Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

Kẻ thù của người Tàu

Kẻ thù của người Tàu
Tác giả Bá Dương

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Tàu, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Tàu, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy Lạp thời nay với người Hy Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai Cập cũng vậy. Nhưng người Tàu hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Tàu cổ đại.
Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo ngược, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược. 
Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: “Làm người Tàu ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ đồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.
Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!
Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chói tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?.” Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Tàu nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Tàu nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Tàu nằm trong tay thế hệ các con đấy!”
Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời? Đến đời nào thì mới thật khá lên được?


Tại Tàu đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, giầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú.
Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.
Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?
Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Tàu (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?
Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái.
Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:
“Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!”
Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử.” Lại nhìn về trẻ con ở Tàu lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?
Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình.” Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.
Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.
Lúc chết, Chúa Giê Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu.” Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Tàu sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.
Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Tàu có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.
Tôi nghĩ người Tàu chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Tàu thoát khỏi khổ nạn?
Nguyên do vì sao?
Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Tàu có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.
Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!.” Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.
Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Tàu chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!
Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Tàu đến ở là những người khác phải dọn đi.
Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Paris sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!” (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Tàu). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!”
Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.
Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Tàu thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: “Chúng tôi đang thì thầm với nhau.”
Tại sao tiếng nói người Tàu lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?
Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Tàu bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.
Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Tàu. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.
Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại, người Tàu không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Tàu mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.
Cho nên, có thể nói, mỗi người Tàu đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Tàu ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi nơi không cần quan hệ với người khác thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Tàu họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Tàu có biệt tài đấu đá lẫn nhau.
Chỗ nào có người Tàu là có đấu đá, người Tàu vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Tàu không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Tàu vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.
Người Tàu không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.
Ở Tàu có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống.” Người đông thì dùng để làm gì? Người Tàu trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.
Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học. Anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước.
Ngày hôm sau tôi bảo:
“Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!” Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!” Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”
Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Tàu cắn xé nhau là một đặc tính nghiêm trọng.
Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Tàu tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Tàu với nhau. Bán rẻ người Tàu, hăm dọa người Tàu lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Malaysia có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Malaysia tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?” Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?”
Cho nên kẻ thù của người Tàu lại là người Tàu.
Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Tàu với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Tàu và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù.” Điều này phải chia làm hai phần:
Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy ngàn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.
Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Tàu thường đăng: “Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng Israel vẫn tổ chức bầu cử.
Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.
Tại Tàu chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco… Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở Israel cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Tàu thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!”
Người Tàu không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Tàu ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.
Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi.” Có ai nghe thấy người Tàu nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Tàu nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.
Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.
Người Tàu không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che giấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy ngẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai? Dĩ nhiên của đối phương.
Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!.” Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?
Người Tàu không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Tàu không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Tàu thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.
Họ liên miên khoa trương về dân Tàu, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Tàu, nào là có thể khuếch trương thế giới v.v… Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.
Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Tàu thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ “đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh: ND] thì người Tàu gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích).
Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Tàu lại độc ác và hạ lưu đến thế?”
Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!.”
Còn người Tàu sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.
Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.
Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.
Tàu diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Tàu lại có một tâm địa thật hẹp hòi.
Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Tàu có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Tàu không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?


Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Tàu đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.
Mọi người Tàu đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!”
Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Tàu và đã biến dân Tàu thành một dân tộc hèn mọn.
Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.
Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan ở Tàu không bao giờ bị tiêu diệt.
Trong truyền thống văn hóa Tàu, các vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Tàu mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.
Nơi nào người Tàu đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Tàu trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật “thích xem” (người khác đau khổ), hoặc “chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác.”
Họ luôn mồm “nhân nghĩa” mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: “Phải tử tế với người và súc vật!” Trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.
Tóm lại, người Tàu đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?
------------
Bá Dương, tác giả sách "người Trung Quốc xấu xí"

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2019

CÔ GÁI TÂY NGUYÊN



Một bài hát về Tây Nguyên thật hay.

