Hiển thị các bài đăng có nhãn THIÊN LONG BÁT BỘ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THIÊN LONG BÁT BỘ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Tinh thần Phật giáo­­ trong Thiên long bát bộ


Tác giả Anh Nguyễn
Thiên Long Bát Bộ là tác phẩm dài nhất của Kim Dung. Với gần hai triệu chữ được đăng liên tục trong vòng bốn năm trên Minh báo Hồng Kông và Nam Dương thương báo Singapore, Thiên Long Bát Bộ có cấu trúc phức tạp, hệ thống nhân vật rộng lớn, phạm vi trải dài mênh mông từ Đại Tống đến Thổ Phồn, Tây Hạ, Đại Lý, Đại Liêu, … Nhà phê bình Trần Mặc đã gọi Thiên Long Bát Bộ là một cuốn “Lục Quốc diễn nghĩa” có bối cảnh võ hiệp. Ngoài ra Thiên Long Bát Bộ còn nổi bật vì chứa đựng tinh thần Phật giáo hết sức rõ rệt. 
Ngày 27. 10. 1994 tại đại học Bắc Kinh trước sự đón chào của hơn một ngàn sinh viên hâm mộ, Kim Dung đã trả lời câu hỏi của khán giả: “Thiên Long Bát Bộ phải chăng là biểu đạt quan niệm nhân sinh của ngài?”. Ông đáp: "Trong Thiên Long Bát Bộ, có phần biểu đạt quan niệm nhân sinh của tôi. Lúc ấy trong tôi có tư tưởng triết học Phật giáo. Phật giáo khá bi quan đối với nhân sinh, cho rằng đời người là bể khổ. Vô luận nhân sinh tốt đẹp đến thế nào, cuối cùng rồi cũng chết. Nhưng Phật giáo còn có quan niệm khác, tuy con người không tránh được cái chết, nhưng vẫn còn có lúc tái sinh, sau này có thể đời sống tốt hơn, có thể cống hiến được sức mình, có thể giúp đỡ được người khác.”
Bìa sách Thiên Long Bát Bộ thời kỳ đầu
Tinh thần Phật giáo của Thiên Long Bát Bộ được biểu đạt ngay từ tựa đề tác phẩm. Thiên Long Bát Bộ là cụm từ chỉ tám bộ chúng sinh, trong đó có loài giống người nhưng không phải người (nhân- phi- nhân) thường đến nghe Phật thuyết giảng trong kinh Đại Thừa. Các loài này đều có nguồn gốc từ tín ngưỡng Ấn Độ giáo. Trước khi Phật giáo ra đời, người dân Ấn Độ đã thờ phụng tám loại thần linh đó rồi. Về sau chúng được kết nạp vào đạo Phật, trở thành các vị thần hộ trì thế gian nhưng vẫn chưa thoát khỏi kiếp luân hồi.
Tựa đề Thiên Long Bát Bộ rất khó dịch ra tiếng Anh, hiện tại có ba cách dịch chính: Demi-Gods and Semi-Devils, Eight Books of the Heavenly Dragons, và phiên âm Tian Long Ba Bu. Khi mới bắt đầu bắt tay viết Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung đã có ý định dựng tám nhân vật chính theo tám vị thần Hộ pháp nhà Phật, thế nhưng câu chuyện càng đi sâu càng phức tạp và việc phân loại “ai là ai” trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Đây vẫn là một chủ đề được ưa thích trong giới Kim học. Bài viết này không nhằm nỗ lực phân chia rạch ròi các nhân vật theo tám bộ chúng sinh mà trên hết muốn khơi gợi một cuộc đối thoại giữa những người am tường Kim Dung và Phật học.
Phần 1: Ai là Thiên, ai là Long? 

1. Thiên

Đứng đầu trong tám bộ chúng sinh là Thiên, còn gọi là Thiên chúng hay Thiên thần. Trong tiếng Ấn Độ, phiên âm của Thiên là Deva, bao gồm các chúng sinh ở sáu cung trời có thân hình phát hào quang rực rỡ. Deva luôn là nam (dạng nữ của Thiên là Devi) làm thiện, nói thiện, và nghĩ thiện. Chư thiên tuy được hưởng phúc báu to lớn hơn người thường nhưng vẫn nằm trong vòng sinh tử. Trước khi chết, chư thiên sẽ có năm triệu chứng: quần áo mủn nát, hoa trên đầu tàn héo, thân thể bốc mùi, nách đổ mồ hôi, đứng ngồi không yên, đó là thời kỳ đau khổ nhất của chư thiên. Vua trời Đế Thích (Indra) là thủ lĩnh chư thiên.

Tượng Đế Thích (Indra) ở Myanmar
Dựa theo miêu tả trên, có thể kết luận nhân vật tương ứng với địa vị chư thiên chính là Tiêu Phong. Khi Tiêu Phong lần đầu tiên xuất hiện, uy vũ của chàng đã khiến Đoàn Dự chấn động tâm thần, không kiềm được nảy lòng ngưỡng mộ.
Một đại hán ngồi ở phía tây nghe thế quay đầu lại nhìn, đôi mắt lạnh lùng sáng quắc lướt qua mặt chàng. Đoàn Dự thấy người đó thân thể thật là cao lớn, chừng trên dưới ba mươi, mặc áo vải màu tro cũ kỹ đã sờn rách, mày rậm mắt to, mũi cao miệng rộng, khuôn mặt vuông vức hình chữ quốc, tuy nhuốm vẻ phong sương nhưng đầy vẻ uy nghiêm.Đoàn Dự trong bụng tấm tắc khen thầm: “Quả là một đại hán hiên ngang! Hẳn đây là một tráng sĩ bi ca khẳng khái của nước Yên nước Triệu nơi miền bắc chứ Giang Nam hay Đại Lý không thể có được người như thế này. Bao Bất Đồng tự mình huênh hoang anh khí ngất trời nhưng phải người như thế này mới xứng đáng bốn chữ đó”.
Tranh vẽ Tiêu Phong trên bìa sách “Thiên Long Bát Bộ”
Nếu coi vị sư già quét chùa Thiếu Lâm công phu siêu phàm nhập thánh, từ bi vô hạn là Phật sống, thì chỉ còn Tiêu Phong xứng đáng vị trí số một trong “thế giới chúng sinh” của Thiên Long Bát Bộ. Từ võ công, phẩm chất, đến tính cách anh hùng, chàng đều khiến nhân sĩ Tống Liêu, giang hồ hai phe hắc đạo bạch đạo phải nghiêng mình thán phục. Tiêu Phong hào sảng mà không thô lỗ, anh phong lẫm liệt mà vẫn kín đáo khôn ngoan. Chỉ một lộ Hàng Long Thập Bát Chưởng đủ để Tiêu Phong trấn áp quần hào Tụ Hiền Trang, về sau lại đánh cho bọn Mộ Dung Phục, Đinh Xuân Thu lác mắt. Tiêu Phong trước là bang chủ Cái Bang nhà Tống, sau lãnh chức Nam Viện đại vương nhà Liêu, khí chất lãnh tụ luôn hiển hiện. Chàng vì một mảnh chân tình với A Châu mà hết lòng chiếu cố cho cô em gái điêu ngoa của nàng là A Tử, phần đời còn lại không màng nữ sắc lẫn danh vọng, lại đem thân mình đánh đổi cuộc sống yên lành cho nhân dân hai nước.

Tiêu Phong thỏa mãn tất cả những tiêu chí hào quang, nhân hậu, vĩ đại của một bậc chư thiên, và cũng không tránh khỏi cái chết. Nếu năm triệu chứng trước khi qua đời của chư thiên được gọi là “thiên nhân ngũ suy,” thì Tiêu Phong cũng trải qua năm bi kịch cá nhân: cha mẹ bị hại, Cái Bang khai trừ, bằng hữu tuyệt giao, giết lầm A Châu, phản lại Khiết Đan. Cái chết của Tiêu Phong là sự dâng hiến cho hoà bình, nhưng cũng là cách tự kết thúc đau khổ.


