Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc trong 10 từ vựng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc trong 10 từ vựng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

Giới thiệu tác phẩm mới của Dư Hoa “Trung Quốc trong 10 Chữ”

Nhà văn Dư Hoa

Giới thiệu tác phẩm mới của Dư Hoa “Trung Quốc trong 10 Chữ”

Đào Trung Đạo

Dư Hoa là nhà văn trung niên được đọc “lậu” nhiều nhất ở Trung Quốc trong vòng 20 năm nay. Gọi là đọc lậu vì sách của Dư Hoa tuy chỉ được in ấn và lưu hành ở Hồng Kông nhưng vẫn lọt vào nội địa. Quyển Huynh Đệ của Dư Hoa cũng đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản ở trong nước. Quyển tiểu thuyết đồ sộ này là tác phẩm thứ ba được dịch sang Anh ngữ sau các cuốn Chuyện Người Bán Máu, Khóc Trong Mưa Phùn, và Sống. “Trung Quốc trong Mười Chữ” (China in Ten Words) tác phẩm mới nhất của Dư Hoa được xuất bản ở Mỹ vào tháng 11 năm nay là một cuốn luận văn ngắn.

Dư Hoa sinh năm 1960 ở Triết Giang, Trung Quốc. Khi 18 tuổi, sau một thời gian được huấn luyện làm nha công, họ Dư hành nghề khoảng 5 năm rồi bỏ nghề; phần vì làm nha công không những suốt ngày cứ phải “nhìn vào mồm thiên hạ” mà còn kiếm được ít tiền nên khi thấy những cán bộ nhà nước làm cho Trung Tâm Văn Hóa cả ngày chỉ lang thang rong chơi mà lương bổng lại khấm khá, Dư Hoa xoay được một chân trong một trung tâm văn hóa và bắt đầu viết lách. Tên tuổi của Dư Hoa nổi như cồn khi tiểu thuyết Sống được đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu đưa lên màn bạc. Cuốn phim này được trình chiếu và được trao giải ở Đại Hội Điện Ảnh Cannes năm 1995. Dư Hoa cũng được trao giải văn chương Mao Thuẫn.

Tuy không được đào tạo chính qui về văn chương nhưng Dư Hoa là một người viết chịu khó đọc để học hỏi các nhà văn nổi tiếng thế giới như Fyodor Dostoievsky, William Faulkner, Toni Morrison… (dĩ nhiên chỉ đọc được những nhà văn này qua các bản dịch Trung văn.) Với những tác phẩm viết trước năm 1992 Dư Hoa được coi là nhà văn tiền phong, hiện đại trong văn phong cũng như đề tài. Nhưng từ sau quyển Huynh Đệ, Dư Hoa ngả sang lối viết hiện thực phê phán xã hội, châm biếm theo kiểu Lỗ Tấn trước đây. Tuy không có được căn bản học thuật như Lỗ Tấn nhưng bù lại Dư Hoa lại có sự can đảm cất lên tiếng nói phản biện, thẳng thắn trình bày sự thực.

“Trung Quốc trong 10 Chữ” được Allan H. Barr dịch sang Anh ngữ (China in Ten Words) và được độc giả Mỹ đón nhận khá nồng nhiệt phần vì quyển sách ra mắt đúng thời vụ vào lúc người Mỹ cũng như dân chúng nhiều nước trên thế giới đang chú ý tới Trung Quốc vì nước này có thái độ hung hăng trong vụ tranh chấp Biển Đông mới đây và chính sách trở lại Á Châu của chính quyền Obama. Chúng tôi muốn giới thiệu “Trung Quốc trong Mười Chữ” của Dư Hoa vì thấy có khá nhiều sự việc xảy ra ở Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại rất giống những điều Dư Hoa viết về Trung Quốc. Hơn nữa, cái nhìn hiện thực phê phán của Dư Hoa cũng đáng xem xét để có một bức tranh về những xã hội còn do Đảng Cộng Sản độc quyền cai trị.

Mười chữ Dư Hoa dùng để tóm thực tại xã hội Trung Quốc là: Nhân Dân, Nhà Lãnh Đạo, Đọc, Viết, Lỗ Tấn, Cách Mạng, Cách Biệt Giàu Nghèo, Cùng Đinh, Bắt Chước Rởm, và Bịp. Chúng tôi xin tóm lược những chương quan trọng để đối chiếu với thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay.

Trong chương mở đầu “Nhân Dân” Dư Hoa tự thú cho đến hôm nay khi viết hai chữ này xuống anh vẫn còn cảm thấy nghi ngờ không hiểu mình viết có đúng không vì chữ này đối với anh vừa xa lạ vừa thân quen, và chữ này có lẽ cũng còn là một chữ kỳ quái nhất trong tiếng Hoa: nó hiện diện khắp nơi nhưng hóa ra lại vô hình. Chữ này luôn xuất hiện trên môi các quan chức còn dân chúng lại ít khi dùng tới. Dư Hoa mỉa mai:

“Chúng ta phải ghi công những quan chức này vì nhờ họ mà chúng ta còn chứng tỏ được chữ này vẫn được dùng tới.” Trong quá khứ chữ này rất nặng ký vì tên nước cũng được đặt là Công Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Mao chủ tịch bảo chúng ta phải “phục vụ nhân dân”, tờ báo quan trọng nhất của Đảng cũng có tên gọi là Nhân Dân Nhật Báo. Và từ năm 1949 chúng ta được dạy rằng “nhân dân là chủ nhân” đất nước. Hai chữ nhân dân cũng tuyệt với như ba chữ “Mao Chủ Tịch” vậy. Thế rồi thời thế đổi thay. Khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa (CMVH) nếu bạn nói hai chữ nhân dân ra thì nguời khác nhìn bạn với thái độ nghi ngờ vì có lẽ bạn nói trật tuy chẳng có ai phản đối bạn. Trong giai đoạn này người dân hết sức giữ mồm giữ miệng, sơ xảy là bị vu cáo là “phản cách mạng” và bị cho vào tù ngay.

十个词汇里的中国 - Trung Quốc trong 10 từ vựng - China in Ten Words -

十个词汇里的中国

Năm 2012, tôi biết đến cuốn Hoa Lục trong Mười Chữ của nhà văn Dư Hoa (Yu Hua) qua giới thiệu của bạn Hải Hà trên website gio-o.com. 

Đọc một phần tác phẩm, thấy " Thủ giống thủ, xôi giống xôi" thật là tâm đắc.

Sau đó, qua bác Vũ Nho giới thiệu tôi tìm đọc trên trang nhà bác Vũ Công Hoan phần Nhân Dân và Lãnh Tụ. Sau này quen biết nhà văn Triệu Xuân, một người cùng tuổi lại đồng hương nên hàng ngày vào website của bác đọc say mê (một website thật đồ sộ và phong phú). Tìm mục 'Dư Hoa' và đọc được đầy đủ tác phẩm này. Hiềm nổi, một trang web văn học đứng đắn vậy mà nhà mạng VNPT luôn chặn. Hôm nay, đọc qua mạng FPT, xin phép chủ trang chép về nhà để mọi người cùng đọc. 

Trong gio-0 dịch là Hoa Lục trong Mười Chữ, nhà văn Vũ Công Hoan dịch là Trung Quốc trong 10 từ vựng.
Quyển sách “China in Ten Words (Hoa Lục Trong Mười Chữ)” của Dư Hoa được xuất bản ở Đài Loan và bằng tiếng Anh ở Hoa Kỳ năm 2011.  

Được viết theo thể loại tiểu luận pha hồi ký, quyển sách có mười chương; mỗi chương dùng một chữ làm tiểu đề, bao gồm People (Nhân Dân), Leader (Lãnh Tụ), Reading (Đọc Sách), Writing (Viết Văn), Lu Xun (Lỗ Tấn), Revolution (Cách Mạng), Disparity (Chênh Lệch), Grassroots (Dân Quèn[1]), Copycat (Bắt Chước), và Bamboozle (Lường Gạt). Dư Hoa bảo rằng để nói cho tận tường mọi khía cạnh về đất nước của ông, có lẽ quyển sách sẽ dài như quyển Một Ngàn Lẻ Một Đêm. Ông chọn mười chữ như mười đôi mắt đặt ở những vị trí thuận lợi giúp ông quan sát và phân tích nhiều khía cạnh, tích cực lẫn tiêu cực của xã hội, lịch sử, chính trị, văn hóa, và kinh tế của Hoa Lục. Với sự nhạy cảm của một nhà văn, Dư Hoa đau cùng với cái đau của Trung quốc. Nói đến nỗi đau của Hoa Lục, thoạt tiên nghe chừng như nghịch lý, vì Hoa Lục hiện nay là một quốc gia siêu cường đứng hàng nhất nhì trên thế giới; nhưng theo Dư Hoa, xã hội Hoa Lục chứa nhiều ung thối, bệnh hoạn đến mức đang ở bên bờ vực tự hủy hoại.
Trong blogspot của tôi có 13 bài, có 2 cặp bài lăp, các bạn có thể đọc 11 bài sau. Các mục từ theo bản của nhà văn Vũ Công Hoan.


01. Nhân Dân. (人民 - People)

02. Lãnh Tụ. (领袖 -  Leader)

03. Đọc sách. (阅读 - Reading)

04. Viết văn (写作 - Writing; trong gio-o dịch là Sáng tác)

05. Lỗ Tấn. (鲁迅 - Lu Xun)

06. Khoảng cách  (差距 - Disparity;  Cách Biệt Giàu Nghèo; trong gio-o dịch là Chênh lệch).

07. Cách mạng (革命 - Revolution)

08. Thảo dân (草根 - Grassroots; Cùng Đinh trong gio-o dịch là Dân quèn)

09. Sơn trại  (山寨 - Copycat; Bắt Chước, Bắt Chước Rởm)

10. Nói xạo   (忽悠 - Bamboozle, Bịp; Lường gạt, NV Vũ Công Hoan dịch là Tán dóc, NV Triệu Xuân cho là Nói xạo)

Đọc thêm.

Giới thiệu tác phẩm mới của Dư Hoa “Trung Quốc trong 10 Chữ”

-------------------------------------------------

Trung Quốc trong 10 từ vựng (10): Nói xạo

Một hình ảnh cổ động cho Đại nhảy vọt năm 1958


Dư Hoa

10. Nói xạo

“Hu you” là phát âm Latinh tiếng Trung, âm Hán Việt là “Hốt du”, ý tứ ban đầu là lướt nhẹ nhàng, hoặc lay động bất định, chập chà chập chờn, ví dụ chiếc thuyền trên biển dập dà dập dềnh, hay chiếc lá cứ chao đi chao lại, rung ra rung rinh, khe khẽ lắc trong gió. Về sau nó trở thành tục ngữ thịnh hành ở vùng đông bắc Trung Quốc. Trở thành tục ngữ, “hốt du” phát âm giống như “hồ dụ”, có nghĩa là dẫn dụ lung tung, y như bệnh lây lan, luôn xuất hiện siêu vi trùng biến dị. Trong đời sống về sau này của từ vựng “hốt du” đã biến đổi thành hàm nghĩa khiến ta chóng mặt hoa mắt. Nói bốc nói khoác và lấy lòng mọi người gọi là “hốt du”, khéo gài hầm chông cạm bẫy và đánh lừa người ta cũng gọi là “hốt du”. Ý cái trước là bốc khoác, cổ động và dung túng, ý cái sau là nói bậy nói láo, đồn nhảm, lừa gạt, lại còn có ý là vui tếu dí dỏm, đùa cợt trêu ghẹo, dựng chuyện, ăn không nói có, đầu cơ trục lợi. Tóm lại sau khi “hốt du” trở hành tục ngữ có thể gọi chung là “tán dóc”(1). (Nhà văn Triệu Xuân: Theo ý tứ trong bài thì nên dịch là nói dóc; người Nam gọi là nói xạo, ba xạo).

