Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUNG HOA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRUNG HOA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2024

Mười lăm phút

 

Ảnh: Ba chị em nhà họ Tống với ba cuộc hôn nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.

Mười lăm phút

Truyện Hà Phạm Phú

NGOẠI TRUYỆN

I. Một cuộc gặp ở sân vận động Tổ chim

Chen là nhà văn chuyên viết tiểu sử các danh nhân. Tôi quen ông trong trường hợp hết sức tình cờ.

Năm 2019, tôi được tham dự một diễn đàn có tên rất hấp dẫn “Đối thoại văn minh châu Á” ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Lúc đó đã tháng 5, trời khá nóng. Lễ khai mạc được tiến hành ở sân vận động Tổ chim, một công trình được xây dựng để phục vụ cho Thế vận hội mùa hè năm 2008. Nghe nói Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ chủ trì lễ khai mạc. Có lẽ vì thế mà chúng tôi được ban tổ chức đưa đến sân vận động Tổ chim quá sớm. Khu vực khán đài tôi ngồi phần lớn là khách quốc tế. Tôi ngồi giữa một ông già chừng tám mươi tuổi và một phụ nữ Lào xinh đẹp, tay cầm tờ rơi có in lời một bài hát được phân phát khi qua cửa kiểm soát an ninh, lẩm nhẩm đọc.

Dưới sân, xuất hiện một nam nhân tay cầm mic hướng lên khán đài hô to:

– Qi li (Đứng dậy)!

Tôi giật mình, với ký ức ba mươi năm quân ngũ, ngỡ đang ở trong một trại lính. Khán đài thoáng ồn ào, mọi người lục tục đứng lên. Chỉ có tôi và ông già vẫn ngồi. Nam nhân tay cầm mic cất giọng, hệ thống trang âm của sân vận động quá tốt, tôi cứ tưởng gã hét vào tai tôi. Gã gào lên:

– Các người là ai?

Khán đài đồng thanh hét to:

– Chúng tôi là người Trung Quốc.

– Quê hương các người ở đâu?

– Trung Quốc (kéo dài).

Mười giây im lặng. Tiếng nam nhân:

– Bây giờ nghe theo tôi! Tất cả nhìn vào giấy và hát theo tôi!

Tôi quan sát gương mặt khắc khổ rất Quảng Đông của ông già ngồi bên trái tôi. Trầm xuống và hơi tái đi. Cảm giác như sắp có tai hoạ ập đến. Tôi nói:

– Không khí tiền cách mạng văn hoá.

Ông già nhìn tôi:

– Ông biết cách mạng văn hoá?

– Tôi sống ở Trung Quốc thời “Nã pháo vào Bộ tư lệnh”, những bốn năm.

Im lặng. Có thể tôi đã chạm đến nỗi đau nào đó của ông. Bèn lái câu chuyện sang hướng khác. Tôi hỏi ông là người nước nào? Nom ông giống người Lưỡng Quảng. Ông đáp, sinh ở Tương Sơn, Quảng Đông. Từng sống nhiều năm ở Bắc Kinh. Định cư ở Hong Kong. Là nhà văn, chuyên viết tiểu sử danh nhân. Rồi im lặng. Tôi tôn trọng sự im lặng của ông.

Tan cuộc. Ông già đứng dậy, biến khỏi khán đài rất nhanh. Trước khi rời đi, ông có đưa tôi tấm danh thiếp, ghi tên Chen Ding. Chen là họ.

II. Nhà văn chuyên viết tiểu sử danh nhân

Tôi tra trên mạng, gõ tên Chen Ding, tìm được hồ sơ của ông. Tác giả của các cuốn tiểu sử về Tôn Dật Tiên, Tưởng Trung Chính, Tống Khánh Linh.

Tôi có nghiên cứu chút ít về các nhân vật lịch sử Trung Quốc. Tống Khánh Linh là một nhân vật phức tạp. Tôi cũng đã đọc một số sách do các nhà xuất bản ở Trung Quốc đại lục ấn hành. Tôi nhận ra, cùng một góc nhìn. Nhân vật lịch sử cần được soi rọi từ nhiều góc nhìn khác nhau. Đọc tên các tác phẩm của Chen, tôi đoán ông chú trọng miêu tả thân phận nhân vật. Nếu đúng vậy thì rất đáng đọc. Tôi bèn viết thư cho Chen. Đúng nửa năm, từ khi gứi, mới nhận được hồi âm của Chen. Ông nói tình hình Hong Kong đang xấu đi rất nhanh, ông phải thu xếp cuộc sống riêng ổn thoả, nên chậm hồi âm. Sau đây là những gì tôi thu lượm được từ ngày lưu học ở Trung Quốc và tư liệu mà Chen cung cấp.

…………………………………………………

I.

Năm 1966.

Ngôi biệt thự cổ đánh số 46, được xây dựng từ thời Thanh triều, trên đường Bắc Hải, Thượng Hải.

Lúc đó đang là tháng 8, trời thường xuyên có mưa. Nóng. Ẩm ướt. Thời tiết ấy đối với một bà già tuổi bảy mươi tư thì thật không dễ chịu chút nào. Người hầu gái họ Lý, quê Quảng Đông, dọn cơm ra chiếc bàn ăn có lẽ cũng xấp xỉ tuổi ngôi nhà, trịnh trọng nói, mời phu nhân dùng bữa. Phu nhân rời bàn làm việc, cất tiếng nhẹ nhàng như xưa nay vẫn thế, Tiểu Lý em ngồi ăn cùng ta cho có bạn.

Bà già tuổi bảy mươi tư là Tống phu nhân, đương chức Phó Chủ tịch nước.

Người hầu gái nói, canh đầu cá hôm nay nấu theo phong vị Hồ Nam, mời phu nhân nếm thử. Phu nhân dùng thìa sớt một chút canh nếm thử, nói ta thấy mệt mỏi, ăn không ngon miệng, em dọn đi. Nói rồi, Tống phu nhân tự mình đi đến bên chiếc ghế xích đu, nằm ngả lưng.

Dưới phố, các nhóm hồng vệ binh đang diễu hành, gõ trống, đánh phèng la, hô khẩu hiệu Tạo phản hữu lí, tạo một không khí huyên náo và khủng bố cực độ.

Tống nữ sĩ cảm thấy nhức hai màng tai, nhớ lại hôm trước Tiểu Lý nói, cả nước phải bước gấp theo Mao Chủ tịch. Bà không khỏi tự dằn vặt vì không theo kịp tình hình, không hiểu được Chủ tịch Mao.

Đầu năm 1966, Chủ tịch Mao phát động Đại cách mạng văn hoá vô sản, thành lập “Tiểu tổ cách mạng văn hoá trung ương”, đưa vợ là cựu diễn viên điện ảnh Giang Thanh làm Tổ phó. Đến tháng 8, ông viết một bài báo chữ to “Nã pháo vào bộ tư lệnh”, đẩy cuộc cách mạng văn hoá vô sản của ông lên cao trào. “Bộ tư lệnh” gồm những ai trong đảng? Tin tức về cách mạng văn hoá lọt đến tai phu nhân rất ít, loáng thoáng như lá vàng mùa xuân. Viên thư ký thì lựa chọn tin tức, thi thoảng mới cho biết, nên bà càng cảm thấy tù mù với thời cuộc hơn.

Sao lại “Nã pháo vào bộ tư lệnh”? Bà hỏi viên thư ký, mà chẳng có câu trả lời. Một hôm người hầu gái ghé tai bà thì thầm, Hồng vệ binh đã khám nhà Chương Sĩ Chiêu, thu mang đi nhiều tài liệu và sách vở quí. Phu nhân vô cùng sửng sốt. Chương Sĩ Chiêu, một người bạn của bà, một nhân sĩ, một trí thức nổi tiếng đã bị Hồng vệ binh tấn công. Bà nói với Tiểu Lý, Tần Thuỷ Hoàng cũng thu và đốt sách. Mặt người hầu gái méo xệch. Người ta nói toàn quốc phải chấp hành Chỉ thị tối cao của Chủ tịch Mao. Đối với Trung Quốc, Chủ tịch Mao không chỉ là lãnh tụ vĩ đại, siêu phàm, không thể động đến, không chỉ là Hoàng đế mà là Thánh đế. Chúng ta không bao giờ theo kịp Chủ tịch Mao đâu. Bà lắc đầu, lặp lại câu nói của người hầu gái.

Giữa lúc phu nhân lơ mơ nửa thức nửa ngủ thì viên thư ký đẩy cửa bước vào, dâng lên bà một bức thư. Bà đón bức thư, nhận ra bút tích quen thuộc, bút tích của một người họ hàng gần của bà, vẫn cư trú ở Thượng Hải.

Bà rời ghế xích đu, đi đến bàn làm việc, lấy dao rọc giấy, rọc phong bì, mở thư đọc. Thư và ảnh.

Bất ngờ toàn thân Tống nữ sĩ run lên, lảo đảo và đổ gục xuống sàn nhà.

Viên thư kí đã theo phục vụ bà gần hai chục năm, chưa bao giờ thấy bà ở trong tình trạng như vậy, vội chạy đến đỡ bà lên giường, kêu nhân viên y tế vào chăm xóc.

Thu dọn thư và ảnh, viên thư kí cũng thấy đầu mình quay cuồng, như vừa bị nện một gậy bóng chày choáng váng. Thư và ảnh kể lại một sự kiện rùng rợn.

Hôm trước, một tốp đông Hồng vệ binh, do không tấn công vào được dinh thự số 46 (có lệnh bảo hộ của Thủ tướng Chu – điều này thì viên thư ký đã biết, sau khi Chu được phép của Chủ tịch Mao), đã kéo nhau ra nghĩa trang Vạn Quốc, đào mộ cha mẹ của Tống phu nhân, lấy bộ xương của hai người, rồi đem khảo đả, hỏi tội phản quốc, cam tâm làm tẩu cẩu cho đế quốc Mỹ, thời cổ gọi là “bạo thi”. Một người có họ gần biết chuyện, đã thuê nông dân bốc xếp lại xương cốt rồi chôn cất tử tế. Viên thư ký đem bức thư và những tấm ảnh cất vào một ngăn kéo, khoá lại. Rồi đến bên giường Tống nữ sĩ đang nằm thiêm thiếp. Viên thư ký nắm bàn tay bà, cảm giác mạch đã đều. Thấy yên tâm phần nào, ông an ủi người hầu gái đã luống tuổi nước mắt lưng tròng, nói tình hình sẽ còn khó nữa. Giữ gìn sức khoẻ để còn chăm sóc phu nhân.

II.

Tống nữ sĩ trong lúc mơ màng nói với người hầu gái.

Cha ta vốn tin vào Đức Chúa Trời, chọn theo Đức Chúa Trời, nhưng riêng ta thì chọn Tôn Văn Dật Tiên làm Đức Chúa của lòng mình. Mà Tôn tiên sinh chọn Lênin làm chỗ dựa, sao ta có thể chọn khác. Tưởng là kẻ thù của ta, nhưng có lẽ y sáng suốt hơn ta, khi rời bỏ con đường của Tôn Văn Dật Tiên. Y thấy không thể chấp nhận chủ nghĩa Lênin, còn ta thì… Ta bị bao vây bởi màng lưới của Mao-Chu, không thể thoát ra được.