Một bìa sách Thiên Long Bát Bộ 
2. Long:

Đứng thứ hai trong tám bộ là rồng, còn gọi là Long chúng hay Long thần.

Trong Ấn Độ giáo, Long chính là Naga, là chủ các loài thuỷ tộc sống ở biển. Loài rồng có vị trí rất quan trọng trong tín ngưỡng Phật giáo và cũng được người dân Ấn Độ tôn sùng. Theo truyền thuyết, rồng của Ấn Độ không có chân nên hình dáng giống loài rắn, nhưng ở đây là loại rắn chúa, rắn thần để phân biệt với rắn thường Sarpa. Nhiều khi rắn Naga còn là loại hổ mang bành bảy đầu. Trong kinh Udana, khi Đức Phật thiền định dưới gốc cây Bồ đề thì trời đất tối sầm, mưa to ập xuống kéo dài suốt bảy ngày liền, lúc đó một con rắn thần tên là Mucalinda xuất hiện quấn quanh đầu ngài, bảo vệ cho đức Thế Tôn khỏi mưa gió. Trong các kinh khác thường xuất hiện rắn thần đến lễ Phật; rắn cũng là sinh vật đầu tiên (ngoài người) quy y Tam bảo. Khi Naga du nhập vào Trung Hoa thì trở thành Long vương và gắn liền với hoàng gia cao quý. Thiên tử mặc áo long bào, ngồi ghế long ỷ, mặt mày gọi là long nhan, thân mình gọi là long thể, đó là bắt nguồn từ sự kính trọng với loài rồng mà ra.

Long thần Naga bảy đầu che cho Đức Phật ngồi thiền
Nhân vật tương ứng với Long thần của Thiên Long Bát Bộ là Đoàn Dự.

Đoàn Dự là nhân vật có thật trong lịch sử, chính là vị vua thứ 16 của Vương quốc Đại Lý. Ông trị vì từ 1108 đến 1147, cũng là quân vương tại vị lâu nhất trong lịch sử Đại Lý. Cháu nội Đoàn Trí Hưng của ông cũng được tiểu thuyết hóa thành Nam đế trong Xạ Điêu Anh Hùng truyện. Suốt phần lớn chiều dài Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự là một vương tử trẻ trung có phần ngờ nghệch nhưng đã có uy của loài rồng.

Thứ nhất, chàng là con trai duy nhất của Đoàn Diên Khánh chính tông nhà Đại Lý, là thái tử chân truyền. Cuối truyện chàng lên ngôi đường hoàng làm vua Đại Lý, chính là trở về “nguyên bản” loài rồng.

Thứ hai, hoàng gia Đại Lý sùng đạo Phật, các triều hoàng đế khi rời ngôi đều xuất gia ở Thiên Long tự. Bản thân Đoàn Dự cũng có tấm lòng hướng Phật, chàng thường xuyên trích dẫn kinh Phật, ghét bạo lực, nhân ái thương người, coi thường vật chất.

Thứ ba, Đoàn Dự học được Bắc Minh Thần Công có thể hút nội lực người khác, nhờ cơ duyên kì ảo lại luyện môn Lăng Ba Vi Bộ, di chuyển thoắt ẩn thoắt hiện, chẳng khác nào loài rồng kỳ bí và mạnh mẽ.
Tranh minh họa Đoàn Dự
Theo kinh Phật, trong tám loại thần chỉ có Thiên được hưởng phúc vi diệu, và Long có thần nghiệm màu nhiệm nhất, còn sáu loài còn lại tuy có tài biến hóa nhưng tâm chưa đủ tốt. Thế nên Thiên và Long đứng đầu tám bộ chúng sinh, dẫn đến gọi tắt là Thiên Long Bát Bộ. Trong tác phẩm này của Kim Dung, Tiêu Phong và Đoàn Dự cũng là hai nhân vật chính số một, số hai ăn khớp với thứ hạng của Thiên và Long.

Phần 2: Ai là Dạ Xoa, ai là Atula? 

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2016

Mối quan hệ tình cảm tay ba giữa Đồng Mỗ, Thu Thủy và Vô Nhai Tử

Củng Lợi và Lâm Thanh Hà trong vai
Lý Thu Thủy và Thiên Sơn Đồng Mỗ
Cát Tường

Trong tác phẩm kiếm hiệp đồ sộ nhất của Kim Dung: Thiên Long Bát Bộ, Tiêu Dao Tử là một cao nhân kỳ bí, người sáng lập ra phái Tiêu Dao. Ông đã thu nhận 3 đệ tử, lần lượt là Thiên Sơn Đồng Mỗ, Vô Nhai Tử và cuối cùng là Lý Thu Thủy. Trong đó chỉ có Vô Nhai Tử là nam, còn lại là hai cô gái xinh đẹp.




Nhị đệ tử Vô Nhai Tử tinh thông tứ nghệ, tính tình tiêu sái phi phàm, “anh tuấn phong nhã như cánh hoa điểm trúng mặt hồ”, khiến Đồng Mỗ lẫn Thu Thủy đều đem lòng si mê ngay từ thuở thiếu thời. 

Thế nhưng, trong lòng Vô Nhai Tử chỉ có hình ảnh cô em gái 11 tuổi của Lý Thu Thủy, nên chàng ta đã vẽ một bức tranh và tạc một pho tượng ngọc để tỏ lòng tương tư.

Điều này dẫn đến mâu thuẫn lớn giữa ba người, khiến hai tỉ muội Đồng Mỗ và Thu Thủy trở thành kẻ thù của nhau. Lý Thu Thủy rắp tâm quấy phá Đồng Mỗ luyện thần công, khiến cơ thể bà cứ “phản lão hoàn đồng” mãi không lớn lên được. Đồng Mỗ trả đũa, rạch nát mặt Thu Thủy.

Vô Nhai Tử say mê bức tượng ngọc của người con gái  ông tương tư


Về sau, Đồng Mỗ sáng lập ra cung Linh Thứu trên núi Phiêu Miễu, tà ác vang danh một cõi. Thu Thủy trở thành hoàng phi nước Tây Hạ, quyền thế một phương. Thế nhưng mấy chục năm sau, cả hai vẫn cố chấp ghen tuông và không ngừng tranh đấu nhau.

Trong trận đấu cuối cùng dưới hầm băng hoàng cung Tây Hạ, Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy đánh nhau đến lưỡng bại câu thương rồi vong mạng sau trận quyết chiến. Hai người nhắm mắt, vừa khóc vừa cười trong hân hoan và đau đớn, khi nhận ra Vô Nhai Tử không hề yêu ai trong số họ. Khi ấy, Đồng Mỗ đã 96 tuổi, Vô Nhai Tử 94 tuổi còn Thu Thủy 92 tuổi, cho nên có thể nói, đây là mối tình thù kéo dài nhất trong các danh tác của Kim Dung.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

A Bích

Hoa Văn

A Bích là một trong hai người hầu gái của Mộ Dung Phục, được nhắc đến trong tác phẩm kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. A Bích tuy chỉ là nhân vật phụ, xuất hiện ngắn ngủi trong tác phẩm, nhưng đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng độc giả. Nhứt là giới mày râu!  


A Bích sống ở Cầm Vận Tiểu Trúc, kế nghiệp Cầm Tiên Kha Quảng Lăng. Nàng có giọng nói mềm mại, trí tuệ thông minh sắc sảo nhưng rất nữ tính, dễ thương. A Bích là một cô gái chỉ chừng mười tám đôi mươi, tướng mạo xinh đẹp, thích mặc màu xanh và giỏi đàn hát, nấu ăn.