Này người yêu ơi
Em không biết múa
Em không biết hát
Chỉ biết yêu anh thôi...
lặp đi lặp lại nghe mà... mê man cả người!

CÔ GÁI TÂY NGUYÊN - CÁP ANH TÀI


Cô gái Tây nguyên đi làm thủy lợi

Ê ….

Ngôi sao thức giấc là mặt trời đi ngủ
Hết mùa nước lũ là đến mùa nắng khô
Nắng vàng râu ngô mà Tây nguyên thiếu nước
Đến mùa mưa lại em xây mặt hồ

Em cất tiếng hát em gọi mặt trời
Mặt trời Tây nguyên núp sau ngọn đồi
Nghe em hát gọi mọi người
Cùng đi dân công, đi làm thủy lợi
Cho nước hồ thành mặt gương soi

Dòng người đi như đi như con suối
Dòng người xuống núi suối chảy thành sông
Dòng người mênh mông mênh mông mênh mông
Dòng người mênh mông như là biển cả

Ê …
Em không biết hát cho đôi tay anh đàn
Em không biết múa cho môi anh thổi kèn
Này người yêu ơi
Em không biết múa
Em không biết hát
Chỉ biết yêu anh thôi.



BÀ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC.


BÀ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC.
(theo FB Phan Khiêm)
Người hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Khoa học của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là nữ tiến sĩ khoa học Hoàng Thị Nga. Bà đỗ tiến sĩ vật lý tại trường Đại học Sorbonne (Paris). Khi nhậm chức (cuối năm 1945), bà khoảng 40 tuổi, người đẫy đà, mặt trái xoan trắng trẻo, mắt một mí, môi mỏng và trông hơi giống phụ nữ Nhật...
Có một hôm, bà hỏi tôi: “Ông Đào có thể giải thích cho tôi hiện tượng này không?” rồi bà chậm rãi trình bày như sau:
“Hôm nọ, có một người bạn dắt tôi tới nhà thầy bói Kế ở Khâm Thiên, nổi tiếng là đoán đúng tiền vận, hậu vận của con người. Ông ta hỏi ngày sinh, tháng đẻ rồi bấm ngón tay, lẩm bẩm. Ông ngẫm nghĩ một lúc rồi nói “Lần đầu tiên trong đời, tôi gặp một lá số thế này, rất khó đoán. Đương sự phải là người đỗ đạt cao, cử nhân tiến sĩ, nếu là nam giới thì không lạ, nhưng lại là nữ giới, thế mới kỳ…”. Tôi để ý thì thấy thầy bói Kế mù mắt, chắc chắn không nhìn thấy tôi mà cũng không nghe thấy tiếng tôi – chỉ có nguyên người bạn tôi nói, tôi chỉ ngồi dự thính… Rồi ông thầy tiếp tục nói đương sự có số đi xa…” Bà nói tiếp “Ở Pháp, tôi có biết nhiều thầy tướng mặt, tướng tay, nhưng thầy xem phải là thầy rất giỏi về tâm lý, vừa đoán vừa thăm dò phản ứng của khách. Còn đây, thầy xem là người mù chỉ dựa vào mấy con số mà đoán, thật là lạ”...