Ký ức đưa Tống phu nhân trở lại con tàu khách vỏ sắt, chạy bằng động cơ hơi nước kéo còi tu tu rời bến Thượng Hải. Hai chị em Khánh Linh và Mỹ Linh ôm nhau, nước mắt ròng ròng, vọng nhìn cố lưu giữ hình ảnh cha mẹ và thành phố đang dần xa khuất. Đó là năm 1907, Khánh Linh mới mười bốn tuổi.

Người cha, ngài Tống Gia Thụ đã chịu lễ rửa tội, làm nghề in Kinh Thánh và buôn bán phát tài, tích luỹ được một gia sản lớn đến năm sáu mươi vạn lạng bạc. Ông quyết định gửi Khánh Linh cùng với em gái Mỹ Linh đi Mỹ, nơi người con gái lớn Ái Linh đang tu nghiệp, học tập. Tiễn con gái ra bến tàu, ông ôm chặt con gái yêu vào lòng nói, nước Mỹ có nhiều cái lạ lắm. Cha đưa các con sang đó học, để mở mang tầm mắt.

Sau mấy lần chị em nhà Khánh Linh cùng nhau bày cây thông Noel và đi lễ nhà thờ, hát thánh ca, Khánh Linh đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Trên chiếc bàn rộng của cô, ngoài những cuốn sách bìa cứng có đặt tấm hình một người đàn ông đẹp trai, mặc Tây phục, thắt nơ, để ria oai vệ. Vào khuya, Khánh Linh thắp một cây bạch lạp để cho ánh sáng chiếu rọi lên đôi mắt to, thông minh, quả cảm. Đó là tấm ảnh nhà cách mạng Tôn Trung Sơn, cô cắt ra từ một trang tạp chí, lồng khung trang trọng.

Người cha lập cho ba chị em mỗi người một tài khoản, hàng tháng ông chuyển tiền vào đó để các con tuỳ nghi sử dụng vào mục đích học tập và duy trì sinh hoạt hàng ngày. Khánh Linh thần tượng Tôn Trung Sơn, mơ ước được gặp ông. Lại được biết Tôn rất cần tiền cho hoạt động của đảng mà ông sáng lập. Vì thế cô quyết định giảm đến tối thiểu các khoản chi tiêu, để dành tiền ủng hộ Tôn Trung Sơn, lấy cớ đó mà gặp gỡ ông.

Nhưng chị gái Ái Linh là người ưa tính toán và nhiều mưu lược. Một buối tối cuối tuần, bà chị gái đột ngột xuất hiện ở phòng ngủ của em gái, giọng nghiêm trọng, Khánh Linh này, chị có chuyện muốn nói với em. Ái Linh rút từ ví ra một mảnh giấy màu xanh, đưa cho Khánh Linh nói, em đọc kỹ, xem có sai sót gì không? Khánh Linh liếc mắt nhìn, thấy đó là bản kê chi tiêu ba tháng gần nhất của cô, không hề sai lệch. Khánh Linh đưa mắt nhìn Ái Linh, im lặng. Ái Linh nhẹ nhàng nói, em giải thích cho chị biết, khoản tiền mỗi tháng không tiêu đến em dùng vào việc gì? Khánh Linh đáp lại, giọng cương quyết, đó là việc riêng của em, chị không có quyền can thiệp. Ái Linh không chịu lùi, lên giọng, vậy thì chị sẽ báo với cha, mỗi tháng chỉ gửi đúng số tiền mà em cần, nhé. Vậy là kế hoạch tìm gặp họ Tôn không thành. Nhưng Khánh Linh đã làm được một việc khác cũng không kém phần say mê, lần theo những dấu chân người cha.

Hàn Giáo Chuẩn là con một nhà Nho danh tiếng ở đảo Hải Nam. Có tài liệu kể, cụ tổ họ Hàn được bổ làm Thái thú ở Liêm Châu, Quảng Đông từ cuối thời Bắc Tống. Sau này hậu duệ mới chuyển ra Hải Nam, nơi đầu mối giao thương, tiếp thu được những tư tưởng mới mẻ. Cậu thiếu niên họ Hàn do bất mãn với gia đình, lợi dụng đêm tối trốn lên một chiếc tàu hàng chuẩn bị rời đi Boston, nước Mỹ.

Thuỷ thủ trưởng tóm được cậu, dẫn đến trước mặt thuyền trưởng Chaly, xin lệnh trừng phạt. Thuyền trưởng nhìn vào đôi mắt lanh lẹn, thông minh của cậu, trong đầu loé lên một tia chớp, quyết định làm một phép thử, bèn nghiêm giọng nói, ném thằng nhóc xuống biển cho cá mập. Mặc dù vốn tiếng Anh còn ít ỏi, nhưng cậu nghe rõ từ cá mập, bèn quỳ xuống ôm lấy chân vị thuyền trưởng, cố nói thật rõ ràng. Con biết ngài sẵn sàng cho cá mập ăn thịt con. Nhưng con xin ngài nghĩ lại, như vậy chẳng phí hoài đôi tay biết làm việc sao?

Viên thuyền trưởng cúi xuống, nhìn vào mặt cậu thiếu niên, giọng đã dịu đi, ôn hoà. Nào cậu bé, cậu hãy nói cho ta biết cậu tên là gì. Cậu bé mười bốn tuổi cố phát âm tên mình theo tiếng Anh. Và tên cậu được ghi trong sổ đăng bạ ngày 8 tháng 1 năm 1879 của tàu là Halcyon Sun, 16 tuổi. Tại sao lại 16 tuổi? Là luật Mỹ qui định không được tuyển người làm dưới 16. Và cậu bé Hàn Giáo Chuẩn từ đó được gọi là Sun.

Nước Mỹ đã mở mắt cho cậu. Hàn Giáo Chuẩn nhận ra rằng, tên họ chẳng qua chỉ là một thứ giống như phù hiệu, dấu hiệu để nhận biết mà thôi. Hàn là cậu bé có ý chí và có nghĩa, để nhớ ơn vị thuyền trưởng đã cưu mang, khi viết tên mình bằng chữ Hán đã chọn một cái tên để khi đọc lên nghe âm gần với Sun và Chaly. Tên đó là Tống Sát Lý – Song Cha Ly.

Khánh Linh rất yêu và khâm phục cha, nhưng nghĩ đến việc cha quỳ xuống, vòng tay ôm lấy chân viên thuyền trưởng Chaly, thì cảm thấy cay đắng, giống như bị nhục mạ. Cái cảm giác bị nhục mạ luôn theo đuổi Khánh Linh cho đến lúc chết.

Một buổi sáng, Mỹ Linh dậy sớm xuống mở cửa nhà, thấy một phong bì lớn nhét qua khe cửa. Cô bé cầm lên đọc, reo to, chị Khánh Linh có bài đăng báo, mà báo tiếng Anh nhá. Khánh Linh hồi hộp mở phong bì, lật mở tờ báo, tìm bài của mình. Mùi thơm của mực in, những con chữ ty-pô sống động tạo ra một bầu không khí mới mẻ đầy phấn khích. Khánh Linh ấp tờ báo vào ngực, nói với Mỹ Linh, chị tin sẽ có người chia sẻ cảm xúc với chị, em nghĩ như vậy có thích không? Thích chứ, rất thích là khác. Mỹ Linh hưởng ứng.

III.

Tống phu nhân nói với người hầu gái.

Chúng ta có duyên phận nên mới gặp nhau, gắn bó cả đời với nhau. Ngươi là hiện thân của ân nhân và cũng là ân nhân của ta. Đời người như một cuốn sách, tự mình viết lên rồi thời gian lật qua.

Con tàu Mỹ đưa cử nhân văn chương Tống Khánh Linh trở lại Á Châu, nhưng không phải Trung Quốc mà là Nhật Bản. Sự trớ trêu của lịch sử không làm giảm được niềm vui đoàn tụ gia đình.

Sau khi Viên Thế Khải phản bội Tôn Trung Sơn, để bảo đảm an toàn và xây dựng lực lượng phản đảo chính, ông phải rời Trung Quốc sang Nhật. Gia đình họ Tống cũng không thể ở lại Thượng Hải. Cha và chị Ái Linh ra bến tàu đón Khánh Linh. Chị Ái Linh nói, thế là em đã trở về. Em sẽ là cứu tinh của chị. Khánh Linh chưa hiểu chị gái nói gì, nhưng vẫn ôm chị thật chặt, đáp vâng, chị ngã em nâng. Ngồi trên băng ghế sau, Ái Linh vòng tay qua vai em gái, nói chị đang là thư ký của Tổng thống. Khánh Linh reo lên, ôi chị thật hạnh phúc, đó là việc không đêm nào em không mơ, nhưng khi tỉnh dậy thì hiểu rẳng sẽ chẳng bao giờ thành sự thật. Ái Linh hạ giọng, chị sắp lấy chồng, chị không thể làm thư ký cho Tổng thống, chị sẽ giới thiệu em, nhưng chị cũng nói trước, nơi đó nọc rắn hang hùm, em phải rất cẩn trọng.

Cuộc gặp gỡ đã làm cho người đàn ông từng trải, đã chung sống với không chỉ duy nhất một người đàn bà, lập tức bị trúng lưỡi tầm sét ái tình. Khánh Linh ngay khi tuổi mới trăng tròn từng nhiều đêm mất ngủ, chỉ mơ được chạm vào ống tay áo của người đàn ông ấy, nay toại nguyện được hàng ngày trình diễn năng lực, phô bày sự duyên dáng, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, phô bày sức hấp dẫn của tuổi trẻ trước con người ấy, Tổng thống Tôn Trung Sơn. Tình yêu của một người vẫn được người kia gọi bằng thúc thúc mỗi khi có gia phụ trước mặt, nhưng khi chỉ còn hai người với nhau thì đổi cách xưng hô, gọi là tiên sinh, không giấu nổi con mắt soi mói của thiên hạ.

Theo yêu cầu của Tôn Trung Sơn, Khánh Linh lục tìm những bài báo cô viết đăng khi ở Mỹ, đem đến cho ông đọc. Đó là một buổi sáng đẹp trời, cánh cửa phòng làm việc của Tôn Trung Sơn để ngỏ như chờ sẵn. Khánh Linh cầm mấy bài báo, hồi hộp bước vào, tiện tay khép cánh cửa lại. Tôn Trung Sơn đang chăm chú đọc một bức điện báo, cảm thấy một làn hương thơm, nhẹ như một tấm voan không trọng lượng, buông thả xuống căn phòng – một làn hương mà ông rất thích hít thở. Khánh Linh rụt rè, em mới tìm được mấy bài này, chưa phải là những bài em thích nhất, tiên sinh đọc thử. Tôn Trung Sơn đứng dậy, đón mấy bài báo, lướt mắt rất nhanh, rồi đặt lên bàn, nói sẽ đọc kỹ, nhưng lúc này em là duy nhất mà ta muốn. Dứt lời, ông quả quyết kéo Khánh Linh vào lòng, đặt lên môi cô một nụ hôn cháy bỏng. Khánh Linh ngoan ngoãn, nép vào ngực ông, thốt lên hai từ Dật Tiên ca, rồi nói từ nay không gì có thể chia rẽ được em với tiên sinh nữa.