Trong tác phẩm, cả hai người hầu gái là A Châu và A Bích được Kim Dung mô tả có tình cảm, thậm chí là tình yêu đơn phương, thầm lặng với gia chủ của mình là công tử Mộ Dung Phục.


Tuy nhiên, vì thân phận quá thấp hèn, cho nên tình cảm dù rất trong sáng chân thành, cũng đành chỉ biết giấu trong lòng, thể hiện một cách tình cờ qua lời nói, cử chỉ ... mà thôi. Chẳng hạn như khi hai nàng cùng Vương Ngữ Yên dự định tìm theo Mộ Dung Phục, trong đêm cuối cùng, A Bích và A Châu bàn việc khâu áo mới cho Mộ công tử. Bỏ quên Đoàn công tử đang ghen tức vì không được các nàng quan tâm. Tuy nhiên chẳng riêng gì A Bích, hay A Châu, mà ngay cả nàng tiên Vương Ngữ Yên cũng thương thầm nhớ trộm và yêu đơn phương Mộ công tử đó thôi.

Trong Thiên long bát bộ, không ai là không nhớ đến cảnh A Bích một mình đưa nhóm Cưu Ma Trí, Thôi Bách Kế, Quá Ngạn Chi và Đoàn Dự len lỏi trong đầm sen bất tận, đến Tham Hợp trang. A Bích đã tỏ rõ tài nghệ cầm thi, khi dùng chiếc bàn tính hay cây nguyễn tiên tấu nhạc như một cây đàn. A Bích nói năng thật dễ thương, thông minh dí dỏm ... khiến say lòng Đoàn công tử.

Thật thú vị khi đọc đoạn hai cô hầu của Mộ Dung Phục tài tình đưa đẩy, biến hóa trong việc A Châu một lúc đóng giả hết vai Tôn Tam, cho đến lão Thái Thái ... lừa Khưu Ma Trí, khiến không ai không cảm thấy thú vị, tức cười. (xem trích đoạn bên dưới).

Có thể nói không quá, A Bích tuy xuất hiện không nhiều, nhưng những khoảnh khắc mà nàng có mặt thực sự rất ấn tượng, thú vị. Không thể nào quên!

Được biết Kim Dung từng thừa nhận có hai nhân vật nữ mà ông yêu mến nhứt trong các tác phẩm của mình là Tiểu Chiêu (trong Ỷ thiên đồ long ký) và A Bích.


Nguồn ở đây.
-------------------------------------------

PS. 
Trong Thiên long bát bộ, những chi tiết khắc họa về nhân vật A Bích không nhiều, đặc biệt tình tiết nói về chuyện tình giữa A Bích với Mộ Dung Phục lại càng hiếm hơn.


Ví dụ một đoạn trong nguyên tác có đoạn Chung Linh hỏi Đoàn Dự: "Ca ca, ca có nhớ Vương cô nương chứ?". Đoàn Dự trả lời: "Một chút chứ không phải hoàn toàn!". Những fan hâm mộ của tiểu thuyết này đều thừa hiểu, trong lòng Đoàn Dự nghĩ gì, ngoài Vương Ngữ Yên còn có người đẹp A Bích ở Thái Hồ là biết rõ nhất.
A Bích xuất hiện không nhiều, cũng không có gia thế lẫn người ra sinh vào tử như A Châu. Tuy nhiên, cái kết của A Bích lại trở thành khoảnh khắc đẹp nhất của Thiên long bát bộ:
"A Bích mặc bộ áo màu xanh nhạt, cô cầm chiếc bánh đường từ trong giỏ chia cho bọn trẻ và khen đứa nào cũng ngoan, rồi hứa ngày mai lại đến và mang bánh đường cho chúng ăn. Giọng nàng nức nở, từng giọt lệ thánh thót xuống chiếc giỏ".

Đoạn miêu tả trên thực sự khiến nhiều độc giả đều ấn tượng và nhớ mãi. Ngay đến tác giả Kim Dung cũng từng thừa nhận, hai nhân vật nữ ông yêu mến nhất trong số các tác phẩm của mình là Tiểu Chiêu và A Bích.

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Hư Trúc hòa thượng


Thiết nghĩ. Chúng sinh không có bản ngã nên vui buồn sướng khổ đều là do duyên mà thành. Nếu được những điều vinh dự cũng là do tích nhân từ trước tạo ra nên hôm nay mới được như thế. Đến khi duyên hết rồi thì trở lại là không, có gì mà vui đâu? Được hay mất cũng đều là do duyên chứ cái tâm không hề tăng hay giảm.
Chàng Hư Trúc này là ví dụ điển hình và rõ nét nhất của chữ "Duyên"

Trong tiểu thuyết Thiên long Bát bộ của Kim Dung, chàng Hư Trúc khi ở trong hầm băng cùng Thiên Sơn Đồng lão, bị bà ép ăn thịt, uống rượu rồi ngủ cùng Mộng cô, câu niệm cửa miệng của nhà sư trẻ này là "sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị" (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành thức cũng là như vậy). 
Hư Trúc đã đọc câu kinh được xem là thâm ảo nhất trong Bát nhã Ba la mật Tâm kinh.

Giới luật được Thiên Long Bát Bộ bàn đến là giới luật thuộc bộ phái phát triển Phật giáo, hay gọi là Đại thừa, gồm giới của Tỷ kheo (250 giới), giới của Bồ tát (58 giới) - Thập nhân cũng là hạnh của Bồ tát hành các ba - la - mật khá rành rẽ. 

- Về căn bản của đường tu phạm hạnh, tác giả đã phát biểu qua lời lẽ của tiểu Tăng Hư Trúc: 
"Đệ tử nhà Phật lấy từ bi làm căn bản, lấy phổ độ chúng sinh làm tâm nguyện, cốt sao cho minh tâm kiến tánh. Còn luyện võ công được cao thâm cũng là hay, mà luyện chẳng tới đâu thì cũng không ngại gì đến việc tu thành chánh quả. Kẻ tu hành không thể chuyên tâm luyện võ mà xao lãng việc chính yếu là tu tâm dưỡng tính" 
Lời lẽ đã nói đủ hạnh tu chân chánh của Phật giáo là tự độ song hành với độ tha để mình và người đều minh tâm kiến tánh, đắc được trí tuệ giải thoát, cái trí tuệ thấy rõ sự thật của vạn hữu và chặt đứt sạch mọi phiền não khổ đau. Lời lẽ Hư Trúc đã phản ảnh trung thực giáo lý nhà Phật. 

- Khi Hư Trúc đang vướng ngại, chấp thủ cái tướng tiểu cô nương và đại cô nương, thì mường tượng nhớ đến một lời kinh Kim Cương rằng: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng" (cái gì có tướng tức là hư vọng). Lời kinh này nhất thời giúp Hư Trúc đi ra khỏi cái tâm vướng ngại về cái tướng cô gái nhỏ, cô gái lớn để tự tại hơn trong học hỏi và cứu giúp Đồng Mỗ. 

Trao đổi với Đồng Mỗ, Hư Trúc nói: 
"Tiền bối! Nhân sinh vô thường, vô thường là khổ. Người ta chịu khổ phần nhiều là do ba cái độc tham, sân, si mà ra. Giả sử tiền bối cố gắng tự tiêu trừ ba cái độc này, đừng nhớ đừng hận sư đệ sư muội của tiền bối nữa, thì trong lòng sẽ thấy dễ chịu hơn". 
Lời trao đổi nghe rất Phật giáo! Rất trung thực đối với giáo lý nhà Phật, nói lên tính chất thiết thực hiện tại: an lạc ngay trong hiện tại. 

- Khi bị hành khổ, Hư Trúc đọc lời kinh để tự tỉnh: 
"Tu đạo cực khổ, phải nghĩ kiếp trước, bỏ gốc theo ngọn, sinh lòng yêu ghét, kiếp này không lỗi, nhưng lỗi ở kiếp trước, sao thì phải vậy, không nên oán trách, gặp khổ chẳng buồn, mới là đạt đạo". 

