Hiển thị các bài đăng có nhãn Di Li. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di Li. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

7 ngày trên sa mạc


"La FLute Double" của Pablo Picasso



7 ngày trên sa mạc


Ánh sáng lọt qua khe cửa hắt lên sống mũi anh ấm nóng. Anh không dùng đồng hồ, không dùng điện thoại di động, không dùng bất cứ thứ gì thuộc về trang thiết bị văn minh kể từ sáng nay, nhưng nhìn bóng nắng, anh biết kim giờ đã chạm tới số 5. Anh cuộn chiếu và mở cánh cửa gỗ. Các chư tăng đang đi lại trong sân làm bóng áo vàng sáng lên trong nắng non. Tiếng kinh tụng hầu đã vô cảm, không còn ham muốn, không còn giận dữ, không còn si mê, không còn thù hận. Khi anh bước qua bậc thềm mát lạnh của gian chính, quỳ gối trước pho tượng Phật bằng vàng mang dáng hình khổ hạnh, Phra Suphan mắt vẫn đang nhắm nghiền, bàn tay trái đưa cho anh quyển kinh. Trác thực sự ngạc nhiên, khẽ liếc Suphan. Khuôn mặt ông ngăm ngăm xương xẩu, dường chỉ còn da và xương. Phra Suphan đã tách được phần hồn và xác rồi sao? Do đâu ông biết được có người vừa ngồi xuống cạnh mình? Do đâu ông biết được đó chính là anh?


Trác lần giở những trang giấy màu vàng nhạt, miệng tụng kinh trong vô thức, tuy nhiên anh không thể nhập trí óc và những lời kinh kệ vào làm một, anh cũng không thể tách rời phần hồn và phần xác như Phra Suphan, những hình ảnh lưu lại trong vỏ não như một cuốn phim cũ nát cứ tua đi tua lại, đôi lúc trộn lẫn vào lời niệm. Trong đó, khuôn mặt của sư trụ trì Phra Suphan không phải vô cảm như đang bên cạnh anh mà đầy sống động hệt lúc anh gặp ông lần đầu tiên vào buổi tối hôm qua.

- Nếu con muốn chia sẻ điều gì, hãy tìm đến ta. – Sau cùng Phra Suphan lên tiếng và rời khỏi gian thờ.


Trác vẫn mải miết đọc lời niệm, nhưng càng lúc trí óc càng trở nên hỗn độn. Khi anh đứng lên, bóng nắng đã hắt xiên vào trong điện. Anh bước qua sân giữa để vào trai phòng của Phra Suphan.
- Thưa thầy, con muốn biết cái chết là gì. – Trác vụt nói ngay khi nhìn thấy tấm lưng gày gò của Suphan, sợ rằng nếu ông quay mặt lại, anh sẽ câm nín như đã từng.


Suphan im lặng. Mãi sau ông mới lên tiếng, mắt vẫn không rời một điểm bất định trên tường.

- Muốn biết cái chết là gì, con cần phải hiểu sự sống.

- Con đã thấu hiểu sự sống, không ai hiểu nó hơn con. – Anh nóng lòng ngắt lời Suphan. - Con muốn dứt bỏ luân hồi và nghiệp chướng. Nguồn gốc của mọi tội lỗi và khổ đau mà con đang gánh chịu là những ngu muội mà con sẵn sàng để vượt qua. Con đã sẵn sàng từ bỏ mọi ham muốn, quyền lực, của cải và dục vọng.

- Bằng cách nào đây?

- Bằng sự giải thoát.

- Đức Sakya Mouni đã nói rằng con đường khổ hạnh cũng tối tăm vô nghĩa như con đường vinh hoa phú quý. Đấy không phải là sự giải thoát. Cái chết càng không phải là giải thoát. Đó chỉ là trạng thái chuyển tiếp của kinh nghiệm thực tại trước khi chuẩn bị tái sinh. Nó sẽ chấm dứt khi thần thức thực sự tái sinh trở lại vào một trong những cảnh giới của sáu cõi luân hồi. Thần thức nếu chưa giác ngộ, vẫn chìm đắm trong ảo tưởng hiện tại cũng như vị lai, bởi chính tâm thức tạo ra thế giới sự vật. Nhân đã gieo thế nào thì quả sẽ gặt đúng thế ấy.

Khi Trác rời khỏi trai phòng, những người đồng hành đã đợi anh ngoài sân giữa. Trên tay mỗi người cầm một túi xách nho nhỏ. Họ đều vào chùa trước anh. Đối với một vài người, chùa sắp tới sẽ là điểm cuối cùng mà họ di chuyển.

Trác bước đều trên vỉa hè, đôi mắt nhìn vô định vào dòng người xuôi ngược. Bangkok đang vào mùa khô. Cái nắng như lửa vờn trên chảo rang làm ráo tức thì những giọt mồ hôi vừa ứa, rồi lại tiếp tục luồn hơi nóng vào từng nội tạng của những người khách bộ hành. Có thể họ đã đi được gần chục cây số. Hai người trong số họ đã lên một chiếc taxi để tiếp tục cuộc hành trình, còn Trác kiên trì bước tiếp. Nắng đã gần giữa đỉnh đầu. Nắng hòa nhịp khô rát vào dạ dày đang sôi réo. Nắng hắt hơi hầm hập từ mặt đường nhựa lên đôi bàn chân đã chớm chày xước. Anh thấy mình sắp kiệt lả xuống vệ đường, và đó chính là điều anh muốn. Hồi còn nhỏ, một nhà sư giảng đạo cho gia đình anh nói rằng thể xác là cái bình đựng và thứ chứa trong nó là linh hồn. Phần hồn vốn dĩ trong sạch nhưng phần xác bản chất luôn ham muốn. Muốn xác và hồn cân bằng thì hãy đày đọa thể xác, chỉ như vậy mới có thể giải thoát khỏi vòng lao. Đúng lúc ấy, một luồng gió mát làm dịu đôi chân đang sưng tấy, làm nhẹ bỗng đầu óc đang ong nắng, gió mơn man trên môi đã hầu nứt nẻ. Trác nheo đôi mắt rát bỏng. Anh đang đứng trên con đường chạy ven sông Chao Phraya. Gió sông khiến làn da khô ráp của anh mềm lại, hệt như khi anh hứng đầy lồng ngực những cơn gió của biển đêm.

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2023

Cái ghẻ

     


Cái ghẻ



Tôi cho xe tấp sát lề đường rồi xuống mở cánh cửa bên phải, một hành động mà nàng luôn cảm thấy tự hào mỗi khi tôi đến đón nàng. "Anh xin lỗi. Ðường đông quá". Nàng cười tít mắt, kéo phécmơtuya áo trễ xuống ngực "Không sao. Em cũng chỉ vừa mới họp xong. Tối nay đền bù là được". Tôi lúng túng, sẵn sàng đón nhận một cơn lôi đình "Thế này nhé. Em chờ anh ngoài xe. Không lâu đâu". Tôi cảm tưởng nếu cửa xe không chốt chặt thì nàng đã nhoài ra ngoài mà lao đầu vào một chiếc xe khác đằng sau "Tôi cho rằng đây là lần cuối cùng...". Tôi nhăn nhó, còn thấy khó khăn hơn chủ trì cuộc họp thường niên cuối năm "Anh đâu muốn thế, nhưng lần đấu thầu này rất quan trọng. Anh phải đi đêm trước. Nếu thành công, anh hứa...". Nàng trườn người qua trái "Anh còn nhớ hợp đồng trước anh cũng hứa khi nào tiền chuyển khoản sang ngân hàng anh sẽ mua cho em một chiếc O2 không". Chiếc phécmơtuya áo của nàng tụt thêm một chút nữa, nàng cố gắng di chuyển toàn bộ những phần nào có thể trong một không gian chật hẹp và vịn vào cánh tay phải của tôi. Nếu là lúc khác thì tôi đã quặt vô lăng theo hướng ngược lại, về phía con đường dẫn tới căn hộ rộng 200 mét vuông nằm chót vót trên tầng 18. Sẽ để nàng biểu diễn màn rắc quần áo, giày, mũ và khăn quàng cổ từ cửa cho đến bồn tắm, khu bếp, bàn vi tính hay bất cứ nơi nào nàng cho là mới lạ. Nhưng trước mỗi cuộc làm ăn, tôi chịu không nghĩ được việc gì thêm. Tôi gạt mồ hôi trán kiên quyết "Thôi nhé. Ngồi chờ anh. Lát nữa mình ăn ở nhà hàng Mêhicô". Tôi dừng xe trước một căn nhà bốn tầng. Cuộc đàm phán hoá ra gọn hơn tôi tưởng. Gã trưởng phòng môi mỏng dính, lúc nói hai hàm răng xít lại, lúc cười đôi mắt đảo như rang lạc. "Thôi ta vào việc nhé. Phía hai nhà thầu kia đồng ý hai mươi phần trăm nên nếu cậu muốn trúng thầu thì hai lăm. Việc này cũng chả riêng mình tôi đâu, còn phải cám ơn nhiều cửa lắm". Tôi húp vội chén nước trà cho đỡ đắng họng "Dạ, mọi việc nhờ anh cả. Em đã chuẩn bị hết rồi". Nàng cũng không ngờ tôi ra nhanh như vậy, cười toét miệng "Nhìn mặt tươi thế kia là biết...". Ðôi chân trần màu sáp ong của nàng tựa vào thành xe đầy khiêu khích. "Thằng cu Ghẻ đấy hả?". Tôi đang dợm bước về phía nàng thì chợt giật mình vì một bóng đen chắn ngang trước mặt. Dường như nàng cũng vừa nhận thấy cái hình nhân nghều ngoào dưới nắng quái chập choạng nên há hốc mồm kinh hãi. "Có phải thằng cu Ghẻ con bà Thành đấy không?". Cả hai cái tên quen thuộc khiến tôi chựng lại. Chiếc kính mờ hơi nước do mồ hôi túa ra từ lúc còn ngồi húp nước trà trong nhà gã trưởng phòng. Tôi vội vàng rút kính lau vội vào vạt áo và ngay tức thì buột miệng "Cô Thuý". Người đàn bà trước mặt cười đắc ý, khuôn mặt nhúm lại như phù thuỷ, cả quầng mắt và bờ má thâm đen khiến lớp son phấn loang lổ cũng không che giấu nổi. Mái tóc xơ xác vàng ươm nhuộm bằng thứ thuốc rẻ tiền cắt cao tận gáy làm trơ khấc cổ xương xẩu. Chiếc túi da màu mận chít vắt vẻo trên cái khuỷu tay gân guốc bận áo đen lấp lánh kim tuyến nhũ vàng. Cô Thúy giơ tay định chạm vào người tôi khiến tôi chùng lại một bước theo phản xạ "Bà Thành dạo này có khoẻ không?"...

Cocktail

     

Xóa- Tranh Tuyền Nguyễn


    
Cocktail


Tôi kể lại câu chuyện này mà các tình tiết của nó chẳng liên quan gì đến "Chuyện tình nơi quán rượu" (1) với nam tài tử Tom Cruise trong vai anh chàng pha rượu bảnh trai có cái lắc hông khiến cả nửa dân số thế giới dán mắt vào vô tuyến. Cũng không hề dính dáng tới những bữa tiệc cocktail của giới thượng lưu, nơi các quý ông ngày ngồi đếm phong bì tối đến đứng tụm lại thành vòng tròn bàn chuyện nên mua hòn đảo nào giữa đại dương, và các quý bà vai trắng nõn nà bận rộn với việc bắt tay hơn là uống champagne. Câu chuyện của tôi xảy ra cách đây 8 năm và nó gây cho tôi một phản xạ có điều kiện khi cứ mỗi lần uống một ly cocktail vào lúc 11 giờ đêm (thói quen tôi không thể bỏ) là phải soi tận đáy cốc qua cái ánh đèn kềnh kệch trong quầy bar. Và đôi mắt nàng, vẫn hiện hữu như thể 2920 ngày mới chỉ là hôm qua.


