Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

Tình Ca Cho Huế Đổ Nát (tập truyện)

 

Tình Ca Cho Huế Đổ Nát

Nhã Ca

THƯƠNG YÊU xuất bản 1969

1.
THƯ GỬI
TUỔI THƠ ẤU
CỦA HUẾ

Mi Ki thân mến,

Tôi phải nói với Ki về thành phố đó. Chúng ta đã sinh ra, đã sống ở đó, ít nhất là một phần của tuổi thơ ấu. Tuổi thơ ấu của Ki đã cho tôi thật đầy đủ. Những ngày ở bãi biển Thuận An, đi lang thang ngoài biển, bắt cào cào, đào trộm khoai, chơi cút bắt, hay thơ thẩn một mình ngoài đồng rộng chạy đuổi theo những bông cỏ lăn theo gió. Tắm ở phá Tam Giang, giữa trưa nắng, cát nóng bỏng như lửa. Ki đã chạy nhảy, chân giẫm từ đám cỏ khô này qua đám cỏ khô khác để tới rừng dương, nhìn một cái hồ nhỏ đầy cá mặt trăng. Cá mặt trăng, những mặt trăng nhỏ, trắng muốt của tuổi thơ chúng ta tung tăng trên mặt hồ, bên những cành dương rủ bóng, kênh kiệu một cách đáng yêu với bờ đê, với bãi biển kêu gọi, rủ rê suốt ngày tháng.

Rời bỏ Thuận An, Ki bé nhỏ, quê mùa của tôi bước chân lên thành phố. Bỡ ngỡ và rụt rè, bị bắt nạt, nước mắt, đó là đặc điểm của Ki thời đó. Bị bắt nạt là đáng lắm, bởi Ki chỉ biết có bãi cát trắng phau, với những đợt sóng liếm vào bờ suốt ngày không biết chán. Ki chỉ biết có những con đường làng cát bẩn rụng đầy hột keo khô, lẫn với vỏ nghêu, vò sò vỡ. Bị ném vào một thành phố đầy trẻ con tinh ranh, Ki làm sao chống đỡ nổi. Tội nghiệp Ki của tôi hồi tám chín tuổi với một phố Huế xa lạ, giục giã sự tò mò. Ki vẫn giữ khuôn mặt đen dịu, đôi mắt vàng chói nắng biển, mái tóc cắt ngắn kiểu con trai, mặc quần sọt với áo sơ mi bởi vì ba chúng ta muốn có một đứa con gái ngộ nghĩnh hơn là xinh đẹp. Ki bắt đầu đi học, Ki có bạn mới, Ki quên bãi biển Thuận An, quên làng quê buồn hiu nhưng thơ mộng đến nỗi có những đêm mơ thấy bầy cá mặt trăng bơi lội tung tăng trên mặt hồ đớp ánh sáng xanh mát, hoặc những cành dương dài như những cánh tay khẳng khiu vẫy vẫy, Ki đã khóc trong giấc ngủ. Hoặc đôi khi đang ngồi trong lớp học, Ki bỗng nghe thấy một âm thanh gì rì rào quen thuộc, Ki nôn nao cả người và chợt nhớ ra âm thanh đó giống tiếng sóng biển mà Ki đã nghe hoài huỷ hồi ở quê mẹ. Chúng ta thực tức cười phải không Ki, hồi đó chúng ta cứ tưởng Huế với Thuận An là hai miền xa cách như bây giờ Sài Gòn với Hà Nội vậy. Vừa biết Huế, gia đình ta ở An Cựu, cạnh nghẹo đường xay. Chúng ta có thể chạy lông bông, nhưng không còn được thong thả như hồi ở nhà quê nữa vì chúng ta phải canh chừng những chiếc xe nhà binh với những ông Tây to lớn, mặt luôn luôn đỏ kè như say rượu. Chúng ta thấy phía này có ruộng, phía kia có bờ sông, có cầu đúc nối sang bên chợ. Ki có còn nhớ cây bông búp cao mọc ở cạnh chân cầu đó chớ. Cây búp mà chúng ta thường ao ước nhặt những búp khô rụng, thổi phồng lên như đã từng thổi chiếc bong bóng lợn của dượng Tin cho hồi còn ở Thuận An. Thêm một hai tuổi gì đó, chúng ta rời An Cựu, được gửi học nơi nhà một ông giáo nhà ở tít dưới Mù U, Ki đã trốn học, đã khóc và bị ăn roi đến quắn đít vì bướng. Ki đi học đàng hoàng. Mùa nắng Ki mặc áo hoa, đi guốc. Mùa mưa, Ki còn nhớ không, chúng ta mang cái tơi bằng lá, tròng từ đầu xuống cổ, có sợi dây thừng nhỏ rút trước cổ, buộc chặt cho gió khỏi bay. Ngôi trường tiểu học ở thật xa tít giữa bãi hoang có nhiều đất sét. Xung quanh lại có nhiều mồ mả nữa. Những đứa trẻ tinh quái thường doạ có nhiều mả Tàu Ô lắm, rồi chúng ta được nghe nhiều chuyện kinh hoàng về giặc Tàu Ô. Nhà chúng ta ở nơi một con đường rất dốc. Dốc cao đến nỗi người lớn nói đứng trên đầu dốc có thể nhìn thấy cột cờ Phú Văn Lâu. Nhưng Ki nghểnh cổ, nhón chân, cũng chỉ nhìn thấy những đọt phượng mùa hè đầy bóng đỏ rực, mùa đông lủng lẳng những quả dài sắc cong như lưỡi mác. Phía trên đầu dốc kia là Đàn Nam Giao, nghe nói đường đi xa lắm, chân của Ki thì quá ngắn. Cho tới khi tôi đi được chiếc xe đạp, ngang qua con đường đất vòng quanh Đàn Nam Giao, tôi cười mãi về sự tưởng tượng của Ki hồi còn nhỏ, và nhớ Ki như một phần hồn, phần thơ ngây của mình đã mất vĩnh viễn.