(sưu tầm và biên soạn, tháng 11/2012)

*****

Mời đọc thêm về "chàng" tiểu hòa thượng Hư Trúc.
Hư Trúc
Hư Trúc vốn là người có võ công và nội lực cao nhất Thiên Long. Tu hành từ thưở mới lọt lòng mẹ tại Chuà Thiếu Lâm, vào sân khấu Thiên Long với số tuổi mười sáu, mười bẩy nên anh không còn là chú tiểu, song anh vẫn chưa phải là Sư bác, Sư ông. Ta gọi anh là Sư chú.
Hư Trúc trạc tuổi Đoàn Dự, Mộ Dung Phục, Du Thản Chi. Anh chỉ muốn tu hành suốt đời và tuy tu trong chuà Thiếu Lâm, nơi ai cũng võ nghệ cùng mình, võ từ Phương Trượng Đại sư đến ông bếp già quanh năm và cả đời chỉ đánh lộn với đám nồi niêu, xoong chảo; Sư chú Hư Trúc hoàn toàn không có chút xíu võ công nào cả. Như đã nói anh chỉ muốn tu thành chánh quả, không muốn học võ.
Hư Trúc được đi theo hầu hạ Sư phụ, một cao tăng chùa Thiếu Lâm đi vân du. Khi ấy trên giang hồ có tin Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam mở cuộc tuyển lựa người làm Chưởng Môn Nhân. Sư phụ của Hư Trúc đến đó chứng kiến cuộc tuyển người. Vì uyên nguyên ấy Sư chú Hư Trúc cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái ở Hồ Nam.

 Cảnh trong phim Thiên Long Bát Bộ
Vô Vi Phái có thủ tục lạ kỳ: không tuyển người trong phái làm Chưởng môn nhân mà lại tuyển người ngoài. Cách tuyển người cũng không giống ai: một bàn cờ đã sắp sẵn được đặt ra, ai phá được thế cờ, thắng được ván cờ sẽ được Vô Vi Phái nhận làm Chưởng môn nhân.
Tô Tinh Hà, một nhân vật cao cấp trong Vô Vi Phái, chủ trì bàn cờ. Nơi đấu cờ được tổ chức trên bãi cỏ rộng lưng đồi, trước một căn nhà gỗ, bên hàng thông xanh. Được tin biểu huynh của nàng là Mộ Dung Công Tử sẽ đến dự cuộc tuyển lựa, Vương Ngọc Yến đến Tổng Đàn Vô Vi Phái. Đoàn Dự đi theo nàng nên Đoàn Dự cũng đến Tổng Đàn Vô Vi Phái.
Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh đến dự tuyển. Lão ngồi vào bàn cờ trước nhất. Lão rất cao cờ — cờ này là Cờ Vi, không phải Cờ Tướng — nhưng thế cờ bí hiểm làm lão đầu váng, mắt hoa, kinh mạch đảo lộn. lão đành chịu thua. Đoàn Dự rồi Mộ Dung Công Tử được Tô Tinh Hà long trọng mời vào bàn cờ. Tô Tinh Hà rất muốn một trong hai chàng trẻ tuổi đẹp trai, hào hoa phong nhã Đoàn Dự, Mộ Dung Phục giải được thế cờ, làm Chưởng môn Tinh Tú phái.
Đoàn Dự không thích võ công, cũng chẳng ham làm Chưởng môn bất cứ bang phái nào trên cõi đời này. Chàng đến đây chỉ vì chàng đi theo Vương Ngọc Yến. Và chàng xây sẩm mặt mày khi nhìn thấy tình yêu của Vương Ngọc Yến với biểu huynh của nàng, chàng còn tinh thần đâu mà cờ với quạt. Chàng ngồi vào bàn cờ vì được Tô Tinh Hà trịnh trọng mời.
Đây là lần thứ nhất Mộ Dung Công Tử xuất hiện bằng xương, bằng thịt trên sân khấu Thiên Long. Trước đó Kim Dung toàn diễn tả chàng qua lời những nhân vật Thiên Long nói đến chàng và bản lãnh gọi là ” Đẩu chuyển, tinh di” của nhà Mộ Dung.
Kim Dung cho Mộ Dung Phục xuất hiện đẹp như rồng, như phượng. Chàng đứng trên đỉnh hàng thông xanh gần đó tự lúc nào không ai hay. Từ xa một chiếc lá bay tới lơ lửng trên bàn cờ rồi rơi xuống một ô cờ. Mọi người quanh bàn cờ ồ lên một tiếng kinh ngạc và thán phục. Nước cờ quá hay. Người vừa đi nước cờ tuyệt diệu ấy phải là một Vô Địch Kỳ Vương.
Vương Ngọc Yến bèn kêu lên:
– Biểu huynh của ta đến… Biểu huynh của ta là Mộ Dung Công Tử… Biểu huynh của ta chắc sẽ giải đuợc thế cờ này…
Quần hùng biết người vừa ném chiếc lá là Mộ Dung Công Tử, và Công Tử sắp đến. Công Tử đến thật. Công Tử thần thái hào hoa, phong nhã, ung dung ngồi vào bàn cờ. Công Tử còn điển trai hơn cả Đoàn Vương tử nước Đại Lý. Mọi người nín thở. Tô Tinh Hà bồi hồi chỉ mong Công Tử phá được thế cờ. Nhưng chỉ sau vài nước cờ có vẻ sáng sủa, thế cờ của Công Tử lập tức đi vào ngõ bí. Mộ Dung ngồi lặng trước bàn cờ. Chàng thấy thế cờ giống như tình trạng mộng ước khôi phục ngai vàng Yên quốc của gia đình chàng. Chàng chỉ còn một nhúm tàn quân bị quân địch bao vây kín mít. Chàng tiến lên là chết, lùi lại cũng chết, sang phải chết, sang trái cũng chết, ở yên cũng chết. Biết làm sao đây? Sự suy nghĩ và tuyệt vọng làm Mộ Dung Phục mắt hoa, đầu váng, máu tươi ứa ra trong miệng chàng.
Đến lượt Sư chú Hư Trúc ngồi vào bàn cờ. Anh ta không có ý định ngồi vào bàn cờ vì anh hoàn toàn mù tịt về cờ quạt. Anh ngồi vào bàn cờ chỉ vì nghe có tiếng người bảo nên ngồi vào. Anh tưởng người ra lệnh cho mình là Sư phụ của anh. Nhưng người ra lệnh cho anh lại là Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh. Lão dùng phép “truyền âm nhập mật” nói vào tai Hư Trúc. Truyền âm nhập mật là phép người nói không nói ra tiếng, và người nói muốn nói với ai thì chỉ người được cho nghe mới nghe được tiếng.
Lão Ác Ma đã thua cuộc, ra đứng chầu rìa, nhưng lão còn cay cú. Lão cho nhà sư trẻ vào cuộc để phá chơi cho bõ ghét. Lão vẫn dùng phép truyền âm nhập mật, chỉ cho Hư Trúc đánh bậy, đánh bạ. Mọi người lại ồ lên ngạc nhiên khi thấy nhà sư trẻ đi một nước cờ.