Năm ấy tôi 26 tuổi, chưa từng có việc làm. Hai chữ "thất nghiệp" đeo bám trong đầu tôi đến nỗi tôi đâm thù ghét tất cả mọi cuộc gặp gỡ xã giao với những câu hỏi được đúc khuôn như phát ra từ một chiếc đĩa hát thu sẵn "Thế bao giờ mới cho bọn tớ ăn bánh kẹo đây? Ðang làm ở đâu rồi? Lương lậu thế nào?" Dần dần tôi hình thành thói quen hễ cứ thấy bóng người quen là vờ tuột giây giày hoặc quên gì đó phải quay hướng ngược lại. Một lần gã anh họ của tôi đến chơi sau hơn 10 năm sống lưu vong ở nước ngoài. Gã trịnh trọng chia các vi dít cho cả sáu thành viên trong gia đình tôi, trên đề chức danh chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Tư vấn thương mại. Gã vỗ vai tôi bồm bộp "Cậu phải đi theo học hỏi tớ. Hai bằng đại học như cậu mà vẫn ăn cơm mẹ nấu là không ổn đâu". Tôi ngượng chín người. Cái điều vẫn lẩn khuất trong tiềm thức được gã nói trắng ra trước thanh thiên bạch nhật khiến cả nhà tôi gật gù. Gã ngoáy mũi rồi chùi luôn vào vạt áo com lê "Bằng cấp mà làm đếch gì. Giáo sư tiến sĩ còn đang thất nghiệp đầy ra nữa là các cậu". Mẹ tôi bê nước trà đến trước mặt gã mà quên mất 10 năm trước bà cấm tiệt không cho anh em tôi giao du với ông anh họ quý hoá. "Thì bây giờ anh em bảo ban nhau mà làm ăn. Gia đình ta neo người nên thím giao nó cho anh. Anh có việc vặt gì sai bảo nó cũng được". Nghiễm nhiên tôi có việc làm. Dù không ưa lắm tay anh họ ruột thịt nhưng giữa chúng tôi cũng có điểm chung. Tôi thù ghét từ "thất nghiệp" còn gã thù ghét từ "bằng cấp". Nỗi khổ tâm làm chúng tôi dính lấy nhau như hình với bóng. Gã luôn giới thiệu tôi với đám khách hàng "Chú em tôi giỏi lắm. Hai bằng đại học, tiếng Anh nói như gió, việc gì cũng thạo. Có gì cần các anh cứ bảo chú ấy." Thật tình thì tôi làm sang cho gã cũng như những bức tranh treo ở phòng khách công ty mà khách khứa đều phải khâm phục trí sáng tạo phong phú của chủ nhân, bức tranh Phật bà treo cạnh poster in mẫu Cadillac ba khoang đời mới nhất, kế tiếp là tấm ảnh khổ lớn gã chụp cùng một quan chức trong chính phủ tại một buổi lễ cắt băng khánh thành và kề ngay đó là chân dung cô gái tóc vàng có vòng một vừa được mua bảo hiểm 2 triệu đô la. Cái việc cần mà gã anh họ nói với các ông khách nước ngoài mắt một mí được trịnh trọng giao phó cho tôi. Những ngày đầu tôi tháp tùng gã và mấy ông khách kia đi ngoại giao tại các quán karaoke ruột của gã trong thành phố. Trên đời có hai thứ tôi chưa từng được đụng đến dù có mục sở thị, đó là rượu và phụ nữ. Trước nay tôi vẫn được khen sáng dạ, song lần này gã anh họ khẳng định "Chú tối lắm. Tao thấy lạ khi thím tao khai giới tính cho chú mày trong giấy khai sinh". Gã cười khìn khịt "Ðấy, bằng cấp mà làm đếch gì. Hôm nào cắp sách đến tao chỉ cho vài đường cơ bản". Kết quả những ngày đi làm đầu tiên của tôi là những cơn buồn nôn thường trực. Ðến độ chẳng cần mùi whisky hay mùi nước hoa sộc ra từ những bộ ngực không che đậy tôi cũng đã đủ gợn cổ họng vào mỗi sáng như đàn bà ăn dở. Hết tháng đầu gã anh họ tuyên bố "Từ nay công tác ngoại giao tôi giao cậu quản lý." Tôi phản ứng yếu ớt "Hay anh chỉ định người khác. Em chưa quen việc". Gã cười nhạt "Vậy thì ai làm? Tao làm? Mấy con thư ký õng ẹo kia hay thằng tài xế?". Nói đoạn gã dỗ dành "Thôi, tao giao cho chú công việc nhẹ nhàng nhất, chỉ việc ăn với chơi. Ðấy là tao nể thím lắm. Ðối tác họ thích chú vì mặt mũi hiền lành lại nói được tiếng Anh. Chú làm tốt thì tháng sau tôi bổ chú làm trưởng phòng đối ngoại". Dĩ nhiên là tôi vẫn tối như thường. Ðối tác của gã phàn nàn liên tục và lần cuối cùng trước khi đoàn khách thứ bảy về nước, gã gọi tôi lên phòng "Mày ăn gì vào mồm mà ngu thế?". Tôi cứ ngắm mãi mũi giày. Gã càng tức "Sao mày dám đánh khách hàng của tao. Mày có biết hợp đồng tiền tỉ nằm ở đấy không." Tôi cắt ngang "Em chỉ lỡ tay xô lão thôi. Tại lão tát con bé trong quán". Gã nhìn tôi như thể nhìn con bệnh ung thư giai đoạn cuối "Mày để tình thương của mày cho thím tao ấy, người đã nuôi báo cô mày mấy chục năm. Còn loại đàn bà kia không thằng này tát có thằng khác tát. Thôi từ mai chú mày lại về nhà ăn cơm mẹ nấu, nhá". Câu sau cùng này khiến tôi suýt khuỵu xuống. Có ông Maslow(2) nào đó đã cho rằng trong Năm Nhu cầu, nhu cầu sinh tồn là nhu cầu đầu tiên và mạnh mẽ nhất. Lần này tôi thấm nhuần mớ lý thuyết của Maslow hơn lúc nào hết. Sáng sớm hôm sau, tôi bê một tách cà phê thơm phức và xẹt lửa vào điếu thuốc cho vị cứu tinh. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí sát sống mũi của gã "Anh cho em tiếp tục đi làm. Việc hôm qua em sai rồi".


Một năm sau, tôi là cục cưng của cả công ty. Hợp đồng tôi kéo về đủ để tôi muốn gì được nấy. Giờ không những chai lì với mùi whisky và nước hoa, tôi còn có thể thẩm định được tất cả các dòng rượu mạnh cũng như thuộc lòng ý thích của từng khách hàng. Gã buôn phế liệu tàu biển người Nhật Bản thích rượu gin và con gái da ngăm đen phốp pháp. Thằng cha Mễ Tây Cơ lai Tàu kinh doanh bất động sản lại chỉ thích rum trắng và phụ nữ dong dỏng cao. Còn tay giám đốc Ðài Loan vừa gặp chân ướt chân ráo đã uống Brandy (3) tì tì như nước lã và vỗ mông bất kỳ cô gái nào đi qua bàn của hắn. Mỗi lần như vậy tôi cũng cười hềnh hệch hưởng ứng, rồi gọi cô gái kia lại để hắn nhét tiền vào khe áo. Các đối tác của gã anh họ mê tôi như điếu đổ. Ðến nỗi mỗi lần xuống sân bay, từ đầu tiên họ nhắc đến là tên tôi rồi mới đến câu chào và chuyện làm ăn. Thế rồi tôi quen nàng trong một quán bar, hay đúng hơn trong một chuyến công tác vào phương Nam. Năm ấy khủng hoảng kinh tế Châu á. Lượng khách hàng của gã anh họ ít dần. Họ rút hết vốn đầu tư lại để dồn sức cho công ty mẹ trong nước. Gã anh họ thức thời không biết cũng sắm sanh được ở đâu hai bằng đại học giống như tôi, rồi lần hồi có cả bằng tiến sỹ. Gã được bổ nhiệm vào một Vụ quan trọng. Khởi đầu là chuyên viên, nhưng một ngày nọ gã trịnh trọng gọi tôi lên "Tôi được thăng chức rồi. Chức giám đốc công ty tôi trân trọng giao lại cho chú". Tôi thành giám đốc, đương nhiên, chỉ trên giấy tờ.


Lần đó tôi dẫn một khách hàng đi khảo sát thị trường phía Nam. Sau giờ làm việc, tôi với hắn lại rúc vào một quán bar. Hắn chỉ cô gái đang quấn lấy chiếc cột inox bằng động tác của một con mèo hoang "Ðẹp lắm". Tôi hét lên át tiếng nhạc "Tao có thứ này còn hay hơn". Ðôi mắt một mí của hắn sáng lên "Thật à". Tôi ra ngoài và dẫn vào một cô gái có đôi môi trễ nải ướt át. Tôi trao đổi vài câu với cô gái bằng tiếng Việt và với hắn bằng tiếng Anh. Hắn cảm ơn tôi rồi vui vẻ khoác vai cô ta đi ra ngoài. Tôi thở phào, gọi cho mình một ly Margaritta và ngay khi vừa chạm môi vào viền muối trên cốc, có vật gì đó chạm nhẹ vào tôi "Anh mới vào nghề à?". Tôi trố mắt nhìn cô gái trước mặt qua ánh sáng mờ ảo quyện khói thuốc, cảm thấy vừa ngượng vừa tức. Hẳn cô ta tưởng tôi là một tên ma cô chuyên nghiệp. Tôi cuống cuồng rút chiếc các vi dít từ trong ví ra, chẳng màng nhìn lại quần áo xem có ra dáng một giám đốc không. Cô gái mỉm cười vẻ hối lỗi "Em chỉ tưởng nhầm nên báo anh cảnh giác với tụi chuyên nghiệp ở đây. Tụi nó dữ đòn với những ma mới lắm." Cô gái nói giọng Bắc. Ðôi mắt đen đến ngạc nhiên. Nhìn chung khuôn mặt cô không có vẻ gì ấn tượng ngoài đôi mắt với hàng mi dày rợp dễ khiến những gã đàn ông như tôi quên mất ly cocktail hấp dẫn trước mặt "Tối nay em rảnh chứ?". Tôi đặt tay lên vai cô gái. Bất ngờ cô đứng phắt dậy, hàng mi nhướng lên "Em không phải là... Em là một bartender (4)". Tôi ngồi lại đến một giờ sáng. Trước khi định gọi một chiếc taxi về khách sạn, tôi đi tới đi lui trước quầy bar rồi cuối cùng cũng cất lời "Em mắt đẹp ơi. Cho anh xin lỗi chuyện hiểu lầm ban nãy nhé. Mới đầu em cũng hiểu lầm anh còn gì. Một đều được chưa. Mà em pha Margaritta ngon lắm". Cô gái đang thoăn thoắt đôi tay với bình shaker, đôi mắt tươi rói trong khi khuôn miệng hơi trĩu xuống giận dỗi "Margaritta chào đón anh lần sau".