Ki còn nhớ không, trước mặt nhà chúng ta là ngôi nhà cô bạn nhỏ tên Chín. Trước sân nhà Chín có vài cây nhãn, dưới gốc cây bọn con nít thường chơi trò buôn bán với vỏ hến, lá cây hoặc những sa thạch vò nát đẹp phơi nắng. Bọn nhỏ còn đánh thẻ, đánh thẻ nẻ đau, đôi khi bầm tím cả đôi chân. Tụi nhỏ còn đánh ô làng bằng hạt cây thầu đâu, cây thầu đâu mà khi lớn lên tôi biết nó còn được gọi thêm hai ba tên là sầu đâu hay sầu đông cũng được. Trong căn nhà của Chín, Ki thường hay thắc mắc về một ông cụ già mà người lớn gọi là ông Huyện. Ông thường đội khăn đóng, mặc áo dài đen, mỗi lần sang Chín chơi trông thấy ông Ki thường núp sau bể cạn. Người ta nói thời trước ông Huyện oai lắm, ông làm quan, dân đi ngang qua nhà phải cúi đầu không thì bị lôi vô đánh đòn. Ki không những cúi đầu mà còn trốn biệt sau chiếc bể cạn, Ki sợ đánh đòn lắm. Nhưng ông Huyện hiền lành lắm, ông lôi Ki ra chỗ núp cười bảo vô nhà chơi với Chín. Ông nhìn tụi nhỏ nghịch đất cát, ông ngồi ngắm mấy chậu cây. Ki vô nhà thấy có treo tấm ảnh của ông lớn lắm, ông ngồi trên chiếc ghế chạm trổ có lính hầu đứng quạt nữa. Một tấm gỗ láng bóng nổi lên ba chữ nho to tướng như bằng vàng, giữa nhà có sập gụ. Ki lấy làm ngạc nhiên vì nhiều nhà có những thứ lạ mắt như thế. Huế cũng quyến rũ Ki lắm chứ, những ngày đi học, ghé vô sân chùa lượm me rụng, đào rụng, hay tha thẩn dọc đường hái trái ngũ sắc chín đen, trái mắm ruóc chín vàng, ăn ngọt đỡ khát nước. Dần dà Ki quen với Huế, thân với Huế hẳn hoi, Ki thường ngẩn ngơ ngắm những chị lớn tóc xoã dài, áo trắng đội nón lá, đi thướt tha yểu điệu. Trông họ đẹp và rườm rà quá. Rồi chính Ki, Ki cũng bỗng theo họ từ lúc nào. Nhưng khổ thay càng ngày Ki càng thấy trong cái thân thể Ki đang trú ngụ bỗng xa rời Ki mãi. Cho tới lúc cái thân thể đó rũ bỏ chiếc áo ngắn để thay bằng chiếc áo dài lụa đầu tiên, mái tóc ngắn được nuôi dài và biết che bằng nón lá. Nó đã hất hủi ánh nắng mặt trời vàng tươi Ki mang từ biển, tay chân nó đã chê bỏ những cơn gió mùa hè ngây ngất, mắt nó, mũi nó đã rời xa mùi hoa khế, mùi me chua, lạnh lùng với bông hoa ngũ sắc, thì Ki hoàn toàn bị bỏ rơi rồi. Tôi mất luôn Ki, mất mà không biết Ki đã bỏ tôi đi từ lúc nào, chỉ biết có một lúc giật mình thấy có đứa bé trong hồn mình bỏ đi biệt tích, bỏ đi một cách lặng lẽ, không để lại một dấu vết gì nữa.

Ki thân mến,

Gợi lại để Ki biết là tôi vẫn còn nhớ tới Ki, không phải là nhớ nữa, mà là một kỷ niệm, một khát khao để tôi tìm về trong bất cứ năm tháng nào, nếu có dịp. Nhưng bây giờ nhìn về, có nhớ nhung thắm thiết bao nhiêu thì sự thắm thiết đó cũng chỉ nhắc nhở tôi khoảng cách lớn dần ra mãi. Tôi càng nhắc càng chứng tỏ tôi càng bỏ xa Ki biệt mù. Nhưng hôm nay tôi phải nhắc lại với Ki để nói về một thành phố. Vì chỉ có Ki mới đủ thẩm quyền để bắt tôi phải than thở, phải đau đớn, phải khóc lóc. Và tôi muốn cho Ki biết tôi đã đi đứng, ăn nói, thương yêu thù ghét thành phố của tuổi thơ đó như thế nào. không nói thì Ki cũng có thể biết, bởi vì trong những năm sống ở Huế, làm một cô gái Huế xoã tóc, đội nón, đi guốc trắng, thỉnh thoảng trên đường về một mình, bên cạnh bụi hoa ngũ sắc tôi còn trông thấy hình ảnh Ki, tóc cắt ngắn, quần sọt, áo sơ mi, đôi mắt mang màu nắng của biển vừa đứng ở đó, đứng ở đó rồi biến đi rất nhanh làm tôi bàng hoàng như mình đánh mất một thứ, một thứ thiêng liêng ghê lắm thương yêu ghê lắm, tiếc ghê lắm mà không thể nào trở về với nó được. Không thể trở về vì hai người đang cố tình trốn chạy nhau. Còn nhiều dịp nữa, trong những lần nhìn những cô bé con chơi buôn bán, đánh thẻ, đánh ô làng, nghịch đất, tôi thấy trong tâm hồn tôi ló ra một nhánh hồn bé nhỏ muốn với tới, một cô bé nào đó ngoảnh mặt nhìn tôi với nụ cười nửa mỉa mai nửa khinh bỉ. Ki đó phải không?

Nhưng tôi cũng phải quên Ki đi ngay. Quên Ki để đạp xe đạp qua cầu Tràng Tiền với bè bạn. Quên Ki để làm những cuộc đi chơi xa hơn, thích hơn. Tôi biết nhiều về Huế quá. Tôi đi hết những lăng tẩm. Tôi biết chuyện vì sao ông Huyện có bức ảnh chụp với lính quạt hầu lại có nụ cười hiền lành dễ thương đến thế. Tôi còn biết cả lịch sử huy hoàng của Huế khi đặt chân đến Đại Nội nữa. Chiếc ngai bằng vàng, những chậu cây bằng vàng trái ngọc, những Đàn Nam Giao tế trời tế đất. Tôi nghe tiếng chuông Linh Mụ với một tâm hồn dào dạt mơ mộng chớ không như Ki hồi trước, chỉ ru giấc ngủ hoặc để đánh thức thời giờ đòi quà buổi sớm mai. Tôi còn biết thưởng thức bao vị chua cay của Huế, đi ăn bánh bèo, bún bò, bánh khoái. Tôi tập thú đi chơi một mình, mơ mộng một mình. Những ngày mưa tầm tã, bầu trời thảm đạm, một mình một áo mưa đi lang thang, gió đánh rát cả da mặt, mặt nước sông Hương mù mịt nước. Chân đạp trên bao lá khô. Tất cả như mù mịt hết. Dòng sông, nhịp cầu, trường học, những ngôi nhà che kín trong khu vườn rộng, tất cả nhòe nhoẹt trong mưa hết. Tôi cười lại Ki, tôi làm gì có những phút thoát trần như thế.

Tôi cũng phải nhắc tới tình yêu trong thành phố đó cho Ki nghe nữa. Những hoàng tử áo xanh, những công chúa áo vàng ngày thứ Hai đầu tuần. Những lá thư tình viết thả rơi. Những cái liếc mắt sau vành nón… Một mối tình như một cơn giông bão từ phương nào ồ ạt đến. Thơ mộng, lãng mạn, đau đớn sung sướng, nước mắt, thôi thì đủ cả. Có lúc nào Ki đứng đằng sau tôi, trước mặt tôi nhìn tôi lúc đó không? Tôi có đáng được sung sướng đau khổ như thế không? Và Ki ơi, Ki có biết được ngày tôi bỏ Huế?

Lúc lên máy bay, chuyến đi đầu tiên để bỏ thêm một phần hồn thân yêu của mình nữa. Có cô gái che vành nón liếc ánh mắt tiễn đưa. Nhưng tôi đã bay rồi. Tôi bay để làm một chuyến đi cách xa Ki thêm mãi, và cách xa cô gái kia mãi mãi.