TS Hoàng Thị Nga (theo Wiki)
Được độ hai tháng sau khi khai trường, thì tôi không thấy bà đến trường làm việc nữa. Trước đó thường ngày bà đến rất đúng giờ vì nhà bà ở ngay phố Lý Thường Kiệt. Một số thầy giáo trong đó có tôi đã không hiểu tại sao? Ít lâu sau thì nghe tin bà đã rời Việt Nam về Pháp. Sau này, anh Phạm Mậu Quân, thầy giáo ở phòng Vật lý cùng bộ môn với bà có cho biết là anh có tới thăm bà thì được bà kể cho biết là một buổi sáng tới trường, bà bị một anh bộ đội giải phóng ... đứng gác cổng trường hỏi, chắc thấy bà quá dị dạng trong bộ Âu phục lạ mắt, “Ê, con me kia đi đâu?”, bà điềm tĩnh trả lời “Tôi là giám đốc trường Đại học Khoa học”. Anh này không chịu, hỏi tiếp “Giấy phép đâu?”, bà nói “Giấy phép tôi để ở nhà”. Anh này khoát tay súng “Không giấy phép, không được vào” và bà đã bỏ về nhà thẳng.
Tối hôm đó bà viết thư từ chức gửi lên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên. Nghe nói, sau vài hôm Hồ Chủ Tịch có mời bà tới gặp Người và thuyết giải nhưng không có kết quả. Bà đã trở lại Pháp tiếp tục làm việc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm vật lý Sorbonne. Sau khi biết chuyện này, chúng tôi cảm thấy đây quả là một phụ nữ Việt Nam “Cứng đầu, cứng cổ” danh bất hư truyền.
Trích hồi ký của cố GS Đào Văn Tiến. ( Tiasang.com.vn)
Bà Hoàng Thị Nga sinh năm 1903, con của quan Tuần phủ Hoàng Huân Trung, người làng Đông Ngạc, Hà Đông nổi tiếng. Bà lấy bằng TS hạng ưu năm 1935 với Luận án về tính chất điện quang của những chất thuộc về sinh vật.

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2019

Chopin - Nocturne op.9 No.2





Bản nhạc Nocturne Op.9 No.2 hình như cũng giống như tất cả các bản Nocturne của Chopin đều nhuốm màu u buồn.


Có sự lặp lại về giai điệu, với mỗi sự lặp lại, nó được làm phong phú hơn bởi những giai điệu được tô điểm kĩ lưỡng hơn bao giờ hết và những tiếng nói.

Bản nhạc như một điệu Vanes nhẹ nhàng, thướt tha, có một chút buồn sâu thẳm.

Tác phẩm phản ánh tâm trạng cho đến khi nó đột nhiên trở nên say mê lúc gần kết thúc. Đoạn kết thúc giai điệu bắt đầu nhẹ nhàng nhưng sau đó thăng lên một tầm cao hơn và được chơi một cách mạnh mẽ.

Bản dạ khúc đưa chúng ta vào một thế giới mộng mơ, nửa tỉnh nửa mê, tâm trí mơ hồ trong đêm tối với những tiếng đàn buông lơi, lãng đãng, dìu dặt và dồn dập. Mặc cho tất cả sự duyên dáng, quyến rũ và đơn giản.

Và như nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ piano vĩ đại Franz Liszt từng viết  “Chỉ duy nhất một thiên tài như Chopin mới đem lại cho thể loại dạ khúc tính chất nhạy cảm tinh tế và tình yêu mãnh liệt, nồng cháy đến thế. Các dạ khúc thơ mộng của Chopin không chỉ hát lên những bài ca du dương lòng người với những hoài niệm thanh cao dịu ngọt, mà còn lay động đến tâm trí con người những nỗi day dứt hoang mang đến khó thở”.



-----




Mời bạn nghe thêm Valentina Evgenievna Lisitsa biểu diễn.

Saint-Saens: The Swan (Le Cygne)


CHARLES-CAMILLE SAINT-SAËNS VÀ GIAI ĐIỆU “THIÊN NGA” (LE CYGNE)