Sau lần ấy, những chuyến bay về phương Nam của tôi dày hơn. Thậm chí chẳng cần dẫn khách đi ngoại giao tôi cũng tự mình mò đến quán bar của Margaritta. Tôi đặt tên cho nàng bằng tên loại cocktail tôi yêu thích, cũng là tên cô đào hồng nhan bạc mệnh được một tay bartender vô danh nào đó gắn lên thứ nước pha cồn diệu kỳ này. Tôi chỉ được gặp nàng vào ban đêm. Ðó cũng là lý do cho đến những năm về sau, mỗi lần tôi nhìn thấy nàng trong những giấc mơ không màu, chỉ đôi mắt nàng là có thật và đen hơn cả màn đêm. Tôi không biết nhiều về nàng. Cho dù sau vài lần bị từ chối khi có nhã ý đưa nàng về, tôi đã cất công đứng ngoài cửa đến tận 3 giờ sáng để bám theo nàng về nhà. Nhưng lần nào cũng hướng ấy, con đường ấy, nàng mất hút vào một xóm nhỏ ven nội, như thể nàng mãi là bóng đêm, trên đường phố, trong quầy bar, trong những giấc mơ đen trắng và cả ký ức rặt một màu bóng đêm của tôi nữa. Có lần tôi gọi ly Margaritta thứ chín trong một buổi tối và hỏi nàng "Trước em học trường nấu ăn à?". Nàng mỉm cười dịu dàng, lấy cho tôi vài tờ giấy ăn để thấm vết ứơt trên cà vạt "Không, trước em học dược. Sau này vì kiếm sống mà phải học pha cocktail thôi". Trước nay tôi vẫn coi cocktail là một thứ làm mát cổ họng sau khi dạ dày được tưới đẫm whisky. Nhưng những lúc nhìn ánh loang loáng của bình shaker trên đôi tay nhỏ nhắn, nhìn cách nàng đổ rượu vào ly đầy điệu nghệ, nhìn nụ cười khi nàng đặt ly Margaritta lên quầy bar, lần đầu tiên tôi cảm nhận vị mặn của muối hoà quyện với hơi cay từ vỏ chanh và hương thơm lan tỏa của rượu tequila trên đầu lưỡi. Nó cũng ám ảnh chẳng khác nào đôi mắt đen hơn bóng đêm của Margaritta. "Học dược khó nhất điều gì em". Nàng thái vỏ chanh vào một chiếc ly mà không nhìn tôi "Khó nhất là phân biệt những nguyên tố để riêng thì vô hại mà kết hợp với nhau thì thành độc tố". Tôi giơ chiếc ly đã uống cạn "Như Margaritta phải không. Ðể riêng muối, chanh và tequila thì chẳng ai muốn uống nhưng hoà vào nhau thì thành độc dược chết người. Uống rồi không sao quên được". Tôi nhìn nàng đầy ý nghĩa. Chút tequila chẳng đủ làm tôi say nhưng tôi thấy mặt nóng bừng. Margaritta cũng nhìn tôi luống cuống. Nàng suýt đổ nhầm nước sốt Tabasco vào ly Tom Collins.


Lần khác tôi hỏi nàng "Sao em không làm nghề dược?" "Em bỏ học giữa chừng" "Tại sao?" "Em sang Nga" "Còn sau đó?". Nàng vờ bận pha cocktail không trả lời. Tất cả những gì tôi biết về nàng chỉ có thế. Nàng mãi là một bí ẩn như những dải đêm phía sau Thiên Hà. Nhiều lần sau, tôi vẫn gắng gợi chuyện "Anh họ anh cũng ở bên Nga hơn 10 năm". Nàng nhướng mi "Vậy à, anh họ anh làm gì ở bên ấy?" "Anh không biết. Anh ấy không nói. Cũng như em vậy", tôi giận dỗi. Quả thật, tôi cũng không biết sau 10 năm lưu lạc xứ người, gã anh họ tôi đã làm gì để kiếm được ngần ấy tiền. Thời gian này, tôi chỉ gặp gã những lúc trao đổi công việc cần thiết. Dù mối làm ăn với đối tác nước ngoài ít dần, gã vẫn tuồn công việc ra ngoài nhờ vào chiếc ghế mới. Một lần gã gọi tôi lên phòng, chốt cửa cẩn thận, đôi mắt sít vào sống mũi "Không xong rồi. Lão cốp này đưa gì cũng không nhận". Tôi xoè lửa cho gã "Cả thứ kia cũng không à?". Gã rít thuốc khổ sở "Nó không thích hàng chợ" "Hàng tinh vậy?" "Cũng không được". Tôi văng tục "Thế vụ giấy phép này hỏng mất à. Sếp ơi, dạo này làm ăn khó lắm. Em vất vả lắm mới kéo được hợp đồng này về đấy". Gã vò điếu thuốc, tay dò số điện thoại "Biết rồi. Mày đừng làm tao cuống. Thằng trợ lý của lão nói lão này chỉ thích hàng độc". Tối hôm đó, gã hẹn tôi ở một khách sạn ngoại ô. Gã đi cùng một cô bé trạc 20 tuổi mà tôi đã gặp vài lần. Gã từng tâm sự với tôi rằng cô bé sinh viên quê mùa ấy chính là điểm dừng tuyệt vời của cuộc đời gã, rằng gã sẽ giữ cho cô nguyên vẹn đến tận ngày cưới. Lúc đó tôi cho rằng chính khuôn mặt như Ðức Mẹ đồng trinh của cô bé đã khiến gã nguỵ tạo một điều mê tín hoang tưởng. Gã thì thào với tôi "Tao phải đi đây. Lão kia sắp đến. Tao giao phó cho mày." Tôi kinh hoàng "Em không làm được". Gã rít lên "Vậy thì ai làm? Tao làm? Mấy con thư ký õng ẹo kia hay thằng tài xế?". Mặt gã đỏ tía "Mà việc này không chỉ mỗi giấy phép thôi đâu. Lão này đã nắm hết mấy phi vụ trước của mày rồi. Mày làm. Mày ký. Mày là giám đốc. Mày thích tự tử thì cứ về trước đi". Tôi thề rằng gã anh họ ruột thịt kia chưa hề tham vấn ông Maslow nhưng đã đánh gục tôi khi đụng đến cái nhu cầu thứ hai. Tôi cúi mặt "Vâng ạ. Em sai rồi". Những ly Margaritta nhẹ như nước khoáng chẳng thể làm tôi quên đôi mắt ngơ ngác trên khuôn mặt Ðức mẹ. Tôi còn bị gã gửi gắm "hàng độc" thêm vài lần nữa và sau mỗi bận, tôi đều bay hai nghìn cây số chỉ để xin nàng vài ly Brandy. "Anh có chuyện căng thẳng à? Thứ này không tốt như Margaritta đâu". Nàng đẩy ly Brandy của tôi ra xa. Tôi ngước nhìn nàng như con chiên thú tội trước Ðức cha. Nàng đâu biết rằng tôi đã trở thành một tên đồ tể chính hiệu.


Có một lần tôi dẫn gã anh họ đến quán bar của Margaritta. Vừa thoáng thấy bóng nàng tôi vẫy tay, định sẽ giới thiệu nàng với người thân duy nhất mà tôi có thể đưa vào thành phố này. Nhưng nhìn thấy tôi, khuôn mặt nàng tái lại và phút chốc biến mất trong bóng tối phía quầy bar. Ðận ấy tôi không gặp được nàng cho dù tối nào cũng hứa với gã anh họ nhất định sẽ giới thiệu nàng, người đầu tiên khiến tôi cảm nhận vị ngọt ngào của những ly cocktail. Chuyến công tác kề sau đó, nàng chủ động gặp tôi với một vẻ bồn chồn hiếm có ngay khi tôi vừa bước chân vào quán. "Người đi cùng anh hôm nọ là ai vậy?" "Anh họ anh. Anh đã kể với em rồi. Sao mấy hôm đó em mất tích lâu thế?". Nàng không trả lời, vội vã đi pha cho tôi một ly Margaritta, không quên hỏi gã nước ngoài cao lớn đi bên cạnh tôi uống gì. "Tequikalu", gã dụi bàn tay đầy lông lên cằm, nheo mắt thích thú. Margaritta đặt hai ly cocktail lên quầy bar, đôi mắt nàng lộ rõ vẻ căng thẳng. Gã đối tác lông lá của tôi chồm qua quầy bar túm chặt cổ tay nàng, khèn khẹt cái giọng Mỹ miền Tây "Tao muốn uống Tequikalu theo kiểu Mexico". Tôi uống cạn ly cocktail để đẩy cơn điên dại tụt xuống dạ dày, cố gắng giải thích cho gã khốn kiếp kia hiểu trong lúc ra hiệu cho nàng lẩn ra phía sau. Gã càng hăng tiết "Gọi người quản lý ra đây. Tequikalu phải uống thế nào hả, lũ lừa cái." Gã trỏ tay vào mặt nàng, rút xấp tiền xanh lè in hình ngài Franklin huơ huơ như lên đồng. Tên quản lý xanh mắt, rít lên với nàng "Làm đi". Trước khi tôi kịp định hình được chuyện gì xảy ra, trước khi tôi kịp phang nắm đấm vào giữa mặt thằng cha lông lá và trước khi tôi kịp ngỏ lời yêu nàng, câu nói mà hàng trăm ả đàn bà cố moi từ miệng tôi, Margaritta lạnh lùng dằn mạnh ly tequikalu xuống mặt bàn. Màu nâu sẫm của rượu Kahlua từ từ hoà lẫn ánh vàng rượi của tequila như những xấp hợp đồng mà gã anh họ ruột thịt đã nhuộm đen cuộc đời tôi. Margaritta thản nhiên kéo vạt áo lên. Nếu là lúc khác, trong một hoàn cảnh khác tôi đã có thể ngắm nhìn và tôn thờ món quà tặng tuyệt vời mà tạo hoá đã ban cho nàng. Nhưng khi ấy, tôi kinh hoàng nhìn Margaritta thản nhiên áp bộ ngực màu ngà voi lên cái mặt lông lá đang ngửa sẵn chờ đợi và từ từ đổ thứ cocktail đen ngòm kia vào mồm gã. Cả quán bar đã dừng mọi hoạt động, nhạc tắt, các cô vũ nữ ngừng quấn lấy cây cột inox, những ly rượu mạnh nằm yên lặng trên mặt bàn. Tôi có thể nghe rõ tiếng nuốt ực khi những giọt cocktail cuối cùng trườn vào cái cổ họng khả ố. Tiếng vỗ tay dậy lên hưởng ứng. Gã kia cười thỏa mãn, nhét xấp tiền vào ngực nàng "Cô khá lắm." Tôi gặp nàng ở cửa sau quán bar "Em làm cái trò gì vậy?". Nàng không nhìn tôi "Em cần việc". Tôi khổ sở "Anh sẽ cho em công việc khác, tốt gấp trăm lần ở đây?" Nàng bỏ vào trong, kiên quyết "Em cần làm việc ở đây". Tôi mãi mãi không hiểu nàng. Cả cho đến bây giờ nữa. Hôm sau Margaritta gọi điện cho tôi "Em sẽ bỏ việc ở đây. Nhưng anh mời anh họ anh đến một lần để em pha cocktail đãi anh ấy". Khỏi phải nói tôi mừng rỡ đến mức nào và lấy tình cảm keo sơn ruột thịt mấy năm trời nay để thuyết phục gã anh họ rời chiếc ghế sa lông một ngày vào gặp nàng. Tôi nháy mắt với nàng và ngay lập tức, hai ly Margaritta được đặt trước mặt chúng tôi. Gã anh họ như thường lệ, cho dù là rượu mạnh, cocktail hay trà đá đều uống cạn một hơi ngay khi vừa mang ra. Nàng mỉm cười "Chào anh. Em là bạn gái của em họ anh. Dạo này anh khoẻ chứ?". Vừa nhìn thấy đôi mắt màu bóng đêm của nàng, cái miệng rộng ngoác của gã bỗng cứng lại, rồi khó khăn lắm mới thốt lên được "Tại sao cô... lại ở đây?". Chưa nói được hết câu, gã ôm chặt lấy cổ họng rồi nện cả thân hình kềnh càng xuống mặt sàn đầy vết rượu. Ðôi mắt bé tí dãn ra ngoài sống mũi và kinh hoàng nhìn thẳng lên trần nhà.