Đây là nước cờ tự sát: đẩy quân mình vào chỗ chết. Không ai, kể cả những tay cờ cao đến đít vịt xiêm lai, lại đi nước cờ ngu ngốc này.
Tô Tinh Hà liền giận dữ quát lên:
– Đây không phải là nơi mấy người đến rỡn chơi đó nha!
Lão đánh một chưởng lên tảng đá gần bên. Tảng đá vỡ tan tành làm nhiều mảnh…
Hư Trúc ngồi chết trân. Anh ta muốn xin lỗi nhưng chưa mở miệng ra nói được. Thái độ mọi người bỗng trở thành khác lạ. Người ta thấy nhà sư trẻ vừa đi một nước cờ tuyệt diệu. Cờ lâm thế bí, phải hy sinh một số quân mới có thể thoát được trùng vi, mới có đường thoát ra trung thổ để tranh thắng, tranh hùng. Mà đúng như vậy. Sau nước cờ thí quân, thế cờ bí của Hư Trúc bắt đầu được giải. Từ nước này trở đi là dễ rồi. Đoàn Diên Khánh dùng truyền âm nhập mật chỉ tiếp, Hư Trúc thắng ván cờ.
Nhà sư trẻ không muốn được tuyển làm bất cứ chức tước gì trên cõi đời này, định mệnh an bài cho anh trở thành Chưởng Môn Vi Vô Phái. Anh được Tô Tinh Hà đưa đến trước căn nhà gỗ. Hư Trúc chợt ngẩn ngơ:
– Nhà không có cửa! Làm sao mà vào..?
Tô Tinh Hà nói lớn:
– Không có cửa thì phá vách mà vào…
Lão đẩy mạnh Hư Trúc. Nhà sư trẻ lao vào vách gỗ. Vách bể, nhà sư ngã vào trong căn nhà. Khi ngồi lên được Hư Trúc nhìn quanh. Trong nhà tối mờ. Anh sợ hãi khi thấy bóng người lơ lửng giữa chừng. Ban đầu anh tưởng là ma. Sau đó anh nhìn kỹ mới biết đó là một người được treo vào sợi dây buộc lên mái nhà. Người được treo xếp vòng tròn, chân ở trên, đầu ở dưới. Anh nghe tiếng người đó gọi:
– Tiểu tử.. Mau lại đây…
Anh rón rén lại gần. Người treo lơ lửng là một ông già đẹp lão, sắc mặt hồng hào, ánh mắt sáng long lanh. Ông này là Vô Nhai Tử, Chưởng Môn Vô Vi Phái. Thời trẻ ông rất đẹp trai. Ông sắp từ trần, ông chỉ còn sống để chờ truyền nhân. Một lần nữa người đọc thấy điểm độc đáo của Vô Vi Phái: muốn Chưởng Môn nhân là người đẹp trai. Vô Nhai Tử nhìn truyền nhân của ông, thấy Hư Trúc xí trai quá, thất vọng ông thở dài:
– Sao ngươi lại có thể xấu xí đến thế được?
Hư Trúc mắt trố, mũi huyếch, răng hô, bị chê nên tự ái dồn dập, anh nói:
– Tôi không muốn vào đây. Nếu tiền bối không thích, tôi xin kiếu…
Anh định quay ra. Vô Nhai Tử dơ một ngón tay. Hư Trúc không bước đi được. Vô Nhai Tử nhìn Hư Trúc kỹ hơn. Ông lại thở dài:
– Mười việc ở đời có đến chín việc không được như ý. Ngươi vào được đây là ngươi có uyên nguyên với ta. Đành vậy. Tiểu tử.. Lại đây…
Hư Trúc bị một sức mạnh kéo tới chỗ Vô Nhai Tử. Ông già tung người lên, đặt đỉnh đầu ông lên đỉnh đầu Hư Trúc. Nhà sư bị đè xuống ngồi trên sàn. Bằng cách đặt đỉnh đầu mình lên đỉnh đầu Hư Trúc, Vô Nhai Tử truyền công lực gọi là Bắc Minh Chân khí cho Hư Trúc. Hư Trúc mê người trong thời gian được truyền công lực không biết là bao lâu. Khi tỉnh lại, anh thấy ông già Vô Nhai Tử ngồi trước mặt. Thần sắc ông thay đổi khác hẳn, da ông răn reo, khô héo, mắt ông lạc thần. Ông khẽ nói:
– Con đã nhận công lực tám mươi năm tu dưỡng của ta. Từ nay con là Chưởng Môn Vi Vô Phái. Ta là Sư phụ của con. Con lậy ta đi…
Hư Trúc chỉ nhận Sư phụ Thiếu Lâm của anh là sư phụ, nhưng lòng dạ anh thương người. Người sắp chết có ước muốn cuối cùng được anh gọi là Sư phụ, thấy việc đó cũng chẳng có gì quan trọng, anh quỳ gối lậy ông và gọi ông ba tiếng:
– Sư phụ..
Hài lòng, Vô Nhai Tử thở hơi cuối cùng.
Hư Trúc đi ra khỏi căn nhà. Trời đã tối, quần hùng đã đi hết. Trên bãi cỏ rộng đang diễn ra trận đấu chưởng lực giữa Đinh Xuân Thu, Chưởng Môn Tinh Tú phái và Tô Tinh Hà, cao thủ Vô Vi phái.
Đinh Xuân Thu và bọn đồ đệ Tinh Tú phái dàn hàng ngồi một bên, Tô Tinh Hà và đám môn đồ Vô Vi phái dàn hàng ngồi một bên. Đống lửa cháy ở giữa. Đinh Xuân Thu và Tô Tinh Hà dùng chưởng lực đẩy ngọn lửa sang phía nhau.
Hư Trúc thấy Tô Tinh Hà sắp bại đến nơi. Chưởng lực của Tô Tinh Hà yếu hơn chưởng lực của Đinh Xuân Thu, ngọn lửa bị đẩy tới sắp táp vào mặt Tô Tinh Hà. Bên kia bọn đồ đệ Tinh Tú phái thổi kèn, đánh trống ca tụng Sư phụ của chúng rầm rĩ…
Hoàn toàn không biết mình có Bắc Minh chân khí, cũng không biết mình có thể giúp được Tô Tinh Hà, Hư Trúc chỉ thấy Tô Tinh Hà sắp bại, phải ngả người về phía sau tránh lửa táp vào mặt nên thương hại. Chú đến ngồi sau lưng Tô Tinh Hà, đặt bàn tay lên lưng Tô Tinh Hà để đỡ cho ông ta khỏi ngã. Và như thế là Bắc Minh Chân Khí trong người Hư Trúc, Chưởng Môn Tinh Tú Phái, cuồn cuộn trôi sang người Tô Tinh Hà. Chân khí lập tức đánh bạt ngọn lửa về phiá Đinh Xuân Thu, mạnh như bão tố. Đinh Lão Quái bị lửa đốt cháy râu tóc phải lộn nhào ra đằng sau. Lão bỏ chạy luôn. Bọn đồ đệ của Lão bị lửa đốt kêu chói lói. Bỏ trống kèn lại chúng theo Sư phụ đi một đường chạy vắt giò lên cổ…