Ở Trung Quốc hiện nay, “tán dóc” đã là từ vựng mới, quí trong tiếng Hán, địa vị giang hồ của nó có thể so sánh với “sơn trại”. Hai từ này đều là những “hộ phất lên trông thấy” trong từ vựng, nhưng lịch sử phát tích của chúng có khác nhau. Hiện tượng “sơn trại” xuất hiện như măng mọc sau trận mưa xuân bằng phương thức chủ nghĩa tập thể. Sự thịnh hành của “tán dóc” bắt nguồn từ chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Vị anh hùng này là Triệu Bản Sơn đến từ vùng đông bắc, một nghệ sĩ hài, một ngôi sao gây cười có ảnh hưởng nhất Trung Quốc. Trong tiểu phẩm “Đánh lừa”- kịch vui nhộn nổi tiếng của mình, Triệu Bản Sơn đã long trọng tung ra từ “tán dóc”. Ông gọi nó là: tôi có thể tán dóc, biến thẳng thành xiên, biến héo rũ thành tươi vui, biến đanh đá, the thé thành ngập ngừng lúng túng, biến hai vợ chồng trẻ đang sống rất hòa hợp thành chia lìa. Hôm nay tôi “tán dóc”, hai chân bạn đang nguyên vẹn hẳn hoi có thể biến thành què thọt!

Câu chuyện “tán dóc” chính là thông qua lớp lớp “tán dóc”, hay nói cách khác là bày ra liên tiếp hết hầm chông này đến cạm bẫy khác về tâm lý, để phát huy một cách tinh tế sâu sắc những cú đánh lừa, cổ vũ, dung túng và xỏ xiên nói xằng nói bậy, khiến một người hai chân đang lành lặn hẳn hoi cảm thấy mình què quặt, từ đó mà bỏ tiền mua một cái gậy chắc bền.

Những tiểu phẩm kịch vui tinh tế sâu sắc khiến người xem cứ ôm bụng mà cười, mấy năm trước, sau khi phát trong đêm xuân ba mươi Tết có tần số nghe nhìn cao nhất trên CCTV, từ “tán dóc” đã lập tức loang ra cả nước. Một hòn đá ném xuống tung lên muôn lớp sóng, khiến các hiện tượng bốc khoác, cổ vũ, dung túng, nói láo, đồn nhảm, bịp bợm, trêu chọc, nhạo báng, vui đùa tồn tại lâu nay đã ào ào trỗi dậy trong biển nghĩa từ ‘tán dóc”. Đồng thời những tâm tư tâm trạng không nghiêm chỉnh, bôi bác và xỏ xiên, thiên thối, lèo lá, gây cười trong xã hội cũng mở cờ gióng trống trong “tán dóc”. Từ vốn mang nghĩa xấu sau khi đi vào cửa “tán dóc” đã lần lượt được thân phận của từ trung tính.

Triệu Bản Sơ đã làm cho già trẻ gái trai Trung Quốc há mồm, ngậm mồm đều là “tán dóc”. “Tán dóc” hình như nước bọt ở trong miệng mọi người, lại giống như nước bọt từ trong miệng bắn ra. Chính trị, lịch sử, kinh tế, xã hội văn hóa, ký ức, tình cảm, ham muốn... tất tần tật đều có thể nhẩy “tăng gô”, lướt nhẹ nhàng trong “tán dóc”. “Tán dóc” đã trở thành chìa khóa vạn năng, một khi đi vào kho từ, có thể mở toang hết cửa này đến cửa khác của nghĩa từ hữu quan với nó.

Đương nhiên, “tán dóc” không phải luôn tiêu cực, cũng có khi tích cực. Khi có người quay lại chuyện xưa, từ “tán dóc” có thể dùng để sửa lại chuyện đánh lừa nối dối nghĩa xấu trước đó. Mẹ tôi là một ví dụ như thế.

Thời kỳ sau thập niên 1950, để tiêu diệt hoàn toàn bệnh sốt rét, Mao Trạch Đông đã tổ chức các y tá hộ sĩ trong thành phố thành các đội điều trị, thời ấy gọi là đại đội phòng dịch đi về nông thôn nghèo khổ và thiếu thầy, thiếu thuốc, chữa bệnh sốt rét miễn phí cho bà con nông dân.

Bố tôi lúc bấy giờ sống ở Hàng Châu xinh đẹp. Ông công tác ở trạm phòng dịch tỉnh Triết Giang. Bố tôi cả đời chỉ đi học có sáu năm, ba năm trường tư thục, còn ba năm là giáo dục đại học chính quy. Chương trình học ở giữa là do ông tự học khi làm y tá trong quân đội Đảng cộng sản. Trong chiến tranh, ông thu được một quyển tự điển, trên đường hành quân, ông vừa đi, vừa ghi từ mới. Đơn vị của ông dọc đường đánh đến tỉnh Phúc Kiến miền nam Trung Quốc. Sau đó lại quay về Hàng Châu Triết Giang, chuyển ngành làm công tác tại bệnh viện địa phương, trở thành một nam y sĩ. Tại đấy ông quen một nữ y tá, chính là mẹ tôi. Mẹ tôi dạy ông học số học, vật lý và hóa học, sau đó nhờ nỗ lực không mệt mỏi của bản thân, ông đã thi đậu đại học y khoa Triết Giang, học ba năm chương trình đại học. Sau khi tốt nghiệp ra trường, ông không muốn tiếp tục công tác ở trạm phòng dịch tỉnh. Nguyện vọng lớn nhất của ông là làm một bác sĩ ngoại khoa. Nhưng ông không có quyền chọn công tác mình thích. Lãnh đạo yêu cầu ông đi trạm phòng dịch, ông đành phải đi.

Trong bối cảnh như thế, bố tôi gia nhập đại đội phòng dịch, bước đi đầu tiên để trở thành bác sĩ ngoại khoa. Nguyện vọng mãnh liệt này khiến ông không tiếc bỏ cuộc sống ở Hàng Châu. Là đội trưởng đại đội phòng dịch, sau khi đến địa khu Gia Hưng, ông đi ra khỏi đại đội phòng dịch, vào bệnh viện Gia Hưng. Nhưng lãnh đạo Gia Hưng lại hi vọng ông đi nhận giáo vụ trưởng trường y tế địa khu Gia Hưng. Bố tôi từ chối, đã đến huyện Hải Diêm nơi nhỏ bé hơn. Hải Diêm vừa thành lập bệnh viện huyện, không có bác sĩ ngoại khoa, cuối cùng bố tôi được toại nguyện.

Trong bệnh viện Hải Diêm, bố tôi trổ hết tài hoa, ông đã mổ cắt tạng lá lách cho rất nhiều người mắc bệnh sốt rét; toàn là những phẫu thuật lớn trong bệnh viện lớn của thành phố lớn, đều do bác sĩ chủ nhiệm khoa ngoại về phần bụng thân chinh cầm dao mổ; mà cũng toát hết mồ hôi, lần đầu tiên phải mổ trong bảy, tám tiếng đồng hồ. Trong bệnh viện Hải Diêm bố tôi mỗi ngày cắt bỏ tạng lá lách của bốn năm người bệnh. Sau khi tay nghề thành thục, một cuộc phẫu thuật bỏ tạng lá lách cũng phải hết khoảng ba bốn tiếng đồng hồ.

Thời đó mẹ tôi nuôi tôi và anh trai vẫn sống ở Hàng Châu. Mẹ tôi công tác trong bệnh viện Triết Giang tốt đẹp, hơn nữa bà rất yêu mến Hàng Châu, yêu mến Tây Hồ xinh đẹp, bà không muốn dời Hàng Châu.

Bố tôi mỗi ngày sau khi cắt bỏ mấy tạng lá lách, ngồi trong văn phòng nho nhỏ bên ngoài phòng mổ viết thư cho mẹ tôi bằng giấy kê đơn thuốc. Trong thư ông mô tả Hải Diêm như thiên đường. Tôi không được đọc những thư đó, nhưng sau khi tôi đi khỏi Hải Diêm, trong thư bố gửi cho tôi, tôi thấy giọng văn bố viết hay lắm, có thể bằng lối viết hay đó, ông đã mô tả Hải Diêm vừa nhỏ bé con con, vừa nhếch nhác thời đó như mô tả cảnh đẹp Hàng Châu. Những lời đường mật ngọt ngào đến kiến cũng phải bò ra khỏi lỗ liên tiếp tới tấp của bố tôi, đã khiến mẹ tôi động lòng tưởng thật, cứ tưởng Hải Diêm là Hàng Châu thu gọn. Bà đã quyết định bỏ cuộc sống ở Hàng Châu, đem anh em tôi đến Hải Diêm. Đối với mẹ tôi, đây là sự lựa chọn dũng cảm. Chế độ hộ tịch khắt khe nghiêm ngặt của xã hội Trung Quốc, trong thời đại trước bắt một người chỉ được sống và công tác ở một nơi, chỉ khi nào chết mới được đi khỏi, giống như một cái đinh sắt bị vĩnh viễn đóng tại chỗ, cho đến khi han rỉ đứt, mới cho phép dời đi. Mẹ tôi đã bỏ hộ khẩu ở Hàng Châu, bỏ luôn cả hộ khẩu của hai anh em tôi ở Hàng Châu. Khi mẹ tôi dẫn hai con trai của bà ngồi ô tô đường dài đi đến Hải Diêm, là bước lên con đường không bao giờ quay trở lại.

Trung Quốc trong 10 từ vựng (9) Sơn trại


Dư Hoa

9. SƠN TRẠI


Có thể từ rất nhiều góc độ khác nhau kể chuyện Trung Quốc đương đại. Ở đây tôi chọn kể chuyện sơn trại, vì nó là chuyện thần thoại quốc gia trên ý nghĩa dân gian.

Ý nghĩa đầu tiên trong tiếng Hán, thì từ sơn trại là chỉ những sơn trang xây công sự phòng thủ có hàng rao bao bọc, về sau phát triển thành chốn nghèo khổ, nơi cư trú của người nghèo và doanh trại mà các hảo hán rừng xanh cũng như bọn trộm cướp thổ phỉ ngày xưa chiếm giữ. Ngữ vựng này cũng có hàm nghĩa không bị quan chức nhà nước kiểm soát.