Cả quán bar nhốn nháo. Sau đó giám định pháp y tìm thấy trong mớ hỗn độn ở dạ dày gã một hợp chất cực độc nhưng không rõ chất tạo thành. Nhiều ngày liên tiếp tôi phải ở phòng thẩm vấn. Người ta khoanh vùng những thức ăn gã tống vào tối hôm đó và mọi mối quan hệ của gã từ trước đến nay, nhưng cả hai thứ đều lộn xộn và bí hiểm như nhau. Margaritta của tôi cũng bị hỏi đến, song từ lúc nhìn thấy ly cocktail cuối cùng do nàng pha, tôi không còn được gặp nàng nữa. Giữa ánh sáng chói chang nơi thành phố đầy nắng và gió, nàng biến mất như bóng đêm không để lại dấu vết. Tay chủ quán bar đắt khách tìm mọi cách lo lót để đầu mối của cuộc điều tra lái về một hướng khác. Một tháng sau, tôi tìm thấy một mẩu giấy trong túi chiếc áo vét mặc hôm cuối cùng gặp nàng và gã anh họ. Một dòng chữ nắn nót, nhưng hơi run rẩy, chứng tỏ người viết ra nó không vội vàng gì "Hãy tin em, ly Margaritta của anh ngày hôm nay chỉ có muối, tequila và nước chanh. Vĩnh biệt anh". Mãi mãi, tôi không thể đoán được gã anh họ tôi đã làm hại gì nàng, đến nỗi, để sắp xếp kế hoạch cho một ly Margaritta chết người, nàng sẵn sàng từ bỏ lòng tự trọng khi đổ rượu vào mồm tên khách bỉ ổi, sẵn sàng từ bỏ cuộc sống tuyệt đẹp dưới ánh sáng mặt trời và, sẵn sàng từ bỏ tôi, người mà nàng biết sẽ uống bất kỳ ly cocktail nào nàng pha, cho dù trong đó có thứ gì đi nữa. Vụ ngộ độc của gã anh họ tôi vẫn là điều bí ẩn. Nhưng những cái tít giật gân trên mặt báo rồi phai đi, những cuộc thẩm vấn thưa dần và gia đình tôi cũng thôi không nhắc đến gã. Có người nói rằng những vụ án giết người thế nào rồi cũng được tìm ra, cho dù không còn chút manh mối nào. Ðấy là linh hồn của những người bị chết oan đưa đường chỉ lối cho người điều tra. Nhưng tôi tin rằng, ở dưới kia có những linh hồn tốt, nhưng cũng có những linh hồn xấu, hay có cả linh hồn nửa tốt nửa xấu, như dưới ánh mặt trời kia, có những người nửa tốt nửa xấu, giống như tôi và nàng vậy./.


2006

Chú thích:

1. Một bộ phim nổi tiếng của Mỹ mà tên nguyên bản là "Cocktail"

2. Abraham Maslow đưa ra thuyết 5 nhu cầu: Nhu cầu tồn tại (ăn, mặc, ở), nhu cầu an toàn (tính mạng, tài sản), nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định

3. Một loại rượu mạnh được lên men từ trái cây

4. Người pha cocktail

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

Khách lạ và người lái taxi

 

Khách lạ và người lái taxi

Truyện ngắn Di Li

11 giờ đêm, thị trấn Hoài đã lặng trong giấc ngủ. Những đêm mùa hạ, ấy là còn thảng hoặc một vài gã trai chạy xe chầm chậm từ quán karaoke đầu phố thị, nơi duy nhất trong thị trấn tự hào vì có bộ dàn âm thanh cũ kỹ và một danh sách những bài nhạc sến. Nhưng bữa nay đang vào giữa đông. Hơi lạnh se sắt. Gió từ trên núi thổi về ào ạt khiến loạt cành cây già nua, khô khỏng oằn mình không nổi mà đứt lìa khỏi thân chủ. Chúng gãy răng rắc và rụng đồm độp trên nóc xe. Người lái taxi chạy hết tốc lực hướng về trung tâm thị trấn. Phố vắng, lại thuộc đường như lòng bàn tay, gã nhắm mắt cũng lái được xe về nhà. 100 mét nữa là đến cửa hàng bách hóa. Đi tiếp 50 mét sẽ tới bưu điện. Cạnh đó là trường tiểu học. Kế đến xưởng gỗ, chợ rau, tiệm sửa xe máy, hiệu may và ngoặt vào là con phố nhỏ quen thuộc. Gã sẽ tắt máy, trùm bạt lên xe, tất cả mất 5 phút. Rửa chân, thay đồ, thêm 5 phút nữa. Chỉ sau 10 phút, gã sẽ được nằm trong chăn ấm với vợ.

Xe chạy qua bưu điện, chợ rau và chuẩn bị rẽ thì hắn bất chợt nhìn thấy một bóng đen đứng trên bậc tam cấp của Hoài Thơ, cái khách sạn duy nhất ở thị trấn và cũng là nơi duy nhất còn sáng ánh đèn. Bóng đen đứng ngược sáng nên gã không nhìn rõ mặt, chỉ thấy một cánh tay giơ lên ra hiệu. Gã phanh kít lại, bụng đấu tranh tư tưởng. Gã nghĩ đến cái chăn ấm sực hơi vợ. Nhưng không kịp nữa rồi, người kia đã vội vã rảo bước sang đường. Gót giày cao gõ lộp cộp xuống mặt đường nhựa. Đó là một người đàn bà mà căn cứ vào dáng vẻ nhanh nhẹn thì áng chừng còn trẻ. Cô ta mặc áo dạ đen dày khoác ngoài chiếc váy dài màu trắng chấm tận gót chân. Mái tóc và nửa khuôn mặt giấu sau chiếc khăn trắng hoa đỏ. Đôi bàn tay bọc kỹ trong chiếc găng len cũng màu đỏ. Và cô ta xách theo lỉnh kỉnh những túi nilon đen to đùng buộc túm, loại túi đựng rác chuyên dụng của  người thành phố. Gã hạ cửa kính xe.

- Chị đi đâu?

Nhưng người đàn bà đã kịp mở cửa sau. Hơi lạnh buốt của phố núi ùa thốc vào không gian chật hẹp ấm áp bên trong lòng xe.

- Cứ đi rồi tôi chỉ.

- Xa không?

- Không, gần thôi.

Một mùi hương là lạ ập vào theo. Qua chiếc gương nhỏ trong xe, gã cố gắng nhìn cho rõ khuôn mặt của người khách lúc nửa đêm, nhưng cô ta quay miết sang cửa kính nên gã chỉ có thể thoáng thấy sống mũi thẳng và nhỏ nhắn lấp loáng sau chiếc khăn hoa. Gã hầu như không mấy khi đón khách trong thị trấn mà thường sang kiếm ăn ở khu vực nội thành bên cạnh, cách thị trấn chỉ chừng hai chục cây số. Thị trấn nghèo, lọt thỏm trong một tỉnh nghèo, chỉ mới khởi sắc chút đỉnh nhờ vào việc phát hiện ra tầm quan trọng của du lịch. Mà rải rác quanh đó là những rừng những sông những suối, những nơi gã thường ngụp lặn hồi còn nhỏ, giờ khách lạ hò nhau kéo đến dựng trại, chụp ảnh và thậm chí phóng viên còn viết bài với những mỹ từ kiểu “Hòn ngọc non cao” hay “Viễn đông đệ nhất động”. Hôm nay gã không kiếm được nhiều, phần vì mùa đông thưa vắng khách du lịch, phần lại ngày nghỉ, dân công sở cao cấp trong nội thị không có lý do gì để bắt taxi của gã. Người khách lạ dường như hiểu điều ấy, cô ta nói khẽ, giọng của người miền Bắc chuẩn xác:

- Anh cứ đi thẳng, lúc nào rẽ tôi bảo. Chạy xe muộn, tôi sẽ gửi thêm tiền trà nước cho anh.

Gã mừng lòng, cho xe chạy bon bon về phía cuối thị trấn. Đến đây, những ngôi nhà đã tồi tàn dần đi rồi, cho dù khu nhà mặt phố trung tâm cũng không thể gọi là sáng sủa và sang trọng. Đi thêm một đoạn nữa đã là đồng ruộng. Phía xa là núi, đen thẫm những hình khối khổng lồ kỳ quặc. Gã bật đèn pha quét xa. Từ ngày xuất hiện cái gọi là “du lịch”, con đường này được làm lại, được trải nhựa phẳng lì thay thế cho lối đi đầy ổ gà ổ voi như từ thuở khai thiên lập địa đã thế. Gã đi thêm dăm cây số nữa. “Thế này mà gọi là gần thôi”, gã lầm bầm trong bụng. Lũ người thành phố vài chục cây số vẫn cho là gần. Dân quê như gã, gần, nghĩa là chỉ ngay đầu phố.

Xe chạy tới ngã ba đường. Phía trước mặt là cánh đồng hoang rậm rịt. Gã xi nhan sang phải theo thói quen dù biết rằng thế gian giờ này chỉ còn một vật chuyển động duy nhất là chiếc taxi đang chở khách. Cô gái này chắc chạy lên khu du lịch trên núi. Lại một ông Tây da trắng nào đó đi nghỉ đông, ham của lạ, và cô ta được gọi đến qua điện thoại. Gã cười tủm trong bụng bằng một nụ cười hiểu biết.

- Không phải, anh rẽ lối kia.

Người khách trên xe nãy giờ vẫn im lặng như một gốc cây, giờ cất giọng khẽ khàng nhưng gấp gáp khiến gã giật bắn mình. Không phải cô ta làm gã giật mình, mà câu chỉ đường khiến gã lạnh gáy.

- Cô bảo sao?

- Anh rẽ lối kia. - Người đàn bà nhắc lại. – Anh quay lại. Rẽ trái chứ không rẽ phải.

- Cô định đi đâu? – Gã nhìn đôi mắt đen sâu hút qua chiếc gương nhỏ.

- Anh cứ đi rồi tôi sẽ chỉ tiếp.

Gã chậm chạp cài số lùi, rồi băn khoăn dừng lại giữa ngã ba đường. Ánh đèn pha lúc này quét sang trái, là một con đường mòn cỏ buông rậm rạp, dù khá rộng rãi đủ để hai xe tránh nhau. Ngay dưới chạc cây cổ thụ đang xòa thấp tán ủ rũ giữa đêm đông là tấm biển xanh có mũi tên chỉ đường với những dòng chữ đã rỉ ngoét không còn đọc được cho rõ. Nhưng không cần đọc chữ, gã cũng biết con đường sẽ dẫn đến đâu.

- Cô thăm ai ở trong này? – Gã nghi ngờ hỏi mà không dám quay đầu lại.

- Vâng. - Người phụ nữ nói khẽ, vừa trả lời mà như không trả lời.