Từ đó tôi ít khi nghĩ tới thành phố đó lắm. Tôi lăn vào đời, tôi đẻ ra những tuổi thơ, tôi nhìn những tuổi thơ đó lớn lên, tôi nuôi tuổi thơ con cái, nhìn tuổi thơ đó như nhìn Ki hồi nhỏ. Nhưng Huế thì như một cái bóng thật mờ lấp ló đằng sau cuộc đời mình, đôi lúc cho lại tôi vài phút êm đềm, nhưng cũng hiếm hoi lắm.

Tôi không còn thì giờ để nhớ tới đàn cá mặt trăng trong chiếc hồ nhỏ lẻ loi giữa rừng dương. Tôi quên khuấy mất những hột keo khô rơi lấm tấm đầy trên con đường làng cát bẩn. Tôi quên ánh nắng mặt trời trên bãi cát hung vàng mái tóc Ki. Có nhiều lúc nhìn nụ cười con thơ, nhìn chúng tò mò coi một chú gián bò trong góc nhà, tôi nghe tiếng ai hỏi trong đầu: Nhớ tôi không? Nhớ bầy đom đóm nơi đường rầy không? Nhớ cây khế nơi nhà ông xếp ga không? Nhớ đàn cá mặt trăng không? Ki ơi, tệ quá, nào tôi còn nhớ gì nổi.

Ki tha thứ cho tôi nhé. Đừng giận bởi vì đã có lúc tôi nhớ ra Ki rõ lắm, nhớ như mình nhớ mình thì làm sao không rõ ràng được. Đó là lần tôi về Huế để gặp mặt lần cuối ba của tôi. Quên, ba của Ki và tôi chứ. Lúc khóc lóc đã mệt, vật vã đã rừ hết tay chân, tôi bất chợt nhìn ra kẽ hở của song cửa. Một bụi cây Ki ơi. Từ một bụi cây dẫn tôi ra một đường phố, một đường phố dẫn ra một trường học, một khu vườn. Chúng rủ tôi đi xa nữa, một bãi biển, một mặt hồ đầy cá mặt trăng, một khu vườn sầm uất của Trấn Hải Đài ở Thuận An nữa. Tôi nhìn thấy Ki đi trên bờ thành luỹ. Tôi nhìn thấy Ki ngã từ trên nhánh ổi xuống và ba chạy tới vội vã bế Ki lên. Tôi còn thấy chiếc sân rộng trong khu Trấn Hải Đài ngày ba ngồi thắt cho Ki hai chiếc gióng mây và chuốt cho Ki cái đòn gánh tre để Ki giả đò đi gánh nước. Nhiều nơi nữa, trong sân ở một ngôi nhà ở An Cựu, ba bế Ki ngồi lên lòng và hai chân ba rung rung. Cả chiếc xe đạp cũ kỹ mà ba thường đặt cái gối bông nhỏ đằng sau bót ba ga, bắt Ki ngồi ôm lưng thật chặt để ba thả xe chạy xuống con dốc Nam Giao đi sang phố mua cho con búp bê nhỏ. Nhưng hình ảnh đó cũng chớp nhanh lắm để trả tôi với bụi cây trước mắt. Những lá xanh đang thẫm màu dần nhưng còn bám vài tia nắng yếu ớt của ngày cuối năm. Huế mình như thế đó, cuối năm bao giờ mặt trời cũng muốn lười biếng, cũng nhõng nhẽo đến rơi nước mắt. Ki đang đứng đằng sau lưng tôi, đang đứng trong hồn tôi để giúp tôi trào thêm những giọt lệ.

Ba bỏ đi rồi, mất biệt rồi, đứt luôn cả sợi dây tơ đang mỏng dần giữa tôi và Ki. Vậy là hết.

Phải, đã hết thực rồi, Ki ạ. Bây giờ tôi đứng trước Huế, nhìn Huế với một con mắt khác, một tâm hồn khác. Mấy ngày liền tôi đã thấy sợi dây tơ mềm cột chặt tôi với Huế đã đứt lìa hẳn. Nhưng lạ lùng thay, đôi lúc tôi vẫn còn thấy Ki che mặt, giận dỗi, khóc lóc, rên rỉ vật vã ở trong tôi. Có phải tiếng khóc cuối cùng của tôi thương tiếc người cha, hay tiếng khóc của Ki đau đớn vĩnh biệt, một phần hồn tách lìa một thân xác để đi biền biệt mãi.

Tôi giơ tay chào Ki và từ giã luôn nhé.

Không Ki ơi, tôi đã lầm ghê lắm. Lầm lớn lắm. Đúng tôi vẫn còn nhìn thấy Ki, đúng Ki là một phần hồn thuỷ chung duy nhất còn ở lại trong tôi, với tôi trong những giờ phút mà chính tôi cũng không còn sự sáng suốt để dẫn dắt mình nữa. Tôi đã chạy loạn cùng khắp, và chính trong những giờ phút tôi mê muội nhất thì tôi lại nghe tiếng kêu của Ki. Con đường này, chiếc cầu này, khu vực này. Tôi chạy tới, chạy lui và tiếng kêu dẫn đường cho tôi tìm thấy lối sống.

Đúng là Ki thật rồi. Nhìn thấy Ki tất tả trong đám trẻ con chạy loạn, nhìn thấy Ki bên những cánh tay khúc chân thịt non còn bê bết máu. Nhìn thấy một phần thân thể Ki nơi chiếc miệng rỏ đầy giãi của con chó đang quắp đuôi chạy trong đám bụi mù, trong ánh lửa đạn. Tôi nhìn ra Ki tức là đã nhìn ra Huế. Trong bao năm tôi tưởng như tôi đã chôn vùi hình ảnh Ki cùng xứ Huế với những ngày thơ, với lăng tẩm đền đài đằng sau đời sống mới ở một xứ khác. Tôi lầm phải không Ki. Trong một tháng chạy loạn, có lần tôi đã tưởng Huế của chúng ta đã hết, đã tan nát, đã bị vùi chôn. Đã hết khi tôi bưng kín mắt, nằm ép trong góc tối của khu nhà trong cung An Định. Khi tôi chạy băng qua cầu An Cựu mà không nhìn thấy cây bông búp. Nhưng không, tôi vẫn thấy trên những đống gạch to lớn chưa từng thấy của thành phố, hình ảnh của Ki ngày nào bé bỏng non thơ đi lang thang trên đó. Hình ảnh của Ki trôi trên những đợt mây xám, len lén trong ánh sáng hẩm hiu của bầu trời lất phất mưa để đi thăm những đổ vỡ, những mảnh tường xâm mình với bao thứ bom đạn.

Tôi còn nhìn thấy Ki nhiều lần nữa. Chẳng hạn như một hôm sau mười mấy ngày nằm trong hầm tối, vừa chui lên miệng hầm, không khí mát lạnh làm tôi tỉnh người. Và những bóng lá xanh mướt ve vãn trước mắt tôi, một bụi cây, một nhánh cỏ mà làm cho người ta yêu đời biết bao nhiêu. Trí tưởng tượng của tôi như đang ngợp hết cả vùng trời, tôi nhìn thấy Ki tung tăng trong ánh nắng vàng của dĩ vãng, ánh nắng đó còn bám lại trên mái ngói của trường Đồng Khánh, của những bức tường đã và đang sụp đổ. Tôi thấy Ki đứng tần ngần bên cạnh ông Tám thợ may, ông già râu dài đến rốn ngày xưa cho Ki cục đường, bây giờ nằm chết cong queo bên đường mười mấy ngày chưa được chôn cất. Ki cũng còn đứng bên những ngôi mộ của một số bạn bè cũ đã lớn lên, Ki đang đứng cùng tuổi thơ của họ xung quanh ngôi mộ đắp vội vàng, cùng với bầu trời mưa phùn nhỏ những giọt lệ không đủ làm ướt áo.