Bản nhạc Le Cygne, hay Thiên Nga là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, và nổi tiếng nhất trong tập nhạc 14 chương “The Carnival of The Animals” của nhà soạn nhạc người Pháp Camille Saint-Saens. Được viết cho cello chơi trên nền hòa âm của hai đàn piano. Một piano thể hiện tiếng mặt nước lao xao, một piano thể hiện tiếng sóng cuồn cuộn. Giai điệu mượt mà, du dương tuyệt đẹp của bản nhạc này được ví như con thiên nga đang lướt nhẹ nhàng và duyên dáng trên mặt hồ.
Thiên nga được viết tặng nghệ sĩ cello Charles-Joseph Lebouc đang về già, người nổi tiếng vì nghệ thuật trình diễn và vì là con rể của ca sĩ nổi tiếng Adolphe Nourrit. Saint-Saëns đã hứa soạn một tác phẩm solo dành cho nghệ sĩ này nhiều năm trước nhưng ông đã trì hoãn dự định đó. Đến thời điểm Saint-Saëns soạn Ngày hội của muông thú, Lebouc đã trở thành một đề tài bông đùa trong giới trình diễn đàn dây vì tuổi tác đã khiến ông trình diễn tồi đi. Một lần, ông đã trình diễn Thiên nga với vẻ êm ái cao độ khiến những đồng nghiệp chơi cello phải chú ý tới sự kỹ lưỡng trong cách chơi của ông.
Thiên nga
Thiên nga vừa ngồi vừa bơi được,
Đội mũ miện chỉ vì kiêu thôi mà,
Soi gương đi, soi gương lại rồi ca :
“Ta chưa từng nghe về Pavlova.”

Trong đoạn thơ tương ứng với khúc nhạc Thiên nga, Frederic Ogden Nash có nhắc đến nữ diễn viên ballet huyền thoại người Nga Anna Pavlova (1881 – 1931). Lấy cảm hứng từ những con thiên nga trong công viên, Anna Pavlova đã cộng tác với biên đạo múa Michel Fokine để sáng tạo ra một vũ điệu ballet solo nổi tiếng có tên La Mort du Cygne (Cái chết của thiên nga). Kịch bản ballet này được dựa theo một bài thơ của Alfred Tennyson mà Michel Fokine đọc được còn nhạc nền chính là Thiên nga của Saint-Saëns.
(Nguồn: nhaccodien.info)






Nhớ cảnh Anna Pavlova yêu thích ballet rất nhiều và yêu vũ khúc nay. Những lời cuối cùng của cô khi cô nằm chờ chết? "Chuẩn bị trang phục 'Swan' của tôi."




Cái chết của thiên nga qua phần trình diễn được nhận xét là hoàn mỹ nhất cho tới nay của nghệ sĩ Uliana Lopatkina.

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

Hương Tích

Ảnh Suối Yến, năm 1927.





























-----------------
Hương Tích thập kỉ 90, TK XX.
Tác giả các bức ảnh.



----------------------------------------------

Sơ đồ Hương Tích


Theo đường bộ, ta có thể xuống đò đi Tuyết Sơn


Ta đến bến đò Tuyết Sơn




-----------

Từ bến Đục.



Trên Suối Yến.


Bến đò trước Đền Trình Ngũ Nhạc năm 1996; lúc ấy rất vắng khách hành hương




Từ Đền trình Ngũ Nhạc theo suối Yến rẽ trái về chùa Long Vân, còn đi tiếp qua cầu Hội.

Vào Thanh Sơn, Hương Đài.



Lên đò Bến Trò, gặp Thiên Trù.










Rẽ trái theo đường núi về Hinh Bồng.




Đi thẳng.





Tiếp sẽ là Đại Binh, Tiên Sơn, Giả Oan, Hương Tích.
Còn bầy giờ nhiều công trình lắm, xin bạn lựa chọn mà đi.





Tam quan trên đường từ chùa Giải Oan đến chùa chính, nay khác xưa rồi.