Gã rẽ vào lối mòn. Những cú xóc kinh hồn bắt đầu hành hạ người trên xe. Lâu rồi con đường không có ai qua, thậm chí cả trâu bò cũng vắng mặt, khiến cỏ mọc rễ lên ngay từ nền đường. Hai bên trải dài những cánh đồng hoang phế. Quanh đây không còn mấy người quần cư nữa. Phần vì cuộc sống đói nghèo khiến các hộ dân sống đơn lẻ trên những đỉnh đồi cũng bỏ nhà vào phố thị làm thuê những công việc mạt hạng, còn hơn trông chờ vào mấy thửa ruộng khô xác dưới cái nắng cháy ngột ở tỉnh lị miền Trung này. Phần vì… Gã gạt bỏ ý nghĩ ấy trong đầu và tập trung vào ánh đèn pha dường như yếu dần trên mặt đường.

Theo như gã biết thì chỉ còn vài túp lều tồi tàn trên đồi của những người già không còn biết đi đâu, sống chờ chết nhờ vào những vạt rau quanh nhà.

- Cô định thăm ai ở đây? Cẩn thận lạc đường nhé. Nếu tìm không ra thì tôi sẽ chở cô về luôn khách sạn chứ đừng bắt tôi lang thang cả đêm rét mướt thế này. – Gã bắt đầu cao giọng hơn, mắt liếc nhìn đồng hồ báo cây số, số tiền đã lên tới gần hai trăm ngàn rồi.

- Vâng. - Người khách lạ nói khẽ và sột soạt những túi giấy bóng màu đen.

“Có lẽ cô ta còn một mẹ già ở đây. Một đứa con xa quê lâu ngày giờ thành đạt quay về để báo hiếu mẹ”. Gã vừa phỏng đoán, vừa mỉa mai, vừa nguyền rủa vị khách đang sẵn sàng hào phóng. Xe chạy chậm hơn vì đường xấu và người đàn bà vẫn chưa có ý định muốn bảo gã dừng lại. Xe càng đi sâu vào lối mòn, gã càng lạnh người như thể tất cả các cửa kính xe đều mở, trong khi mồ hôi trán túa đầm xuống má. Những ngôi nhà đơn lẻ mà ban ngày giống như mấy dấu chấm đen trên đỉnh đồi thưa dần rồi lùi hẳn lại đằng sau, gã chắc chắn thế. Giờ chỉ còn cái nơi duy nhất ở phía cuối con đường.

- Cô định bắt tôi đi đến cuối đường à? – Gã buột miệng.

- Vâng.

Gã phanh kít lại. Bánh xe nẩy trên những gồ ghề. Gã ngồi chết lặng. Mồ hôi vã mờ cả mắt. Gã thậm chí không dám quay mặt ra sau, trong tức thì rợn người như dường sinh thể trên băng ghế sau là một bóng ma trêu ngươi giữa đêm hôm khuya khoắt. Ví thử phía trước mặt kia là một nghĩa trang thì dù chẳng dễ chịu gì nhưng gã cũng nghĩ rằng khách trên taxi có lý, đằng này…

- Cô đến đó có việc gì? - Lần này gã gắt lên bằng tất cả những can đảm còn lại. - Giờ đã gần 12 giờ đêm, tôi không đi thêm được nữa. Nếu cần thì tôi cho cô xuống đây.

- Không, anh giúp cho việc này. Đằng nào cũng đã đến đây rồi. Làm sao tôi đi bộ được. – Cô gái rối rít. Cô ta vội vàng dúi vào tay gã hai tờ bạc mệnh giá lớn nhất.

Vì tờ giấy bạc, vì hơi ấm từ bàn tay kẻ khác giới tình cờ va chạm lúc đưa tiền, hay vì giọng nói rất đáng thương của một người phụ nữ xa lạ mà gã mềm lòng. Gã thở dài rồi dận ga. Xe chạy hùng hục như đang lao đầu xuống vực. Bóng tối đặc quánh như thạch đen, và gió vẫn rền rĩ qua cửa kính xe. Đèn pha quét mãi trên rìa đường lổn nhổn cho đến khi nó dừng lại trước một tòa nhà đổ nát ẩn sau bức tường bao bằng bê tông vững chãi. Phía trên đỉnh tường trước đây là hàng rào dây thép gai đã biến mất cùng với tất cả những gì thuộc về sắt thép của tòa nhà, cả chấn song, cánh cửa và biển treo trên cổng đều bị lũ dân nghèo cưa ra rồi mang về bán sắt vụn. Nhưng nhìn kỹ thì vẫn còn một tấm biển đá đen bọc viền thép ốp vào cột trụ cổng ngoài mà không đáng gì để nậy nó ra, hàng chữ nổi đã phủ đầy bụi đỏ nhưng vẫn còn đọc được dưới ánh đèn pha: Trại giam T27.

Chiếc gương đồng

Chiếc gương đồng

Truyện ngắn Di Li

Con phố này bụi bặm và nhếch nhác. Chẳng cần miêu tả nhiều thì nguyên đám xô chậu ngổn ngang trên vỉa hè đọng nước, những tủ kính mờ đục bán vài thứ tạp hóa chẳng ai mua và dăm đứa trẻ mặc áo không mặc quần chân trần ngơ ngác dưới gốc cây cũng đã đủ để nói lên cảnh vẻ nghèo nàn đến tẻ nhạt. Giữa phố có một quán cóc nho nhỏ kê ghế đẩu cũ kỹ. Và thu lu trước quán là một người khách duy nhất, một gã đàn ông mà thoạt nhìn người ta đã có thể đoán ngay được thân thế. Hắn có bộ dạng hôi hám và rách mướp của một kẻ cả thế kỷ nay chưa được bước chân vào nhà tắm công cộng để thay ra một bộ quần áo mới. Gò má hóp lại. Râu ria xù xì không cạo và hốc mắt trũng sâu gắn hai con ngươi luôn đảo qua đảo lại cảnh giác. Nếu chỉ miêu tả đến đây thì bạn đọc dễ dàng nghĩ rằng hắn là một tên ăn mày. Nhưng kẻ này còn mang thêm ba vết sẹo dài ở những chỗ nhìn thấy được là gò má và dưới dái tai. Và qua những vết thủng lỗ chỗ trên lưng áo ka ki rách nát, người ta có thể nom thấp thoáng móng vuốt sắc nhọn của một con đại bàng đang tung cánh trên hình săm màu chàm. Nếu bạn chưa bao giờ nhìn thấy một kẻ mới ra tù, nhưng trong óc luôn sẵn có hình dung về một tay anh chị vừa được tha bổng, thì có lẽ không cần phải nói thêm lời nào nữa về kẻ lạ mặt này. Lúc giờ, khi trời đã ngả tà, thì hắn đang nhấp từng ngụm chén trà cáu bẩn trên một chiếc ghế đẩu và ánh mắt vẫn đảo qua đảo lại theo thói quen về phía lũ trẻ.

Đúng lúc đó, một chiếc BMW màu đen, gắn kính đen từ từ lăn bánh rẽ vào con phố. Chiếc xe không có việc gì ở khu vực dành cho công dân hạng ba này, nó chạy qua chỉ vì đây là con đường tắt để đi vào phố chính nhanh hơn. Tuy nhiên, lúc phóng vụt qua hàng nước quãng chừng dăm chục mét, chiếc xe bỗng dưng chạy chậm lại, đỗ khựng trước cửa một quầy rau quả lèo tèo vài cây bắp cải, rồi cài số lùi cho tới khi nó dừng hẳn lại trước mặt lũ trẻ. Kính đen từ từ hạ xuống, từ đó thò ra một cánh tay mặc sơ mi có măng séc vàng. Cánh tay vẫy về phía hàng nước. Hắn băn khoăn liếc nhanh bà chủ quán đang trệu trạo nhai trầu, rồi cảnh giác ngồi im tại chỗ. Cánh tay lại tiếp tục ra hiệu. Những đứa trẻ đang buồn chán trước mấy thứ đồ chơi bằng gạch vội xúm lại ngắm nghía chiếc nhẫn bằng vàng nạm đá đen trên ngón giữa của bàn tay. Đây là bàn tay của một người không còn trẻ. Hắn đặt chén nước xuống bàn rồi từ từ tiến lại gần chiếc xe.

- Có cần việc làm không? – Giọng nói của người không còn trẻ phát ra từ trong xe, nhỏ nhẹ và quyền lực.

- Cần.

- Muốn đi làm ngay không?

- Muốn. Dài hạn hay tạm thời?

- Dài hạn.

- Có chỗ ở không?

- Có.

- Làm.

- Lên xe.

Hắn mở cửa sau rồi đặt cả đít quần đầy bụi lên chiếc ghế bọc nệm màu be thơm phức mùi da thuộc. Trong xe không còn ai khác ngoài hắn và ông già lạ mặt. Không có lái xe. Ông già tự lái. Hắn nhìn người chủ thuê mới qua kính chiếu hậu trong xe. Ông ta đeo cặp kính mắt to sụ nên không thể nhìn rõ nửa khuôn mặt còn lại. Tuy nhiên làn da đồi mồi trắng trẻo và bộ áo quần lịch lãm nói lên rằng đấy là một con người sang trọng và đáng kính. Hắn dựa lưng vào ghế một cách thoải mái song không thư giãn. Hắn dán mắt vào người trước mặt đang điềm tĩnh chỉnh tay lái qua những con phố nghìn nghịt người xe. Ông già im lặng. Hắn im lặng. Xe đi qua khu phố cổ đông đúc cửa hàng cửa hiệu giờ đã lên đèn rồi ngoặt ra con đường dọc bờ sông. Xe phóng thẳng tới chân cầu và mất hút vào khu ngoại ô tranh tối tranh sáng. Những cánh đồng ngô non sậm tối trải dài ở hai bên.

Đã chừng một tiếng trôi qua và ông già vẫn im lìm bên vô lăng. Người đi làm đồng về muộn nãy còn lác đác, giờ biến mất hẳn vào những ngôi nhà lụp xụp trong làng nhường chỗ cho chiếc ô tô duy nhất vẫn mải miết trên đường. Thảng hoặc có chiếc xe tải vụt qua rầm rập ngoài cửa kính. Hắn kiên nhẫn chờ đợi. Đồng hồ điện tử trên xe đã báo số 7. Mà chẳng cần nó thì hắn cũng đã có một chiếc đồng hồ khác là cái bụng đang sôi réo báo hiệu đã 8 tiếng đồng hồ qua hắn chưa có thứ gì bỏ bụng. Cùng phòng giam mà hắn đã ở vài tháng trước có một gã phạm tội ghê tởm là môi giới nội tạng. Tên ăn thịt người đó bị tù chung thân. Gã ta trắng trẻo và có khuôn mặt tử tế, hiền lành, rất giống ông già này. Hình ảnh của người cùng trại giam bất giác hiện lên vì sau khi nhìn xuống người mình, hắn tự kết luận rằng trên người chỉ còn vài thứ đáng giá nhất là quả thận, trái tim và hai lá gan vẫn còn hoạt động tốt dù có thời nó tưới đẫm rượu mạnh. Qua tên kia, gã mới biết được một điều luôn tồn tại những đường dây buôn bán nội tạng bí ẩn sẵn sàng cung cấp sản phẩm từ những kẻ còn đang sống bất kể họ có đồng ý hay không. Tất nhiên, sau đó con mồi chỉ còn là một bộ xương da rỗng tuếch đã bị moi hết gan ruột.

- Anh bao nhiêu tuổi? – Ông già mở lời đầu tiên kể từ lúc hắn bước lên xe.

- Khoảng bốn mươi. – Hắn áng chừng thế.

Im lặng.