Mi Ki thân mến,

Ki thấy không, chúng ta thật đã có quá nhiều chuyện để nói với nhau về Huế. Nhưng chưa hết đâu Ki, tôi còn một chuyện nữa phải nhắc lại với Ki. Chuyện con heo khổng lồ trong tuổi thơ của mình ấy mà. Ki còn nhớ chứ? Thật chuyện của mình răng mà lộn xộn quá đi, nhưng tôi chắc là Ki sẽ phải reo vui, khi tôi còn nhớ và nhắc tới con heo khổng lồ ấy. Đã có một dạo, trong những lần tha thẩn với Huế, chúng ta đã không thể nào không dừng lại trước một căn nhà lá nghèo nàn trên Lích Đợi, giữa con đường đi nghẹo lên Tây Thiên. Ki đã nhớ ra rồi phải không? Con heo của ông già lười biếng ấy mà. Chúng ta đã cùng nhau đặt tên cho ông cụ là "ông già lười biếng", vì chả bao giờ thấy cụ mần ăn chi hết… Buồn cười quá Ki nhỉ. Lúc nào mình ghé lại cũng thấy ông cụ ngồi bên cái ấm nước chè lá với mấy cái ly nhựa. Hình như suốt ngày ông cụ chỉ cố gắng nấu được nồi nước chè lá thật ngon để mời những người khách đến thăm con heo kỳ dị ấy. Tội nghiệp Ki biết bao, dạo ấy, Ki nhỏ chút, khi đứng trước cái chuồng heo to lớn chiếm hết nửa căn nhà. Còn heo thì thôi, nó to như một con bò, nằm chình ình hết hai phần ba cái chuồng, lông to cứng tủa ra như rễ tre, những túi thịt vĩ đại xệ xuống, khiến chúng ta đã cố tìm mà không thấy hai mắt nó ở đâu. Con heo cũng đã quá già, không còn đủ sức đứng dậy, suốt ngày cứ nằm rệp trên đống rác rưởi dơ dáy của chính nó.

Người ta tới thăm con heo khổng lồ này cũng đông lắm, và cứ mỗi lần có khách ông già lười biếng này lại khoe khoang:

"Con heo ni tui đợi tới khi mô hoà bình mới làm thịt ăn mừng!"

Ông già nói xong lại nhướng đôi mắt hấp hem lên nhìn trời. Con heo khổng lồ của ông già vì rứa, còn được gọi bằng "con heo hoà bình" nữa. Hồi đó, cái tên này đã làm Ki ngạc nhiên. Tại sao lại phải đợi hoà bình. Mà hoà bình là cái gì thế nhỉ? Huế hiền lành của chúng ta có ai đánh đấm gì đâu mà phải đợi hoà bình?

Ki ơi, đến bây giờ thì chắc Ki đã hiểu tại sao ông già lười biếng của chúng ta lại chờ đợi rồi chứ? Nhưng dù Ki có hiểu hay không, chúng ta đã chẳng thể biết nổi trong những ngày khốn khổ hồi Tết Mậu thân vừa rồi, ông già và con heo hoà bình có còn không? Mà nếu còn, cũng liệu có đủ sức để mà chờ đợi thêm nữa không?

Những câu hỏi răng nghe buồn hả Ki. Nhưng Ki cũng đừng trách tôi nhé. Khi tôi ngồi viết những dòng này cho Ki thì Huế của chúng ta còn đang được nói đến nhiều lắm, với những hầm hố chôn những, những xác thịt rữa nát được tìm thấy bỏ vô hàng trăm bao ny lông xếp cao như núi. Tôi ở nơi xa, nghe tin nào Bãi Dâu, nào các lăng tẩm, nào Phú Thứ, những hầm xác tập thể đã được quật lên, rồi những tiếng khóc khổ đau ngày nào lại được dịp oà vỡ lại. Tôi đã không có mặt với Huế trong những ngày tháng này, để cùng tìm kiếm với thành phố những người thân thích đã bị bắn, bị chôn. Ở xa xôi, tôi chỉ còn cách tìm lại với Ki, với tuổi thơ ấu của mình, vì Ki, hình ảnh đã được Huế nuôi dưỡng từ thuở bé thơ, hẳn Ki còn ở mãi với Huế. Hãy tiếp tục khóc với Huế, sống với Huế thay tôi, Ki nhé.

Tội nghiệp Ki quá. Nhưng chưa hết đâu, Ki còn phải thay tôi lắng nghe tiếng cỏ đang cựa mình mọc lên trong đất đai câm nín của Huế, thay tôi góp hết sức sống còn lại của chúng ta vào Huế cho một mùa phục sinh mới Huế của chúng ta, của những người đã chết vùi chết dập và những người còn sống sót, thế nào rồi cũng phải phục sinh, phải thức dậy.

Làm thế nào được, phải không Ki? Sức sống của nhân loại vẫn mãnh liệt lắm. Như tôi đã mạnh mẽ vươn lên khỏi tuổi thơ ấu, bỏ Ki lại chơ vơ với những kỷ niệm của thành phố. Sức sống của Huế cũng vậy, Ki còn nhớ không? Ngày tôi sắp xa rời Ki, chúng ta đã cùng chụp chung một tấm hình với các bạn. Bức hình ba đứa với Kim Hường, Tâm Tuý, khuôn mặt Ki ở giữa. Người ta nói chụp hình ba đứa xui lắm. Thật rứa Ki ạ. Đã quá lâu rồi, ba đứa trong tấm hình ngày nào không còn dịp gặp nhau lại, nhưng Ki biết sao không, bữa kia, tôi đã vừa nghe người ta báo tin Tâm Tuý không còn nữa.

Theo lời kể lại, hồi Tết Mậu Thân vừa rồi, Tuý sửa soạn về bên chồng. Trước tết, Tuý cắt tóc ngắn, đánh móng tay, rạo rực với bao nhiêu dự định. Sáng mồng Một Tết, Tuý còn mặc áo đẹp, nhởn nhơ mừng năm mới. Nhưng chỉ hôm sau, sáng mùng Hai Tết, Tuý đã bị bắt, rồi bị chôn trong khu vườn ngay khi hoa mai còn đang nở.

Sau này, khi những người thân sống sót trở về đào xác Tuý lên, Ki tưởng tượng được không, dù bị vùi xuống không hòm không chiếu, thể xác Tuý không những vẫn nguyên vẹn, mà mái tóc Tuý, móng chân móng tay của Tuý còn mọc dài hơn ra. Ki ơi, có thể thật rứa không Ki. Mà thật rứa, thì mần răng giải thích, ngoài điều tôi đã nói với Ki: sức sống của con người vốn mãnh liệt lắm.