Điện thoại “shanzhai” (sơn trai) bán khắp các thành phố lớn ở Trung Quốc.

Những năm qua, đi đôi với sự lưu hành máy điện thoại di động Sơn Trại giá rẻ và tính năng hoàn hảo, từ “Sơn Trại” làm cho “mô phỏng” có hàm nghĩa hoàn toàn mới, đồng thời biên giới của nghĩa từ vốn có của “mô phỏng” cũng bị loại bỏ, con dấu thị thực không cần nghĩa từ như làm giả, xâm phạm bản quyền, không qui phạm, đùa cợt, trò xấu ... cũng có thể vượt biên đi vào “mô phỏng” trở thành thần dân của Sơn Trại. Có thể nói sơn trại là từ vựng có tinh thần chủ nghĩa vô chính phủ nhất trong tiếng Hán hiện nay.

Điện thoại di động ban đầu bắt chiếc tính năng và hình thức bên ngoài của mác sản phẩm như Nôkia, Sam sung. Sony- Ericsson, hơn nữa lấy cái giả làm rối loạn cái thật, mệnh danh sản phẩm của mình là Nkir, Samsing, suny- Ericcsun. Điện thoại di động sơn trại sao chép sản phẩm chính quy nên tiết kiệm được chi phí nghiên cứu mở mang, giá của nó chỉ bằng một phần năm sản phẩm chính qui, thậm chí rẻ hơn. Mà lại nhiều tính năng, kiểu dáng mới, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường của người tiêu dùng hạng vừa và hạng thấp.

Qui mô của ngành nghề sơn trại sau khi nhanh chóng mở rộng, mác sản phẩm điện thoại di động của nó cũng phong phú đa dạng, có một kiểu điện thoại di động sơn trại tung ra thị trường mới nhất, mượn danh của trường đại học Havớt của Mỹ, tự xưng là “Ha vơt thông tin” chế tạo, lại còn để tổng thống Mỹ Ôbama là người đại diện phát ngôn kiểu máy điện thoại di động sơn trại này, để ông Ôbama mỉm cười xuất hiện trên quảng cáo tuyên truyền điện thoại di động sơn trại. Nụ cười mỉm của Ôbama đã rải ra khắp các nơi trên thế giới, là nụ cười nổi tiếng nhất trên thế giơí hiện nay, cũng là nụ cười có quyền thế nhất, bây giờ lại được kẹp giữ trên quảng cáo máy điện thoại di động sơn trại của Trung Quốc. Trên quảng cáo điện thoai di động sơn trại, Ôbama mỉm cười nói:

- Cơn lốc 9500 Blok Benrri của tôi.

Ôbama là tượng trưng hôm nay của giấc mộng nước Mỹ chảy dàì mãi mãi, có lẽ ông ta vẫn không mộng tưởng được sự việc ly kỳ như thế này. Khi người Mỹ nhìn thấý tổng thống của họ lại là người đại diện phát ngôn quảng cáo điện thoại di động sơn trại Trung Quốc, có thể sẽ ngạc nhiên há mồm trợn mắt. Người Trung Quốc chúng tôi lại không cho là thế, sơn trại hóa Ôbama một cái có gì là không được? Trung Quốc ngày nay, ngoài người lãnh đạo đảng và nhà nước đang tại chức không được động đến, những người lãnh đạo đảng và nhà nước đã về hưu vẫn còn sống cũng không được động đến. Bất cứ người nào khác đều có thể bị sơn trại hóa, có thể bị đưa ra làm trò cười và trêu chọc, có thể bị tùy ý mô phỏng và tùy ý bôi bác.

Mạo Trạch Đông đã từng là lãnh tụ vĩ đại, người thầy vĩ đại, thống soái vĩ đại, tay lái vĩ đại, sau khi mất 43 năm, cũng giống như Ôbama, trở thành vai chính của quảng cáo sơn trại Trung Quốc. Ngày mồng 1 tháng 10 năm nay, hay nói cách khác nhân dịp quốc khánh 60 năm, hai bên cửa chính của một KTV ở nơi nào đó của Triết Giang, mỗi bên treo một áp phích sơn trại màu đỏ khổng lồ. Trên áp phích sơn trại Mạo Trạch Đông mặc quân phục, đầu đội mũ quân đội, tay cầm mi cơ rô, cất cao ca khúc màu đỏ. Tư thế hát của ông không hề có phong cách lãnh tụ khi ông còn sống, nhìn vào là một viên quan nhỏ địa phương đêm đêm trà trộn trong hội đêm KTV. Phía dưới bên phải của áp phích còn liệt kê hơn mười bài hát màu đỏ như “Hôm nay là ngày sinh nhật của anh”. “Tổ quốc tôi”, “Trung Quốc - Tôi yêu Nguời”, “Người Trùng Quốc”, “Ca ngợi Tổ quốc”.

Trung Quốc trong 10 từ vựng (8) Thảo dân



Dư Hoa


8. THẢO DÂN


Có đến gần năm năm về trước, trong một thành phố quan trọng của Trung Quốc đã xuất hiện một cụm nhà gác giá cao cắt cổ, đứng sừng sững giữa khu vực trung tâm phồn hoa bậc nhất của thành phố. Trong cụm nhà gác cao hơn bốn mươi tầng này có sáu khách sạn cao cấp, mỗi khách sạn có diện tích 2000 mét vuông, trang trí vô cùng xa xỉ, vật liệu sử dụng và dụng cụ nhà bếp nhà vệ sinh đều là mác sản phẩm tối tân nhất thế giới. Sáu khách sạn cao cấp này vừa bắt đầu tiêu thụ đã lập tức có khách hàng.

Người đầu tiên mua một trong sáu khách sạn có giá trị hơn một trăm triệu đồng nhân dân tệ đâu phải nhà buôn bất động sản lôi cuốn hấp dẫn, không phải nhà đầu tư tài chính tiền tệ, hoặc bậc tân quí của ngành IT, mà là một vị cai đầu dài mua bán máu rất không đáng kể trong làn sóng kinh tế của Trung Quốc, là người tổ chức bán máu. Vị cai đầu dài bán máu giầu có này ra tay hào phóng trả hết tiền ngay một lúc. Thế là câu truyện về thảo dân của tôi có thể rủ rỉ kể ra.

Trong truyện dài “Hứa Tam Quan bán máu” xuất bản năm1995, tôi xây dựng một nhân vật Lý Huyết Đầu (Trưởng phòng quản lý máu họ Lý). Đây là sự kéo dài vốn sống thời nhỏ của tôi ở bệnh viện trong thế giới hư cấu. Khi tôi viết truyện dài này, nghĩa của từ thảo dân trong hán ngữ hết sức đơn thuần, chỉ là bộ rễ của cây cỏ mà thôi. Mấy năm sau chúng tôi nhập khẩu từ tiếng Anh (grassroots) nghĩa từ đã hoàn toàn mới. Thảo dân nghĩa rộng đã trở thành đại danh từ chỉ tầng lớp yếu thế phi dòng chính và phi chính thống (tương đương với từ thảo dân, dân đen của ta - ND), sau đó nhanh chóng lan ra xã hội Trung Quốc.

Trong ký ức của tôi, anh chàng trong bệnh viện chịu trách nhiệm thu mua huyết dịch của nông dân, cũng giống như y tá bác sĩ mặc áo choàng blu trắng, nhưng áo blu trắng của anh ta rất bẩn, nhất là ở mông và cánh tay áo đen sì sì. Mồm anh ta suốt ngày ngậm thuốc lá cuốn. Nông dân đến bán máu đều tôn xưng anh ta là “huyết đầu”, giải thích bằng văn bản tức là trưởng phòng quản lý máu.

Trưởng phòng quản lý máu này đã xác lập cho mình thẩm quyền không nói mà biết trong thế giới huyết dịch. Tuy trong bệnh viện địa vị của anh thấp hơn một y tá thông thường nhất, nhưng anh tinh thông ý nghĩa của tích lũy năm tháng. Trong thời gian trôi qua anh lặng lẽ xây dựng cho bản thân địa vị làm vua thảo dân. Trong con mắt của những nông dân vì nghèo khổ hoặc vì lý do quan trọng hơn khác đến bán máu, có lúc anh là một Chúa Cứu Thế.

Trong thời đại đã qua, kho máu trong mọi bệnh viện đều tồn kho đầy đủ. Ngay từ ban đầu, anh đã tận dụng đầy đủ điểm này, khiến những người bán máu từ xa đến, dọc đường bắt đầu lo lắng, lo máu chảy trong cơ thể mình liệu có bán được không?

Anh đã hết sức tự nhiên không chỉ gây sự tôn kính của mọi người đối với bản thân, mà còn khiến họ ai ai cũng xuất phát từ đáy lòng. Tiếp theo anh lại làm cho những người nông dân chất phác nhất này hiểu rõ ý nghĩa của quà biếu. Tuyệt đaị đa số trong những người này đều mù chữ, nhưng họ biết sự trao đổi giao lưu tất không thể thiếu giữa con người với con người. Rõ ràng quà biếu là chỗ dựa quan trọng nhất khi giao lưu. Nó là một thứ ngôn ngữ khác, là thứ ngôn ngữ lấy tự tổn thất làm tiền đề. Chính vì vậy, quà biếu trở thành một từ yêu thích, khen ngợi và tôn kính. Như vậy anh khiến các nông dân hiểu rõ, trước khi ra khỏi nhà phải đem theo hai cây rau xanh, hoặc mấy quả cà chua và vài quả trứng gà. Khi hiến rau xanh, cà chua, trứng gà, cũng là hiến từ khen ngợi và tôn kính. Nếu đi tay không coi như mất ngôn ngữ, trở thành người câm điếc.

Anh chịu khó kinh doanh vương quốc của mình, kéo dài mấy chục năm. Về sau thời đại thay đổi, mọi kho máu trong bệnh viện đều bắt đầu trở nên thiếu máu, người mua máu bắt đầu nịnh kẻ bán máu, thẩm quyền của những người thu mua máu trong bệnh viện bị lung lay. Nhưng anh không vì thế mà lo. Lúc bấy giờ anh đã nghỉ hưu, trái lại anh nắm bắt thời cơ trở thành cai đầu dài buôn bán máu thực sự, không còn là nhân viên quản lý máu trong bệnh viện trên ý nghĩa truyền thống.

Vị cai đầu dài buôn bán máu naỳ đã qua đời hơn mười năm trước. Trước khi tạ thế anh đã hoàn thành một việc hoành tráng. Bố tôi cho tôi biết tin này. Cuối năm 1995 bố tôi đọc xong “Chuyện Hứa Tam Quan bán máu”, trong điện thoại bố tôi kể câu truyện sau khi về hưu, nhân viên thu mua máu này giầu có lên như thế nào. Khi thị trường Trung quốc kinh tế trỗi dậy mạnh mẽ, anh này phát hiện giá máu thời bấy giờ ở mỗi địa phương một khác nhau. Thế là trong một thời gian rất ngắn đã tổ chức gần một ngàn người bán máu, lặn lội đường daì hơn 500 km từ Triết Giang đến Giang Tô, vượt qua mười huyện, đem máu của họ bán đến nơi giá cao nhất mà anh biết. Những kẻ đi theo anh ta có thu nhập nhiều hơn một chút, nhưng túi tiền của anh ta đã phồng lên như quả bóng đá đẫy hơi.