Hắn lên xe với một người lạ mặt mà không cần biết đi đâu, không cần biết người ta giao cho mình công việc gì vì trước mắt hắn chỉ cần một bữa ăn tối, và sau đó là một chỗ ngủ. Tạm thời thế đã, còn mọi chi tiết khác đều không quan trọng. Hắn lên xe với người lạ mặt mà không cần biết rõ thân thế của người ta vì con đại bàng trên lưng đã nói rõ nguồn gốc của hắn, một tay anh chị tù đày hơn chục năm trời vì tội cướp của thì không cần thiết phải quan tâm cụ thể đến nhân thân một người giàu sang như ông già này. Hắn lên xe với người lạ mặt mà không hé răng suốt hơn tiếng đồng hồ vì hắn đã ở bước đường cùng, ngay cả khi con đường trước mặt giờ hun hút như vực thẳm thì vẫn còn tốt hơn cái vỉa hè rệu rã trên đường phố thủ đô. Nhưng tất cả những điều đó chỉ càng khiến nỗi băn khoăn lớn dần lên. Vậy chứ con người sang trọng này cần một người như hắn để làm gì?

- Ông đưa tôi đi đâu?

- Đi làm.

- Ở đâu?

- Một trang trại của tôi nằm cách đây hơn chục cây số nữa.

- Làm gì?

- Trông nhà.

Ông ta dám giao nhà cho hắn ư? Nhà gì mà không mượn một bà nạ dòng kỹ tính trông nom lại đi vời hắn? Hắn thoắt trở nên hoang mang. Nhưng người đàn ông đã rời khỏi con lộ chính để quặt tay lái vào một lối mòn thậm chí còn hoang vu hơn. Đèn pha quét qua quét lại loang loáng lên những bụi cây rậm rì hình thù cổ quái. Đom đóm đã bắt đầu lập lòe những đốm sáng lướt qua thành xe. Đường xấu nảy xóc kinh hồn khiến ruột gan hắn giờ như một túm vải cũ bị xoắn vặn trong máy giặt. Đi thêm chừng chục phút nữa thì hắn khẳng định xung quanh nơi này không có người ở. Đây là một khu vực không dân cư và lão già này đang đưa hắn luồn sâu vào giữa rừng. Hắn cảm thấy khó chịu, máu nóng bốc lên tận đỉnh đầu.

- Này ông…

- Chúng ta đã về đến trang trại.

Ông già cho xe chạy chậm dần rồi dừng hẳn lại. Hắn nheo mắt nhìn ánh đèn pha sáng quắc lướt thành quầng lên cánh cổng bằng sắt kín bưng trước mặt. Ngôi nhà hay trang trại, không có biển bảng và số nhà. Chỉ là một bức tường xám cao ngất chạy bao hai bên. Phía trên cùng chăng dây thép gai và ở giữa là cánh cổng duy nhất màu tím than có ba ổ khóa to đại lúc lỉu bên ngoài. Thứ kiến trúc giữa rừng này làm hắn thoáng rùng mình. Nó gợi nhớ đến cái nơi mà hắn vừa được thoát khỏi đấy trước thời hạn cách đây ba tháng. Người đàn ông lấy một chùm chìa khóa từ trong ca táp và lần lượt mở ba ổ khóa. Sau đó ông rút từ túi áo một bộ điều khiển và nhấn một nút. Tức thì ánh sáng của hàng chục ngọn đèn neon đồng loạt bật lên khiến hắn lóa mắt. Hắn nhận ra mình đang đứng giữa sân trước của một tòa nhà hai tầng mà chỉ riêng phần thiết kế thôi đã đủ hoàn tất bức tranh miêu tả một thứ trại tạm giam hay trại tập trung nào đó. Ngôi nhà hình hộp chữ nhật, cũng màu xám và không có cửa sổ. Chóp mái của nó vươn lên thâm thấp và hơi tù ở phần trên một cách đơn giản. Cửa chính không phải làm bằng hai cánh gỗ hay kéo xếp mà là loại cửa nâng của ga ra. Thành thử người ta có cảm giác đã chui vào cái hộp kín mít đó rồi thì khó lòng mà thoát ra ngoài được. Hoặc thậm chí còn thấy như bị cầm tù ngay từ lúc chưa bước chân vào bên trong. Tấm kim loại từ từ nâng lên, lộ ra cánh cửa gỗ dày ở bên trong. Ông ta mở ổ khóa, và ổ khóa nữa cho thêm một lớp cửa. Ba tầng cửa cả thảy.

Điệu valse địa ngục

 


Điệu valse địa ngục

Truyện ngắn Di Li

Tiếng chuông điện thoại cấp kỳ làm luật sư Thạch tỉnh giấc. Ðầu dây bên kia có vẻ mừng rỡ.

- Vũ đây. Có một khách hàng mới cho anh. Vụ này phi anh không ai làm nổi.

Ðúng 8 giờ sáng hôm sau luật sư Thạch có mặt ở văn phòng. Ông đảm nhiệm việc bào chữa cho các tội phạm hình sự. Thạch khét tiếng trong ngành vì độ rắn mặt, xử lý tình huống bằng mọi cách nhờ vào những kẽ hở trong luật pháp nhưng cái giá phải trả cho ông không rẻ chút nào. Vũ đặt xấp hồ sơ lên mặt bàn. Sắc mặt luật sư Thạch không thay đổi. Ở cái thành phố yên bình này, một vụ án hấp dẫn như vậy khiến ngay cả mấy đứa trẻ nít mặc đồng phục cũng bàn tán với vẻ hiểu biết. Gần 50 tuổi, luật sư Thạch vẫn sống một mình. Thạch say mê nghề nghiệp một cách lạnh lẽo và lạnh lẽo cắt đứt với bất kỳ người phụ nữ nào nhỏ lệ than phiền “Anh tìm đủ mọi cách để chạy tội cho cái bọn bất lương, vô nhân tính ấy. Cái gì cũng phải có nhân có quả chứ”.

Luật sư Thạch xem qua các thông tin mới nhất trên báo trong lúc chờ đợi đại diện của thân chủ. Một vụ giết người xảy ra tại nhà riêng của một cô gái trẻ. Nhưng cả nạn nhân lẫn bị cáo đều là khách. Người bị giết là bà P, giám đốc ngân hàng X, hung khí là một con dao tỉa hoa quả có dấu vân tay của người khách thứ hai, một thanh niên 27 tuổi, nghề nghiệp tự do. Suy luận logic rất đơn giản, một vụ xung đột do mâu thuẫn tình ái dẫn đến va chạm. Ðúng 9 giờ, một phụ nữ nhỏ bé xuất hiện. Bà ta quãng ngoài sáu mươi, nhưng nhìn kỹ thì có vẻ không đến vậy. Dường như những vất vả của cuộc sống thường nhật và nỗi đau mà bà đang gánh chịu khiến bà già đi hàng chục tuổi. Bà ta trông nghèo nàn, nhẫn nhịn và suy sụp. Khi đối diện với Thạch trong phòng riêng, bà ta oà khóc.

- Mẹ con tôi trăm sự nhờ ông. Mẹ con tôi rất nhiều tiền, ông muốn bao nhiêu cũng được. Thằng Hùng nhà tôi nó non nớt trong khi con mẹ kia thì sành sỏi. Nó bị lừa ông ạ. Con mẹ ấy dâm đãng, quyến rũ một thằng chỉ đáng tuổi con mình rồi bủa vây nó. Chắc chắn nó làm cho thằng Hùng nhà tôi hoá điên

- Khoan đã. - Luật sư Thạch chặn cơn xúc động của người mẹ lại và nói bằng giọng lạnh lẽo. - Bà chỉ trả lời những gì tôi hỏi.

 

Cô gái trẻ trong ngôi nhà Pháp cổ

Luật sư Thạch luôn có những cách làm việc hoàn toàn khác với nguyên tắc thông thường. Ông không căn cứ theo logic của chuỗi sự kiện và những lớp lang bài bản của một luật sư nhà nghề. Phần lớn, trực giác khiến ông đánh hơi thấy chìa khoá của thành công. Ngôi nhà xảy ra vụ án rất dễ tìm, nằm ven hồ, khuất trong một khu phố yên tĩnh. Nó có cửa xanh lá cây, tường màu vàng, xây theo kiến trúc kiểu Pháp và đã tồn tại gần nửa thế kỷ. Nhân chứng duy nhất của vụ án, mà đã tạm thời được tại ngoại vì phía điều tra gạt khỏi diện nghi vấn đồng phạm ra mở cửa đón ông. Luật sư Thạch hơi chững lại, không chỉ là vì bản năng nghề nghiệp, nữ chủ nhân khoảng 24 tuổi, khuôn mặt khiến người đối diện cho dù là bất kỳ đối tượng nào đều không muốn quay đi chỗ khác. Vẻ đẹp của cô giống hệt ngôi nhà, sang trọng, lịch lãm, cổ xưa và có một vẻ quyến rũ bí hiểm. Một âm thanh mơ hồ va chạm thính giác của người khách, là một bản nhạc. Nó nhẹ, da diết, lạnh lẽo, âm u như cất lên từ lối vào hoang hoải của một khu vườn bí mật. Cô pha trà, mở cánh cửa trông ra hồ và vẫn không vặn nhỏ nhạc. Căn phòng khách xinh xắn, có cả thảm len và giấy bồi tường hoa văn xanh, chiếc lò sưởi cũ kỹ nay được tận dụng để cất toan và cọ vẽ. Cô ta là hoạ sỹ, hẳn nhiên rồi, thông tin này ông đã biết từ trước. Ông mở đầu.

- Bản nhạc gì hay quá, nhưng buồn?

Cô gái rót trà.

- Appassionata, của Secret Garden. - Cô mím môi lại, để ngăn cái gì đó sắp trào ra.

- Cô có thể kể lại trình tự. - Luật sư Thạch không để phí thời gian.

Cô gái ngồi thẳng người trên băng ghế, nét mặt trở lại điềm tĩnh.

- Bà ấy đến, khi tôi và anh ấy đang nhảy. Bà ấy đã hoá điên khi nhìn thấy chúng tôi. Bà ấy chửi rủa, gào thét điên loạn, rồi chạy vào bếp tìm con dao tỉa quả và lao vào tôi. Anh ấy giằng ra được nhưng bà ấy đã mất hết lý trí, cứ thế lao thẳng vào lưỡi dao.

- Ở chỗ nào?

- Ở đây. - Cô gái chỉ vào khoảng không cạnh lò sưởi. Một thoáng sợ hãi, song nữ chủ nhân lấy lại bình tĩnh rất nhanh.

- Cô là gì của anh ta?

- Bạn gái, tất nhiên rồi.

- Người ta bảo bà kia mới là bạn gái của anh ta.

Cô gái hơi nhếch khóe miệng, vẻ khó tả.

- Chúng tôi yêu nhau, buổi tối khiêu vũ với nhau ở đây và làm nhiều việc khác ở đây nữa.

- Cô kể cụ thể hơn đi.

Vẻ chai sạn, sành sỏi trong vài giây biến mất, cô ta trở lại cảm giác suy sụp và xúc động lúc ban đầu.

- Anh ấy là tất cả những gì tôi có. Tôi mồ côi. Ngay cả họ hàng cũng không. Chỉ còn lại ngôi nhà này, của mẹ tôi để lại. Anh ấy là người tình cảm, tốt bụng, nội tâm, luôn sống vì người khác. Anh ấy bị oan. - Rồi cô ngước đôi mắt có một hạt nốt ruồi rất dễ thương bên cạnh hỏi một cách ngơ ngác. - Liệu anh ấy có được cứu không?