Phải chăng, khi bị vùi xuống đất giữa lúc còn rạo rực sống, dù tim đã ngừng đập, ngực đã ngừng thở, giữa lòng đất đen lạnh, cô bạn nhỏ của chúng ta, Tâm Tuý, vẫn còn cố gắng trải thêm chút sức sống mà cái chết hối hả không kịp dập tắt, để thể xác còn tiếp tục nở thêm.

Mi Ki thân mến,

Ki thấy đó, như Tâm Tuý, như bao nhiêu người khác, Huế của chúng ta, dù bị vùi dập và tàn phá, vẫn nhất định hồi sinh, nhất định thức dậy, như cỏ nhất định phải mọc trên mặt đất.

Hãy chịu đựng nhé, Huế. Nhưng đừng quên chờ đợi, hy vọng. Giữa những xương trắng vừa được bới đào lên, giữa những đám tang tập thể, giữa đêm tối chưa ngớt kinh hoàng vì những trận đánh lớn quanh quẩn đe doạ, Ki nghe thấy không, lời hứa phục sinh của Huế vẫn nhất định chưa tắt, Ki tin tôi đi, trong lòng tôi, ngay lúc còn đi giữa máu me đổ nát của Huế vẫn còn giữ được nguyên biết bao kỷ niệm mà ngày nào, đôi chân ngắn ngủi của chúng ta đã từng bước tới.

Dù sao Ki ơi, những buổi chiều gió nổi trên mặt sông Hương gợn sóng bạc, những buổi sáng mùa hạ rực rỡ trong Thành Nội, những ngày mưa mù mịt hàng cây sầu đông sau trường Đồng Khánh, hay những cơn giông thịnh nộ, cũng vẫn còn trở lại.


Tôi xin gửi về Ki, về Huế, tập truyện nhỏ này, như những tình ca được viết riêng cho Huế và quê hương đổ nát.

Mong rằng những tình ca vụn vặt, đầy nước mắt ấy, sẽ góp thêm phần nào vào việc lay gọi Huế thức giấc, để những tình ca khác sẽ tiếp tục, thơ mộng hơn, tươi sáng hơn.

Mi Ki ơi,

Ki đã làm tôi cảm động quá. Sống mãi giùm tôi với Huế nhé, Ki nhé.

Sàigon, 4 - 1969


Đọc tiếp

Thư Gửi Tuổi Thơ Ấu Của Huế
































GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ

Một nhân vật được đề cập trong cuốn sách Giải khăn xô cho Huế, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nói với Thuy Khuê, đài RFI năm 1997: "Dù có một số sự việc không đúng sự thực, do có hoặc không có dụng ý của tác giả, Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay, viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng. Chị Nhã Ca làm tôi liên tưởng tới Nỗi Buồn Chiến tranh của Bảo Ninh." (vi.wikipedia)





GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ

Đọc trên dtv-ebook

Đọc trên vietmessenger.com/books

Đọc trên isach.info/story

Đọc trên vinadia.


TỰA NHỎ : VIẾT ĐỂ CHỊU TỘIT
ôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt.
Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm mùi, đang cùng chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế: về ngay, ba hấp hối.
Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành phố là tôi, đã trở lại Huế để chịu tang người cha thân yêu. Và rồi như bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến cố tết Mậu Thân bùng nổ.
Sau cả tháng dài lạn lọn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thất một giải khăn sô cho Huế, phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự những ngày sau biến cố Tết Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa phải là lúc viết ra những sót sa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng cũng lại là sâu sác nhất của một thành phố hấp hối.
Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo Sông hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế.
Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn ào.
Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế.
Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế. Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại chúng ta, phải chụi trách nhiệm.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo băng đỏ nơi tay, dát súng lục bên hong, hâng hái đi lùng người này, bắc người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc một sinh viên trẻ trung, hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loặt người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc:
- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm.
Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào người bạn nhỏ.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần hết.
Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa rỡn cho những mũi súng hờm rẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không có tình bắn chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó nhỏ đã chới với giữa giồng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải chịu tội với Huế, với quê hương nữa.
Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô cho Huế này như một bó nhang dèn góp giỗ.
Xin mời bạn, chúng ta cùng thấp đèn, châm nhang, chịu tội với quê hương, với Huế.
Sàigon, năm Dậu.
NHÃ CA
Xem tiếp:


Phim Đất Khổ (phụ đề tiếng Anh: Land of Sorrows) là một phim lồng trong Chiến tranh Việt Nam. Truyện phim với kịch bản dựa trên tác phẩm Đêm Nghe Tiếng Đại Bác và cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca. Trịnh Công Sơn đóng vai chính trong cuốn phim này. Trong phim còn có mặt kỳ nữ Kim Cương, nhà văn Sơn Nam, diễn viên Bạch Lý, nghệ sĩ ưu tú Thành Lộc khi đó mới 8 tuổi... 


"Cốt truyện xoay quanh ảnh hưởng của cuộc chiến lên một gia đình ở miền Nam (Huế), những mâu thuẫn giữa các quyết định ra đi hay ở lại của từng người trước viễn tượng Huế rồi cả miền Nam sắp thất thủ. Đất Khổ là câu chuyện của tình yêu: tình ruột thịt, lòng yêu nước, sự gắn bó với văn hóa và tiếng nói của giống nòi, và mối tình trong trắng nhưng ngang trái vì chiến tranh của người con gái. Cuốn phim gợi lên nhiều suy nghĩ và người xem liên tưởng đến chiến tranh Iraq ngày nay và những bài học không thể không rút ra.".





Nhà văn Nhã Ca: Huế 1968 - thảm khốc và hy vọng

 [Đọc để có cái nhìn đa chiều]

Nhà văn Nhã Ca: Huế 1968 - thảm khốc và hy vọng

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-43198297





TERRY FINCHER/EXPRESS/GETTY IMAGES

Sau trận Tết Mậu Thân, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chiếm lại được một thành Huế tan hoang.

ên cạnh việc dọn dẹp, tái thiết thành phố, những hố chôn người tập thể dần dần được phát hiện.

Trong số những tin tức, tường thuật, phóng sự, ghi chép được đăng tải ở miền Nam Việt Nam về ‘thảm sát ở Huế’ khi đó, bút k‎ý Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca đã gây choáng váng dư luận. Một phần của sách sau này được dựng thành phim “Đất Khổ”, với Trịnh Công Sơn vào vai chính, người con nhạc sĩ Huế.

Tác giả cuốn sách nói bà đã có mặt tại cố đô trong những ngày Tết Mậu Thân, tận mắt chứng kiến và trực tiếp nói chuyện với các nhân chứng về cuộc giao tranh, về các cuộc bắt bớ, về những nấm mồ tập thể…

Cuốn sách bị cấm lưu hành tại Việt Nam sau khi Sài Gòn sụp đổ. Tác giả cùng chồng bị bắt giam, nhà cửa tài sản bị tịch thu. Là cây bút nữ duy nhất trong số cả trăm nhà văn nhà báo Saigon bị cầm tù, 14 tháng sau bà được phóng thích cùng 21 đồng nghiệp.

Nhân 50 năm trận chiến 1968, BBC phỏng vấn nhà văn miền Nam, người đã trực tiếp sống và viết với Huế Tết Mậu Thân.

Tác giả Nhã Ca: Là kẻ sống sót sau tàn sát thời chiến và tù đày hậu chiến, tôi luôn tin vào tương lai của Huế, tương lai Việt Nam.