Tôi có thể tưởng tượng, đây là một chuyến đi dài dằng dặc phức tạp rối loạn. Tôi không biết anh ta sử dụng thủ đoạn gì, khiến những con người thường ngày tự do tản mạn nhất, lại không quen biết nhau, tổ chức thành đôị ngũ thảo dân đông đảo ô hợp, ồn ào ầm ĩ. Tôi tin anh ta có qui định kỷ luật nào đó với bọn họ, hơn nữa đã tự ý vận dụng những biên chế nào đó của quân đội, Trong đám đông tạp loạn này anh chọn ra hơn mười người cho họ có quyền hạn, bắt họ thể hiện toàn bộ tài hoa của mình, cùng một lúc vừa dọa nạt và lôi kéo, vừa nói lời đường mật, vừa buột mồm mắng mỏ. Họ đã quản chặt gần một ngàn người này, còn anh ta chỉ lo quản chặt hơn mười người kia là đủ.

Bán máu để kiếm sống.
Người dân làng Wenlou xếp hàng nhận thuốc điều trị AIDS miễn phí.


Hành động tập thể này rất giống đội quân di động trong chiến tranh, hoặc giống như nghi thức tôn giáo đang tiến hành. Họ đen ngòm có thể phủ kín một đoạn đường dài. Đánh lộn nhau giữa những gã đàn ông, dè bỉu lẫn nhau giữa những mụ đàn bà, cả những cuộc tình vụng trộm giữa trai và gái và những dịch bệnh đột kích bất ngờ một số ai đó. Đương nhiên cũng có những sự giúp nhau chân thành, có thể còn có tình yêu nảy sinh... Tôi tin trên thế gian này có thể không tìm đâu ra đội ngũ khác, có thể phong phú đa dạng hơn đội ngũ thảo dân bán máu này.

Tôi nghĩ, cái ông quản lý máu trong ký ức tuổi thơ của tôi nếu không qua đời quá sớm, thì của cải ông tích lũy được cũng có thể sống trong ngôi nhà hào hoa sang trọng. Đương nhiên không thể đặt ngang bằng với ông cai đầu dài bán máu trong thành phố lớn tôi đã nói ở trên. Ông cai đầu dài bán máu ở trong khách sạn cao cấp nhất giá trị hơn một trăm triệu đồng nhân dân tệ có thẩm quyền hoành tráng hơn. Nghe đâu ông lãnh đạo hơn mười vạn người bán máu. Đây là hiện thực của Trung Quốc hiện nay. Tuy mỗi người bán máu được tổ chức đi bán máu phải nộp một số chi phí, những vẫn nhiều hơn thu nhập một mình đi bán máu.

Con người khổng lồ huyết dịch chuyên trách tổ chức bán máu này, sống một cuộc sống xa xỉ mai danh ẩn họ, không ai biết ông ta xét đến cùng có bao nhiêu của cải? Khi kho máu đang thiếu máu, con người buôn bán máu khổng lồ này cũng là đối tượng lấy lòng của các bệnh viện lớn. Có khi muốn mời ông ta ăn bữa cơm cũng rất khó. Đối với ông ta buôn bán là buôn bán. Giá cả của bệnh viện ở đâu cao, huyết dịch ông ta khống chế sẽ chảy về đó.

Bán máu, nghề này xem ra có vẻ hết sức thấp kém, Cũng như thế, xin kể một câu truyện tiền của, mà tạp chí “Fu bu si” bàn đến một cách say sưa. Đây là một câu truyện về thành công của thảo dân chính cống. Tôi lại kể câu truyện của một thảo dân khác. Đây là câu truyện tôi đọc trên báo Trung Quốc ba năm trước, một người thu hồi phế liệu cũ, trên báo gọi ông ta là chủ bang, bang ăn xin, hay còn gọi là vua rác. Ông ta chỉ là vua rác của một khu vực nào đó trong thành phố. Nhưng ông ta có tài sản mấy chục triệu. Trong thành phố của Trung Quốc, trong mỗi khu ở nhỏ đều có mấy người chuyên môn thu hồi phế phẩm. Họ mua những vật phẩm sắp sửa thải loại của dân cư với giá rẻ, sau khi phân loại những vật phẩm cũ bỏ này, hơi nâng cao giá bán lại cho con buôn thu hồi lớn hơn. Vua rác mà tôi nói chính là con buôn thu hồi phế liệu lớn hơn. Ông ta mua phế liệu từ những con buôn thu hồi nhỏ rồi nâng giá bán cho những xí nghiệp sản xuất khác nhau. Xí nghệp sản xuất có thể vì thế hạ thấp giá thành nguyên vật liệu. Khi trả lời nhà báo phỏng vấn lấy tài liệu, vua rác có thân giá mấy chục triệu này nói rất khiêm tốn. Nhà báo hỏi ông, làm thế nào ông phát hiện ra cơ hội làm ăn này? Ông ta nói:

- Tôi chỉ làm những việc người khác không muốn làm.

Câu nói giản dị chất phác này đã nói ra những bí mật nào đó của kì tích kinh tế Trung Quốc ba mươi năm qua. Tức là người Trung Quốc hiện nay với phương thức không chỗ nào là không bỏ qua và tinh thần thảo dân không sợ gì hết, đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Thế là trong đời sống kinh tế của chúng ta đã xuất hiện rất nhiêù vua, vua giấy lau mồm, vua bí tất, vua bật lửa ... Ở Triết Giang có vua cúc áo, chủng loại cúc áo mà ông ta kinh doanh không thể đếm xuể, tuy lợi nhuận của cúc áo rất mỏng, nhưng trên thế giới chỉ cần nơi nào có quần áo đều có cúc của ông ta. Giấy lau mồm, tất, cúc áo và máy lửa vv... hầu như đều là những ngành nghề bé nhỏ thấp kém, nhưng một khi có thị trường khổng lồ, một ngành nghề bé nhỏ thấp kém cũng có thể trở thành một đế quốc giầu có.

Một nhà buôn xe con kể cho tôi nghe câu truyện, ở Nghĩa Ô Triết Giang, ông có một cửa hàng 4S của BMW, một hôm có một ông già dáng dấp nông dân đến cửa hàng, hơn mười con cháu nhỏ xúm theo ông. Họ chui ra khỏi chiếc xe bảy tám chỗ, tiền hô hậu ủng đi vào cửa hàng 4S. Các con cháu chọn mua cho ông già tiền của rủng rỉnh một chiếc xe con. Ông già ưng ý một chiếc BMW760li giá hơn hai triệu đồng nhân dân tệ. Ông hỏi nhân viên bán hàng, tại sao xe đắt thế? Người bán hàng giới thiệu với ông cặn kẽ các loại thiết bị tiên tiến và tác dụng của kiểu xe con này. Ông vừa nghe vừa lắc đầu bảo mình nghe không hiểu. Cuối cùng người bán hàng giới thiệu với ông ghế ngồi da bò trong xe con, chỉ vào buồng lái nói, chiếc ghế ngồi này đã dùng hết hai con bò, chọn những chỗ da tốt nhất trên thân hai con bò để cắt ra bọc ghế. Ông già nông dân vốn là đứa trẻ chăn bò ngày trước sau đó giầu vọt lên trong dòng thác lớn kinh tế Trung Quốc, hiểu ra ngay chiếc xe con BMM760li này tại sao lại đắt như vậy. Ông nói với các con cháu của mình,

- Một cái ghế bọc hết da trên thân hai con bò, chắc chắn đây là chiếc xe cao cấp.

Ông đã mua cho mình chiếc xe con BMW760li, lại mua cho các con trai con dâu, các cháu trai cháu gái mỗi đứa một chiếc xe con BMW. Theo thứ bậc, bắt đầu từ xê ri7 của BMW đến xê ri 5 và xê ri 3 phân phối cho các con cháu. Khi thanh toán, các con cháu ông chuyển xuống xe bảy tám chỗ ngồi mấy hộp giấy to, bên trong chứa đầy tiền mặt. Lão nông dân này hoàn toàn không tin séc và thẻ tín dụng. Đối với lão chỉ có tiền giấy mới là tiền trên ý nghĩa chân chính,

Lão nông dân này, bằng kinh nghiệm sống của mình và lối tư duy trực tiếp chất phác đã hiểu ngay tại sao chiếc xe con BMW760li lại đắt như thế. Một số thảo dân của Trung Quốc lúc mới kinh doanh không có tri thức về kinh tế học, cũng không có kinh nghiệm về quản lý, nhưng trong thời gian rất ngắn đã giầu lên trông thấy, chính là vì họ có lối tư duy độc đáo hoàn toàn của mình. Giống như tư duy của ông già nông dân hiểu tại sao chiếc xe con BMW760li lại đắt thế. Loại tư duy thảo dân xem ra như cục đất, có thể khiến họ trong chốc lát nhằm trúng chỗ yếu của sự vật.

Những câu truyện tôi đã kể có thể liệt kê ra rất nhiêù trong sự phát triển kinh tế của Trung Quốc từ sau năm 1978. Có thể nói như sau, kỳ tích kinh tế Trung Quốc ba mươi năm trở lại đây, kỳ thực là vô số kỳ tích của cá nhân xây đắp nên kỳ tích của nhà nước, kỳ tích tôi nói ở đây là những kỳ tích do tầng lớp thảo dân sáng tạo nên.

Trung Quốc trong 10 từ vựng (7) CÁCH MẠNG

Cô gái cầm Hồng bảo thư của Mao Chủ tịch (1968)
Việt Nam gọi là "Trước tác Mao Trạch Đông".


Dư Hoa

 7. CÁCH MẠNG

             Một vài trí thức phươmg Tây bảo thủ nhận xét chỉ trong xã hội có thể chế chính trị đầy đủ dân chủ, mới có thể phát triển kinh tế với tốc độ cao. Thế là họ vô cùng ngạc nhiên, trong một nhà nước thể chế chính trị thiếu trong suốt tại sao tốc độ phát triển kinh tế lại kinh khủng như vậy? Theo tôi, có thể họ đã bỏ qua một điểm quan trọng: Đằng sau kì tích kinh tế đó có một đôi tay cứng rắn đang thuc đẩy. Tên của đôi tay ấy là cách mạng.

            Năm 1949, sau khi Đảng cộng sản xây dựng chính quyền ở Trung Quốc vẫn theo đuổi niềm tin tiến hành cách mạng đến cùng. Đương nhiên cách mạng không còn là đấu tranh vũ trang, cách mạng bắt đầu được diễn ra với hết cuộc vận động chính trị này đến cuộc vận động chính trị khác và lần lượt lên đến đỉnh cao ở thời kỳ đại nhảy vọt và thời kỳ đại cách mạng văn hóa. Sau đó, trong kỳ tích kinh tế xảy ra sau ba mươi năm cải cách mở cửa ở Trung quốc, cách mạng đã  thoát thai đổi cốt xuất hiện dưới một hình thức khác, hay nói một cách khác, trong kỳ tích kinh tế của chúng ta, vừa có cuộc vận động cách mạng kiểu đại nhảy vọt, vừa có bạo lực cách mạng kiểu đại cách mạng văn hóa.

