Les Oiseaux, nay giàu có và nhiều thế lực, bà Xuân tổ chức thành công sự kiện dình dang ngày 25 tháng 6 năm 1954 đón ông Diệm từ sân bay trở về dinh Gia Long. Năm này bà Nhu tròn 30 tuổi. Được coi là Đệ nhất phu nhân (de facto) bà Xuân là người kế thừa vai trò của hoàng hậu Nam Phương.


(Hai ảnh trên. Ảnh đen trắng là class 1968, bên tay phải ảnh là nhà nguyện. Ảnh màu là nhà nguyện, tôi chụp tháng Mười vừa rồi, trước khi nhà nguyện bị dỡ.)
Mỗi sáng cuối tuần ngồi trong nhà nguyện, nơi sân trường Oiseaux, tôi vẫn tự hỏi ông Nhu và bà Nhu đã có lúc nào đến nơi đây.

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Tượng Bồ-tát Quán Thế Âm chùa Mễ Sở



Tượng Quán Thế Âm (Quan Âm) nghìn mắt nghìn tay ở chùa Mễ Sở. Ảnh Lí Học
Bạn Lí Học viết trên FB.
Về mĩ thuật, đây là pho nghìn tay nghìn mắt xếp hàng đẹp nhất Việt Nam. Về độ tâm linh thì Ngài cũng rất thiêng, bằng chứng là 2 lần kẻ trộm đã đưa Ngài ra khỏi chùa rồi cũng bị bắt và trả lại. Năm trước, đến chụp ngài, vì lỗi dời bát hương của Ngài sang bên để chụp mà mình cũng có tí...hạn. Tháng 12.2018 Ngài đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Ngài tọa tại Mễ Sở- Hưng Yên. (huyện Đông An, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Thượng – Hưng yên. Nay là 
thôn Mễ Sở, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.)
 Ảnh chụp hôm chuyển bát hương.

Đọc thêm.

Bên dòng sông Thương



Adagio Bên dòng sông Thương

Sông Thương khởi nguồn từ Lạng Sơn chảy qua Bắc Giang cho đến khi gặp sông Cầu và sông Lục Nam ở Hải Dương. Thời xa xưa, mỗi độ binh sĩ được điều ra trấn thủ quan ải phía Bắc thì thân nhân thường đưa tiễn đến sông này rồi chia tay. Sông Thương vì thế mà nhuốm màu ly biệt.

Ca dao có câu :
Sông Thương nước chảy đôi dòng.
Bên trong bên đục em trông bên nào?

Chuyện nước chảy đôi dòng ở sông Thương ngày xưa là có thật. Ở nơi sông Sim đổ vào sông Thương, hai luồng nước không hòa lẫn ngay mà chạy song song một đường dài cả trăm thước. Hai màu nước sông không giống nhau, nước sông Sim chở phù sa nên có sắc đục, nước sông Thương sau hành trình dài đã trở nên trong xanh. Ngày nay hiện tượng này không còn xảy ra nữa.

"Adagio Bên dòng sông Thương" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương là một trong những tác phẩm khí nhạc đặc sắc trong lịch sử âm nhạc thính phòng Việt Nam. Tiếng cello da diết như nỗi niềm tương tư trải dài trên mặt sóng. Những thanh âm của piano nhè nhẹ, thủ thỉ, dỗ dành... Thỉnh thoảng có lúc hai bè đi cùng nét nhạc, giai điệu trỗi dậy mạnh mẽ, rồi lại trở về tiết tấu adagio thong thả, sâu lắng.

Mời các bạn thưởng thức tác phẩm này qua tiếng đàn của nghệ sĩ Trần Thị Mơ.




Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

Ga Vinh


Ga Vinh- 1926.
Ảnh. Đón Toàn Quyền Đông Dương Alexandre Varenne tại Ga Vinh ngày 01/05/1926



Theo các tài liệu hỏa xa thời Pháp còn được lưu trữ, Ga Vinh chính thức được bắt đầu xây dựng vào quý II năm 1900. Đây là một trong năm tuyến đường sắt (ĐS) Đông Dương được Chính phủ Pháp đầu tư khoảng 200 triệu france.



Ngày 17-3-1905 được xem là “ngày sinh nhật” của Ga Vinh bởi đây cũng chính là ngày đoàn tàu hơi nước đầu tiên hú còi xin đường vào ga sau hành trình dài 300 km từ Hà Nội đến Vinh.

Chiếc đầu máy cũ được đặt trong sân ga, gợi nhớ lại những năm tháng lịch sử.