Tôi tin vào tình yêu, tình người, tình gia đình, và tin là người Việt mình từng biết thế nào là ăn ở tử tế. Như Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã dạy, tôi tin dân tộc mình cũng là một gia tộc. Anh em, con cháu một nhà có thể bất hòa hoặc tranh chấp, nhưng rồi sau cùng, tất cả cũng vẫn phải về đứng bên nhau trước bàn thờ chung trong ngày giỗ gia tiên.

Tại Huế cũng như tại Việt Nam, từ bao năm qua, mọi hình thức tập họp của dân chúng, dù chỉ tại đền chùa để tưởng niệm cầu siêu cho những hồn oan trong cuộc chiến, vẫn tiếp tục bị ngăn chặn và trấn áp thô bạo.


Nhà văn Nhã Ca tên thật là Trần Thị Thu Vân, sinh năm 1939 tại Huế, hiện sống tại Hoa Kỳ

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

Thành Phố Buồn

 


Thành Phố Buồn

Truyện ngắn Nhã Ca.

Chuyến xe từ Đà Lạt vào thành phố Sài gòn lúc tám giờ mười lăm phút.

Đến gần mười giờ xe mới tới bến được. Chưa bao giờ Khuyên chịu đựng một cảnh kẹt xe lâu tới thế. Mọi người trong xe ai cũng văng tục. Lúc xe còn nối đuôi từng dọc dài, ông tài xế cũng cáu tiết , ông ta bấm còi inh ỏi mặc dù buổi tối, theo luật giao thông cấm bóp còi. Mỗi tiếng còi xe tin tin như bấm vào trái tim của Khuyên đang nôn nao.

Sốt ruột quá. Khuyên kêu thầm mãi.

Cho tới khi xe tới bến Khuyên còn phải bị kẹt lại trong xe hơn mười phút mới xuống được. Xuống được xe lại còn cái nạn tìm tắc xi. Lúc này bao nhiêu tắc xi còn trực ở trước cửa phòng trà, trước những cái bar, trước rạp ciné và cải lương. Khuyên đứng dưới lề đường, mỗi lần có chiếc xe nào đi qua cũng ngoắc rối rít. Nhưng xe nào cũng có người, đôi khi xe trống nhưng người tài xế thò đầu ra lắc lắc tỏ vẻ không chịu rước. Cái gọi được thì hành khách tranh mất.

Hành khách cùng chuyến xe với Khuyên toàn đàn bà với đàn ông đứng tuổi. Họ không ga lăng chút nào cả. Khuyên bực mấy chú tài tắc xi thì ít mà bực mấy người đàn ông tranh bước của Khuyên thì nhiều. Khuyên cứ đi bộ tới trước được một chút thì họ lại bước lên đứng đón phía trước Khuyên ngay liền. Cái xách tay quá nặng làm Khuyên bước đi muốn té nhào tới trước. Buổi sáng khi rút con bài bói thử thời vận, Giao tính toán một hồi rồi nói:

- Hôm nay mày đi thế nào cũng có lắm cái bực mình. Mày thật đồ khùng, ngày nào không đi lại chọn ngày năm cùng tháng hết mà đi. Xui là phải.

Khuyên ra bến xe mua được vé. Khi lên xe rồi, Khuyên nói với Giao:

- Cô thầy non ơi, tao lên xe, bây giờ chỉ đợi có về tới nhà. Nói cho mày biết, chiều nay tao sẽ tới, sẽ gặp người ta. Tối nay người ta sẽ ngạc nhiên tới ngất xỉu.

Giao cười mũi. Cái lối cười mũi của Giao rất đểu.

- Coi chừng, đi về thình lình, không báo trước bắt được người ta ngoại tình rồi chết giấc luôn.

Không bao giờ Khuyên tin điều đó có thể xảy ra được. Giao nó có thể nghĩ như thế vì nó có rất nhiều mối tình trời ơi đất hỡi. Nhớ lại cái cười mũi của Giao, Khuyên thấy giận bạn ghê gớm. E nó cứ cầu cho Khuyên gặp chuyện bực mình hoài hủy.

Chờ lâu lắm mới có một chiếc xe xích lô đạp đi tới gần. Cái bà đứng tuổi nảy giờ lấn đứng trước mặt Khuyên nhào ra liền. Bà ì à ì ạch xách hai tay hai cái xách lớn, lồng thêm vào vai một cái ví màu đen căng tròn. Chiếc xích lô từ từ chậm lại, qua chỗ người đàn bà đứng nhưng còn đà trường thêm tới đằng trước và may mắn dừng lại trước mặt Khuyên. Trong lúc người đàn bà ì à ì ạch đi tới nữa. Khuyên leo thốc lên xe. Người đàn bà đứng khựng lại:

- Ơ hay cái cô này, xe người ta vẫy lại leo lên.

Khuyên làm mặt lì. Người đàn ông đứng tuổi đạp xe xích lô vừa đẩy xe để lấy đà nhảy lên đạp, vừa trả lời:

- Thôi bà cố nội. Bà chừng đó ký lô thêm chừng đó thứ phụ tùng bù lon đinh ốc, ông nội tui đạp cũng không nổi.

Khuyên bật cười. Lòng nàng reo vui một cách ích kỷ. Sự sung sướng vừa trẻ con, vừa độc ác như khi đang ngồi học, thấy một con muỗi đậu nơi cái chụp đèn, Khuyên rình mò để hai bàn tay cho ngay rồi đập đập hai bàn tay lại, dở tay ra thấy xác con muỗi. Sự yên tâm một cách thỏa mãn, tâm thần gật gù một cách khóai trá. Khuyên liên tưởng tới khuôn mặt người đàn bà bị đứng lại mà quên ngay nỗi bực dọc chờ đợi của mình vừa mới mắc phải như người đàn bà kia.

- Cô đi về đâu?

- Bác cho tôi lên Đa kao, rẽ vào đường Trần văn Thạch.

- Cô cho ba trăm nghe.

Khuyên giật thót người:

- Trời ơi, bác lấy gì nhiều dữ vậy. Đây về đó có chút xíu.

- Ba trăm là rẻ, tụi nó lấy một cuốc xe cuối năm sáu trăm bạc.

- Tui là học sinh, chớ có phải Mỹ đâu mà bác tình nhiều vậy.

- Thời buổi này nhìn ai cũng như ai, biết sao mà nói được. Tui đi xe thì tui tính giá cả như nhau.

Khuyên cố kỳ kèo:

- Bác lấy hai trăm thôi bác. Tui đâu có nhiều tiền.

- Các cô bây giờ chán gì tiền. Cô tiếc chi trăm bạc cô.

Giọng người đàn ông phu xe đểu giả làm Khuyên nóng mặt. Nàng đành ngồi im. Sự mừng rỡ tìm được chiếc xe để về nhà biến mất, nàng lại bắt đầu bực mình. Khuyên không tính về Sài gòn ăn Tết, nàng đã gữi thư về báo tin ở lại Đà Lạt, và đã nhận được tiền của anh, của chị, của ba me gửi lên cho tiêu Tết. Đến ngày 29, Khuyên cảm thấy nhớ nhà ghê gớm. Nàng sợ đêm Giao Thừa nàng chịu không nỗi cảnh cô đơn, nên quyết định trở về. Giao than phiền Khuyên nhiều nhất vì hai đứa đã quyết định ở lại ăn Tết với nhau. Khi nghe tin Khuyên tỏ ý về Sài gòn, Giao kêu:

- Cóc chịu nổi mày, ba hồi này ba hồi nọ.....