            Trước hết tôi xin nói về phong trào cách mạng kiểu đại nhảy vọt trong phát triển kinh tế Trung Quốc. Ở đây tôi xin nêu ra một nhóm số liệu về sản lượng gang thép Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ cao. Năm 1978, cũng là năm đầu tiên cải cách mở cửa, sản lượng năm gang thép của Trung Quốc vừa vượt qua ba mươi vạn tấn, hai năm sau, tức là năm 1980, sản lượng gang thép đạt ba mươi bảy vạn một ngàn hai trăm tấn, đứng thứ năm thế giới. Năm 1996  sản lượng nhẩy vọt lên đứng hàng đầu thế giới, sau đó đã liên tục mười bốn năm giữ hàng đầu thế giới. Năm 2008 sản lượng gang thép vượt quá năm trăm triệu tấn, chiếm 32% tổng sản lượng thế giới, còn cao hơn tổng lượng của nước đứng thứ hai và thứ tám cộng lại.

            Nhóm số liệu này về chính diện nó đã phản ánh kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ cao. Nhưng mặt sau của nó lại ẩn chứa câu truyện rất khó tưởng tượng. Tuy nhiên đến năm 2008 sản lượng gang thép của Trung Quốc đã đạt sáu trăm sáu mươi triệu tấn, tiêu phí bốn trăm sáu mươi triệu tấn, sản năng quá thừa hai trăm triệu tấn. Số liệu này vẫn không thể che dấu một sự thực của ngành gang thép Trung Quốc ba mươi năm trước kia, tức là tốc độ tăng trưởng sản lượng gang thép Trung Quốc đã vượt hẳn tốc độ mở rộng quy mô sản xuất. Vậy là câu truyện ngông cuồng cả nước làm gang thép thời kỳ đại nhảy vọt lại một lần nữa diễn ra trên đất nước rộng lớn Trung Quốc.

            Năm 1958, thời kỳ đại nhảy vọt, toàn dân làm gang thép, trong khẩu hiệu vượt nước Anh, đuổi kịp nước Mỹ, những lò cao nhỏ đắp đất rải khắp đồng ruộng bao la ở nông thôn và trong sân nhà của thị trấn thành phố Trung Quốc. Đất nước rộng lớn Trung Quốc bốc cháy bừng bừng, bầu trời Trung Quốc khói đen ngùn ngụt bốc lên. Bà con nông dân bỏ việc đồng áng, mò tìm mỏ quặng khắp nơi để luyện gang thép, hàng loạt hoa màu chín tới mục nát ngoài đồng ruộng không ai gặt hái. Công nhân viên chức ở thành phố thị trấn cũng bỏ công tác, nghề nghiệp của mình. Công nhân xưởng dược đi luyện thép, công nhân nhà máy tơ đi luyện thép, nhân viên bán hàng trong cửa hàng đi luyện thép, thầy giáo học sinh trong nhà trường đi luyện thép, bác sĩ y tá trong bệnh viện đi luyện thép... Trong một thời đại như vậy người nào cũng sợ bị nhận xét là “phần tử tiêu cực của đại nhảy vọt”. Ai ai cũng lấy luyện thép làm vinh quang. Tìm không ra quặng, luyện không ra gang thép, người thôn quê liền đập nồi chảo trong nhà mình, người thành phố liền tháo gỡ ống lò sưởi và cửa sổ sắt trong nhà trong đơn vị vứt vào lò cao thủ công, đã luyện ra hơn ba triệu tấn sắt thép phế bỏ đi. Trong năm ấy tổng sản lượng gang thép của Trung Quốc là mười triệu bảy mươi vạn tấn, gấp đôi so với năm triệu ba trăm năm mươi ngàn tấn của năm 1957. Nhưng gang thép phế bỏ đi lại chiếm một phần ba tổng số lượng đó. Mặc dù vậy, người ta vẫn toàn dân luyện gang thép một cách cuồng nhiệt như lửa ngút trời. Trước lửa lò hừng hực, mồ hôi thấm ướt lưng, người ta vẫn hát câu vè thịnh hành nhất thời kỳ toàn dân làm gang thép “so thử xem”:

            “Bạn anh hùng ta hảo hán, bên lò cao hãy đọ thử xem, bạn luyện ra một tấn, ta luyện ra tấn rưỡi, bạn ngồi phản lực, ta đáp tên lửa, tên của bạn chọc thủng trời xanh, ta có thể bay quanh trái đất”.

            Đến những năm 1990, khi làn sóng phát triển kinh tế lan ra cả nước, tình cảnh tương tự vẫn hiện lại một cách cục bộ. Trên cánh đồng chung quanh xí nghiệp gang thép cỡ lớn, đã mọc lên rất nhiều lò cao thủ công, bà con nông dân dũ thân thay đổi, tới tấp trở thành công nhân luyện thép mồ hôi nhễ nhại, trong lò cao đắp đất của mình sau khi họ cho quặng sắt nóng chảy, lập tức đổ vào xe kiểu bồn chịu nhiệt độ cao chế tạo đặc biệt, lái xe nhấn ga xe kiểu bồn chứa đầy nước gang phóng như bay đi đến nhà máy gang thép, đổ nước gang vào lò cao chính qui của nhà máy gang thép, rồi lại từ lò cao chính qui tiến hành các quá trình phân ly thẩm thấu các bon và xỉ sắt của nước gang, sau đó bắt đầu ra gang. Trường hợp thông thường, lò cao cỡ lớn mỗi ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, ra gang khoảng mười bốn lần, do lò cao bằng đất của bà con nông dân đã nung chảy quặng sắt ra trước, lò cao cỡ lớn của nhà máy gang thép mỗi ngày ra gang có thể lên đến ba mươi lần. Đương nhiên lần này bà con nông dân luyện ra loại gang thép trong lò xây đất không phải thép bỏ đi, bà con nông dân cũng không phải vì chính trị trống rỗng mà luyện gang thép lớn. Họ bắt đầu luyện gang thép lớn vì đồng tiền thực tế. Toàn dân luyện gang thép khiến người ta tặc lưỡi như vậy, còn có sự mở rộng nhanh chóng qui mô của xí nghiệp gang thép. Sản lượng gang thép của Trung Quốc tự nhiên tăng trưởng với tôc độ cao. Bởi những xe kiểu bồn đặc chế vận chuyển nước gang thường xuyên qua lại như mắc cửi giữa các lò cao thủ công trên cánh đồng và lò cao chính qui trong nhà máy, nhiệt độ cao tán phát ra khiến đường cái biến thành con đường bị hơ nóng, những cây cối cành lá xanh tươi hai ven đường đã lần lượt bị héo vàng chết lụi.

Dự án “lò luyện thép sân vườn”. Phóng sự ảnh của Henri Cartier-Bresson 


            Đại nhảy vọt năm 1958, có thể nói là một vở kịch vui hoàng đường của chủ nghĩa lãng mạn. Giả dối, ba hoa, bốc đồng đã trở thành thói hư tật xấu. Sản lượng mỗi mẫu lúa thời ấy tức là ruộng sản lượng cao cũng chỉ khoảng hai trăm kg, nhưng dưới khẩu hiệu “Người dám làm đến đâu, ruộng cao sản đến đấy”. Sản lượng mỗi mẫu lúa nước của các địa phương trong cả nước lần lược được tâng bốc lên đến trên năm ngàn kg. Ngày 18 tháng 9 năm 1958 Nhân Dân nhật báo đưa tin số đặc biệt: “Sản lượng mẫu lúa nước của huyện Hoàn Giang Quảng Tây đạt 6500 kg”. Hơn nữa, giả dối, ba hoa, bốc đồng còn làm từ những chi tiết, ví dụ lợn béo nuôi ra thời đó lên đến hơn năm tạ, cái đầu lợn to bằng cái gùi, giết một con lợn tương đương với ba con lợn trước kia, cái chảo gang ba thước luộc không lọt, cái chảo to sáu thước chỉ luộc được nửa con lợn. Quả bí ngô trồng ngoài ruộng cũng to kinh khủng, bọn trẻ con có thể chơi trong quả bí ngô lớn từ nhà này sang nhà khác. Thời ấy có bài ca dao “một củ khoai lang lăn xuống dốc” được lan truyền rộng rãi trong cả nước:

            “Phía đông công xã có con sông,
            Bên bờ một dốc núi chênh vênh.
            Trên dốc xã viên bới khoai lang
            Ồn ào trò truyện cười râm ran.

            Chợt nghe lòng sông nước tung tóe
            Cột sóng bắn lên cao hơn trượng.
            Giật mình tôi cất tiếng hỏi to
            Ai  đã sơ xuất ngã xuống đó?

            Bà con nghe vậy cười khà khà
            Một cô đã lên tiếng đáp lại
            Làm gì có ai té ngã 
            Lăn xuống một củ khoai lang”.

Trung Quốc trong 10 từ vựng (6): Khoảng cách


Khoảng cách của lịch sử khiến một người Trung Quốc chỉ cần 40 năm đã trải qua biến động 400 năm của châu Âu, nhưng khoảng cách của hiện thực lại chia người Trung Quốc cùng thời đại sang thời đại khác nhau.

Dư Hoa

6. KHOẢNG CÁCH


Một thiếu niên ngày xưa đã chứng thực sự từng trải thế này, có lúc từ nhút nhát sợ sệt đến không hề khiếp sợ chỉ cách nhau một bước. Đây là một chuyện cũ thời kỳ giữa những năm 1970, chúng tôi từ cuộc sống trầm buồn ức chế đi đến hồi kết của đại cách mạng văn hoá.

Tôi muốn kể một câu truyện về bạn học ngày xưa. Hiện giờ anh vẫn ở trên thị trấn nhỏ quê hương, thất nghiệp nhiều năm, sống dựa vào số tiền nghỉ hưu còm của bố đẻ. Tôi còn nhớ nét mặt thanh tú ngày ấy của anh, bởi vì hai cái răng nanh chìa ra của anh bị mất, thân hình gầy nhỏ của anh khi bước đi thường bám theo sau lưng chúng tôi.

Thời ấy chúng tôi là bọn trẻ con hè phố hay sinh sự, thường cãi nhau đánh nhau với với bọn trẻ cùng trang lứa trên thị trấn. Cũng có khi hùng hùng hổ hổ dám ra tay huỵch lại đám thanh niên cao hơn mình nửa cái đầu. Lần nào dã nhau kịch liệt, anh bạn ấy cứ nấp nấp tránh tránh ở xa xa trông xem, không bỏ chạy cũng không tham chiến. Về sau anh đột nhiên tỏ ra dũng cảm không sợ, trận ẩu đả nào cũng xông lên trước, rút lui sau cùng.