Luật sư Thạch rối trí. Ông mới chỉ ngồi với nhân chứng có mươi phút song cô ta thay đổi thái độ liên tục khiến sự nhạy bén của ông bắt đầu bị rối loạn. Ông đứng dậy.

- Bất kỳ tôi cần thêm thông tin gì, mong cô giúp đỡ.

- Tất nhiên rồi. - Cô thì thầm như người mộng du. - Bà ấy lúc nào cũng muốn nhảy trên nền bản nhạc này. Nhưng anh ấy đã hứa, điệu Valse là dành riêng cho tôi.

Luật sư Thạch bắt đầu nhìn thấy máu chảy trên nền nhà, ánh inox loáng lên của con dao tỉa quả và những tiếng kêu điên dại hoà lẫn bản Appassionata khắc khoải. Ông vội vàng rút lui để lý trí không bị những cảm tính kỳ lạ lấn át. Tiếng nhạc rờn rợn và hiện trường của vụ án khép lại đằng sau lưng Thạch, khi cánh cửa gỗ màu xanh lá cây được nhẹ nhàng đóng lại.

 

Ma học trò

 


Ma học trò

Truyện ngắn Di Li

Rõ một điều rằng, làm cái anh thầy giáo là sự lựa chọn hết sức ngờ ngệch. Bởi lẽ sau 16 năm đèn sách, anh vui mừng hớn hở vẫy tay chào bảng phấn và sách bút, nhưng rồi sau đó lại dại dột gắn bó với chúng suốt đời. Khổ một nỗi, đã trót chen chân với nghề bảng phấn rồi, anh sẽ không tài nào mà dứt ra được.

Hồi đó tôi về một trường trung cấp làm giáo viên. Ngày ấy ai thích làm thầy giáo, nhưng cả hai họ nhà tôi đều nêu những khó khăn khi bươn ra làm thuê cho doanh nghiệp và so sánh với nghề cao quý, là người kỹ sư của tâm hồn. Bố tôi bảo rằng HDI của ta đang tăng và phần lớn là nhờ vào giáo dục. Hơn nữa chẳng cần làm sếp mà cũng đựơc khối người nghe theo, ấy chính là lũ học trò. Tôi xuôi dần và thi đỗ công chức, trở thành thầy giáo 3 tháng ngay sau khi tốt nghiệp. Dạy hết một học kỳ, tôi được cử đi công tác Thái Nguyên. Trước khi lên đường, các đồng nghiệp len lén nhìn tôi cười bí hiểm. Một chị đã lên đó trước tỏ vẻ thương tình.

- Tụi học sinh ở đó hơi nghịch, nhưng Quang nhà mình cũng kinh qua hết mấy lớp cá biệt ở đây rồi còn gì. Lên đó để ý thằng Tuân béo, đừng lơ là nó ngay từ phút đầu tiên.

Tôi cười tủm trong bụng, bận rộn với các đồ đạc mang theo. Tôi vứt ba lô lên xe máy và thong thả phóng ra ngoại ô, bụng nghĩ đến mấy trò phá phách của lũ học trò: Hỏi khó thầy giáo? Cho học sinh nữ ăn mặc bắt mắt rồi ngồi lên bàn đầu để ngắm thầy? Ăn quà vặt, hút thuốc lá, nắm tay nhau trong lớp học? Ngày xưa đi học tôi còn nghịch hơn tụi học trò bây giờ ấy chứ. Trời bắt đầu mưa nặng hạt nên tôi không phóng nhanh được. Tôi cho rằng mình không thể vào Thái Nguyên như giờ đã định vì cơn mưa này. Cơn mưa tháng ba khiến tôi tê cóng cả hai tay. Những rặng cây ven đường bắt đầu tím thẫm lại. Khi tôi còn cách thành phố chừng 20 cây số nữa thì… xe tự động đỗ lại. Lúc đó là 9 giờ tối. Tôi kiểm tra xăng, bugi… đều ổn cả. Lúc này tôi mới định hình được tình thế tồi tệ của mình. Con đường hun hút tịnh không một bóng người. Những ngọn núi đen sì thấp thoáng sau màn mưa nhắc chừng rằng xung quanh nơi này hẳn không có nhà dân. Ðói, rét, mệt, chẳng ăn thua gì với một thằng trai 23 tuổi, nhưng tôi có một nỗi sợ còn khủng khiếp hơn nhiều. Tôi rất sợ ma. Ngay bên vệ đường là một nghĩa địa khổng lồ. Thỉnh thoảng ánh chớp loà lên soi rõ những lùm đất còn mới nguyên, những vòng hoa nằm rải rác đã nhão nhoẹt vì nước mưa tạo nên các hình thù quái lạ. Hai đầu đường hút dài như vô tận. Bấy giờ, bất kỳ một tiếng động nào ngoài tiếng mưa rả rích đều làm tôi hãi hùng. Ðến độ có lúc chiếc áo mưa của tôi sột soạt vì những cử động của chính mình cũng khiến tôi giật bắn lên.

Tôi cố tập trung vào cơn cồn cào ở dạ dày để quên đi, nhưng những hình ảnh ma quỷ trong các câu chuyện tôi được nghe kể cứ rõ mồn một từng chi tiết. Ma mặt thớt thường hoá thành anh xích lô tốt bụng đèo khách lỡ độ đường về. Vừa đi vừa trò chuyện rôm rả đến nửa đường tình cờ quay lại thấy mặt anh ta phẳng lì như cái thớt. Khách ngất đi, lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm vắt vẻo trên một cái mả mới tinh. Ma cây cứ nửa đêm hoá thành cô gái đẹp đi bán bánh bao. Khách bửa ra ăn thử thấy trong toàn gián với nhện, nhìn lên định bắt đền đã thấy cô gái thè cái lưỡi đỏ lòm dài như đòn gánh cười khanh khách. Rồi ma nam nấp dưới hồ rút chân người, ma xó di chuyển mọi đồ đạc, ma trơi lập lờ ngoài cánh đồng trêu đùa kẻ yếu bóng vía, ma gà có viền mắt vàng khè sống chui lủi trong núi, ma chành trốn trong chum sành, ma lai hú gọi tận cao nguyên. Thậm chí cả ma sói, ma cà rồng chuyên hút máu người trong những cánh rừng Bắc Âu âm u, và thây ma sống bên châu Phi cũng như tập trung cả lại để giật tung mọi tế bào thần kinh của tôi. Tôi lấy chiếc xe làm điểm tựa đề phòng mọi sự tấn công từ phía sau và bắt đầu cầu nguyện thành tiếng, gọi tên từ ông Khổng Tử, Mạnh Tử cho đến Anselm, Rousseau và Décartes 1. Ðúng vào lúc tuyệt vọng nhất thì một âm thanh ầm ì từ phía xa báo hiệu một chiếc xe sắp chạy tới. Những hình ảnh vẫn còn túm chặt trong đầu khiến tôi thay vì mừng rỡ lại đầy cảnh giác với cái vật đang chuyển động. ánh đèn pha quét vào chiếc xe cũng đang rúm ró như chủ nhân của nó. Cái bóng trùm áo mưa lừ lừ tiến lại phía tôi. Tôi quát to.

- Ðứng lại. Người hay ma?.

Khuôn mặt bịt kín bằng một chiếc khăn tối màu càng khiến ảo giác của tôi tăng lên. Người kia cúi xuống chiếc xe của tôi.

- Ma mà chữa được cho anh chiếc xe này cũng tốt. Hay muốn đứng đây ngắm nghĩa địa. Ðây là nơi tập trung nhiều ma nhất vùng này đấy.

- Sao phải bịt mặt?

- Ði mấy chục cây số muốn thủng mặt vì mưa hả ông nội?

Dứt lời anh ta đứng dậy, đạp nổ máy. Chiếc xe lại ro ro như thể lúc nãy nó bị ma ám vào. Ân nhân của tôi trèo lên xe.

- Xe của anh nên bảo dưỡng bộ chế hoà khí. Anh về Thái Nguyên hả? Tốt nhất nên đi cùng tôi đề phòng nó lại chết máy lần nữa.

Tôi líu ríu đi theo anh ta. Chúng tôi không nói lời nào cho đến tận lúc về tới Thái Nguyên. Khi xe vào đến thành phố, đã 12 giờ đêm. Những mái nhà u ám im lặng trong mưa rét. Bất chợt tôi nghe vẳng xa xa tiếng thanh la, chuông mõ như gọi hồn ma quỷ cốc lên từ cõi âm. Âm thanh ngày càng tới gần, và lờ mờ trong làn mưa một đoàn người di chuyển chầm chậm đầy ma quái. Tôi hét lên thất thanh.

- Cái gì thế?.

Người kia cười ha hả.

- Anh chưa nhìn thấy đám ma bao giờ hả. Thôi chào nhá.

Tôi cuống lên.

- Cho tôi hỏi trường Nghiệp vụ du lịch Bình Minh.

Anh ta ngần ngừ.

- Anh đến đấy làm gì giờ này?.

Không muốn để lộ thân phận mình trong hoàn cảnh bất đắc dĩ này, tôi nói bừa.

- Bác bảo vệ ở đó là chú tôi.

Hoá ra ngôi trường nằm ngay góc quẹo trước mặt. Tôi nhận phòng, một căn nhà cấp bốn chừng hơn chục mét vuông kế ngay phòng bảo vệ. Chặng đường dài mệt nhọc và nỗi sợ hãi vẫn còn ám ảnh làm tôi chìm luôn vào giấc ngủ đầy mộng mị.

Sáng hôm sau, tôi có mặt tại lớp học đúng giờ. Cũng là một dãy nhà cấp bốn nằm đối diện căn phòng tôi ở. Trời vẫn mưa lất phất và bầu trời thì tối một cách quái gở. Lớp học lợp mái ngói, những chiếc bàn gỗ ẩm mốc và bức tường lở lói bổ sung vào khung cảnh thê lương của một ngày không lấy gì làm đẹp trời. Khiếp hơn, chiếc cửa sổ bên tay mặt duy nhất sát cạnh bàn giáo viên lại trông ra một khu vườn um tùm cây cối với hơn chục ngôi mộ nằm rải rác. Không đủ can đảm thò tay với cánh cửa sổ phía bên ngoài, tôi bảo một cô bé ngồi bàn đầu với hai bím tóc dài tận đầu gối.

- Ra đóng giúp thầy cánh cửa cho đỡ gió.

Tức thì một giọng con trai lên tiếng phản đối.

- Thưa thầy, người ta muốn xem thầy giảng bài đấy ạ.

- Ai?

- Những người ngoài kia.

Một tên học trò béo ị ngồi cuối lớp, mấy chiếc răng cửa to tướng như răng thỏ đang trân trối nhìn tôi, đầu hất hất về phía cửa sổ. Tôi bắt đầu nghẹt thở, vờ tiến về giữa lớp.

- Tôi là Quang, phụ trách môn nghiệp vụ lễ tân, sẽ dạy các em trong vòng bốn tuần. Du lịch là một ngành dịch vụ quan trọng và trong thế kỷ 21, du lịch sẽ trở thành mũi nhọn trong nền kinh tế của nước ta.

Những tiếng nhao nhao bắt đầu ồ lên.

- Thưa thầy Thái Nguyên sẽ trở thành mũi nhọn chứ ạ?

- Thầy ơi, chỉ còn 275 ngày nữa là sang thế kỷ 21, chúng em sắp thành đầu tàu rồi.

- Sao tóc thầy nghệ sĩ thế, thầy cắt ở đâu đấy ạ?