- Tao nhớ nhà quá.

- Khỏi, tao biết. Mày nhớ Việt thì có. Gớm, chàng mới có đổi về Sài gòn có gần một tháng mà quýnh lên.

- Mày nghĩ sao cũng được.

- Mà mày cũng nên về để coi tình ý chàng ra sao? Tao nghi quá, cái bản mặt đó nhiều đào lắm nghe. Tao coi tướng thấy rõ hai con mắt đào hoa, chắc tử vi có riêu y đi kèm rồi.

  

CHÂN DUNG BIỆT KÍCH

 


 Nguyễn Trung vẽ Nhã ca


CHÂN DUNG BIỆT KÍCH


Nhã Ca

 

 

Hôm nào? Chẳng thể nhớ nổi. Khoảng bốn giờ chiều. Nguyễn Trung tới.

 

“Vân. Về sao không lại đằng tao, mầy?

 

“Biết về, sao mày không chịu vác mặt tới. Còn hỏi.”

 

“Hơ. Con già mồm. Không lại là gì đây. Mày đang nói chuyện với ai vậy?”

 

“Với thằng chó. Tao tưởng mày ngán, hết dám lại.”

 

“A. Cũng ngán tí ti. Chúng nó biểu thằng Từ với mày là Xê I A . Hắn ra sao rồi?”

 

“Sao với trăng gì. Còn tù dài dài.”

 

“Lên nhà cũ ở Gia Định, tưởng tiêu hết rồi chớ. Bữa qua, gặp thằng Nghiễm, mới biết mẹ con mày ở đây. Tao có quà cho mày. Hết xẩy.”

 

“Quà gì đâu?”

 

“Từ từ. Lạ thiệt. Thằng chồng mày tên Từ mà mày thì nóng nẩy. Có đế không đã?”

 

“Đưa quà ra đã mới có rượu.”

 

“Từ từ. Rượu đã.”

 

Đành phải kiếm cho Trung một xị. Trong bạn bè của Từ, Trung thân với tôi nhất. Hai đứa quen mày tao chi tớ từ nhỏ.

 

“Nghe bọn bay bị bắt, chẳng biết sống chết ra sao. Tao phải làm cho xong.”

 

“Xong cái gì?”

 

“Cái tranh. Có croquis của mày từ hồi còn ở Ngô Tùng Châu. Đẹp hết xẩy. Nhưng phải mướn xích lô, mới chở cho mày được. Tao đi xe đạp một mình, làm sao cầm.”

 

Có vài ly đế, chuyện cũ bắt đầu ấm. Trung kể:

 

“Bữa lang thang gần khu nhà cũ của bọn bay, tao gặp Nguyễn Đức Sơn. Nó mặc áo đà, đầu cạo nhẵn bong. Coi gồ ghê lắm. Nghe đâu trên núi vừa hạ san. Nhìn cái đầu trọc lóc, nhớ mày với nồi cá kho hồi ở Trương Minh Giảng, tao buồn cười quá.”

 

“Có duyên dữ. Bọn tao thì ngồi tù. Còn mày thì cười.”

 

“Bộ mày với thằng Từ không cười à.”

 

Cũng phải cười thật. Nguyễn Đức Sơn, hồi trẻ ký là Sao TrênRừng, cùng đăng thơ trên các tạp chí Hiện Đại, Thế kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ thời sáu mươi. Anh có tài lạ: Ngồi yên, hai tai nhúc nhích rồi phe phẩy như hai con bướm. Thấy tôi phục quá, có lần anh còn dọa có thể vận công cho tóc dựng đứng lên được. Thơ Sơn cũng như người, nhiều bất ngờ kỳ dị.

 

Năm 1961, có hồi Trung thất tình, về khu cầu Trương Minh Giảng ở với vợ chồng tôi. Hai đứa đi làm, Trung ở nhà rầu rĩ, thường phụ tá tôi chợ búa, nấu nướng. Có khi còn trổ tài một mình, chế được nhiềumón ăn lạ. Thấy Nguyễn Đức Sơn giang hồ, than đói,

 

Từ kêu Sơn mỗi ngày tới bữa, đạp xe đến nhà cùng ăn.

 

Được vài tháng vui vẻ, bỗng thấy Nguyễn Đức Sơn biến mất. Một mảnh giấy quăng vô cửa:

 

“Gửi mấy đứa khốn nạn. Tao biết thừa rồi. Chúng mày có nồi cá kho. Thấy tao tới, giấu biệt đi không dám mang ra ăn. Chúng mày giấu cá kho để tế mồ mả cha ông nhà chúng mày.”

 

Ba đứa nhìn nét chữ nguệch ngoạc của anh bạn, ngơ ngác một lát rồi phá ra cười. Thư được đọc đi đọc lại, đứa nào cũng thuộc lòng. Bao nhiêu năm sau, giờ này nhắc lại, cũng vẫn còn cười được.

 

Dạo ấy, trưa đi làm về, tôi phải ba chân bốn cẳng ghé chợ Trương Minh Giảng, mua tí rau, tí cá. Cá đang kho trên bếp chưa kịp chín, đã phải ăn cơm trước cho kịp đi làm. Thấy mùi cá kho mà không được ăn, thi sĩ nổi ngay cơn lôi đình, bỏ quách Saigon lên giang hồ trên núi.

 

Ít năm sau, nhận được thư Sơn gởi từ Blao. Không nói chuyện cá kho nữa, Thi sĩ đòi gửi ngay thơ lên cho anh để anh viết lại văn học sử.Đọc những bài thơ Nguyễn Đức Sơn sau này, chúng tôi biết anh đã vợ con đề huề. Có thơ điên vì mẹ cằn nhằn vợ, vợ cằn nhằn mẹ. Lại có thơ thiền:

 

Sáng mênh mông

Ta đi dạo

Giữa vườn hồng

Ồ bông

Ồ mộng

Ồ không.

 

Trung kể thêm về Nguyễn Đức Sơn:

 

“Bọn bay đi tù. Nó cũng đi tù vậy. Nghe kể, nó để vợ con đâu trên núi, một mình hạ san tìm lương thực. Coi bộ vó kỳ dị quá, bọn công an bắt nó khai hai ba lần. Có lần đánh gẫy cả xương sườn. May mà bắt chán nó lại thả.”

 

Tội nghiệp. Đã biết lên non cạo đầu rồi, thi sĩ còn hạ san làm gì, đến nỗi bị công an đánh gẫy cả xương sườn. Những năm sau này, nghe đâu Nguyễn Đức Sơn còn mang vợ con giấu hết vô hang núi, sống như người thái cổ, không tiếp xúc với đồng loại nữa.

 

Rượu ngấm. Trung bốc:

 

“Mày dám ngồi sau xe đạp không, tao chở. Về đằng tao lấy tranh.”

 

“Mày dám chở là tao dám ngồi. Xê I A mà sợ gì xe đạp.”