IV.

Ái Linh một dạo cũng từng bị Tôn Văn Dật Tiên làm cho điên đảo, là người đầu tiên trong gia đình nhận ra mối tình chênh lệch không thể chấp nhận của Khánh Linh. Ái Linh nói với cha, ngọn lửa ái tình mù quáng của Khánh Linh có thể thiêu rụi những gì cha đang vun vén. Cha phải tưới nước dập tắt sớm. Và mưu kế chia rẽ Khánh Linh và Tôn Văn Dật Tiên đã được sắp đặt, hết sức bí mật.

Ngay sau khi Khánh Linh hứa hẹn gắn bó cuộc đời với Tôn Văn Dật Tiên, gia đình Hàn Giáo Chuẩn đã khởi động kế hoạch, buộc Khánh Linh cùng mọi người bí mật rời Nhật Bản về Thượng Hải. Khánh Linh sợ hãi nói, con xin cha, con đang làm việc cho Tổng thống. Tổng thống tin cậy, con không thể theo gia đình về Thượng Hải. Hàn Giáo Chuẩn tỏ vẻ kiên quyết, nói con nên nhớ, trong nhà này cha còn hơn Tổng thống. Con không làm thư ký cho Tôn Trung Sơn thì có người khác làm.

Tình yêu làm cho người con gái thông minh, biến báo hơn. Khánh Linh làm bộ đành nghe lời, chỉ xin cha nửa giờ thu dọn tư trang. Và chỉ trong nửa giờ ấy, cô đã viết được thư gửi ý trung nhân, nhờ gia nhân người Nhật Bản mà cô tin cậy chuyển.

Tống phu nhân lẩm bẩm như đang kể với người hầu gái già.

Ngày đó, khát vọng duy nhất của ta là được hiến dâng tất cả từ thể xác đến tinh thần cho ý trung nhân, nên khi thoát khỏi ngôi biệt thự bị giam lỏng trở lại được đất Nhật, ta liền thuận theo sự xếp đặt của Dật Tiên, lập tức làm lễ thành hôn. Ơn Chúa, có lẽ nhờ Người mà ta có sức phản kháng mạnh mẽ, dù rằng sau này đã khiến ta ân hận.

Hôn lễ giữa Khánh Linh và Tôn Văn Dật Tiên được tổ chức trong một phòng khánh tiết giản dị. Phụ tá cũng là người bạn trung thành của Tôn Văn, bước vào nói với ông, ngài Tống Gia Thụ đang làm loạn ở ngoài cửa, đòi vào, e khó mà cản được. Khánh Linh giật mình, cha có thể từ Thượng Hải sang Nhật nhanh vậy sao? Nàng đưa mắt nhìn Tôn Văn Dật Tiên. Ông với Gia Thụ vốn là bạn. Gia Thụ đã đem toàn bộ gia tài hiến cho sự nghiệp của ông, giờ lại cướp đi người con gái yêu quý của ông ta, há chẳng phải quá nhẫn tâm.

Tôn Văn Dật Tiên trầm mặt, đứng dậy nói, để đó cho ta. Rồi oai vệ bước ra ngoài. Khánh Linh cũng đứng dậy bước theo.

Tôn bước ra cửa, chặn đường vào phòng hôn lễ của Tống Gia Thụ, cao giọng hỏi, Gặp ta có việc gì? Câu hỏi cao giọng và hách dịch của Tôn Trung Sơn khiến Tống Gia Thụ chững lại, bị hạ từ địa vị một người cha vợ xuống hàng thứ dân, mãi sau mới cất nên lời, tôi cần gặp con gái tôi. Khánh Linh rút từ ngực tờ khế ước mà cô ký với Tôn Văn Dật Tiên trước mặt luật sư, hứa chỉ có một người duy nhất làm chúa tể đời mình là Dật Tiên chìa ra trước mặt cha nói, đây cha xem, tất cả đã được pháp luật thừa nhận.

Tống Gia Thụ nhìn trân vào bản khế ước. Câm lặng. Là một lãng tử trên đất Mỹ, là một thương gia lọc lõi trên thương trường, một người đã từng coi họ tên chỉ là một thứ dấu hiệu để phân biệt, ông lập tức quay về Thượng Hải.

Trước mặt vợ ông chỉ thốt lên một câu, ván đã đóng thuyền, rồi ngã gục.

V.

Tống phu nhân nói với người hầu gái.

Ta không ưa gã Tưởng Trung Chính. Ta luôn tin rằng, việc gã ly dị vợ, tiến hành cuộc hôn nhân với em gái Mỹ Linh là một cuộc mua bán, đổi chác chính trị. Gã là kẻ thù của ta. Chính gã làm cho gia tộc họ Tống tan nát chứ không phải ta.

Tổng thống Tôn Trung Sơn trong chuyến Bắc tiến nguy hiểm lên Bắc Kinh, đột ngột mất ở tuổi năm ba, còn quá trẻ, bỏ lại những dự định to lớn. Trước khi mất Tôn Trung Sơn nắm tay vợ, nói nàng gắng đi hết con đường của chúng ta.

Cái chết của ông dẫn đến việc chính phủ Quốc Dân Đảng chia rẽ thành hai chính phủ: Chính phủ Vũ Hán do Tống Khánh Linh làm rường cột và Chính phủ Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch cầm đầu. Ngày đó, phu nhân không biết cuộc mặc cả giữa chị cả Ái Linh và Tưởng Giới Thạch, không biết chị cả Ái Linh đã lôi kéo em trai Tử Văn phản bội mình.

Hôn lễ giữa Mỹ Linh với Tưởng Giới Thạch khiến Tống phu nhân vô cùng đau đớn.

Sau khi trở thành người trong một nhà, Tưởng Giới Thạch phái một quan chức thân tín đi Vũ Hán mời Tống Khánh Linh trở lại Nam Kinh. Nhưng Tống Khánh Linh từ chối. Trước khi rời đi, người đại diện của Tưởng gửi cho phu nhân một bức thư dán kín. Tống Khánh Linh nhận thư, mở ra thấy hai viên đạn. Màu đồng của viên đạn hơi loé lên, khiến gương mặt xinh đẹp của bà tái đi, nhưng bà kịp trấn tĩnh, lấy một chiếp hộp khảm ngọc trai bỏ hai viên đạn vào đó và đóng lại.

VI.

Đêm mưa. Tống phu nhân đem theo Đặng Diễn Đạt và một vài người thân tín trung thành với Tôn Trung Sơn, bí mật rời khỏi Thượng Hải, đáp tàu sang Maxkva. Rồi sang Đức.

Trong lúc mơ màng, chuyện cũ diễn lại như một cuốn phim.

Một buổi sớm, Đặng Diễn Đạt đến gặp Tống Khánh Linh. Vừa bước vào phòng, Đặng liền gieo mình xuống đi văng, giọng tức giận nói lớn, Stalin đã ra lệnh trục xuất tôi. Tôi sẽ sang Đức. Tống Khánh Linh ra hiệu để Đặng bình tĩnh, rót một cốc nước đưa cho Đặng, bảo cứ từ từ nói.

Đặng uống một hơi hết cốc nước, tóm tắt lại câu chuyện. Stalin đã gặp tôi. Ông ta tỏ ý muốn đưa tôi về nước thay Trần Độc Tú lãnh đạo Đảng Cộng sản. Nhưng tôi nói, tôi không phải là đảng viên cộng sản. Tôi đã làm vị lãnh tụ kiêu ngạo bẽ mặt.

Sau một lát suy nghĩ, Tống Khánh Linh nói, chúng ta sẽ sang Đức.

Khi ở Đức, Khánh Linh rất ít xuất hiện, không giao du nhiều. Trong một cuộc tranh luận, Diễn Đạt đã to tiếng với Khánh Linh. Đặng Diễn Đạt cao giọng tuyên bố, cần phải lập một đảng mới, cả Cộng sản và Quốc đân Đảng đều hỏng rồi. Phu nhân nổi giận, cảm thấy mình bị phản bội. Bà nói, trước khi mất, Tổng thống đã nhiều lần nói đến việc phải dựa vào Liên Xô, nói đến việc cộng sản hoá Quốc Dân Đảng. Tổng thống nói, Trung Quốc truyền thống không chấp nhận đa đảng. Thiên hạ là của một nhà.

Diễn Đạt ít hơn Khánh Linh hai tuổi, nhưng có tham vọng. Diễn Đạt thăm dò, nói đã dấn thân vào con đường chính trị, không thể không xây dựng cho mình một học thuyết. Khánh Linh nhớ lại thái độ kiên quyết của Tôn Trung Sơn khi nói nếu rút khỏi Quốc Dân đảng ông sẽ gia nhập Cộng sản đảng, bèn đáp, Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Văn là ngọn hải đăng chỉ đường, chúng ta nên tôn thờ và ra sức thực hiện. Diễn Đạt tỏ ra bất mãn, sự nể trọng phu nhân dường như giảm sút, giọng gay gắt, nói lãnh tụ Nga Xô, ngài Lênin coi chủ nghĩa Tam dân là thuần tuý chủ nghĩa tư bản.

Ta vẫn không hiểu, tại sao Quốc-Cộng không thể hợp tác xây dựng một nước Trung Hoa vĩ đại như nước Mỹ? Tại sao những người Trung Quốc lại dứt khoát phải tiêu diệt nhau? Tống phu nhân đưa tay lần mò trong đêm tối.

Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đã thống nhất Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch viết thư mời Tôn phu nhân đang ở Âu Châu về nước. Bà nghĩ Quốc-Cộng đều có chung một mục tiêu là phục vụ nhân dân Trung Quốc, họ không thể không thành tâm hợp tác với nhau? Tống Khánh Linh đã nhận lời.

Năm 1945, Tống Khánh Linh vốn được suy tôn là quốc mẫu, là yếu nhân của chính phủ hợp tác Quốc-Cộng đóng ở Trùng Khánh.

Một hôm, sau khi đã chủ động đánh tiếng, Mao Trạch Đông đến gặp Khánh Linh. Cảm giác của bà khi đó thật kỳ lạ, vừa run rẩy như gà con gặp chim ưng, vừa có chút gì khinh bỉ bởi sự ngạo mạn và thô bỉ. Dù cùng tuổi với Mao, lại cùng người Giang Nam nhưng giọng Mao cực khó nghe, khiến bà mất tự nhiên khi cứ phải căng tai, cố làm sao hiểu đúng những điều lãnh tụ cộng sản diễn đạt.

Mao đưa cặp mắt tham sắc nhìn người đàn bà goá còn trẻ và đẹp, không giấu vẻ ham muốn. Nhưng trong cuộc gặp gỡ ấy, Mao nói rất nhiều và chỉ nói về chủ nghĩa Tam dân. Chủ nghĩa Tam dân với ba chính sách lớn, Chủ nghĩa Tam dân cách mạng, Chủ nghĩa Tam dân mới, Chủ nghĩa Tam dân thật, đó là Chủ nghĩa Tam dân của Chủ nghĩa Dân chủ mới, đó là sự phát triển của Chủ nghĩa Tam dân cũ, đó là công lao của của Tiên sinh Tôn Trung Sơn, nó là kết quả thời đại của cách mạng Trung Quốc với tư cách là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới sản sinh ra.