Võ Phiến, “Anh Bình Định”


Một lần vào Phú Yên, Bình Định, nhớ mãi mảnh đất nơi này dược dựng xây mở cõi với những đau thương của từng đế chế theo dòng lịch sử.
Gặp bài viết của bạn Phạm Hòai Nhân giới thiệu: Đọc lại một tùy bút rất hay và dễ thương của nhà văn Võ Phiến (1925-2015), viết về anh Bình Định. Đăng lại để những anh quê ở Bình Định thấy thích. Riêng tui thì chỉ có gốc gác từ thời ông nội là anh Bình Định thôi, có điều ông nội tui đúng là sinh ở Phù Mỹ, Bình Định - nơi sinh của Võ Phiến! Chép lại để nhớ những kỷ niệm xưa.-----

Bình, Phú quyến luyến nhau, thì ra vì thế.
Ngoài những dấu vết trong ca dao như kể sau đây, quan hệ tình cảm đặc biệt này còn có thể thấy nơi một vật cụ thể là cái bánh tráng Bình Định mà người Phú Yên ăn rất nhiều.(1)
Dân Khánh Hòa có thể kêu: ơ, chúng tôi cũng có ăn nhiều loại bánh tráng đó mà. Thì cha ăn, mẹ ăn, nên con ăn chứ sao.
Cái miếng ăn, nó là lịch sử rành rành!
(Thu Tứ)
(1) Đây là loại bánh tráng chỉ phổ biến trong vùng Bình - Phú - Khánh. Nó dày hơn hẳn bánh tráng trong Nam ngoài Bắc, hoàn toàn không mặn, dùng ăn thay cơm, có thể không cuốn gì cả, có thể cuốn cá trụng hay thịt bò lụi. Nước chấm là nước mắm hoặc nguyên chất hoặc có pha nước cá ngừ cá nục kho hoặc có dằm me ngào; nếu cuốn thịt bò lụi thì chấm tương đậu phộng. Than ôi, năm 2018, theo chúng tôi biết thì nó coi như đã qua đời rồi.
Chân dung Võ Phiến in trang bìa của Văn ...
qua ống kính Trần Cao Lĩnh

Võ Phiến, “Anh Bình Định”
Ðề tựa một cuốn sách của ông Nguyễn Ðình Tư, ông Nguyễn Hiến Lê cho biết đã từng muốn kiếm một khu vườn ở Vũng Lắm hay Xuân Ðài.
Vị học giả từ đất Bắc vào toan mua vườn làm nhà ở Phú Yên vì ông “thương” cảnh đẹp Phú Yên, muốn thưởng ngoạn cho thỏa thích. (Thương là chữ của ông Nguyễn, nhại một tiếng trong ca dao địa phương). Là dân Bình Ðịnh, tôi có hơn ông Nguyễn thêm một lý do nữa để lưu luyến Phú Yên: ở đây, người ta “thương” trai Bình Ðịnh.
“Người ta” là con gái, thế mới càng thú vị. Thú vị và hiếm có. Bởi vì trong văn chương bình dân của từng địa phương không dễ tìm ra một câu thắm thiết tình tứ của miền này hướng về miền kia như câu hát của gái Phú Yên:
“Anh về Bình Ðịnh chi lâu,
Chiều chiều em đứng hàng dâu ngó chừng.
Hai hàng nước mắt rưng rưng,
Chàng xa thiếp cách giậm chưn kêu trời”.

Tìm đâu cho được những câu như thế? Câu hát về trai Quảng gái Huế chăng? Chẳng hạn:
“Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành”.