Có lần bọn nhóc hè phố chúng tôi bị bọn thanh niên đường phố đánh cho ôm đầu bỏ chạy. Giữa lúc chúng tôi tan rã hoàn toàn, người bạn học này chạy về nhà rồi lại vung con dao bài xông ra đối mặt với tụi thanh niên hè phố sĩ khí ào ào. Con dao bài trong tay phải của cậu ta cứa một nhát trên mặt mình đầu tiên, khi máu toé ra, lại dùng tay trái lau trên mặt một cái, rồi hò hét ầm ĩ xông vào trong khi mặt mày máu me nhễ nhãi.

Tụi thanh niên hè phố đang trong thừa thắng xung kích, trông thấy thằng cha mặt bê bết máu cứ xông thẳng vào như sẵn sàng anh dũng hy sinh, tay phải vẫn vung con dao bài sáng loáng. Trung Quốc có câu tục ngữ; mềm sợ cứng, cứng sợ liều, liều không mất mạng. Tụi thanh niên đường phố co cẳng bỏ chạy. Dọc đường anh bạn tôi vừa truy kích vừa hô hét:

- Tao phải liều sống chết với bọn bay!

Chúng tôi vừa giờ còn ôm đầu chạy tán loạn, lập tức cáo mượn uy hùm, chúng tôi cũng hô: Tao phải liều sống chết với bọn bay! Ào ào đuổi theo. Trên đường phố thị trấn nhỏ, chúng tôi mồ hôi mồ kê nhễ nhại truy kích tụi thanh niên đường phố. Để điều chình hít thở khi chạy, để thích ứng tốc độ truy kích, khẩu hiệu của chúng tôi tự nhiên ngắn gọn đi:

- Mày chết tao sống!

Chiều hôm ấy, chúng tôi lừng danh trên cả thị trấn nhỏ. Từ đó chúng tôi được danh hiệu nổi tiếng “bè lũ mày chết tao sống”. Những thiếu niên hè phố khác nhìn thấy chúng tôi đứa nào cũng tươi cười đón tiếp, ngay đến tụi thanh niên đường phố cũng nể sợ. Anh bạn học này được bọn tôi kính nể trong lòng. Từ đó trở đi anh bạn không còn bám theo sau chúng tôi. Chúng tôi cũng đã quen cậu ấy đi phía trước.

Tại sao chỉ trong có một đêm bạn học của tôi đã khác hẳn? Kỳ thực là một nguyên nhân rất đơn giản, một nguyên nhân hiện nay xem ra đúng là khó tin.

Bố mẹ bạn ấy có lần cãi nhau với hàng xóm, có lẽ nghi ngờ hàng xóm lấy trộm của nhà mình mấy viên than quả bàng, một chuyện vặt vãnh như lông gà vỏ tỏi. Đi đôi với sự cãi nhau không ngừng quyết liệt, hai gia đình đã ra tay đánh nhau. Lần này anh bạn tôi đã nhúng tay vào, anh chọn một đối thủ yếu nhất, dơ nắm tay phải nhằm đúng bộ ngực nở nang của cô gái xinh đẹp nhà hàng xóm đấm một cái. Chính là cú đấm này đã khiến anh bạn của tôi thay đổi triệt để. Sau đó anh bạn úp lòng bàn tay xuống dơ tay phải ra, trong ánh mắt vô cùng hâm mộ của bọn tôi, cậu ta sung sướng kể bốn ngón tay của mình tiếp xúc thân mật với bộ ngực đầy đặn mềm như bông của cô gái xinh đẹp qua làn áo như thế nào. Cậu ta bảo trừ ngón cái ra, bốn ngón này đều cảm nhận thấy sự mềm mại mê hồn.

Cảm nhận tuyệt vời thoáng qua này khiến bạn học sinh tiểu học chúng tôi cảm thấy cuộc đời mình đã hoàn thành. Sau đó cậu ấy thường hớn hở thoả mãn khoe với chúng tôi:

- Tớ đã từng chạm vú đàn bà, tớ có thể chết được rồi.

Chính là cảm thấy mình có thể chết mà vô cảm, khiến cho anh chàng vốn dĩ nhút nhát đột nhiên trở thành người dũng cảm. Đấy là thời kỳ thiếu niên của thời đại chúng tôi. Chỉ một lần chạm vào vú chín chắn đàn bà trong chốt lát, có thể cải biến một con người. Bởi vì chúng tôi lớn khôn trong một thời đại cực đoan. Khi ẩu đả đánh nhau chúng tôi bạo dạn ngông nghênh, khi khát khao thân thể chân thực của đàn bà chúng tôi rụt rè thận trọng.

Đã từng có một bạn học, đến nay không biết là ai, lấy phấn bí mật viết lên bảng đen của lớp trung học chúng tôi hai chữ “tình yêu”. Đây là hai chữ chúng tôi lòng hiểu trí biết nhưng chưa sử dụng bao giờ. Thời ấy lớp mười chúng tôi có bốn lớp. Chữ “tình yêu” xiêu xiêu vẹo vẹo xuất hiện trên bảng đen lớp ̣(1)̣̣ Các bạn của ba lớp khác, dấu kín trạng thái tâm lý như thánh, mang nét mặt của kẻ phê phán, hô khẩu hiệu “bắt lưu manh”, nhao nhao chạy đi xem. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tổ hợp từ này. Trong chữ hán của chúng tôi,nó đã mất đi rất lâu rồi. Khi tôi nhìn thấy nó tự dưng người rạo rực.

Hai chữ viết phấn xấu xí trên bảng đen phòng học lớp mười (1), làm tội chứng tồn tại đúng mười ngày. Bởi vì uỷ ban cách mạng nhà trường phải tra tìm kẻ lưu manh viết từ này. Đầu tiên thu các nét chữ và đối chiếu trên các vở tập làm văn của nam sinh lớp chúng tôi. Không tìm ra nghi phạm, lại rà soát tất cả vở tập làm văn của nữ sinh trong lớp, vẫn không phát hiện ra nghi phạm, sau đó mở rộng sang lớp mười một, vẫn không tìm ra nghi phạm, cuối cùng đành phải cho qua, chủ nhiệm uỷ ban cách mạng nhà trường phải đích thân xoá bỏ chữ “tình yêu “ trên bảng đen.

Tôi rất buồn lòng. Đã thành thói quen ngày nào đi qua lớp học (1) tôi cũng nhìn hai chữ “tình yêu" trên bảng, khiến khát vọng tình yêu của tôi được thoả mãn như bánh vẽ đỡ đói. Sau khi “Tình yêu” trên bảng bị xoá, bánh vẽ đỡ cơn thèm khát cũng không còn.

Chúng tôi nghĩ, bạn học nặc danh viết từ này trên bảng đen, chắc chắn biết mình đang phạm tôị lưu manh, cố ý viết chữ xiêu xiêu vẹo vẹo, từ đó có thể sống tự do ngoài vòng kỷ luật. Thời ấy thịnh hành câu nói trong phim “Con cáo có xảo quyệt đến mấy đi nữa, cũng đấu không nổi người đi săn”. Sau sự kiện tình yêu này, giữa các bạn học bắt đầu lưu truyền câu đài từ phản nghĩa: “Người đi săn già đời đến mấy cũng đấu không nổi con cáo bé nhỏ quỉ quyệt”.

Hiện giờ con trai tôi sắp vào học lớp mười. Cậu thiếu niên ngày nay này nói với cậu thiếu niên ngày xưa là tôi, khi học bài sinh lý ở phổ thông trung học, thầy cô giáo yêu cầu nữ sinh đều ngồi lên đùi nam sinh. Trong sự tiếp xúc chặt chẽ giữa nam nữ sinh, thày cô giáo bắt đầu giảng giải về sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà, giảng đến sự giao hợp, giảng đến chuyện thụ thai… Sau khi thầy cô giáo giảng xong hỏi các em học sinh có vần đề gì? Có bạn dơ tay xin phát biểu;

- Thưa thầy cô có bài học thực nghiệm không?

Xin cho phép tôi nói tiếp câu truyện học sinh trung học. Hơn ba mươi năm trước, thời ấy giữa nam sinh và nữ sinh trung học không nói chuyện. Tuy muốn nói chuyện vô cùng, nhưng không dám nói, cho dù ái mộ bạn cũng chỉ len lén liếc mắt mà thôi, cũng không có nam sinh viết mẩu giấy dấu diếm đưa cho nữ sinh, hơn nữa còn không dám viết rõ câu biểu hiện tình yêu, đều là những câu chỉ hươu chỉ ngựa ví dụ câu mình muốn tặng bạn một cục tẩy, một cái bút chì để truyền đạt tin yêu. Bạn gái nhận được mẩu giấy lập tức biết chàng trai định nói gì. Phản ứng phổ biến của nữ sinh là căng thẳng và sợ hãi. Nếu mẩu giấy bị lộ, nữ sinh sẽ xấu hổ vô vùng, hình như mình làm gì sai phạm.

Phim thanh xuân vườn trường Hạ Chí Chưa Tới 

Ngày nay hơn ba mươi năm đã trôi qua, học sinh trung học tỏ tình yêu nhau đã hợp pháp hoá về tâm lý từ lâu, đã công khai hoá trên dư luận. Trên mạng in tơ nét tôi đã xem hai đoạn cơ líp, một đoạn trong lớp học giờ nghỉ, một học sinh ngồi trên bàn học, cúi xuống ôm bạn gái ngồi trên ghế, các bạn khác nói chuyện và đi lại bên cạnh hai người. Họ cứ tỉnh bơ nói chuyện và hôn nhau như không có ai bên cạnh. Còn một chuyện khác xảy ra trong hành lang nhà trường, một nam sinh ôm hoa tươi quì xuống đất xin yêu một nữ sinh trung học. Sau khi nữ sinh từ chối trốn vào nhà vệ sinh. Sau một lúc do dự, nam sinh ôm hoa tươi đuôỉ theo đi vào nhà vệ sinh nữ. Hiên nay hiện tượng nữ sinh có chửa sớm, bởi càng ngày càng phổ biến đã không còn là vấn đề xã hội, mà chuỵện kinh ngạc là lại có nữ sinh trung học mặc đồng phục của nhà trường vào bệnh viện nạo thai. Trên báo chí truyền thông đã từng đưa tin, một nữ sinh trung học mặc đồng phục của nhà trường vào bệnh viện phẫu thuật có bốn nam sinh trung học mặc đồng phục nhà trường cùng đi theo. Khi bác sĩ yêu cầu gia đình ký tên trước khi mổ, cả bốn chàng trai đều tranh nhau ký tên.

Vậy thì nguyên nhân nào đã khiến chúng ta đi từ cực đoan này sang cực đoan khác? Đằng sau vấn đề này có thể có rất nhiều câu trả lời nổi lên. Tôi cảm thấy những câu trả lời xả xuống như thác nước cũng rất khó nói rõ. Nhưng có một điểm rất rõ ràng: Một thời đại ức chế đè nén cực đoan sau biến động xã hội lớn tất nhiên sẽ nẩy sinh một thời đại phóng túng cực đoan, y như cây đánh đu, bên này cao bao nhiêu thì sang bên kia tất nhiên cũng bay bổng rất cao.