Hơn 50 đứa học trò, đứa ngồi đăm chiêu, đứa mặt mũi hớn hở, đứa nheo mắt tinh quái, đứa thản nhiên câng cáo. Tôi bắt đầu cảm thấy sự đe dọa vô hình. Tôi khoanh tay trước ngực, đầu ngẩng cao.

- Comenxki 2 nói rằng: Những kẻ giàu có mà không có học vấn thì chẳng khác gì những con lợn béo ị vì ăn nhiều cám. Những người nghèo khổ mà thiếu hiểu biết thì cũng không khác gì những con lừa đau khổ buộc phải tải nặng. Một người có hình thức đẹp mà không có văn hoá chỉ là một con vẹt có bộ lông hào nhoáng.

- Thầy ơi cần phải có một bộ luật mới để bảo vệ động vật nuôi.

- Thế thì chúng em là loài bò sát đấy ạ.

Tên học trò béo ị đứng bật dậy, hai tay chắp trước ngực, khuôn mặt nghiêm trang giả tạo một cách đáng ghét và ngân nga giọng như bắt đầu bài diễn văn.

Bức tranh và ngôi nhà cổ

 

Bức tranh và ngôi nhà cổ

Truyện ngắn Di Li

Hôm qua lão bạn già gọi cho tôi

- Phong, mày qua đây, tao có món đồ này quý lắm.

Tôi đang ngồi trong cuộc họp, thì thào.

- Tuần này em bận quá.

Lão quát lên giọng ra lệnh.

- Cái này rất hay. Mày phải đến đây ngay. Tối nay nhá. - Rồi cúp máy.

Ngoài việc tôi và lão đều chưa vợ và say mê nghiên cứu tử vi, tướng số, còn thì người ngoài thấy tôi thân với lão, lão chơi với tôi đều tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi mới 30, còn tuổi lão gấp đôi. Tôi làm việc trong cao ốc máy lạnh với những hội thảo từ xa, thư tín điện tử, bận rộn với những catalogue chuyển phát nhanh và giải trí bằng trò ma trận trên máy vi tính màn hình tinh thể lỏng, còn lão kỉm kìm kim quanh những cuốn sổ cũ nát hôi xì ghi ký tự cổ và một tách cà phê rẻ tiền trong quán cóc. Tôi sống trong một villa bốn tầng với bộ đồ điện tử hàng hiệu complex còn lão ở căn hộ hai chục mét vuông chót vót tầng bốn thuộc khu chung cư xây từ thời bao cấp. Nhưng hễ lần nào lão gọi, như hôm nay chẳng hạn, là tôi lại cum cúp mò đến. Tôi mê mẩn những quyển sách đen đúa của lão, mà từ đó lão có thể đọc vanh vách tôi được thăng chức vào năm nào, bao lâu sẽ cưới vợ, thậm chí sáng mai không nên khởi hành về hướng Ðông vì sẽ bị ngã vào vũng nước bẩn hết quần áo. Lần này vừa nhìn thấy tôi, lão ngồi bật dậy, vẻ phấn khích rõ rệt.

- Thằng đểu. Cả tháng nay không nhìn thấy mày. - Nói rồi vội vàng mở nút chai Vodka nội đã bày sẵn. Lão rót rượu ra hai cái chén cáu bẩn. - Cứ uống đi đã, rồi tao sẽ cho xem.

Lão lim dim mắt thích thú như để cho tôi phải ngấm sự hồi hộp, nhưng kỳ thực là lão còn sốt ruột hơn tôi, cứ xoay tít thò lò chén rượu. Rồi chừng như không thể chịu đựng hơn được, lão rút phắt miếng vải hoa đậy cái gì đó dựng trên mặt tủ trà, như thể người đi sứ hãnh diện kéo tấm hồng điều trưng bày lễ vật tiến vua. Một bức tranh. Tôi tiu nghỉu.

- Thì làm sao?

Lão vẫn giữ nguyên vẻ phấn chấn.

- Tao có thằng bạn đồng hương. Hôm nọ đến thăm thấy nó vứt cái tranh này trong gara. Thấy tao có vẻ thích, nó tặng luôn, bảo rằng của ai biếu nó không nhớ, mà hình như cái thằng đi biếu đó cũng được ai tặng lại. Thế là tao mang về. Thằng bạn tao làm ăn giỏi nhưng có hiểu đếch gì về nghệ thuật đâu.

Tôi đang định mở miệng đá ông bạn già “Thì may có ông rước đi cho người ta đỡ chật nhà” nhưng lão đã thì thầm như sợ có kẻ trộm nghe thấy.

- Có đứa trả năm ngàn đô rồi đấy. Nhưng tao chưa bán, hẵng để đấy cho sang nhà.

Tôi mím môi, thấy thương hại lão. Những kẻ nghèo khó thường hão huyền vào một niềm tin mù quáng và sẵn sàng thể hiện sự giàu sang, sành điệu bất cứ khi nào có thể. Sợ tôi chưa tin, lão chém tay vào không khí.

- Tao thề đấy. Hôm nọ có đứa buôn tranh trả ba ngàn. Tao sợ hớ mới gọi một thằng chuyên sưu tầm tranh, y như rằng nó phát giá năm ngàn. - Lão nhấp vội chén rượu như để lấy lại bình tĩnh. - Tao biết ngay mà. Con mắt am hiểu nghệ thuật của tao chưa bao giờ nhìn nhầm.

Tôi ngước nhìn bức tranh, qua ánh sáng của ống đèn tuýp, những gam màu nhợt nhạt, trầm đục phác thành con phố cổ. Phố không một bóng người, những mái ngói nâu xỉn, cây si già vươn cành sang tận cột điện mé bên kia đường. Một bức tranh rập khuôn kiểu Bùi Xuân Phái, nhưng vụng về và thiếu kinh nghiệm. Có lẽ cái tài tình duy nhất của tay họa sỹ là những vết bả sơn dầu trên bức tường lở lói đầy vụn vữa khiến ngôi nhà cổ thêm phần thê lương và hoang tàn. Chiếc khung tranh sơn màu nhũ kim nay đã mốc thếch từng vệt do bị chủ nhân trước ngược đãi. Và hỡi ôi, một sự chưa từng thấy là bức tranh không hề có chữ ký cũng như ngày tháng hoàn thành ở dưới góc như lẽ ra gã thợ vẽ hạng bét nào cũng phải làm thế. Tôi vờ tán thưởng.

- Tranh vẽ được đấy. Bác vớ bẫm nhá.

Lão bạn già của tôi say sưa ngắm bức tranh bằng đôi mắt rực sáng như bị thôi miên mãi cho tới khi tôi đòi về.

- Ấy, chưa hết, tao còn cái này nữa. - Lão rút từ giá sách ra một cuốn sổ chép tay bẩn thỉu. -  Thằng cha Việt kiều này nhất định không cho mượn phô tô nên tao phải ngồi chép tại chỗ. Thuyết thông linh đấy.

- Là thế nào? - Lần này thì tôi tò mò thực, nhưng ngay lập tức thất vọng.

- Tao đang nghiên cứu thuyết này. Của phương Tây, tụi nó gọi hồn bằng cách nói chuyện qua các tín hiệu gõ, hoặc ghép các chữ cái lại với nhau.

Lão lại lôi một bảng chữ cái kẻ sẵn trải lên bàn, rồi lau chùi một chén rượu, úp nó xuống, đặt vào góc. Tôi say mê tử vi, và coi đó là một môn khoa học nghiêm túc, còn mấy trò phù thuỷ kia nhất định là nhảm nhí. Hồi đi học, mấy đứa con gái trong lớp cũng giở trò này mỗi bận cắm trại, vừa để giải trí, dọa cho lũ xung quanh một mẻ sợ chết khiếp khi kỳ thực “bà đồng cốt” tự tay di chuyển chiếc chén, mà cũng là để tự thể hiện mình và gây sự chú ý trong đám đông. Nay ông bạn đầu hai thứ tóc cũng định trộ tôi bằng trò trẻ con này thì thật quẫn hết chỗ nói. Tôi ngửa cổ lên trời theo thói quen tự vận động những lúc làm việc căng thẳng và giả đò nghe điện thoại.

- Em có việc phải đi. Hôm nào mời bác sang nhà uống rượu nhé.

Bẵng đi vài tháng, những chuyến công tác liên miên làm tôi quên mất ông bạn già tội nghiệp. Nhưng một tối nọ, lão lại gọi cho tôi vừa lúc chuông đồng hồ điểm tiếng thứ mười hai. Nhận ra cú điện thoại là của lão, tôi hơi hoảng, ngỡ rằng lão bị cấp cứu trong bệnh viện hay có việc cấp kỳ sao đó mới gọi vào đêm hôm khuya khoắt thế này. Giọng lão là lạ, gấp gáp, như cố nén sự run rẩy, nhưng vẫn không quên thói quen ra lệnh.

Vong hồn trên những cánh đồng chết

 

Vong hồn trên những cánh đồng chết

Truyện ngắn Di Li

Trong bóng tối tĩnh lờ u ám, nhóm người đi lủi thủi và lần theo dấu nhau bằng những tiếng chân lệt xệt bùn đất. Bốn chiếc áo mưa đều cố ý một màu đen tuyền, lặng lẽ lẫn vào đêm. Vào đến phố, người đi đầu dừng lại, nói rít qua kẽ răng.

- Prey Veng. Bảo thằng cao kều kia đi cách ra, khỏi gây sự chú ý.

Người khổng lồ đi sau cùng áng chừng hiểu, tụt lại đằng sau một khoảng. Họ áp sát vào các bức tường, chui đầu sâu trong lớp mũ nylon, tuồng như chiếc áo mưa là một thành luỹ rất đỗi an toàn. Những mái nhà Prey Veng chìm trong màn mưa đặc quánh, im lìm như chưa từng có sự sống. Ðến một khúc quanh tồi tàn, người đi đầu dừng lại vài giây định hướng rồi đi tiếp, mặt cúi gằm nhưng đôi mắt đảo liên tục quan sát. Một nóc nhà hiện ra trước mặt, bẩn thỉu hệt những ngôi nhà khác trong phố và dưới mái hiên rộng rãi trước nhà tụ tập một lũ người nằm ngồi vạ vật. Thấy có người đến, họ ngồi bật cả dậy, bu lấy chân đám khách lạ. Lũ người ngợm có vẻ khiến người thứ ba hơi rùng mình. Người này lùi lại một chút để tránh những thân hình rách rưới, những cái đầu nghẹo sang một bên đầy dớt dãi, những ánh mắt hoặc điên dại hoặc giận dữ. Họ im lặng như từ nấm mồ chui lên nhưng hết sức chăm chú nhìn những người mới đến. Người đi đầu vẻ không để ý, tiến thẳng vào trong ngõ rồi chui vào một cánh cửa nhỏ nằm bên tay trái. Một gã đàn ông đầu tóc rối bù đang gà gật trên chiếc sô pha rách thấy có tiếng động mở choàng mắt.

- Cho hai phòng. Chế độ như mọi khi. - Vẫn người ban nãy lên tiếng.

Gã kia trả lời bằng tiếng Việt rành rẽ.

- Tầng hai. Phòng cuối cùng.

Không ai bảo ai, họ tự động chui vào phòng của mình. Khi gã khổng lồ vừa đưa tay chốt cửa, người thứ ba vẫn để nguyên áo mưa, sụm xuống đất rên rỉ.

- Ôi mẹ ơi.

Gã khổng lồ không nói không rằng, giúp người bạn cùng phòng cởi áo mưa, rồi rút cục cũng thốt lên được một câu

- Bảo, it just started.