 

Xe cà tàng. Trung vừa thở vừa đạp. Vợ chồng Trung ở Đa kao. Đoạn đường đủ dài để nhớ bao nhiêu chuyện.

 

Anh chàng họa sĩ Nam kỳ dễ thương của chúng tôi, không dè lại mang thân làm rể một danh gia Bắc kỳ. Anh em nhà vợ đều tài hoa xuấtchúng, học giỏi, hát hay, có người là cầm thủ nổi tiếng thế giới. Ông nhạc quá cố là nhân vật lừng lẫy một cõi, có thái ấp riêng, triều thần binh tướng riêng, từng làm nghiêng ngả thời cuộc Bắc Hà, cho tới khi bị cộng sản ám sát chết.

 

Năm 1975, cả nhà vợ di tản. Riêng Trung lắc đầu. Lĩnh Mai bấm bụng ở lại theo chồng, tiếp tục lãnh biết bao cơ cực.

 

Sau này, có bạn hữu đóng sẵn tầu, kêu Trung cho vượt biên ké, anh vẫn tiếp tục lắc. Hỏi. Trung cười:

 

“Tao từng là người vượt biên đầu tiên ở Việt Nam. Bây giờ chán rồi. Thời thế không ăn nhậu gì đến tao, Tao khoái cởi trần, đi ra đi vô ở Saigon, khổ cực mấy cũng chịu.”

 

Quả có chuyện ấy. Sau vụ Nguyễn Đức Sơn nổi giận lên núi, năm 1962, tới phiên Trung nổi máu phiêu lưu:

 

“Thôi, hai đứa bây ở lại mà sanh con đẻ cái. Tao chán đất này rồi. Không chừng sẽ có tin tao từ Paris.”

 

Vậy là biến. Trung cùng hai họa sĩ khác, hình như cùng họ Nguyễn, rủ nhau vượt biên đường bộ sang Cao Mên, chắc mẩm sẽ lê la tới Paris như Chagal, người họa sĩ Nga lưu vong mà Trung vốn yêu thích.

 

Paris đâu chả thấy. Cuộc vượt biên trái mùa (so với thời cả nước vượt biên sau 1975, sớm sơ sơ mất có….mười lăm năm), nghe đâu chỉ đưa ba chàng họa sĩ phiêu lưu tới được mấy nhà tù nào đó bên xứ chùa Tháp.

 

Ba năm sau, nhà Ngô đổ, chiến tranh lan rộng, Trung trở lại Sài Gòn. Thời thất tình đã qua. Bên cạnh Trung lúc này là một tiểu thư áo trắng kiều diễm, sắc sảo.

 

Vô nhà, bồng cháu Sớm Mai hai tuổi trên tay, Trung chửi:

 

“Con mẹ mày. Ở đâu ra mà có mày lẹ vậy. Hơ. Hơ. Con ạ cô Lĩnh Mai đi. Nào. Giỏi.”

 

Cô Lĩnh Mai áo trắng leo tuốt lên cây trứng gà trong sân nhà hái trái.

 

Năm sau, đám cưới thân mật ở trụ sở sinh họat thanh niên trong khuôn viên đại học văn khoa cũ.

 

Từ 1958, trong đám bạn bè đua đòi văn chương, Trung vừa vẽ, vừa viết những bài phê bình hội họa cho tạp chí Sáng Tạo, rồi Văn Nghệ.Các bậc trưởng thượng Nguyễn Đức Quỳnh, Thái Tuấn, … coi tranh Trung, đều bảo đây là tài ba khác thường.

 

Vượt biên hụt trở về, một mảnh giấy tờ tùy thân cũng không có, vợ chồng Trung đã trải qua những năm khó khăn suốt thời chiến. Nhưng sơn dầu Nguyễn Trung được coi như một tiêu biểu cho thế hệ hội họa mới mẻ, tài ba ở miền Nam. Chính thế hệ ấy cũng công nhận điều này. Trung trở thành chủ tịch hội họa sĩ trẻ, rồi đựơc nhìn nhận là bậc thầy ở cao đẳng mỹ thuật, ngôi trường mà anh đã bỏ ngang thời trẻ.

 

Ít lâu sau ngày cộng sản vô Sài Gòn, các chuyên gia sưu tập mỹthuật Nga, Đông Âu, rồi Bắc Âu ngả nón trước sơn dầu Nguyễn Trung. Nghe kể viện bảo tàng quân đội Nga ở Moscou nhất định phải có bằng được tranh Nguyễn Trung. Hội mỹ thuật rồi bảo tàng nhà nước bổn xứ noi gương. Tính Trung vốn nhỏ nhẹ, chẳng bao giờ chú ý đến thời thế, lại quen sống thanh bần, không làm ai xốn mắt. Có lẽ nhờ vậy, anh chàng chủ tịch hội họa sĩ miền Nam thoát được cái nhãn xê i a.

 

Cô Lĩnh Mai áo trắng ngày nào, lỡ chọn phải ông chồng nghệ sỹ, đã thành một bà vợ tần tảo, vất vả. Thấy Trung ì ạch chở được tôi về tới nhà, Mai cười:

 

“A. Đây rồi. Bà biệt kích văn hóa. Em trông chị mãi. Lên gác ngay.Ông ấy hì hục với cái portrait của chị mấy tuần lễ đấy. Hết xẩy. Ai thấy cũng lé mắt.”

 

Trên căn gác gỗ ọp ẹp, bụi bậm, bức tranh dựng giữa đống chai, hũ sơn cọ ngổn ngang. Tôi đó sao, con mụ tóc tay tơi tả, chân tay xù xì ngồi bó gối chịu trận?

 

Trung bật ngọn đèn, chiếu vào tranh, cằn nhằn:

 

“Hết cha nó vải bố. Phải hy sinh cái tranh cũ, vẽ phủ lên. Mầu lại thiếu, dầu cá cũng cạn. Chất sơn vì vậy không mịn màng được, lại hóa ra hay. Trịnh Công Sơn ngắm hoài. Hắn kêu dữ. Không biết tranh dữ hay mày dữ. Thật chỉ thiếu cái bê rê xanh là y chang biệt kích. À Sơn hắn lại mày chưa?”

 

“Có ghé thăm. Hôm kia.”

 

Biệt kích văn hóa là tên một cuốn sách do Trần Văn Giầu, Vũ Hạnh, Lữ Phương…viết về mười tác giả miền Nam. Trong sách này, nữ biệt kích duy nhất là tôi, được xếp hàng thứ sáu. Những người khác là Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Doãn Quốc Sỹ, Nhất Hạnh, Võ Phiến, Duyên Anh…

 

Lĩnh Mai giúp chồng trải giấy gói báo chân dung biệt kích.

 

“Nữa.” Trung tiếp tục kể. “Sau khi bọn mày bị bắt, có bữa tao đang ngồi vẽ mày, Mai Thảo ghé qua. Lâu lắm rồi không gặp lại. Nghe nói bọn nó vẫn đang lùng bắt chả gắt lắm. E khó thoát quá.”

 

Cả năm rồi. Vẫn tiếp tục lùng bắt. Đúng là Mai Thảo chưa sa lưới. Cuối năm, ngày ngắn. Trời chập choạng tối. Trung lại ì ạch đạp xe, chở dùm cả người lẫn tranh về tận nhà.