Sự tăng trưởng với tốc độ cao của nền kinh tế Trung Quốc, hình như trong giây lát đã thay đổi tất cả. Giống như cuộc nhảy xa, khiến chúng ta từ một thời đại thiếu thốn vật chất nhẩy vọt lên thời đại phô trương lãng phí, từ thời đại chính trị trên hết nhảy vọt lên thời đại đồng tiền là số một, từ thời đại bản năng bị ức chế nhảy vọt lên thời đại nôn nóng buông thả... Thời gian ba mươi năm hình như chỉ là một bước nhảy.

Trung Quốc trong mười từ vựng: (5) Lỗ Tấn





Dư Hoa

5. Lỗ Tấn



Hôm ấy, một ngày của tháng 5 năm 2006, tôi ngồi trong nhà chờ máy bay của sân bay Cobenhaghen ngay ngắn trật tự, chuẩn bị chuyển máy bay đi Oslo, những người nước khác nhau bên cạnh đang thủ thỉ nói chuyện bằng ngôn ngữ khác nhau. Ánh mắt tôi xuyên qua cửa sổ bằng kính sát sàn, dừng trên cánh đuôi một máy bay của hãng hàng không Nauy bên ngoài cửa sổ. Tôi bị cuốn hút bởi hình cái đầu chân dung khổng lồ trên cánh đuôi máy bay. Tôi biết mình lát nữa sẽ đáp máy bay này đi Oslo. Để giết thời giờ, tôi cứ thầm suy nghĩ trong lòng, hình đầu chân dung trên cánh đuôi máy bay là ai?

Tư duy của tôi đã chui vào ngõ cụt. Tôi không hề nhúc nhích. Tôi có cảm giác như đã từng quen biết, mái tóc ông có vẻ xoã và hơi dài, sống mũi đeo một cặp kính tròn kiểu cổ.

Đã bắt đầu lên máy bay. Tôi đứng dậy đi đến cửa lên máy bay, sau đó ngồi trên ghế sát cửa sổ của chuyến bay Hãng hàng không Na Uy, nghĩ tiếp về hình cái đầu chân dung khổng lồ trên cánh đuôi máy bay. Tôi cứ cảm thấy đã từng gặp người này, nhưng xét cho cùng ông là ai? Giữa lúc máy bay vút lên khỏi đường băng, tư duy của tôi bỗng sáng loà. Tôi đã nhớ ra ông là ai. Cái hình đầu chân dung như vậy đã ở trong một cuốn bản tiếng Trung văn “Peier Jinte”. Ông là Ibsen. Nhìn Copenhaghen bên dưới ngoài cửa sổ xa dần, tôi chợt phì cười, thầm nghĩ, trên thế giới này có rất nhiều nhà văn vĩ đại, nhưng nhà văn được bay đi bay lại trên trời e rằng chỉ có Ibsen.

Tôi hạ cánh xuống Oslo nhân một trăm năm ngày Ibsen qua đời. Mưa bụi giăng giăng bao phủ đaị lộ Oslo. Cờ màu có in nửa chân dung Ip xen bay phấp phới trên hai bên đường phố, y như đôị ngũ hai hàng chân dung nửa người, rất nhiều Ibsxen từ xa đến gần chăm chú nhìn chúng tôi trong mưa, khiến tôi cảm thấy ánh mắt sau cặp kính hình tròn của ông hình như sâu xa ý vị.

Bữa cơm đầu tiên tôi ăn ở Oslo tại nhà hàng mà khi còn sống Ibsen thường xuyên đến. Nhà hàng tỏa ra cách điệu cổ lỗ tôi đã quen thuộc ở châu Âu. Trên mái nhà cao cao có tranh vẽ tinh đẹp, có trụ hình tròn ở giữa. Là một phần của hoạt động kỷ niệm, ở cửa vào nhà hàng kê một chiếc bàn tròn nhỏ, Trên bàn đặt một cái mũ màu đen, bên cạnh là một cốc bia vừa uống hết. Trên cốc thuỷ tinh còn lại chút bọt bia. Một chiếc gậy đặt cạnh chiếc ghế đã kéo ra. Tất cả các thứ này tượng trưng cho Ibsen đang ăn uống.

Trong ba ngày sau đó tôi đã không đi vào nhà hàng ấy nữa. Nhưng khi tôi đi sớm về muộn đã đi qua nhà hàng này. Lần nào tôi cũng dừng chân ngắm nghía một chút cái bàn tròn nho nhỏ thuộc về Ibsen. Cái mũ màu đen và cây gậy vẫn ở đó. Cái ghế vẫn bị kéo ra. Tôi đã phát hiện một chi tiết nho nhỏ liên quan đến hoạt động kỷ niệm Ibsen, buổi sáng khi tôi đi qua, trong cốc thuỷ tinh trên chiếc bàn nhỏ rót đầy bia, buổi tối khi tôi trở về, chỉ còn cốc không, trên cốc thuỷ tinh còn dính một chút bọt bia. Thế là tôi có một ảo giác tốt đẹp. Ibsen qua đời một trăm năm trước, ngày nào cũng trông thấy một cách tượng trưng một nhà văn Trung quốc đi sớm về muộn, suy nghĩ một cách tượng trưng:

- Người Trung Quốc này đã từng viết tác phẩm gì?

Tôi đã nghĩ đến Lỗ Tấn của chúng tôi. Cái tên Ibsen xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc với hình thức Trung văn trong tác phẩm “Văn hoá thiên chí luận” và “Moluo thi lực thuyết”của Lỗ Tấn. Đây là hai áng “văn kể chuyện bằng văn ngôn, đăng trên nguyệt san “Hà Nam” năm 1908, Íp xen qua đời đã gần hai năm. Năm 1923, tại trường sư phạm cao đẳng Nữ tử Bắc Kinh, Lỗ Tấn có bài phát biểu nổi tiếng. . . . .

Chân dung nửa người Íp xen khổng lồ trên cánh đuôi máy bay hãng hàng không Na uy và chân dung nửa người ấy sau khi cô nhỏ lại bay phấp phới trên đại lộ Oslo, khiến tôi cảm nhận được điạ vị đặc biệt của Íp xen ở Na Uy. Đương nhiên nhà văn vĩ đại này cũng có địa vị cao cả ở rất nhiều nơi trên thế giới, nhưng tôi loáng thoáng có cảm giác, “Ibsen” ở Na Uy không chỉ là một cái tên của nhà văn đại diện cho mấy bộ tiểu thuyết bất hủ, Ibsen ở Na Uy có thể là một từ vựng, một từ vựng quan trọng đã vượt quá phạm trù văn học và nhân vật.

Giống như “Lỗ Tấn” của tôi thời nhỏ. Điều tôi muốn nói là “Lỗ Tấn” thời kỳ đại cách mạng văn hoá. “Lỗ Tấn” thời đó không còn là một cái tên nhà văn, mà là một từ vựng ở Trung Quốc nhà nào cũng hiểu, ai ai cũng biết, một từ vựng quan trọng bao hàm nội dung chính trị và cách mạng. Vậy là, khi diễn giảng ở trường đại học Oslo, tôi đã nói câu truyện về tôi và Lỗ Tấn.

Trung Quốc trong 10 từ vựng (4): Sáng tác


写作 Sáng tác

DƯ HOA

4. Sáng tác


             “Tạp chí thời báo NewYork” mời bạn Pankaji. Michenla viết một bài về tôi. Tháng 11 năm 2008, bạn đồng nghiệp Ấn Độ của tôi đến Bắc Kinh. Chúng tôi lúc thì ngồi nói chuyện trong phòng ấm áp, lúc thì đi dạo trong gió lạnh mùa đông. Chúng tôi đã đến mấy nhà hàng có phong vị khác nhau ăn cơm. Vị ăn chay này khi dời Bắc Kinh khen tôi có tài hoa gọi món ăn. Tôi nói với anh: “Tài hoa của tôi rất giản đơn, tức là gọi cho bằng hết các món ăn chay trong nhà hàng”.

              Nhà thơ La Mã cổ Marcus Valerius Manialis nói: “Nhớ lại đời sống quá khứ chẳng khác gì sống lại lần nữa”. Cảm ơn bạn Pankaji. Michenla. Trong một tuần ngắn ngủi ở Bắc Kinh, anh đã khiến tôi ôn lại quá trình sáng tác của mình, đã cho tôi “sống lại một lần nữa”.

            “Nguồn sáng tác của tôi chảy mãi”. Tôi nói với Pankaji. Michenla. Khi nói câu này, về tâm lý hình như tôi đã già khú  khụ. Bởi vì khi tôi nhìn laị sáng tác đầu tiên của mình,hình như đến từ câu truyện của một thế giới khác. Đây là lịch trình đặc biệt  của cả thế hệ người Trung Quốc chúng tôi. Chúng tôi chỉ hao phí thời gian hơn bốn mươi năm đã traỉ qua hai thế giới hoàn toàn khác nhau trong cùng một đất nước.

            Tôi tìm những sáng tác đầu tiên của mình. Suy nghĩ của tôi lướt nhanh trên  những quyển vở làm văn cũ rích, dừng lại trên tờ báo chữ to phủ trời rợp đất thời đó. Tôi cảm thấy tập làm văn thời tiểu học của mình không đáng nhắc đến. Bởi vì những tập làm văn này chỉ có một người đọc, đó là người thầy giáo ngữ văn đeo kính. Tôi càng muốn đem sáng tác của mình bắt đầu từ báo chữ to, đây là những tác phẩm phát biểu công khai đầu tiên của tôi.

            Thời kỳ cách mạng văn hóa người ta say sưa viết báo chữ to, càng thậm chí như hiện nay người ta say sưa với bờ lốc. Chỉ khác ở chỗ, báo chữ to thời đó “thiên biên nhất luật”, trên cơ bản là bản sao chép văn chương của “Báo nhân dân" ngôn ngữ cách mạng và khẩu hiệu trống rỗng tràn ngợp cả bài văn, leo lẻo không ngớt từ đầu chí cuối. Bờ lốc ngày nay lại muôn hình vạn trạng, tự bốc mình lên, chửi bới nhau, phô bày những điều thầm kín, khẳng khái say sưa, không bệnh cũng rên rỉ... còn có cả lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội ... Có thế nói cái gì cũng có, cần gì có nấy. Nhưng có một điểm giống nhau, đó là viết báo chữ to thời cách mạng văn hóa, hay viêt bờ lốc hiện nay đều là để tỏ rõ giá trị tồn tại của mình.

            Báo chữ to đã từng là vũ khí lợi hại nhất khi tôi học tiểu học. Mỗi sáng sớm khi khoác cặp sách đến trường, cặp mắt tôi căng thẳng rê trên báo chữ to mới nhất dán trên tường đường phố, xem những tiêu đề ấy có tên bố tôi không.