Đa tình tự cổ không dư hận
Dĩ hận miên miên vô tuyệt kỳ
***
Từ Tổng Đàn Vô Vi phái bước ra Sư Chú Hư Trúc đi một mình trên giang hồ. Giờ đây anh có công lực kinh người nhưng vì chưa có võ công, anh chưa biết sử dụng pho công lực ấy. Đời anh chỉ thực sự thay đổi khi định mệnh an bài cho anh gặp được Thiên Sơn Đồng Mỗ. Thiên Sơn Đồng Mỗ, nữ nhân vật kỳ quái nhất trong toàn bộ tiểu thuyết Kim Dung : Võ Lâm Ngũ Bá, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Kiếm–Đồ Long Đao, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký…
Quần hùng ba mươi sáu đảo, bẩy mươi hai động bị Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt phải thần phục, đàn áp, họp đại hội tính chuyện gỡ bỏ ách thống trị của Đồng Mỗ. Họ bị Đồng Mỗ thống trị, chế ngự bằng cách cấy Sinh Tử Phù vào người họ. Mỗi năm họ phải lên Linh Thứu Cung trên đỉnh Thiên Sơn nộp cống cho Đồng Mỗ. Họ thuận phục, Đồng Mỗ sẽ cho họ thuốc giải. Nếu không Sinh Tử Phù sẽ phát tác, làm họ phát điên.
Thiên Sơn Đồng Mỗ luyện một thứ võ công làm cho Mụ trẻ mãi không già, dung nhan Đồng Mỗ dừng lại ở số tuổi 25–30 cái xuân xanh. Vì lúc luyện công Mụ bị tẩu hoả nhập ma nên thân hình Mụ chỉ bằng em gái muời ba, mười bốn tuổi. Vì vậy Mụ có xước hiệu là Thiên Sơn Đồng Mỗ tuy số tuổi thực của Mụ khi Mụ vào sân khấu Thiên Long là khoảng Sáu Bó Gập đến Bẩy Bó.
Quần hùng 36 đảo, 72 động dò biết cứ mười năm một lần Thiên Sơn Đồng Mộ phải bế môn để luyện công. Khi tái luyện công như thế Đồng Mỗ trở thành đứa nhỏ bẩy, tám tuổi yếu sìu, công lực Mụ cùng cơ thể Mụ tăng trưởng dần với số ngày Mụ luyện công. Lại dò biết đúng lúc Thiên Sơn Đồng Mỗ đang luyện công nên quần hùng tấn công vào Linh Thứu Cung. Họ không thấy Đồng Mỗ đâu cả. Trong mật cung họ bắt được một đứa con gái chừng mười tuổi. Họ nghi đứa nhỏ chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ.
Đại hội bất thường của quần hùng 36 đảo, 72 động họp ban đêm ở bãi biển. Đoàn Dự, Vương Ngọc Yến, Mộ Dung Phục đến dự. Hư Trúc đi tìm Sư phụ của Hư Trúc cũng đến dự. Người chủ trì cuộc họp là Ô Lão Đại. Trong ánh lửa bập bùng Hư Trúc thấy Ô Lão Đại mở cái túi vải, trình diễn với quần hùng một cô bé. Cô bé sợ hãi chỉ biết khóc.
Thấy quần hùng bị Sinh Tử phù phát tác, phát điên, có thể giết cô bé, Hư Trúc thương hại bất ngờ nhẩy đến ôm cô bé trong túi vải lên vai, bỏ chạy.
Nhờ có Bắc Minh Chân Khí Hư Trúc chạy thật nhanh. Anh cõng cô gái chạy lên đỉnh Thiên Sơn. Cô gái trong túi vải chính là Thiên Sơn Đồng Mỗ. Bà chỉ cho Hư Trúc cách vận công nhẩy lên và chạy trên những ngọn cây tùng. Rồi bà dậy Hư Trúc cách đối phó với đám quần hùng đuổi theo bằng cách vận công ném những trái tùng. Quần hùng bị trái tùng bắn trúng rụng ngã hàng loạt. Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt Ô Lão Đại phải hầu hạ bà.
Đồng Mỗ ở lại trên đỉnh Thiên Sơn để tiếp tục luyện công, Hư Trúc, Ô Lão Đại cũng phải ở lại đó để phục vụ Bà. Mỗi ngày Ô Lão Đại phải đi bắt sống một thú rừng - hươu nai, hoẵng - đem về cho Đồng Mỗ luyện công. Đồng Mỗ ngồi xếp bằng tròn, cắn cổ con vật hút máu, rồi một tay chỉ lên trời, theo cách chỉ tay của Thích Ca trong tư thế “Thiên thượng, địa hạ, duy ngã độc tôn”, mắt nhắm lại, luyện công. Khi ấy có làn sương trắng hiện lên trên đầu Đồng Mỗ. Sau mỗi lần luyện công như thế công lực Đồng Mỗ phục hồi mấy thành, dung nhan già thêm mấy tuổi. Một đêm Đồng Mỗ đánh thức Hư Trúc dậy, bà sợ hãi nói:
– Tử thù của ta tìm đến. Cõng ta chạy mau..
Hư Trúc cõng Đồng Mỗ chạy. Trời sáng, chú đặt Đồng Mỗ xuống bên môt dòng suối.
Đồng Mỗ nói:
– Nếu ta luyện công thêm được mấy ngày nữa, ta chẳng sợ gì con tiện tì. Nhưng nay công lực ta còn yếu, ta phải tạm tránh nó…
Nhìn thấy cái nhẫn sắt Chưởng Môn Vô Vi Phái ở tay Hư Trúc, Đồng Mỗ kinh ngạc hỏi:
– Sao ngươi có cái nhẫn sắt đó? Đưa đây ta coi..
Hư Trúc kể uyên nguyên việc chàng được Chưởng Môn Vô Nhai Tử truyền công lực và trao nhẫn sắt Chưởng Môn. Đồng Mỗ khóc khi nghe kể Chưởng Môn Vô Nhai Tử đã chết. Bà là người trong phái Vô Vi. Vô Nhai Tử là Sư đệ của bà. Tử thù của bà, người Đồng Mỗ gọi khinh miệt là con tiện tì, người sắp đuổi tới, là Lý Thu Thủy, Hoàng hậu nước Tây Hạ, sư muội của bà và cũng là sư muội của Vô Nhai Tử.
Cuộc tình rắc rối tơ, Đồng Mỗ yêu Vô Nhai Tử, Lý Thu Thủy cũng yêu Vô Nhai Tử. Vì tranh dành tình ái Sư tỉ, sư muội thù nhau. Lý Thu Thủy hại Sư tỉ bằng cách làm Sư tỉ bị kinh hoàng trong lúc luyện công, thân hình đứng lại ở số tuổi mười ba, mười bốn, Đồng Mỗ hại Sư muội bằng cách dùng kiếm để thẹo trên mặt Sư muội.