Nhưng thực ra ở đây chỉ có chàng trai xứ Quảng bị “chọc quê”, chứ không hề có tình cảm của cô gái Huế.
Còn về cô gái Phú Yên thì cái tình cảm của cô không còn có thể ngờ vực gì nữa: câu hát trên đây không phải là ngẫu nhiên, là trường hợp duy nhất. Người ta bắt gặp nhiều câu tương tự: hoặc cô dặn “anh” mua cho cô một chiếc nón lá dày làm quà Bình Ðịnh, hoặc cô trách “anh” bỏ cô kéo vải hái dâu một mình hơi lâu v.v. Tình cảm quí báu nọ được xác nhận đi xác nhận lại nhiều lần.
Vì gái Phú Yên đa tình chăng? - Sự thực gái Phú Yên chỉ mới mang tiếng đa tình từ khi bị Tản Ðà xem tướng.(1) Nhưng con mắt Phú Yên dù có đa tình, mắt ấy cũng chưa từng “ngó chừng” theo ông Tản Ðà. Chỉ có câu chuyện “đứng hàng dâu ngó chừng” theo anh Bình Ðịnh!
Vì anh Bình Ðịnh gần gũi, vì lửa gần rơm chăng? - Không phải thế. Tỉnh Phú Yên còn một mặt giáp giới tỉnh Phú Bổn, một mặt giáp giới tỉnh Khánh Hòa: những gần gũi ấy chưa lưu một vết tình cảm nào, ít ra là trong văn chương truyền khẩu. Gái Phú Yên không tỏ ra đa tình với một ai khác, chỉ đa tình với trai Bình Ðịnh mà thôi.
Vả lại, Bình Ðịnh còn một mặt giáp giới Pleiku, một mặt giáp giới Quảng Ngãi: ca dao ở cả Quảng Ngãi lẫn Bình Ðịnh đều không đề cập đến một liên hệ tình cảm nào giữa bên nầy và bên kia đèo Bình Ðê.
Cái tình của gái Phú Yên đã là tình chuyên nhất lại là tình lâu bền, trải qua nhiều thế hệ. Tại Khánh Hòa có câu hát:
“Anh về Bình Ðịnh thăm cha,
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em”.

Từ thế hệ trước, cha Bình Ðịnh đã gặp mẹ Phú Yên! Làm sao cắt nghĩa được mối duyên nợ truyền kiếp này?
Dân tộc mở rộng bờ cõi về phương Nam làm nhiều đợt, chúng ta dừng lại ở Thanh Hóa thật lâu từ đầu Công nguyên; đến thế kỷ thứ VII thứ VIII tiến vào Nghệ An, Hà Tĩnh; đến thế kỷ thứ XI, vào Quảng Bình, Quảng Trị; thế kỷ thứ XV, tiến vào Bình Định; thế kỷ thứ XVI, XVII thanh toán đất Chiêm Thành; sau cùng, sang thế kỷ XVIII, thì chiếm luôn Chân Lạp.
Cứ tiến lên một chặng lại nghỉ ít lâu, rồi tiến chặng nữa. Kể ra là sáu chặng; nhưng sáu chặng ấy có thể phân làm hai thời kỳ khác nhau: Thứ nhất, từ đèo Cù Mông trở ra, cuộc chinh phục và mở mang thuộc công lao các triều vua đóng đô ở ngoài Bắc. Thứ nhì, từ đèo Cù Mông trở vào, thuộc công lao các vua chúa nhà Nguyễn.
Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh chiếm thành Ðồ Bàn, tiến tận đèo Ðại Lãnh, nhưng rồi chỉ giữ lại để cai trị phần đất phía bắc đèo Cù Mông. Năm 1611, Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành, lập ra đất Phú Yên. Vào giữa khoảng thời gian hơn trăm năm ấy xảy ra việc Nguyễn Hoàng vào trấn đóng Thuận Hóa năm 1558 với ý định chia đôi sơn hà, gián đoạn sự liên lạc Nam Bắc.
Trong thời kỳ Nam tiến thứ nhất, mỗi lần chinh phục được đất mới, thì triều đình ngoài Bắc đưa người từ các tỉnh ngoài đó vào mở mang; cứ thế đến tận thế kỷ XVI. Vì vậy, dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, trong buổi đầu phần đông có nguồn gốc trực tiếp ở Bắc, hay ở bắc Trung phần. Nhiều nhân vật đã lập nên nghiệp lớn ở Bình Ðịnh vốn là người đàng ngoài: Ðào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tấn (gốc Thanh Hóa), Lê Ðại Cương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (gốc Nghệ An) v.v.