Tống Khánh Linh không thích cách diễn đạt cố tình làm cho rắc rối, phức tạp hoá vấn đề của Mao. Dường như Mao đang tìm cách tung ra một làm sương mù để che giấu mục đích lôi kéo bà, nhưng do mong muốn được Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa nhận vai trò của Tôn Trung Sơn, nên bà sẵn sàng ủng hộ Mao, hơn nữa đó cũng là nguyện vọng của Tổng thống.

VII.

Cuộc nội chiến núi xương, sông máu đã kết thúc. Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chiến thắng. Đảng sẽ tuyên bố thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

Mao Trạch Đông cho mời Chu Ân Lai đến phòng làm việc của mình. Căn phòng kê một cái bàn rộng, trên để một chiếc lọ gốm cổ, chưa cắm hoa. Chu bước vào với nụ cười khiêm nhường, hơi có chút khúm núm. Mao trỏ chiếc bình gốm nói, nước Trung Hoa cổ, chúng ta vừa đánh chiếm được. Không để Chu kịp bày tỏ thái độ, Mao nhìn thẳng vào Chu hỏi, lịch triều ông đánh giá cao vị vua nào? Không cần suy nghĩ, Chu đáp ngay, Hoàng đế Mao Trạch Đông. Mao vỗ xuống bàn, cười to, ta thích ông, Chu tiên sinh rất biết đùa. Thực lòng, ta thích Tần Thuỷ Hoàng. Thời học trò học choẹt, ta rất thích diễn kịch, luôn giành đóng vai Tần Doanh Chính.

Một nữ phục vụ viên dâng lên hai tách trà thơm. Sau đó một nữ thư ký đưa vào một chiếc làn, bên trong đựng nhiều loại hoa. Mao ra hiệu cho Chu ngồi xuống chiếc ghế đã bày sẵn, còn ông đi lại chậm rãi xung quanh chiếc bàn. Im lặng. Chu gắng đoán bắt ý nghĩ của Mao Trạch Đông, kiên nhẫn chờ đợi.

Cuối cùng Mao cũng cất tiếng. Chúng ta sẽ tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Chúng ta sẽ xếp đặt các loại nhân sự. Nước Trung Hoa của tôi… và ông phải có bộ mặt hấp dẫn.

Mao đặt làn hoa lên bàn, mỗi khi nhắc đến tên một người nào đó sẽ được đưa vào chính phủ, ông lại lựa lấy một bông hoa trong làn, cắm vào chiếc bình gốm. Những người mà Mao nhắc tên vốn đều là thủ túc của Mao và Chu, tin cậy được. Mao cầm một nhánh tùng la hán, nhứ nhứ trước mặt Chu nói, gã họ Lưu này sẽ được bầu làm Phó Chủ tịch Chính phủ trung ương, anh thấy sao? Dường như đã chuẫn bị sẵn, Chu đáp rành rẽ, Lưu là người đề xướng “Tư tưởng Mao Trạch Đông”, khá xứng đáng. Mao trầm ngâm không đáp. Sau cùng ông cầm lên bông hồng vàng, nói bâng quơ, Khánh Linh là một quả phụ xinh đẹp. Rồi ông cắm bông hồng vàng bên nhánh tùng la hán. Chu đã từng lưu học và tham gia Đảng Cộng sản Pháp, cân nhắc nói, nhưng còn xem lá phiếu của các đại biều. Mao cười nhạt, quân đội và các tổ chức đều do chúng ta lập ra, chúng ta không phải là Đảng Cộng sản Pháp, anh quên sao? Nhưng, người này sống nhờ cái bóng của Đại Tổng thống, ta nên lạt mềm buộc chặt. Chu ngẫm ngợi một lát, nói xin được viết thư cho Tôn phu nhân và sai vợ là Đặng Dĩnh Siêu cầm thư đi Thượng Hải mời. Mao gật đầu tỏ vẻ hài lòng, nói nữ nhân đa tình, tiện tay bèn lấy một tờ giấy, tự mình cũng viết thư cho họ Tống.

VIII.

Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ bị bắt. Tin ấy gây chấn động dữ dội, khiến Tống phu nhân choáng váng. Một người cộng sản kỳ cựu, nhân vật đứng thứ hai, chỉ sau Mao Trạch Đông, một người được thừa nhận là lãnh tụ công đoàn, một người mà uy tín cao vút sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 8 đã bị bắt. Tống phu nhân là Phó Chủ tịch nước, chức vụ đối ngoại không có thực quyền, trong cuộc Đại cách mạng văn hoá vô sản, bà như một tù nhân bị giam lỏng. Bà bị cắt rời khỏi thế giới bên ngoài.

Lựa lúc vắng người, Tống phu nhân hỏi người hầu gái tin tức về Lưu Thiếu Kỳ. Người hần gái sợ sệt, ngó trước ngó sau, ghé tai bà thì thầm, Chủ tịch bị bí mật đưa đi biệt giam ở một nhà tù nào đó, rất xa Bắc Kinh. Chủ tịch bị chụp lên đầu chồng chất các loại “mũ cao”, rồi đưa cho bà tờ Nhân dân nhật báo.

Tít báo in chữ lớn đập vào mắt Tống phu nhân. Kinh nghiệm nhiều năm sống giữa lòng thể chế cộng sản, Tống phu nhân hiểu rằng Mao Trạch Đông đã dứt khoát huỷ diệt Lưu, ghép cho những tội danh chết: kẻ phản bội, tên nội gián, giặc công đoàn. Trong bình hoa của Mao, nhánh tùng la hán đã bị rút bỏ từ lâu, ngay sau khi Đại hội Tám kết thúc.

Sau cú sốc mười lăm phút, Tống Khánh Linh đã được để yên, dù vậy không thể nói không bị chấn thương tâm lý. Cú sốc Lưu Thiếu Kỳ khiến chấn thương thêm trầm trọng, nhưng bà chưa gục hẳn. Bà tự hỏi, nếu tiên sinh Tôn Trung Sơn sống lại, chứng kiến tổ chức Đảng Cộng sản bị Mao Trạch Đông dùng đám Hồng vệ binh đánh phá, vô hiệu hoá, ông sẽ hành xử thế nào?

IX.

Tống Khánh Linh nói với người hầu gái đã theo mình hơn năm mươi năm.

Ta nhớ ngày nhỏ theo phụ thân và mẫu thân đi thăm đất cũ Châu Nhai, miền đất cây cối xanh tươi, chim muông ríu rít, thật như chốn bồng lai, tiên cảnh. Ta đã thấy người ta dùng lưới bắt chim. Mỗi khi người thợ săn thấy bóng dáng đàn chim bay từ miền xa xôi nào đó đến, bèn tung con chim mồi lên. Con chim mồi bay lên chấp chới, rồi lại đáp xuống nơi đặt lưới, nơi có vài ba con chim mồi chỉ có thể bay nhảy tại chỗ, khác với con chim mồi tung lên được buộc chân bằng sợi cước dài, những con chim mồi này, con nào cũng bị buộc một đoạn dây ngắn. Đàn chim bị con chim mồi dẫn dụ sà bay xuống, lập tức như có một cơn bão, lưới sập, nhiều con bị tóm gọn.

Điều đáng chú ý là, mắt các con chim mồi đều bị khâu lại.

Người hầu gái bất giác nhớ quê Hương Sơn. Nhớ cái lần được Đàm mẫu đưa từ Quảng Đông lên Thượng Hải, bước vào cổng ngôi biệt thự cao quý đánh số 28, ra mắt phu nhân. Ngay lần ra mắt ấy, số phận của cô gái họ Lý đã được quyết định. Bản thân cô hay mấy ngàn năm truyền thống Trung Quốc quyết định, cô không biết. Cô vẫn nhớ như in, khi bước vào căn phòng ở lầu hai, chiêm ngưỡng tôn nhan của phu nhân, tự nhiên hai chân cô mềm oặt, khuỵu xuống, khiến Đàm mẫu phải vội đưa tay đỡ. Cô run run thốt lên như đọc một lời thề, em sẽ hầu hạ phu nhân trọn đời. Đó là năm 1927.

Sao phu nhân lại nhắc đến hồi ức chim mồi? Phu nhân được quý trọng, được tin cậy, được giao những chức vụ lớn rất nhiều vinh dự, nhưng không phải lúc nào bà cũng vui. Không ít việc bà làm một cách miễn cưỡng.

Bà có quan hệ thân thiết với gia đình Lưu Thiếu Kỳ. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, lần nào gặp bà cũng tỏ ra vồ vập, thế nhưng bà luôn có cảm giác dường như mình chưa phải ở phía họ.

Năm 1957, nhân việc Lưu Thiếu Kỳ đến thăm bà tại tư dinh, bà nói muốn gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một thoáng bối rối, nhưng ngay lập tức họ Lưu làm mặt vui, cười nói, đó là việc lớn cần phải báo cáo Bộ Chính trị.

Phải rất lâu sau đó, Lưu và Chu đích thân đến thăm bà, thông báo quyết định của Bộ Chính trị.

Chu với tư cách như một nhà ngoại giao cao cấp nhất của Đảng, hơi cao giọng một chút, nói Bộ Chính trị đã cân nhắc rất kỹ, phu nhân ở ngoài Đảng sẽ tốt cho Đảng hơn.

VĨ THANH

Cuối mùa xuân năm 1981, Tống phu nhân được chẩn đoán mắc bệnh máu trắng. Việc điều trị không có tiến triển.

Vương Quang Mỹ, sau cái chết thảm của Lưu Thiếu Kỳ, được Đặng Tiểu Bình trả lại những quyền lợi đã bị tước đoạt. Bà này quyết định gặp Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang hiến kế, kết nạp đảng và phong tước vị danh dự cho Tống Khánh Linh. Vương nói với Hồ Diệu Bang, bệnh Tống phu nhân nặng lắm rồi, không nói được nữa, sao các vị không làm một cái gì đó cho đảng và cho nhân dân.

Hồ Diệu Bang gật đầu, phải lắm nhưng cần thỉnh thị đồng chí Tiểu Bình.

Hồ đặt lịch gặp Đặng Tiểu Bình, trình bày việc kết nạp và phong chức Chủ tịch danh dự quốc gia cho Tống Khánh Linh.

Đặng vừa xoa mạt chược vừa cười, nói đúng để cho đồng chí ấy phục vụ đảng tới hơi thở cuối cùng.

Đó là ngày hôm trước khi Tống phu nhân tắt thở.