Hư Trúc là đồ đệ của Vô Nhai Tử, phải gọi Đồng Mỗ là Sư bá, Lý Thu Thủy là Sư thúc.
Lý Thu Thủy dò biết Sư tỉ đang luyện công dở dang nên tìm đến để giết. Nhờ có Hư Trúc bảo vệ, bà không làm hại được Đồng Mỗ ngoài việc đánh Đồng Mỗ gẫy chân. Hư Trúc lại cõng Đồng Mỗ chạy trốn. Lần này Đồng Mỗ chỉ đường cho Hư Trúc đưa mình vào ẩn nấp trong hầm chứa băng trong hoàng cung nước Tây Hạ. Bà đi nước cờ cao: Sư muội của bà có thể đi tìm bà ở bất cứ đâu nhưng sẽ không ngờ bà lại lọt vào ẩn náu trong chính hoàng cung Tây Hạ.
Hoàng cung Tây Hạ có một hầm chứa băng lạnh. Mùa đông người ta lấy những tảng băng đá ngoài trời chứa vào hầm này, để dành đến mùa hè trời nóng lấy đá lạnh ra ăn. Đây lại là một vụ mà “kiếm hiệp gia” Kim Dung pha chế sa tế, sì dầu hơi quá nặng tay, tưởng tượng quá lố: người Á đông không có thói quen ăn nước đá lạnh, ăn cà-rem dù trong mùa hạ, người Á Đông ngày xưa không uống rượu pha đá lạnh.
Bị gẫy một chân Đồng Mỗ chống nạng đi lại được. Bà đã có đủ công lực để đêm đêm vào Vườn Ngự Uyển bắt chim về lấy máu tươi luyện công, vào nhà bếp hoàng cung lấy thức ăn. Hư Trúc chán ngán Sư bá của chàng vì thấy bà thù hận, sân si quá đỗi. Chàng từ biệt bà để ra đi, Đồng Mỗ không cho. Hư Trúc cứ đi. Đồng Mỗ điểm huyệt cho Hư Trúc ngã nằm trong hầm băng.
Đồng Mỗ đem thức ăn về cho Hư Trúc, nhưng đó toàn là thịt cá, Sư chú ăn chay, nhất định nhịn đói đến chết, không ăn thịt cá. Đồng Mỗ nói với anh:
– Ngươi chưa biết thủ đoạn của ta đâu. Ta rất ghét những kẻ nào chống lại ta. Với những kẻ chống ta, ta làm cho phải phục tòng ta ta mới chịu. Ngươi cũng vậy. Ngươi không chống nổi ta đâu.
Hư Trúc cứng đầu, chỉ nằm niệm kinh chờ chết. Để đánh gẫy sự phản kháng của nhà sư trẻ kiên cường, Thiên Sơn Đồng Mỗ sử dụng một tuyệt chiêu…
Tuyệt chiêu đúng là… tuyệt chiêu. Chiêu thức này mà đánh sợ trên cõi đời này khó có chú thiếu niên mười bẩy, mười tám nào không gục. Thoạt đầu Đồng Mỗ tỏ ra nhân nhượng, Bà chịu lấy thức ăn chay về cho Hư Trúc ăn. Và đây là tuyệt chiêu của Đồng Mỗ: Hoàng cung Tây Hạ khi đó có nàng Công chuá mới mười lăm, mười sáu tuổi. Nửa đêm Đồng Mỗ vào phòng ngủ của Công chuá, điểm huyệt cho Công chuá ngủ mê, cuộn nàng trong mền bông, bồng nàng vào hầm băng, thả nàng vào nằm chung chăn với Hư Trúc.
Chuyện tả rằng Hư Trúc đang ngủ bỗng thấy có người thiếu nữ khoả thân nằm ôm mình, mùi da thịt trinh nữ thơm phức bay vào mũi làm chàng ngây ngất — Từ đây trở đi chúng ta phải gọi Hư Trúc Tử là chàng — Chàng ôm nàng và nàng ôm chàng. Họ yêu nhau như họ yêu nhau trong mơ. Gần sáng, Đồng Mỗ lại điểm huyệt cho Công Chuá Tây Hạ ngủ mê, cuốn nàng trong mền gấm, đưa nàng trở về phòng ngủ.
Từ đó Hư Trúc sống để chờ đêm đến lại được ân ái với người thiếu nữ. Có đêm Công chúa nửa tỉnh, nửa mơ hỏi người tình:
– Chàng ơi… Chúng ta đang ở đâu? Đây là đâu? Sao em thấy lạnh quá?
Hư Trúc cho nàng biết họ đang ở trong hầm băng, Công chuá lại hỏi:
– Chàng là ai? Tên chàng là gì?
Diêm Vương có ra lệnh Nhà Sư Trẻ phá giới cũng không dám nói mình là ai, Công Chuá không hỏi tới, nàng mơ màng:
– Em gập chàng trong mộng. Em gọi chàng là Mộng Trung Lang…
Sau năm bẩy đêm ái ân thần tiên, ngà ngọc, Hư Trúc quen mùi. Bỗng đêm ấy chàng nằm chờ suốt sáng không thấy Sư bá thân thương đưa người đẹp đến. Chàng đành chờ đêm sau. Đêm sau không thấy rồi đêm sau nữa, đêm sau nữa… Trong bụng chàng như có lò lửa hồng mà Sư bá của chàng thì cứ tỉnh queo coi như trên cõi đời nói chung và trong hầm băng nói riêng chẳng có chuyện gì quan trọng cả.
Xấu hổ, ngượng ngùng nhưng sau cùng Hư Trúc cũng phải lên tiếng xin Sư bá cho mình được gặp lại người thiếu nữ. Đồng Mỗ hừ lên một tiếng:
– Bây giờ ngươi mới chịu mở miệng năn nỉ ta ư? Ngươi còn chống ta nữa thôi?
Thôi… Nhất định là thôi rồi… Hư Trúc đầu hàng không điều kiện. Kiếp này chàng không thể tu thành chánh quả được, đành để kiếp sau. Để kiếp sau thì Hư Trúc cũng chẳng có gì khác người. Trên cõi đời này có đến tỉ tỉ người vẫn kiếp nào cũng hẹn để dành kiếp sau sẽ tu hành. Chàng ăn thịt, ăn mỡ, ăn cá, ăn tôm, chàng ngoan ngoãn làm theo lời Sư bá.
Nhưng cuộc tình Hầm Băng không thể kéo dài. Thời gian không đứng về phe Đồng Mỗ– Hư Trúc. Một đêm Lý Thu Thủy vào hầm băng. Lần này Thiên Sơn Đồng Mỗ, tuy cụt một chân, đã đủ sức đấu chưởng ngang tay với Lý sư muội. Hai bà long tranh, hổ đấu kịch liệt trước sự chứng kiến bất động của Hư Trúc. Lý Thu Thủy sợ Hư Trúc đánh giúp Thiên Sơn Đồng Mỗ nên bà điểm huyệt cho chàng nằm đó.
Hai bà già giết giặc loạn đả trong hầm băng, chưởng lực hai bà đánh ra làm những cây đuốc rơi xuống những bành rơm giữ cho đá lạnh trong hầm không tan. Lửa đuốc làm những bành rơm bốc cháy. Băng tan thành nước, chẩy đầy trong hầm. Hai bà cùng hết công lực, cùng nằm ngay đơ, cán cuốc. Nước dâng lên đưa hai bà đến nằm gần nhau, Hư Trúc vẫn bị điểm huyệt nằm giữa hai bà. Đến lúc ngay đơ cán cuốc này hai bà vẫn còn đánh nhau bằng cách truyền công lực qua người Hư Trúc.
Băng đá bị lửa đốt tan thành nước. Lửa tắt, hầm băng trở lại lạnh giá. Nước đóng lại thành băng. Hai bà già cùng Hư Trúc như ba người nằm trong những cây nước đá.
Bắc Minh chân khí trong người Hư Trúc tự hành làm chàng giải khai được huyệt đạo.
Chàng mỗi tay ôm một bà già chạy ra khỏi hoàng thành Tây Hạ. Trời sáng, Hư Trúc nghỉ lại trong rừng. Chàng cẩn thận để hai bà già mỗi bà nằm một bên bờ suối, đề phòng khi tỉnh lại hai bà lại tiếp tục đánh nhau.
Đúng như Hư Trúc sợ, vừa tỉnh lại Thiên Sơn Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy lại chửi nhau, đe dọa giết nhau rồi hai bà xoay ra đấu võ mồm. Vì mỗi bà nằm một bên bờ suối, cả hai cùng kiệt sức không thể vượt qua dòng suối để kết liễu đời nhau, hai bà dùng anh sư điệt Hư Trúc để đánh nhau. Bằng cách mà như Thiên Sơn Đồng Mỗ nói:
– Nếu ta đánh chiêu Niêm Hoa Vi Tiếu thì con tiện tỳ chỉ có nước chắp tay chịu chết. Hư Trúc… Ngươi thay ta biểu diễn cho con tiện tỳ thấy chiêu thức này, xem nó đối phó ra làm sao…
Đồng Mỗ chỉ chiêu thức cho Hư Trúc, Hư Trúc qua bờ suối bên kia biểu diễn chiêu thức với Lý Thu Thủy. Bà già này cười nhạt:
– Tưởng gì. Chiêu thức của Mụ Lùn ta hoá giải cái một. Mụ ra chiêu, ta sẽ đỡ như vầy.. như vầy. Ta sẽ đánh lại như vầy.. Ngươi biểu diễn chiêu thức của ta cho Mụ coi, để Mụ hết còn vênh váo…
Cứ như thế hai bà già truyền những chiêu thức võ công cao siêu nhất của mình cho Hư Trúc. Tuy không muốn Hư Trúc nghiễm nhiên trở thành đệ nhất cao thủ võ lâm. Thế rồi cuối cùng hai bà già ác liệt cũng phải tắt thở…
Người tắt thở trước là bà Lý Thu Thủy, môn đồ Vô Vi phái, Hoàng Hậu nước Tây Hạ.
Bên kia suối bà Thiên Sơn Đồng Mỗ nở nụ cười hài lòng:
- Con tiện tỳ cuối cùng cũng chết trước ta. Ta được thấy Mụ chết. Vậy là ta mãn nguyện. Ta cũng đi thôi…
Đồng Mỗ truyền chức Chủ nhân Linh Thứu Cung, trao nhẫn sắt cho Hư Trúc. Dù không muốn định mệnh an bài cho Hư Trúc trở thành Chưởng môn Vô Vi phái kiêm Chủ nhân Thiên Sơn Linh Thứu Cung, một môn phái chỉ có toàn là nữ đồ.
Thiên Sơn Đồng Mỗ chết rồi, Hư Trúc thấy bà Lý Thu Thủy động đậy. Thì ra bà già này chưa chết, bà chỉ giả chết để đánh lừa bà Sư tỉ ác ôn của bà. Bà nói với nụ cười:
– Mụ Lùn chết rồi. Ta mãn nguyện vì ta được thấy Mụ chết. Ta đã đánh lừa được Mụ…
Trong lòng bất nhẫn Hư Trúc nói:
– Thì Sư bá cũng đã giả chết đánh lừa được Sư thúc một lần rồi…
Trong trận kịch đấu dưới hầm băng Đồng Mỗ đã giả chết, nằm chịu đòn, Lý Thu Thủy tưởng Sư tỉ chết thật nên tới cúi xuống gỡ nhẫn sắt Chưởng môn Vô Vi phái ra khỏi tay Sư tỉ - Đồng Mỗ lấy nhẫn sắt này của Hư Trúc - bà bị Sư tỉ của bà quay lại đánh bà một chưởng vào ngực làm bà cũng nằm thẳng cẳng. Lý Thu Thủy thở dài:
– Ngươi sống gần Sư bá ngươi nên ngươi có thiên về Sư bá ngươi mấy thành..
Đến phút cuối cùng này Lý Thu Thủy mới nhìn thấy cuộn tranh trong mình Hư Trúc rơi ra. Bà hỏi chàng:
– Ngươi có cái gì đó?
Hư Trúc trả lời đây là bức tranh do Sư phụ Vô Nhai Tử của chàng trước khi tịch diệt trao cho chàng. Chàng mở tranh cho Lý Sư thúc xem. Tranh vẽ hình một nữ lang thật đẹp trạc hai mươi tuổi. Lý Thu Thủy xúc động nhìn người đẹp trong tranh…
Kim Dung lại dành cho ta một ngạc nhiên: Nữ lang trong tranh là Vương phu nhân, bà mẹ của Vương Ngọc Yến. Bà này cũng là môn đồ Vô Vi phái, là sư muội của Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy. Chưởng môn Vô Nhai Tử là sư huynh của bà. Sự đời rắc rối tơ… Đám sư huynh, sư tỉ, sư muội của cái gọi là Vô Vi phái yêu nhau, thù nhau loạn cào cào. Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy cùng yêu Vô Nhai, thù nhau, hại nhau vì Vô Nhai. Trong khi đó Vô Nhai Tử - coi bộ - yêu Vương Sư muội, và Vương Sư muội lại yêu Đại Lý Nam Vương Đoàn Chính Thuần… Chưởng môn Vô Vi - coi bộ - thất tình Vương Sư muội, trọn đời không có đàn bà nên chân khí, công lực còn nguyên vẹn chăm phần chăm.
Thương nhớ nàng Chưởng môn họa hình nàng mang theo trong người. Trước khi chết ông trao nhẫn sắt Chưởng môn cùng bức họa cho truyền nhân của ông là Hư Trúc.
Bức họa mỹ nhân của Vô Nhai Tử làm Lý Thu Thủy ngậm ngùi. Bà nói:
– Người trong hình là sư muội của ta và của Sư bá ngươi. Thì ra Sư huynh ta yêu Sư muội của ta…
Rồi khóc nức lên, bà kêu lớn:
– Sư tỉ ơi.. Hai chị em ta cùng bị con người vô lương tâm ấy lường gạt.. Chàng không yêu chị em mình, chàng yêu Vương sư muội của chúng ta..
Kêu lên mấy tiếng thê thảm ấy Lý Thu Thủy ngã ra chết. Lần này bà chết thật, bà chết đến nỗi trên đời này không ai còn có thể chết hơn bà được nữa…