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

về “Song Thân Pháp”



về “Song Thân Pháp”
Bài của Peter Pho


Trong môn phái Mật Tông Tây Tạng có một phép tu luyện rất tuyệt vời, rất hợp với hầu hết những thằng nam giới dù là ông hay thằng. Đấy là Song Thân Pháp, còn gọi là Hoan Hỉ Pháp, Bản Tôn Song Vận Pháp, Nam Nữ Song Tu Pháp, Âm Dương Hoà Hợp Thiền Định, Bí Mật Đại Hỷ Lạc Thiền Định...Nghe nói, đây là một cảnh giới cao nhất của môn Yoga, thông qua sự kết hợp cơ thể giữa nam và nữ, âm và dương để tu hành đạt đến đỉnh điểm của giải thoát, niết bàn.
Trong các thuyết của Na-lạc lục pháp hay Tát-ca, giáo pháp Tây Tạng thuộc Kim cương thừa, xuất phát từ các vị Đại thành tựu (sa. mahāsiddha) đều có truyền thống tu luyện Song Thân Pháp. Nhưng họ chỉ truyền dậy cho một số cực ít những người có trí tuệ tột đỉnh và đã ngộ đạo. Bởi chỉ những người như vậy mới khống chế được dục vọng, những kẻ phàm phu tục tử chắc lại sinh lòng dâm dục, chưa bước vào tu hành đã xuất tinh, mưa xuân đẫm đề, phạm vào tà dâm thì chỉ có thể đưa mình xuống địa ngục mà thôi.



Song Thân Pháp có thể tu theo thể thực và thể hư. Thể thực là trực tiếp đưa dương vật vào sâu trong âm đạo của đối phương, thường gọi là “ Thủ ấn sự nghiệp”. Còn các ông nào bí quan trong thâm sơn cùng cốc thì đào đâu ra gái trẻ 18 đôi mươi, vậy mới sinh ra “ Trí tuệ thủ ấn”, có nghĩa là tưởng tượng như mình đang ôm một thiếu nữ cùng tu. Tsongkhapa, nhà cải cách lừng danh của Phật giáo, người sáng lập tông phái Cách-lỗ (bo. gelugpa དགེ་ལུགས་པ་), một trong những giáo phái quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng có đánh giá rằng, các sư nên dùng phép “Trí tuệ thủ ấn” để tu luyện, chứ dùng cách kia khó kiếm người đồng tu, toàn các má già giơ tay đồng ý, gái trẻ chẳng dại gì đi làm vật thí nghiệm cho các sư, mà không phải sư nào cũng có thể vượt qua ngưỡng cửa của nữ tính, nhất là những nữ tính mà xuân sắc đang nồng, thân thể căng đầy mộng mị, hương thơm da thịt ngào ngạt.



Trong kinh pháp của Vô thượng du-già-đát-đặc-la cho rằng, Song thân pháp là một phương pháp tu luyện đặc biệt, chứ không phải xuất phát từ tìm kiếm dục vọng. Phương pháp này kích hoạt đến các điểm quan trọng trên cơ thể con người như khí, mạch, minh điểm, là một lối tắt để thành phật nhanh nhất. Đồng thời cũng tiết lộ rằng, trong The Six Yogas of Naropa và Kim Cương Thừa có phép tu truyền thừa khác nhau, nhưng đều là một kỹ sảo tu hành bí mật chỉ để khẩu truyền ( truyền miệng ), không công khai. Các học giả nhân chủng học phương Tây cũng công nhận trong các tu viện phật giáo Tây Tạng vẫn tồn tại một số ít Song Tu Pháp, đều rất bí mật, chỉ làm, không nói.

Kundalini, là một trường phái trong đạo học Ấn Độ, có nói đến một dạng năng lượng cơ bản được cho là chạy dọc theo cột sống. Các phương pháp tâm linh khác nhau đưa ra các phương pháp khác nhau để đánh thức nguồn năng lượng này nhằm đạt tới sự giác ngộ và có được các quyền năng siêu phàm. Trường phái Kundalini cho rằng, Song Thân Pháp có khả năng thu được kết quả nhanh chóng trong việc đánh thức nguồn năng lượng ấy để lửa đốt càng to, cuối cùng càng nhanh đạt được giải thoát.

Trong lý thuyết của pháp môn Kalachakra cho rằng, khi cao trào của hành vi tình dục lên đến đỉnh điểm thì sự liên kết các kinh mạch sẽ tạm thời buông lỏng, có một luồng gió nhẹ sẽ tuồn vào trung mạch (Nadi) và dừng lại tại đấy. Minh điểm xích bạch (white element) trong cơ thể cũng sẽ dung hoà thành một. Lúc ấy, người tu hành sẽ cảm thấy một cảnh giới đặc biết gọi là đại lạc (mahasukha). Trong trạng thái như vậy mà tiến hành quán tưởng thiền tu thì rất dễ thăng hoa nhập hồn vào cảnh giới samadhi (một cảnh giới về ý thức hệ trong phật pháp) để chứng ngộ không tính. Một điểm rất khó khắc phục trong tu luyện thuật này là khống chế xuất tinh. Đang vào cảnh giới mà anh lại nẩy sinh ra dục vọng mà xuất tinh là hỏng bét. Lý thuyết Kalachakra chỉ ra, thương tổn sẽ rất lớn nếu xuất tinh trong khi tu hành Song Thể, bởi vậy, ngay trong khi nằm mơ cũng tránh để xuất tinh. Lý thuyết Kalachakra cũng có miêu tả lại các phương pháp khắc phục xuất tinh. Trong đấy yếu tố tham dục là quan trọng, không tham dục tức không hám cái sự dâm dục. Chỉ cần nghĩ đến dục vọng thì Minh điểm sẽ chuyển đến quy đầu của kẻ tu hành và dẫn đến xuất tinh. Bởi vậy thuật này không phải ai ai đều có thể tu luyện được. Phải là những vị công lực hết sức uyên thâm, vận dụng được đại trí tuệ vô không, từ hữu niệm hướng đến cảnh giới vô niệm, phải sắc sắc không không thì may ra mới khống chế được. Trong dục vọng mà thoát được hoan lạc thì mới thực sự là thoát tục, thoát ra khỏi vòng sống chết. Nói một cách giản đơn, muốn tu thành chính quả, người tu hành phải có một ý chí lực siêu phàm. Tối thiểu anh ta có thể dùng ý chí lực hay còn gọi là định lực tập trung nhìn vào một trái cây trên cành khiến cho trái cây đó rơi xuống đất, rồi lại dùng định lực khiến trái cây ấy từ dưới đất hoàn trở lại mọc ở trên cành.