            Bố tôi là một bác sĩ ngoại khoa, đồng thời cũng là một quan chức nhỏ đảng viên cộng sản. Thời kỳ đầu cách mạng văn hóa, tôi đã nhìn tận mắt bố của mấy bạn học là quan chức bị đánh đổ vì tôị là “phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, bị phái tạo phản cách mạng thời đó đánh cho mặt mũi sưng tím, trước ngực đeo một tấm biển gỗ, đầu đội mũ cao bằng giấy dán hồ, suốt ngày tay cầm chổi, chăm chỉ quét đường phố. Người qua đường có thể sẵn sàng dơ chân đá họ một cái, hoặc nhổ bọt lên mặt họ. Con cái họ, mấy đứa bạn học của tôi đương nhiên là môi hở răng lạnh, luôn luôn bị bạn học khác nhục mạ và khinh rẻ.

            Tôi còn thơ dại cứ lo ngay ngáy, lo bố mình đột nhiên bị rủi ro. Đó cũng là vận rủi của tôi. Hơn nữa bố tôi còn có lý lịch gia đình địa chủ. Nhà bố tôi đã từng có hơn hai trăm mẫu ruộng, là một địa chủ trăm phần trăm, may mà ông tổ tôi là kẻ ăn chơi hư hỏng, không có lòng tiến thủ, chỉ biết đua đòi lêu lổng, năm nào cũng bán mất hai ba mẫu ruộng cung dưỡng đời sống háu ăn lười làm của mình. Đứa con bại gia chi tử này, đúng năm 1949 vừa vặn bán sạch hơn hai trăm mẫu ruộng, do đó ông đã bán mất thân phận địa chủ của mình. Không thì sau khi giải phóng cả nước, ông rất khó thoát khỏi số phận bị xử bắn. Bố tôi vì họa được phúc, vứt bỏ được tội danh con cái địa chủ. Đương nhiên tôi và anh trai cũng là kẻ hưởng lợi cách đời của đời sống ăn chơi lêu lổng của ông tôi.

            Mặc dù như vậy, lý lịch gia đình đen tối của bố tôi vẫn dày vò chúng tôi về tâm lý, chuyện rủi ro vẫn thường xảy ra. Một sáng sớm, tôi và anh trai cắp sách ra khỏi nhà, trên đường đi cuối cùng đã nhìn thấy tên bố mình xuất hiện nổi bật trên tiêu đề, hơn nữa còn có hai tội danh “địa chủ bỏ trốn” và “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”.

            Thời còn bé tôi rất nhút nhát, lúc ấy chắc chắn  sắc mặt tôi  nhợt nhạt. Tôi bảo anh trai, em không dám đến lớp, em phải trốn về nhà. Anh tôi mặt tỉnh khô, anh bảo chẳng việc gì phải sợ, anh nhởn nha nhởn nhơ đi về hướng nhà trường. Anh tôi chỉ can đảm đi một đoạn độ một trăm mét, sau đó anh lập tức quay về. Anh vừa đi đến với tôi vừa nói:

- Mẹ kiếp ông  cũng đếch đến trường nữa, ông cũng phải tránh một thời gian.

            Sau đó một tờ báo chữ to đầu tiên ký tên tôi vì thế đã ra đời. Năm ấy tôi học năm thứ nhất tiểu học, anh tôi học năm thứ ba tiểu học. Bố tôi ở vào thế vực sâu của đời người, tự giàn dựng tự diễn một vở kịch chính trị, khiến cả gia đình chúng tôi ăn một tết xuân cách mạng hoá. Trong đêm ba mươi tết, các gia đình khác, sau một năm nhịn ăn nhịn tiêu, cuối cùng đã có thể ăn một bữa ngon có thịt có cá, nhưng gia đình tôi lại ăn cơm “ôn khổ nhớ nghèo”. Cái gọi là “ôn khổ nhớ nghèo” tức là trộn cám với rau dại nấu lên, bóp thành bánh nắm. Món ăn được gọi là bánh cám này do người nghèo trong chế độ cũ ăn. Trong đêm ba mươi tết chúng tôi ăn bánh cám, tức là ôn lại nỗi khổ của chế độ cũ để thấy cái ngọt ngào của chế độ mới.

             Hai tay tôi bưng cái bánh cám nhạt nhẽo vô vị, nhỏ nhẻ cắn từng miếng. Tôi cảm thấy cám thô ráp khi tôi nuốt hình như cứa vỡ cổ họng. Rất tủi hổ tôi nói, ăn bánh cám thấy đau đau. Bố tôi giả vờ tỏ ra vui, ông nói bằng giọng của bác sĩ ngoại khoa.

             Đau mới tốt, đau mới chứng tỏ ôn nghèo nhớ khổ có hiệu quả điều trị.     

             Cả nhà bốn người chúng tôi nuốt bánh cám. Sau khi mẹ tôi dọn sạch mâm cơm, bố tôi trải một tờ giấy trắng to lên bàn, cả nhà bắt đầu viết báo chữ to. Chủ đề của báo chữ to là đấu tư lợi phê xét lại, tức là phải đánh đổ và phê phán tư tưởng tự tư và tư tưởng của chủ nghĩa xét lại. Tay phải bố tôi mài mực trong nghiên, nói với chúng tôi một cách trang trọng:

             Đêm giao thừa năm mới, chúng ta phải cẩn thận tiến hành một cuộc tự phê bình và phê bình.

            Điều này khiến anh em tôi hớn hở. Chúng tôi tranh nhau đòi phát biểu đầu tiên. Hai anh em tôi, không đứa nào chịu nhường đứa nào, đứa nào cũng muốn được tự phê bình trước. Bố mẹ bảo tôi nói trước, bởi vì anh lớn hơn tôi hai tuổi, anh nên nhường cơ hội cho em. Nhưng tôi chớp chớp mắt không biết nói gì? Trong giấy lát tôi không tìm ra  tư tưởng tự tư và tư tưởng của chủ nghĩa xét lại. Ở bên cạnh, anh tôi sốt ruột nôn nóng. Anh muốn nói trước, bố mẹ tôi không đồng ý, bắt đầu gợi ý cho tôi, bố mẹ nói, vừa giờ khi ăn bánh cám con cảm thấy đau đau cổ họng, tức là tư tưởng tự tư đang  tác oai tác quái. Tôi như trút gánh nặng, nhưng vẫn lo lo. Tôi hỏi bố mẹ:

             Liệu có thể còn coi là tư tưởng của chủ nghĩa xét lại hay không?

            Bố mẹ tôi trao đổi với nhau một lát, coi đây là tác phong của giai cấp tiểu tư sản ở nơi sâu kín của tư tưởng tôi đang trỗi dạy, còn trong chủ nghĩa xét lại thì đầy rẫy cái xấu xa của giai cấp tư sản. Bố mẹ gật gật đầu nói:

-          Có thể coi thế.

            Tự tư và chủ nghĩa xét lại đều có, tôi đã yên tâm. Đến lần anh trai. Anh đã kiêu ngạo nói ra, có lần anh nhặt được hai xu trên phố không đem trao cho thầy giáo mà mua luôn hai cái kẹo bỏ mồm. Bố mẹ tôi đều gật đầu trịnh trọng, bảo hành vi này của anh tôi hết sức tương tự tư tưởng vừa giờ của tôi, cũng đều có tư tương tự tư và chủ nghĩa xét lại. Tiếp theo mẹ tôi đấu tự tư, phê xét lại, sau mẹ tôi là bố tôi. Bố mẹ tôi đều nói những sai lầm nho nhỏ, không đau không ngứa, khiến hai anh em tôi có vẻ thất vọng, đặc biệt là bố tôi, khi tự phê bình không hề nhắc đến một chữ “địa chủ chạy trốn” và “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Anh trai tôi làm khó dễ cho bố tôi đầu tiên. Anh ấy nghiêm nghị hỏi:

-          Ông có phải là địa chủ bỏ trốn hay không?

            Nét mặt sa sầm, bố tôi lắc lắc đầu nói, gia đình tôi đã phá sản trước ngày cả nước giải phóng, cho nên khi cải cách ruộng đất được quy thành trung nông. Mẹ tôi ngồi cạnh kêu bị oan, mẹ nói nếu không từng có hơn hai trăm mẫu ruộng, thành phần gia đình bố tôi phải là bần nông. Anh trai tôi nghiêm khắc dơ tay phải, hỏi bố tôi:

-          Ông có thể bảo đảm với Mao chủ tịch không? Ông không phải địa chủ?

Bố tôi trang nghiêm dơ tay phải nói:

-          Tôi xin bảo đảm với Mao Chủ tịch, tôi không phải địa chủ.

Tôi không cam lạc hậu, cũng hạch sách bố:

-          Ông có phải phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa không?

            Bố tôi vẫn lắc lắc đầu. Bố nói bản thân tuy gia nhập đảng cộng sản trước giải phóng, nhưng luôn luôn làm công tác kỹ thuật, ông luôn luôn làm bác sĩ ngoại khoa không nên coi là phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Tôi học kiểu anh trai dơ tay phải:

-          Ông có thể bảo đảm với Mao chủ tịch không?

Bố tôi lại dơ tay phải nói:

-          Tôi xin bảo đảm với Mao Chủ tịch.

            Tiếp theo ba chúng tôi nhìn tờ báo chữ to tránh chỗ nặng nói chỗ nhẹ, do bố tôi viết. Đây là tờ báo chữ to đầu tiên phê phán bản thân chúng tôi, hơn nữa nó được viết vào đêm giao thừa. Sau khi viết xong, bố tôi ký tên mình, đưa bút lông cho mẹ tôi. Mẹ tôi ký xong đến anh tôi ký, tôi ký tên sau cùng.

            Chúng tôi bắt đầu thảo luận dán báo chữ to chỗ nào? Tôi bảo dán ở cửa nhà mình, có thể để bà con hàng xóm nhìn thấy hành vi vĩ đại đêm giao thừa của chúng tôi. Anh tôi nói nên dán ở cửa sổ bán vé của rạp chiếu bóng, ở đấy có đông người xem báo chữ to hơn. Chắc chắn trong bụng bố mẹ tôi sẽ chửi chúng tôi hai đứa con mất dậy. Bố mẹ tôi chỉ để làm vì, để chứng tỏ tinh thần cách mạng và giác ngộ chính trị của mình. Bố mẹ tôi đâu có muốn người khác đọc được tờ báo chữ to này, hơn nữa tờ báo chữ to ba mươi tết này có giá trị thực dụng rất cao, có thể là một đoạn rạng rỡ xuất hiện trong bản kiểm điểm của bố tôi.

            Bố mẹ tôi tuy trong lòng khó chịu, song nét mặt vẫn tỏ ra tán thành, hai bố mẹ gật đầu nói, ý kiến của hai anh em đều rất hay, vấn đề là nếu dán ra ngoài bản thân chúng ta không thể luôn luôn nhìn thấy tờ báo chữ to này. Bố mẹ kiên nhẫn giải thích, tờ báo chữ to này phê phán bản thân mình, nên dán trong nhà mình, để chúng ta luôn luôn cảnh giác sai lầm trước kia của mình, từ đó theo sát Mao chủ tịch vĩnh viễn đi trên con đường đúng đắn.