Hà Nội – Phú Thọ, tháng 5, 6 năm 2021

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

HỘI HOẠ TRUYỀN THỐNG TRUNG QUỐC THẾ KỈ 20 (PHẦN I)

HỘI HOẠ TRUYỀN THỐNG TRUNG QUỐC
 THẾ KỈ 20 (PHẦN I)


Lang Shaojun (Lang Thiệu Quân)



Tranh Ngô Quan Trung 呉冠中 (1919-)



*

Nội dung

Hội hoạ cuối Thanh và đầu Dân Quốc, 1900-1927

· Ngô Xương Thạc và hoạ phái của ông

· Lĩnh Nam phái và phong trào cách tân Quốc Hoạ


Thời kì giữa và cuối Dân Quốc, 1927—1949

· Tề Bạch Thạch và những hoạ gia Bắc Kinh

· Hoàng Tân Hồng và những hoạ gia Giang Nam

· Từ Bi Hồng và hoạ phái của ông


Thời kì đầu Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, những thập niên 1950 – 1970

· Lâm Phong Miên với tranh màu và mực

· Phan Thiên Thọ và Tân Triết phái

· Những hoạ gia Nam Kinh

· Lí Khả Nhiễm, Thạch Lỗ và phái tân tả sinh



PHẦN I

Thời kì mới

Đầu thế kỉ 20, Trung Quốc đang là một đế chế bị xáo trộn. Năm 1911, nhà Thanh vốn thống trị Trung Quốc từ 1644 bị lật đổ, kết thúc hai ngàn năm chế độ quân chủ. Cuộc Vận động Ngũ Tứ năm 1919 tấn công kịch liệt vào hệ thống phong kiến và văn hoá truyền thống cũ, giương cao ngọn cờ “dân chủ” và “khoa học”. Người dân Trung Quốc đã chịu nhiều năm gian khổ trong cuộc Chiến tranh Kháng Nhật (1937-1945) và tiếp đến là cuộc Chiến tranh Cách mạng. Năm 1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thành lập cuối cùng đã đem lại nền hoà bình mong đợi. Nhưng chẳng bao lâu, một loạt những vận động chính trị do Mao Trạch Đông phát động nhằm công nghiệp hoá và hiện đại hoá quốc gia mới, đã gây ra những trường hợp xáo trộn về xã hội, kinh tế, và chính trị. Những đề xướng chính trị và văn hoá như Trăm Hoa Đua Nở năm 1957 nhắm vào sự sửa đổi văn hoá Trung Quốc; cuộc vận động lớn nhất là Cách mạng Văn hoá mở màn năm 1966 và tiếp tục cho đến 1976. Những cuộc vận động xã hội và văn hoá này đã ảnh hưởng to lớn đến văn hoá truyền thống Trung Quốc.

Việc du nhập văn hoá phương Tây một cách quy mô đã là sự phát triển trọng yếu của Trung Quốc trong thế kỉ 20. Ngay từ đầu thế kỉ, giới hoạ gia Trung Quốc đã đưa ra và tranh luận nhiều câu hỏi: Có nên tiếp thu nghệ thuật phương Tây? Nếu có thì nên phối hợp như thế nào? Truyền thống dân tộc của Trung Quốc nên thay đổi như thế nào?

Sự ảnh hưởng phương Tây nghĩa là gia tăng những thể loại hội hoạ. Bổ sung vào hội hoạ truyền thống, có sơn dầu, mộc bản, tranh sử dụng những chất liệu khác nhau và cho những mục đích khác nhau. Người ta bắt đầu gọi hội hoạ truyền thống Trung Quốc đơn giản là “Quốc Hoạ” để biện biệt với những khuynh hướng mới đang xuất hiện. “Quốc Hoạ” bàn tới ở đây chủ yếu là tranh truyền thống được vẽ bằng thuỷ mặc đơn sắc, hoặc với chi tiết sắc sảo và điểm màu sắc đậm, và tranh dùng mực và nước làm chất liệu chính.


Hội hoạ cuối Thanh và đầu Dân Quốc, 1900 -1927


Vào thời cuối Thanh và đầu thời Trung Hoa Dân Quốc, thế giới nghệ thuật Trung Quốc là một cảnh tượng tiêu điều. Những hoạ gia trứ danh của phái Thượng Hải (Hải phái) như Hư Cốc, Hồ Công Thọ, Nhậm Bá Niên đều đã tạ thế vào cuối thế kỉ 19. Phổ Hoa, Tiền Tuệ An còn sống cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911 xảy ra. Chỉ có hoạ gia kiệt xuất là Ngô Xương Thạc vẫn còn sống và sức sáng tạo đang thịnh vượng. Đại đa số hoạ gia của Bắc Kinh vẫn còn noi gương “Tứ Vương” (Vương Huy, Vương Thời Mẫn, Vương Giám, và Vương Nguyên Kì) của đời Thanh hoặc dè dặt tuân theo những quy tắc xưa, không có bước đột phá nào lớn. Tuy vậy, những hoạ gia ở những thành phố khác, chịu ảnh hưởng do cuộc cách mạng xã hội và phương Tây đã bắt đầu thử nghiệm nghệ thuật và phát động một cuộc “Cách mạng mĩ thuật”, họ đánh giá lại hội hoạ cổ và bắt đầu một cuộc tranh luận dai dẳng giữa phe cách tân và phe bảo thủ.



Ngô Xương Thạc và hoạ phái của ông

Ngô Xương Thạc 吳昌硕 (1844-1927), xuất thân từ một gia đình học vấn tinh thâm, người huyện An Cát, tỉnh Triết Giang. Năm 10 tuổi đã làm thơ và khắc ấn. 16 tuổi, cùng gia đình chạy nạn tới vùng núi hoang dã để tránh cuộc chiến giữa quân Thái bình Thiên quốc và quân Thanh. Trong li loạn, Ngô Xương Thạc bị thất lạc gia đình và đã lang thang ở vùng thôn dã. Năm năm sau trở về nhà, ông miệt mài học thi văn, thư pháp và triện khắc. Khoảng 30 tuổi, ông rời gia đình đi tìm thầy học và kết bạn chia sẻ nghệ thuật. Ông làm bạn với nhà sưu tập và am tường nghệ thuật trứ danh Ngô Đại Trừng (1835-1902) và hoạ gia Phổ Hoa. Năm 1880, tới ở Tô Châu, sau đó lại đến ở Thượng Hải, ông sống bằng nghề viết thư pháp và khắc triện. Năm 1898, ông được đề bạt giữ chức huyện lệnh An Đông, tỉnh Giang Tô, nhưng một tháng sau ông từ quan và tiếp tục sinh sống bằng nghề hội hoạ ở Thượng Hải. Do thành tựu thư pháp và khắc triện kiệt xuất, năm 1904, ông trở thành giám đốc đầu tiên của hội nghiên cứu khắc triện ấn Tây Lãnh ở Hàng Châu.

Ngô Xương Thạc đã cống hiến cả đời cho nghệ thuật thư pháp và triện khắc. Ông bắt đầu học thể chữ khải thời Đường, rồi đến thể chữ lệ thời Hán. Sau này ông thành thạo chữ triện và trứu [một loại đại triện], và có thể viết thạch cổ văn [kiểu chữ khắc trên tảng đá hình cái trống, khoảng 200 TCN]. Suốt mười năm luyện tập không ngừng, ông áp dụng chữ lệ với triện sang thành chữ thảo, tạo khí thế mạnh mẽ nhưng lại vừa uyển chuyển. Nghệ thuật triện khắc của ông học từ Triết phái, Hoàn phái, An Huy phái, và chịu ảnh hưởng bia đá thời Tần, Hán khoảng hai ngàn năm trước. Qua thời gian, ông khai triển một phong cách độc đáo, sau gọi là “Ngô phái”; nghệ thuật khắc ấn của ông cực kì thanh nhã lại vừa có mãnh lực .

Ngô Xương Thạc không học hội hoạ cho đến năm 30 tuổi. Khi ông thỉnh giáo Nhậm Bá Niên, vị hoạ gia này đã hết sức tán dương bút lực hùng hậu của ông, và khuyên ông áp dụng thư pháp vào trong hội hoạ. Hai người dần dần thành bạn thân. Ngô Xương Thạc cũng thừa kế Triệu Chi Khiêm là nhà khắc ấn lừng danh thế kỉ 19, và ông đã áp dụng thư pháp kim thạch (những minh khắc cổ trên kim loại và đá) vào trong hoạ pháp. Ngô Xương Thạc cũng học những kĩ pháp của những hoạ gia trước đó như Kim Nông và Từ Vị, những năm cuối đời ông trở thành một hoạ gia hoàn hảo. Trong hội hoạ, ông chủ trương “hoạ khí bất hoạ hình” (vẽ tình tự và ý niệm đối tượng chứ không vẽ hình thể). Ông có câu thơ: “Lâm mô thạch cổ lang gia bút, Hí vi u lan nhất tả chân” (Dụng bút lực viết thảo như thạch cổ văn và vẽ hoa lan trong u cốc). Tranh ông vẽ hoa, sơn thuỷ và nhân vật vốn là những đề tài yêu thích của giới văn nhân, họ hân thưởng cảm xúc tinh tế và ý nghĩa thâm trầm nằm dưới bề mặt mạnh mẽ.

Ngô Xương Thạc thiên về dùng màu thuần chất và tương phản mạnh. Ông là người đầu tiên dùng “dương hồng” (loại màu đỏ trong suốt được du nhập từ phương Tây) để vẽ hoa quả. Bút lực mạnh mẽ của ông thành công khi kết hợp thuỷ mặc đơn sắc đậm và biến hoá cùng với những màu tươi và lôi cuốn, tạo nên ấn tượng vừa đơn giản vừa rực rỡ. Mặc dù tranh ông thoả mãn giới văn nhân, chúng cũng mang hương vị nghệ thuật dân gian. Do sự lôi cuốn rộng rãi này, Ngô Xương Thạc có thể mưu sinh bằng tác phẩm của mình. Tuy ông ngưỡng mộ những truyền thống nghệ thuật cổ điển cao nhã và sùng kính những hoạ gia văn nhân trong lịch sử, vì họ không màng công danh lợi lộc, nhưng ông cũng phải đáp ứng sở thích những người mua và sưu tập tác phẩm của mình – là giới cựu văn nhân và cựu quan chức, những thương gia có học và ít học. Trong một thủ phủ thương nghiệp là Thượng Hải đang ở bước ngoặt thế kỉ 19 và đầu 20, Ngô Xương Thạc thường chọn màu tươi sáng và những đề tài biểu tượng cho sự may mắn và hạnh phúc.

Ngô Xương Thạc đặc biệt vẽ hoa mai rất nhiều. Hoa mai thường nở trong thời tiết lạnh giá trước khi mùa xuân đến. Qua bao thế hệ, những kẻ sĩ đã hân thưởng phẩm tính của loại hoa đẹp can đảm thách thức trước cái lạnh. Những thi nhân và hoạ gia tán dương vẻ đẹp của hoa mai, chủ yếu mượn để bày tỏ sự thán phục tinh thần độc lập và phẩm cách. Tranh của Ngô Xương Thạc vẽ loại hoa này, tuy vậy, khác biệt với những tiền bối. Bằng bút pháp vận dụng lối chữ triện và trứu, những cành cây bất luận bằng nét mực đậm hay nhạt, có thể gọi là “cốt sắt” – đủ sức lực cắt chặt sắt đá. Đồng thời nét cọ còn hàm súc, dự trữ, đôn hậu và thuần phác, cho thấy những phẩm chất đạo đức mà họ Ngô ngưỡng mộ. Dưới cây cọ của ông, những bông hoa mai nét bút bất luận to hay nhỏ đều phô bày tính cương ở đằng sau những nét nhu và thanh nhã. Khi đơm nụ hay nở bung, hoa mai của Ngô cũng đều khả ái, ngoan cường và tràn trề sinh lực. Màu dương hồng điểm lên những đoá hoa trông hết sức rực rỡ, mà theo lời hoạ sĩ kì cựu Bàn Thiên Thọ là “cổ diễm tuyệt luân”.