Trong thời kỳ thứ hai, vào đến Phú Yên, không còn tình trạng ấy nữa. Khi Nguyễn Hoàng lấy được Phú Yên thì Nam Bắc đã chia biệt, không còn lấy được người Bắc đưa vào Phú Yên. Những đợt di dân đầu, chúa Nguyễn có thể đưa người Thuận Quảng vào; nhưng sau đó, liên tiếp trong mấy trăm năm, hầu hết có lẽ là việc di dân tự động của người Bình Ðịnh. Nhân vật Phú Yên được lưu danh, ngoài vị thành hoàng mở đất (Lương Văn Chánh), không có ai là gốc ở Ðàng Ngoài. Có chăng chỉ những người từ Bình Ðịnh vào, như Châu Văn Tiếp, như Võ Trứ...
Phải chăng vì vậy mà có cái tình khắng khít giữa Phú Yên với Bình Ðịnh?
Di dân ở thời kỳ trước, từ Thanh Nghệ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, không gây nên cái tình cảm ràng buộc hai miền như di dân ở thời kỳ sau từ Bình Ðịnh vào Phú Yên; nói cách khác, không có ái tình Thanh Quảng hay Nghệ Quảng trong ca dao mà chỉ có ái tình Bình Phú trong ca dao. Như thế là vì lối di dân mỗi thời mỗi khác.
Thời trước, từ Bắc vào đất mới quá xa. Dân Thanh Nghệ vào Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (Bình Ðịnh) hoặc tuân theo chiếu vua kêu gọi, hoặc vì mang án lưu hình v.v., đã đi là đi luôn, đi để lập nghiệp ở các miền đất mới, không tính ngày về. Thậm chí đời nhà Hồ, di dân phải thích hai chữ tên châu mình lên cánh tay. Ra đi như thế là từ bỏ một quê hương để nhận lấy cho mình một quê hương mới. Trước chuyến đi là dân Nghệ, dân Thanh; sau chuyến đi tức khắc thành hẳn một thành phần của dân Quảng, dân Bình Ðịnh.
Trái lại, vào thời sau, trong những cuộc di dân tự động, “anh Bình Ðịnh” vào Phú Yên làm ăn, “thương” cảnh Phú Yên, “thương” người Phú Yên, ăn ở với em Phú Yên nhưng vẫn không rời bỏ hẳn quê hương Bình Ðịnh sát kề. Ngoài đó còn có cha mẹ, có mồ mả tổ tiên, có cả những dính líu về tài sản ruộng đất nữa. Ngày giỗ ngày kỵ, những dịp chia ruộng bán nhà v.v., anh không thể vắng mặt. Một bổn hai quê, anh Bình Ðịnh đi đi về về mãi, khiến em Phú Yên phải giậm chân kêu trời. Như thế cho đến một ngày kia, khi anh đã con đàn cháu lũ đùm đề, gánh gia đình cũng như sản nghiệp tạo dựng của anh ở quê vợ đã quá nặng quá lớn, đủ thu hút tất cả thì giờ, tâm trí, cùng sự hoạt động của anh, khi tuổi anh đã cao, sức anh đã suy sút, bấy giờ anh mới đành chịu định cư hẳn ở Phú Yên, lấy quê vợ làm quê mình. (Nhưng bấy giờ lại đến lượt đứa con trai của anh, theo tiếng gọi phương Nam, nó lên đường vào Khánh Hòa làm ăn và lại gặp một em ở trong đó. Cha Bình Ðịnh, mẹ Phú Yên, vợ Khánh Hòa: cuộc Nam tiến cứ thế tiếp diễn...).
Thành thử anh Bình Ðịnh hấp dẫn, đầu đuôi chỉ vì một lối di dân nhì nhằng.

(Võ Phiến, 
Đất nước quê hương, SG, 1973)

____________
(1) “Ða tình con mắt Phú Yên” (thơ Tản Ðà).