Tại hạ sung sướng nhất khi ở trong hầm băng.
***
Những mùa tuyết rơi, tuyết phủ, tuyết tan theo nhau đến trên đỉnh Thiên Sơn. Vào một mùa xuân quần hùng tấp nập kéo nhau đến kinh đô Tây Hạ dự cuộc Công Chuá Tây Hạ tuyển phu, tức Công Chúa kén chồng.

Trong số quần hùng có mấy người bạn quen của chúng ta: Mộ Dung Phục - Mộ Dung Công Tử rất muốn làm Phò Mã Tây Hạ để có thể mượn binh lực Tây Hạ về khôi phục ngai vàng nước Yên, Đoàn Dự đến kinh đô Tây Hạ không cốt ý dự cuộc tuyển phu, chàng đến vì Vương Ngọc Yến đang ở trong hoàng cung Tây Hạ, Vương phu nhân là sư muội của Lý Hoàng hậu nên Vương cô nương và Công chúa Tây Hạ là chị em, Hư Trúc trở lại kinh đô Tây Hạ để sống lại những đêm ngà ngọc xưa trong hầm băng. Người dự cuộc tuyển phu của Công chuá chỉ phải trả lời có một câu hỏi:
– Ở đâu Các hạ thấy mình sung sướng nhất?
Mộ Dung Công Tử trả lời:
– Tại hạ sung sướng nhất khi ngồi trên ngai vàng nước Yên.
Đúng thôi. Nhưng đúng với Công Tử, không đúng với Công Chuá Tây Hạ. Công chuá chung tình ra câu hỏi để tìm Mộng Trung Lang, người tình trong mộng của nàng, nàng không cần người thích ngồi trên ngai vàng bất cứ nước nào. Đoàn Vương tử nước Đại Lý trả lời:
– Tại hạ sung sướng nhất khi ở dưới đáy giếng khô.
Cũng đúng thôi, Vương Ngọc Yến cô nương bị đánh rơi xuống giếng, Đoàn Vương tử nhẩy xuống giếng để cùng chết với nàng. Giếng cạn, không những chàng và nàng không chết mà chàng và nàng còn yêu nhau ra rít ở đáy giếng. Vương Ngọc Yến dự cuộc tuyển phu bên cạnh Công Chuá Tây Hạ. Nàng nghe được câu trả lời của Đoàn Vương tử. Xúc động nàng bằng lòng để chàng xúc tiến hôn lễ. Chàng gửi thư về kinh đô Đại Lý xin phép Phụ vương, Mẫu hậu cưới Vương Ngọc Yến, cuộc tình dẫn đến chuyện đổ bể tùm lum làm chàng lăn đùng, ngã ngửa: Vương Ngọc Yến cô nương là em cùng cha, khác mẹ với chàng…
Hư Trúc Tử, Chưởng Môn Vô Vi phái, Chủ nhân Linh Thứu Cung, cựu Tu sinh Thiếu Lâm Tự, trả lời:
– Tại hạ sung sướng nhất khi ở trong hầm băng.
Chuông trống nổi lên, hoàng gia hoan hỉ loan báo Công Chúa đã tuyển được Phò Mã. Giấc mơ tu thành chánh quả, dứt dục căn, thoát luân hồi, thuyền Từ thuận gió về Tây Trúc của Sư Chú Thiếu Lâm kiếp này tiêu tan trong tiếng pháo động phòng hoa chúc…