Đọc các tài liệu mật trong đống sách cổ từ một thư viện của trường đại học Penn State ở Hoa Kỳ thì phát giác ra một điều rất lý thú trong tu luyện Song Thể. Nữ giới cung cấp cho các nhà tu hành được gọi là Minh Phi hay Không hành nữ. Thông thường những nữ giới này nên tuyển lựa ở độ tuổi từ 12 đến 16, nhiều nhất cũng không thể quá 20 mà vẫn còn trinh. Các nam hành giả muốn tu thuật này đều phải thông qua Quán đỉnh bí mật. Thông thường thì các hành giả phải tự nguyện tìm các Minh Phi hiến dâng cho sư phụ (Guru). Sư phụ sẽ đưa Minh Phi vào trong Mandala ( một nơi thần đàn) để giao hợp ( đọc đến đây thấy giật mình, tưởng mắt hoa, là làm tình thật !). Sau khi giao hợp thì lấy ra tinh trùng và máu của trinh nữ và gọi đấy là Cam Lộ hoặc Xích bạch bồ đề tâm. Đưa Cam Lộ cho đệ tử nuốt vào bụng, đấy gọi là bí mật Quán đỉnh. ( Lão PP mà bắt các đệ tử của mình nuốt cái của nợ này thì chắc chắn sẽ bị chúng đệ tử nện cho chí mạng. kkkk)

Bởi sự lý thú phàm tục xen lẫn trong lý thuyết Song Thân nên từ xưa đến nay có rất nhiều Sư Hổ Mang đội lốt nhà tu hành lừa lọc nữ giới làm điều vẩn đục đến đạo đức con người. Bhutan xưa là một đất nước rất thịnh hành Song Thân pháp. Các hành giả bắt gặp được em gái nào xinh xắn thì đều yêu cầu em trở thành Minh Phi và đa số các em đều hiến thân bởi xã hội Bhutan bấy giờ là một xã hội mà chính (trị) và pháp ( tôn giáo) hợp nhất. Làm sư ở Bhutan quả là sư sướng! Sau này Đức vua của Bhutan ngài Jigme Dorji Wangchuck đã tuyên bố cấm lệnh không cho phép Song Thân xuất hiện ở Bhutan nữa.

Các thiền sư Phật giáo nổi tiếng trong xã hội như Chogyam Trungpa, Kalu Rinpoche hay Lạt ma Sogyal Rinpoche tác giả của cuốn “ Tây Tạng sống và chết” (The Tibetan Book of Living and Dying) đều bị dính vào tai tiếng lừa các nữ học viên tu Song Thân để đạt được dục vọng. Từ đó báo chí đưa tin, kiện cáo tùm lum. Xem ra pháp thuật này muốn thúc đẩy quảng đại thì quả là khó khăn vô cùng...kkk. Những tai tiếng này làm ảnh hưởng đến thanh danh của phật giáo Tây Tạng trên đất Âu Mỹ. Điều này đã khiến Đạt-lai Lạt-ma nổi giận tuyên bố nếu có vị nào dùng Song Thể Pháp để lừa lọc nữ giới sẽ bị công bố danh tính và đuổi khỏi tăng đoàn.

Đọc xong bài này nếu chị em nào gặp phải vị sư hay sư huynh nào thương cảm muốn tặng cho một lần Song Thân Pháp thì hãy đắn đo suy ngẫm...kkk. Lão PP viết bài này bởi thích các bức tượng của hoan hỉ phật và không ngoài ý muốn vén lên cho các bạn thấy được một góc khuất trong tu hành bởi đời lắm cái không ngờ. Ngây ngô thì chỉ có thể làm vật hiến tế cho những kẻ đội lốt những người tu hành thực thụ. Phần quan trọng hơn là tăng thêm sự hiểu biết cho các em mới nhớn...kkk