Bức Mai hoa (hình 1) điển hình cho kĩ pháp của Ngô Xương Thạc trong việc vận dụng bút và mực. Thân mai mọc hướng lên, trong khi cành chúc xuống cong về bên phải. Cả thân và cành với thế tương phản đều được vẽ với cường lực; không một nét yếu hay cường điệu. Để vẽ những đoá hoa, ông viền nét hình dạng những cánh hoa rồi điểm lên màu hồng phấn yên chi trong suốt. Những đoá mai nở rạo rực được những cành sẫm hỗ trợ trên nền trắng bạch mang một vẻ đẹp và khoái cảm khác thường. Với lời đề: “Bát mặc thành thử, lược tự Hoa chi tự tăng bút ý” (Bút pháp quết mực này theo bút ý Hoa Chi Tự Tăng), Ngô đang nhắc đến vị “Sư của chùa Hoa” là tên khác của hoạ gia La Sính đời Thanh, ông vẽ hoa mai giỏi và được ngưỡng mộ. Như một quy luật, những hoạ gia Trung Quốc hết sức ngưỡng mộ cổ nhân; họ ưa so sánh “bút ý” của họ hay của các hoạ sĩ khác với tranh của các tiền bối quan trọng, ngay cả khi có ít điểm tương tự với tác phẩm của các hoạ sư tiền bối.


1. Ngô Xương Thạc, Mai hoa,
 tranh trục cuốn, mực và màu trên giấy, 1916. (Bảo tàng Thượng Hải)



2. Ngô Xương Thạc, Trà cụ,
tranh trục cuốn, mực và màu trên giấy, 1916.
(Thượng Hải Đoá Vân Hiên Hoạ lang)

Bức Phẩm mính trà (hình 2) miêu tả một bình trà gốm thô bên cạnh một cành mai. Bút mực nhạt nhưng gây ấn tượng và mang ý vị nhàn nhã. Kẻ sĩ Trung Quốc xem vị trà nhạt nhưng là dấu hiệu của đạo vị tinh tế (“đạm nhi viễn”); uống trà nhạt không chỉ để hưởng thức mà còn ngụ ý xem thường những thú vui trần tục. Phong thái này phù hợp với triết lí sống của Ngô Xương Thạc: ông đã chọn làm một thư hoạ gia thay vì làm quan. Ngô thích sống giản dị, đạm bạc. Như ông từng nói: “Làm một khí cụ sạch, phẩm chất tốt, một bình gốm hơn cả bình vàng ngọc, trà nhạt hơn cao lương mĩ vị”. Vì vậy ông lấy tự hiệu là Lão Phũ - “Cái Bình Cũ”.

Trong số nhiều đệ tử và những người theo ông có Vương Chấn, Trần Sư Tăng, Triệu Vân Hác, và Vương Cá Di. Ảnh hưởng của ông cũng thấy rõ trong những tác phẩm của những hoạ gia lẫy lừng như Tề Bạch Thạch và Phan Thiên Thọ.

Vương Chấn 王震 (1867-1936), hiệu Nhất Đình, tự Mai Hoa Quán Chủ, người huyện Ngô Hưng, tỉnh Triết Giang, sinh ở Thượng Hải. Thời niên thiếu học nghề trong một cửa tiệm bồi và trang trí tranh ở Thượng Hải. Năm 1882, là đệ tử của Từ Tiểu Luân vốn là học trò Nhậm Bá Niên. Thông qua Từ Tiểu Luân dẫn kiến, Nhậm Bá Niên đã gặp Vương Chấn và được chỉ điểm cho những kĩ thuật hội hoạ. Sau này Vương Chấn trở thành một thương gia thành công. Với tư cách là tổng kinh lí của Công ti Chuyển hàng Nhật Thanh, một trong ba tổng kinh lí hàng đầu về ngoại thương của Thượng Hải thời Thanh mạt. Năm 1906, Vương Chấn trở về quê ở huyện Ngô Hưng, làm nhà ở Bạch Long Sơn, lấy tự hiệu là Bạch Long Sơn Nhân. Năm 1911, là đệ tử của Ngô Xương Thạc và giúp bán tranh cho Ngô ở Thượng Hải. Dần dần phong cách của Vương đi từ ảnh hưởng Nhậm Bá Niên chuyển hướng sang phong cách của Ngô Xương Thạc. Vương Chấn cũng là Phật tử hay làm việc từ thiện, năm 1922, ông là hội trưởng của Trung Quốc Phật giáo Hội.

Vương Chấn sở trường vẽ theo lối tả ý – giỏi vẽ nhân vật, Phật tượng, hoa điểu, sơn thuỷ và thư pháp. Ông cũng vẽ chân dung Ngô Xương Thạc và Khang Hữu Vi. Tác phẩm của ông sau tuổi 60, là sự giao thoa hoạ pháp phong cách của cả hai được bảo lưu thành một: giữa nét thanh tú của Nhậm Bá Niên với vẻ hùng hậu của Ngô Xương Thạc. Vương Chấn chuộng những đề tài như nhân vật lịch sử, truyền thuyết dân gian, và những hình tượng thiên nhiên như tùng, mai, cúc, sen, gà, hạc, chim sẻ, và những loại cầm điểu khác. Ông cũng dùng hình thức loạt tranh liên hoạ miêu tả phong tục dân gian và sinh hoạt của người nghèo khổ. Trong những lời đề thơ cho những hình ảnh trên, ông quảng bá lí tưởng Phật gia mang nội dung khuyến thiện khử ác. Những tác phẩm liên hoạ này mang phong cách đặc sắc riêng của chúng.

Trần Sư Tăng 陈师曾 (1876-1932), còn gọi là Trần Hành Khác, hiệu là Hủ Đạo Nhân, người huyện Tu Thuỷ, tỉnh Giang Tây. Tổ phụ của ông là Trần Bảo Châm (1831-1900) làm tuần phủ tỉnh Hồ Nam, và là người ủng hộ mạnh mẽ cho phong trào cải cách. Phụ thân của Trần Sư Tăng là Trần Tam Lập là một nhà thơ trứ danh thời Thanh Mạt và đầu thời Dân Quốc. Em trai, Trần Diễn Khác, là một sử gia trứ danh. Trần Sư Tăng ngay lúc thiếu thời đã học hội hoạ, làm thơ. Đầu những năm 1900, ông du học Nhật Bản. Khi trở về khoảng bảy năm sau, ông là giáo viên sư phạm các trường ở Nam Thông và Hồ Nam. Những năm sau đó ông làm người biên soạn trong Bộ Giáo dục, hướng dẫn viên của Hội Nghiên cứu Hoạ pháp thuộc Đại học Bắc Kinh, và là giáo sư trường Cao đẳng Mĩ thuật Bắc Kinh. Trong thời gian ở Nam Thông, ông thường tìm Ngô Xương Thạc để thỉnh giáo về hoạ pháp và triện khắc. Ông cũng xem những hoạ gia đời trước là thầy, như Thẩm Chu, Thạch Đào, Khôn Tàn, và Củng Hiền, để thoát khỏi quy phạm nghiêm nhặt phổ biến đã gắn liền với truyền thống “Tứ Vương”. Trần Sư Tăng vẽ sơn thuỷ (như Sơn thuỷ, hình 3), hoa, và nhân vật cổ kim, và với phong cách khoáng đạt và bút lực hùng mạnh. Tuy ông hấp thu lối dùng màu sắc phương Tây, nhưng tác phẩm của ông không lộ rõ dấu tích ảnh hưởng phương Tây.

Khoảng thời gian cuộc Vận động Ngũ Tứ (1919) cùng với cuộc cách mạng trong văn học (Hồ Thích) chủ trương đổi mới và dùng bạch thoại, nhiều hoạ gia và tư tưởng gia đã chủ trương làm một cuộc “cách mạng mĩ thuật”. Họ phê phán truyền thống hội hoạ văn nhân là “quá đơn giản hoá và sống sượng”, và “không thể mô tả tính chất của vạn vật”, và cho rằng nó đã đem hội hoạ Trung Quốc tới chỗ “suy đồi”. Năm 1921, Trần Sư Tăng phát biểu trong bài “Giá trị của văn nhân hoạ”, ông lên tiếng ủng hộ truyền thống hội hoạ tả ý của văn nhân. Ông đã duyệt lại lịch sử phát triển của văn nhân hoạ từ thời Lục triều đến Tống, Nguyên, vạch ra quan hệ giữa văn nhân hoạ và triết học Lão-Trang. Ông quả quyết rằng mục đích của những nhà nghệ thuật văn nhân là “thoát ra khỏi trói buộc của thế giới vật chất để phát huy sự tự do cho tình trí” cũng như “biểu thị nhân cách và tư tưởng của họ”. Giới văn nhân hoạ đã kết hợp hội hoạ, thơ, thư pháp thành một hình thức để tạo nên tính đặc sắc cho hoạ phẩm của họ. Trần Sư Tăng còn nhận định rằng, văn nhân hoạ đã chiếm ưu thế suốt các thời Tống, Minh, Thanh. Điều này là tự nhiên, ông nói, bởi vì loại tranh này đòi hỏi một sự hoà hợp đa dạng những phẩm chất văn hoá và tri thức. Hoạ gia văn nhân “không cốt nhắm tới việc vẽ một hình thể tương tự, bởi khi dụng bút họ có những điều khác để theo đuổi. Họ muốn kí thác chí khí và ý tưởng của họ. Cái bất tương tự chính là sự tiến bộ trong hội hoạ”. Ông kết luận: “Tuy hội hoạ là con đường nhỏ, trước hết nó cần tới nhân phẩm; thứ hai cần học; thứ ba cần tài năng và tình cảm; thứ tư là công phu trong nghệ thuật”. Trong bài viết này, thay cho việc phản đối những tư tưởng chủ trương cải cách, Trần Sư Tăng đã lên tiếng một cách uyên bác về những phẩm chất thiết yếu và ưu điểm của văn nhân hoạ.


3. Trần Sư Tăng, Sơn thuỷ,
tranh cuốn dọc, mực và màu trên giấy, 1915.
135.1 x 48.5cm. Bảo tàng Mĩ thuật Trung Quốc, Bắc Kinh



Một số tác phẩm của Trần Sư Tăng





















Phái Lĩnh Nam và phong trào cách tân Quốc Hoạ Trung Hoa

Vào thời điểm cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 do Tôn Dật Tiên lãnh đạo nhắm kết thúc nhà Thanh, tại Quảng Đông cũng đã xuất hiện hoạ phái Lĩnh Nam chủ trương cách tân hội hoạ truyền thống. Những người lãnh đạo phong trào cải cách này là Cao Kiếm Phủ, Cao Kì Bội và Trần Thụ Nhân, mệnh danh là “Lĩnh Nam tam kiệt”.

Cao Kiếm Phủ 高劍父 (1879-1951), sinh ở thành Phiên Ngung, tỉnh Quảng Đông. Cao Kì Phong (1889-1933) là ngũ đệ của ông. Cao Kiếm Phủ đã mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ và học nghề tại một tiệm thuốc. Tuổi 14, theo hoạ gia Cư Liêm học vẽ hoa điểu. 17 tuổi, vào học ở Viện Cách Trí Khoa học Tự nhiên (ngày nay là Đại học Lĩnh Nam) ở Macao, và tập vẽ chì than qua hội truyền giáo Pháp. Qua Nhật Bản du học năm 1905, và thời gian ở đây đã chịu ảnh hưởng sâu xa từ những hoạ gia Nhật Bản của phái Kinh Đô (Kyoto) như Takeuchi Seihô (1864-1942), và đã gia nhập Bạch Mã Hội, Thái Bình Dương Hội, là những đoàn thể hội hoạ Nhật Bản. Năm 1906, trở về Trung Quốc, Cao Kiếm Phủ tham gia hoạt động cách mạng lật đổ nhà Thanh, làm hội trưởng chi nhánh Đồng Minh Hội ở Quảng Đông do Tôn Dật Tiên đứng đầu. Trong thời kì này, cùng với em trai Cao Kì Phong 高奇峰 và Trần Thụ Nhân 陳樹人(1884-1948); người bạn học, vừa đồng hương vừa đồng chí, cùng truyền bá những tư tưởng cách tân nghệ thuật. Ba nghệ thuật gia trẻ tuổi này đã xuất bản những tạp chí chủ trương cách tân, Thời sự hoạ báo, Chân tướng hoạ báo ở Quảng Đông và sau đó ở Thượng Hải. Họ cũng lập Thẩm mĩ Thư quán để truyền bá tư tưởng nghệ thuật mới, đề xướng giáo dục thẩm mĩ, và tuyên truyền cho cuộc cách tân quốc hoạ. Sau khi Tôn Dật Tiên qua đời năm 1925, Cao Kiếm Phủ cống hiến cả đời mình cho nghệ thuật. Ông thành lập Xuân Thuỵ Hoạ viện để cổ suý và khai phá những phương cách mới cho hội hoạ Trung Quốc. Trong những năm 1930, ông du lịch ngoại quốc, tới Nam Á, những quần đảo Nam Dương, châu Âu, và Bắc Mĩ để khảo sát nghệ thuật của những nền văn hoá này và tổ chức triển lãm hội hoạ Trung Quốc. Cao Kiếm Phủ cũng sáng lập Cao đẳng Mĩ thuật Nam Trung và Cao đẳng Mĩ thuật Quảng Châu, và dạy mĩ thuật ở Đại học Trung Sơn và Đại học Trung ương, đã nuôi dưỡng nhiều nhân tài. Trong số nhiều đệ tử kiệt xuất do ông đào tạo, có Lê Hùng Tài, Phương Nhân Định, Quan Sơn Nguyệt, Dương Thiện Thâm, Hoàng Độc Phong.

Cũng giống anh mình, năm 1907, Cao Kì Phong sang du học Nhật Bản và khi trở về cũng tích cực trong cuộc vận động lật đổ nhà Thanh. Cao Kì Phong là một kì tài nghệ thuật, ông thích vẽ mô tả các loại mãnh cầm và mãnh thú, và khí thế này đã thấm nhuần vào trong tác phẩm của ông một tinh thần lí tưởng của chủ nghĩa anh hùng. Tôn Dật Tiên từng ca ngợi tác Phẩm của Cao Kì Phong là “truyền đạt được vẻ đẹp của thời đại mới, tiêu biểu cho cuộc cách mạng”. Trong số đệ tử của ông, có Hoàng Thiếu Cường và Triệu Thiếu Ngang.

Từ người thầy Cư Liêm, hai anh em họ Cao (“Nhị Cao”) kế thừa hoạ pháp “một cốt” (không xương cốt). Để bổ sung màu và cường độ mà vẫn bảo tồn được hiệu quả tự nhiên, họ ưa dùng những phương pháp gọi là “chàng thuỷ” (khuấy nước) và “chàng phấn” (khuấy bột) – là những lối dùng nước trong thuỷ mặc. Ở phương pháp thứ nhất, nước được bổ sung vào tranh đã được tô màu; ngược lại, phương pháp “khuấy bột” thì màu được bổ sung vào tranh đã được thấm nước. Thêm nữa, hai anh em dụng khoái bút vẽ nhanh để truyền đạt ấn tượng về sự chuyển động nhanh. Tuy nhiên, Tây hoạ theo như họ hiểu kì thực là hội hoạ hiện đại của Nhật Bản. Chẳng hạn, những con khỉ hay vượn anh em họ Cao vẽ, tương tự với phong cách khỉ, vượn mà hoạ sĩ Nhật Bản Hashimoto Kansetsu (1883-1945) đã vẽ.

Tuy anh em họ Cao đề xướng khuynh hướng tả chân nhưng họ lại không đạt được kĩ xảo thực sự của chủ nghĩa tả chân. Và mặc dù sáng tác của họ thấm nhuần cảm quan về sứ mạng và niềm ưu thời mẫn thế, họ lại coi nhẹ tính phức hợp trong cuộc thử thách cách tân truyền thống nghệ thuật. Ngay cả khi Cao Kiếm Phủ lí luận đề xướng cái mới, ông vẫn duy trì tâm lí mê cổ. Trong những năm cuối đời, ông cho rằng mình đã “về rừng”, rút lui khỏi những quan tâm thế sự. Cao Kiếm Phủ tự hào khi gọi tác phẩm của mình là “tân văn nhân hoạ”. Trong một di cảo, ông viết “Tôi yêu bút và kiếm; tôi yêu cổ lẫn tân; yêu cổ hoạ lẫn yêu Tây hoạ. Tôi thường tự nhủ rằng nhân sinh vốn đầy dẫy những mâu thuẫn”. Sự mâu thuẫn về tâm lí và triết lí sống này là mẫu số chung đối với nhiều trí thức và nghệ sĩ của kỉ nguyên này.

Bức Trúc nguyệt (hình 4) do Cao Kiếm Phủ vẽ giữa những năm 1940, với bố cục dài và hẹp, hình tượng ý vị một thân trúc mảnh nhưng mạnh mẽ chọc thẳng lên trời. Trời sẩm tối, một vầng trăng rằm mông lung mọc qua lớp sương mù, đám lá trúc héo xao xác trong gió lạnh. Hoạ gia dùng bút pháp mực khô vỡ nét với màu lục thẫm để bộc lộ nỗi bi hoài của mình. Hậu cảnh được thấm đẫm lớp mực rất nhạt mà truyền thống Quốc Hoạ gọi phương pháp này là “hồng vân thác nguyệt” (đốt mây bày trăng). Mặc dù một số hoạ gia ưa tô thấm những áng mây trong tranh của họ bằng mực để làm nổi bật vầng trăng, còn trong Trúc nguyệt, Cao Kiếm Phủ lại muốn cho thấy bầu trời trên nền hậu cảnh. Phương pháp của ông cho thấy ảnh hưởng của hội hoạ hiện đại Nhật và phương Tây.



4. Cao Kiếm Phủ, Trúc nguyệt,
tranh cuốn dọc, mực và màu trên giấy, khoảng 1940.
118 x 32cm. Sưu tập tư nhân

Anh em họ Cao là những hoạ gia giỏi về vẽ ngựa, sư tử, khỉ vượn, đại bàng, hoa, và sơn thuỷ, và có khi cũng vẽ nhân vật. Đại bộ phận tác phẩm đều táo bạo, mạnh mẽ, và phần nào hình tượng có tính tả chân. Người bạn và đồng môn của họ là Trần Thụ Nhân cũng đã khai triển một bút pháp cá nhân; tranh ông thấm nhuần vẻ tươi tắn, ôn hậu và trầm tĩnh.

Nghệ thuật của anh em Cao và Trần đã có ảnh hưởng hết sức lớn. Năm 1929, hoạ gia Hoàng Tân Hồng nhận định rằng họ “đều thông minh tài trí… nói lên được tâm tưởng của họ và vẽ được bất kể những gì trông thấy”. Tuy nhiên, Hoàng lưu ý rằng sở học của ba người từ hội hoạ Nhật Bản chỉ là việc “áp dụng thuỷ mặc trên giấy hay lụa. Họ đã làm những gì vốn không thông thạo, do đó tác phẩm của họ tuy không yếu, nhưng lại có vẻ tẻ nhạt, u ám. Cho dù đã qua những lớp tô thấm, nét bút vẫn không tránh được vẻ khô khan, nặng nề, và thiếu thú vị”. Một đánh giá khác trong “Khảo luận về hội hoạ nước ngoài du nhập vào Trung Quốc” (1936), hoạ gia Phan Thiên Thọ viết rằng “Cao [Kiếm Phủ] có gốc rễ từ truyền thống Quốc Hoạ… ông đã nỗ lực học từ Nhật Bản, nghiên cứu phong cách hoạ Âu Tây, để hình thành một một trường phái mới được hỗ trợ bằng Quốc Hoạ, như vậy đã khiến cho tác phẩm của ông có ý nghĩa. Bằng tài năng và công phu, ông đã có được một phong cách độc đáo. Hoạ phái của ông rất khác với của giáo sĩ hoạ gia người Ý là Giuseppe Castiglione [tên Hán: Lương Thế Ninh]. Những năm gần đây, những hoạ gia như Trần Thụ Nhân, Hà Hương Ngưng và em của Kiếm Phủ là Cao Kì Phong đều thuộc về trường phái này. Họ thích vẽ trên loại giấy hay lụa đã được xử lí, thường là tô nhuộm nền hậu cảnh gần như không để lại khoảng trống bạch nào. Bởi vậy, gần như họ không phát được huy đầy đủ vai trò đối với những đặc trưng của Quốc Hoạ về bút mặc và bố cục”.

Hoàng Tân Hồng và Phan Thiên Thọ đưa ra những quan điểm tương tự về Lĩnh Nam Phái; cả hai đều khẳng định công lao, tài năng và tính sáng tạo của anh em họ Cao, nhưng phê phán bút mặc không mấy thú vị và bố cục thiếu tưởng tượng của họ. Trong những bình luận này họ đã nêu bật dị biệt căn bản của những phương pháp hoạ giữa Trung Quốc với Nhật Bản.

Trong khi đó, những hoạ gia kiệt xuất như Từ Bi Hồng, Phó Bão Thạch, và Nghê Di Đức, chẳng hạn, lại cho rằng sáng tác của Cao Kiếm Phủ “đã tận dụng tài năng của mình để đả phá mọi thứ thừa hưởng từ quá khứ”. Phó Bão Thạch nói rằng “Hoạ pháp của Cao Kiếm Phủ được cổ vũ ở Lĩnh Nam, đã phát triển dọc suốt lưu vực Châu Giang cho đến Trường Giang. Cuộc vận động này không phải là ngẫu nhiên và không phải là không có ý nghĩa. Nó mang tính thời đại”. Và Từ Bi Hồng nói, “Hoạ gia Cao Kiếm Phủ là người quảng bác và thực sự đáng bái phục”.

Những hoạ gia truyền thống đã kịch liệt công kích khẩu hiệu cách tân quốc hoạ của Lĩnh Nam Phái. Ở Quảng Châu năm 1923, mười bốn hoạ gia đã thành lập một tổ chức gọi là Quý Hợi Hợp tác xã, và năm 1925 mở rộng thành Hội Nghiên cứu Quốc Hoạ. Hội liên tiếp xuất bản Quốc hoạ đặc san, tổ chức triển lãm, nhân danh lí do bảo vệ dân tộc tính trong nghệ thuật, nêu sự bất đồng giữa những quan niệm và những phương pháp giữa mĩ thuật Trung Quốc và phương Tây, chỉ trích quan điểm và tác phẩm của Lĩnh Nam Phái. Như trong một bài viết nhan đề “Quốc Hoạ có dân tộc tính của nó”, tác giả bút hiệu Niệm Châu, viết rằng “Quốc Hoạ Trung Hoa, Tây Dương hoạ, và Đông Dương [tức Nhật Bản] hoạ là những nghệ thuật có dân tộc tính bất đồng và mỗi nghệ thuật đẹp theo cách riêng của nó… Đất nước ta có xứ sở, thiên nhiên, con người, dân tộc tính và tập quán riêng của mình. Ý nghĩa sâu xa đằng sau những điều này với những kẻ học vấn hời hợt không thể hiểu”. Niệm Châu đã kết án những người “đã hạ thấp văn hoá Trung Quốc dưới văn hoá phương Tây. Họ đem dân tộc tính Trung Quốc khom lưng trước dân tộc tính phương Tây. Họ đã bị bùa mê bởi những ngẫu tượng phương Tây, và hậu quả là họ ra sức học kẻ khác mà quên mất những gì chính họ đã biết”. Một bài khác của Hoàng Ban Nhược trên Quốc hoạ đặc san, viết, “Tân phái hoạ chẳng qua chỉ là đánh cắp Nhật Bản hoạ, nó không phải là thứ mà một hai người tạo nên được… xem xét kĩ sẽ thấy rằng, bất quá nó chỉ là một nhánh của Nhật Bản hoạ mà thôi”. Cho đến năm 1947, Triệu Khiết Công nhìn lại quá trình của Hội Nghiên cứu Quốc Hoạ, ông đặc biệt nhấn mạnh: “Quốc hoạ là một loại nghệ thuật truyền thống. Nó khác với tân quốc hoạ lai căng, vốn được sao chép từ Nhật Bản, bởi vậy nó không ra Tàu mà cũng không ra Tây. Mục đích của Hội là minh chứng bản sắc của quốc hoạ, kế tục truyền thống của nó, biện biệt sai trái, phân biệt tốt xấu… từ đó thiết lập một phong cách quốc hoạ chân chính”.

Anh em họ Cao và các đệ tử của họ đã đáp lại sự công kích. Hoạ gia Phương Nhân Định đã viết, “Hằng ngày các quý tiên sinh rủa sả tân hoạ phái, quý vị chẳng khác chi đám bảo hoàng và đám quân phiệt phương Bắc lăng mạ Quốc Dân Đảng… Chủ nghĩa của quý vị là chủ nghĩa Diêm La (Thần Chết). Quý vị coi di sản nghệ thuật của tổ tiên chúng ta, bất luận tốt hay xấu, đều là thiên kinh địa nghĩa”.

Không bên nào chịu lép vế. Dù vậy, trong một bài viết phản hồi mạnh, Cao Kì Phong, một trong những người sáng lập phái Lĩnh Nam, nói:

“Tôi bắt đầu đơn thuần qua việc học tập cổ hoạ Trung Quốc, và đã hết sức chuyên tâm mô phỏng tác phẩm của các danh gia thời Đường, Tống. Sau đó, tôi nhận thấy bất kể vẻ ưu mĩ của chúng ra sao, các bức tranh có hướng rơi vào sự mơ hồ hay hư huyền giả như triết học mà tổ tiên ta đã theo. Càng học tôi càng thấy mình như con thuyền ngược dòng; nếu không tiến tới ắt bị đẩy lùi. Nếu ta không hấp thu những gì tốt đẹp, ta sẽ thiếu nghị lực để phát triển… Do đó, tôi bắt đầu học vẽ từ đời sống thật như các hoạ gia phương Tây. Tôi cũng học lí thuyết hình học, luật sáng tối, phối cảnh và luật viễn cận. Trong khi tận dụng kinh nghiệm của mình, tôi đã cố gắng bảo tồn mọi thứ tốt đẹp trong hội hoạ truyền thống – bút pháp, khí vận, thuỷ mặc, phú sắc, tỉ hứng, trữ tình, triết lí, và thi ý. Với tư tưởng mở rộng, tôi tiếp thu các lí thuyết và hoạ pháp của thế giới, thấm nhuần những ưu điểm hội hoạ của Trung Quốc và phương Tây, và kết hợp chúng một cách thận trọng. Dựa trên kinh nghiệm bản thân này cùng với việc nghiên cứu vẻ đẹp thiên nhiên, tinh thần vạn vật, và bằng cảm xúc, tôi sản sinh ta tác phẩm của mình”.

Cuộc tranh luận ở Quảng Đông chỉ là cục bộ trong toàn bộ cuộc tranh chấp giữa hai hoạ phái cựu và tân. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải, những thành viên quan trọng của giới văn hoá ưu tú đã tham dự trong cuộc đối thoại gay gắt. Một số hoạ gia trong cuộc tranh luận đã đổi sang phía khác. Sau cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911), nhà cải cách Khang Hữu Vi chuyển hướng bảo hoàng, và ông chủ trương áp dụng vào hội hoạ nguyên tắc “dĩ phục cổ vi cách tân” (lấy việc phục cổ làm cách tân). Ông phủ định tả ý hoạ của giới văn nhân đời Nguyên, Minh, Thanh nhưng lại khẳng định viện thể công bút hoạ (lối miêu tả chi tiết kĩ lưỡng của phái làn lâm viện) có từ thời Tống. Khang Hữu Vi ngưỡng mộ hoạ gia Giuseppe Castiglione, tán dương Raphael, và khẩu hiệu đề xướng là “Hợp Trung Tây nhi vi hội hoạ cách tân kỉ nguyên” (Hoà hợp Trung và Tây để mở một kỉ nguyên cách tân hội hoạ). Tư tưởng của ông đã ảnh hưởng tới Từ Bi hồng và Lưu Hải Túc; cả hai đều xem ông là bậc thầy tư tưởng của họ.

Năm 1918, Trần Độc Tú, thuộc phe cách tân, sau là một lãnh tụ Cộng sản, trong bài “Cách mạng mĩ thuật”, ông nghiêm khắc phê phán đường lối tả ý hoạ của văn nhân Nguyên, Minh, Thanh, đặc biệt nhắm vào hội hoạ của Vương Huy và những người sùng bái ông ở Bắc Kinh. “Phái học sĩ xem thường Viện hoạ, họ chuyên vẽ tả ý mà bỏ quên tính tương tự với vật được vẽ”. Quan điểm này đã do Nghê Toản và Hoàng Công Vọng đề xướng vào thời Nguyên. “Nó được Văn Trưng Minh và Thẩm Chu thời Minh khuyến khích, và được kế tục xa hơn vào cuối thời Thanh”. Trần Độc Tú nhấn mạnh rằng “các hoạ gia phải đi theo chủ nghĩa tả chân”. Để đạt được mục đích này, ông nói, các hoạ gia cần phải đả đảo những nhà “hoạ học chính tông” như Nghê Toản, Hoàng Công Vọng, và Thẩm Chu. Những nhân vật khác có ảnh hưởng lớn đến văn hoá chủ trương du nhập chủ nghĩa tả chân của phương Tây để cải cách, đương thời có Sái Nguyên Bồi, Lỗ Tấn, và Từ Bi Hồng.

Các hoạ gia truyền thống cũ cảm thấy sự “uy hiếp” đang cận kề, họ đã phản ứng kịch liệt. Năm 1918, những hoạ gia trứ danh ở Bắc Kinh như Kim Thiệu Thành (1878-1929), Chu Triệu Tường, và Trần Sư Tăng, với sự hậu thuẫn của Tổng thống Từ Thế Xương, đã tổ chức lập Quốc Hoạ học Nghiên cứu Hội, tuyên bố lấy “bảo tồn quốc tuý” làm mục đích chính. Kim Thiệu Thành thường xuyên giảng dạy cho sinh viên trẻ về hội hoạ truyền thống. Ông đề xuất lí luận “hội hoạ vô cựu tân” (hội hoạ không có cũ có mới): “Trong hội hoạ không có cũ mới, không có cũ thì không có mới. Mới sinh từ cũ. Cũ khi tiến hoá, trở thành mới. Khi bám vào mới, thì mới thành ra cũ. Nếu trong tâm niệm còn tồn tại cũ mới, khi vẽ sẽ khó lòng theo được bất kì quy tắc nào”. Ông khuyên các hoạ gia trẻ, “Chớ khinh suất và chớ quên nhãng; hãy tuân theo những quy tắc vững bền”.

Nhà văn và hoạ gia trứ danh Lâm Thư cũng phát biểu quan điểm tương tự. Trong cuộc Vận động Ngũ Tứ, Lâm Thư đã kiên trì với việc dùng cổ văn, phản đối văn bạch thoại và cuộc “cách mạng văn học”. Còn Trần Sư Tăng thì tư tưởng có phần cởi mở hơn, trong bài “Giá trị của văn nhân hoạ”, ông đã viết tích cực về tính chất và ưu điểm của văn nhân hoạ. Mặc dù không chống lại việc dùng hoạ pháp phương Tây như là tham chiếu, ông nhận xét, “nên lấy hội hoạ của đất nước mình làm chủ thể”. Sau khi Kim Thiệu Thành qua đời năm 1926, con trai ông là Kim Tiềm Am và một số đệ tử tổ chức lập hội Hồ Xã để minh xác việc kiên trì kế tục tôn chỉ của Kim Thiệu Thành là “Hãy gìn giữ nghiêm cẩn con đường cổ nhân, và quảng bá tư tưởng cổ nhân”. Và Hồ Xã đã tiếp tục việc nghiên cứu và bảo tồn hội hoạ truyền thống.

Cuộc tranh luận này tiếp tục kéo dài, tuy có lúc gián đoạn, suốt nhiều thập niên. Ngoài những nhà lí luận nghệ thuật ra, còn có nhiều hoạ gia khác theo Tây hoạ và giới nghệ thuật và nhân sĩ bên ngoài tham gia. Không chỉ liên quan đến vấn đề hội hoạ, mà còn là vấn đề đặc tính và chiều hướng của văn hoá Trung Quốc trong thế kỉ 20.

Một số tranh Lĩnh Nam phái của Cao Kiếm Phủ














Nguyên văn: Three Thousand Years of Chinese Painting (Ba ngàn năm hội hoạ Trung Quốc). Richard M. Barnhart, James Cahill, Wu Hung, Yang Xin, Nie Chongzheng, Lang Shaojun. Yale University Press, New Haven & London 1997; xuất bản đồng thời với bản Trung văn: Trung Quốc hội hoạ tam thiên niên, Ngoại văn Xuất bản xã, Bắc Kinh; dịch trọn chương cuối, từ trang 299–