Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2026

Bay trên bốn mươi lăm ngọn gió bấc

 

Đọc truyện cứ như thấy hình ảnh của ai đó, quen quen và thương cảm, mến yêu … gặp nơi QUÁN CAFE ĐEN...

 

Bay trên bốn mươi lăm ngọn gió bấc

Ái Điểu

 


NGƯỜI VỚi NIỀM CÔ QUẠNH, tranh của Lytan Man.

1-

Gió. Cát. Giữa năm, ngọn gió nam hanh rang cháy cồn cát. Cát theo gió bám vào mồ hôi trên mặt người. Con dông lớn theo gió. Giọt nước mắm cá cơm thơm hương nắng.

Gió. Cát. Cuối năm, ngọn gió bấc rú âm thanh ma mị lạnh thấu xương. Cát len sâu vào giọt nước mắt cằn khô. Bông lan, bông mai trên núi Chúa ngậm cát, uống gió chớm nụ.

2-

Tôi theo má tôi băng qua cồn cát. Tôi câm như đã từng câm nín. Má tôi nhìn tôi nói bằng mắt. Gió bấc rít vang từng hồi.

Tôi qua sông. Xuống nhà thương đẻ. Con đò ngang băng qua mùa lũ cuồng nộ.

Người đưa đò không nói gì. Ông lặng thinh chống sào vào ánh trăng. Con đò nhỏ chìm trong sóng nước. Cơ man là sao vàng, là hoa trăng bay toả trong sóng đêm.

Tôi và con tôi – trong bụng – ngửa mặt nhìn trời cao. Một mẩu trăng tháng mười một màu đỏ quạch soi đường cho thằng Cầm – con tôi – vào đời.

Ngọn gió bấc thứ mười chín. Tôi làm mẹ, thành đàn bà.

3-

Thằng Cầm chạy bên bờ cát sông. Con diều trắng bay cao trong đêm trăng. Bay chao đảo mà lỳ lợm trên ngọn gió bấc thứ hai mươi sáu.

Con diều là tôi? Chùm tóc khô bù rối phất phơ bay. Không có dây diều thằng Cầm giữ, tôi sẽ bay tự do. Cao hơn, xa hơn rồi rơi vào khoảng rỗng.

Gió gọi tôi qua âm thanh của lá: Ái Điểu… Ái Điểu… tiếng vang vọng biến âm… ai điếu… ai điếu… rơi rụng trong trời đêm nghe như a… dieu… adieu…

Vĩnh biệt. Tôi cười khô khốc. Gió cát như nói với tôi cái tên đã hàm chứa định mệnh?

Từ ngày sanh thằng Cầm, tôi quên tôi. Tôi đã biến đi trên hành lang của nước. Tôi không còn sống. Tôi đã chết.

Thằng Cầm là kiếp sau của tôi. Nó mang mã di truyền của tôi. Tôi là bóng quế mơ hồ như có, như không trong cõi đời này để phù trợ cho nó thôi mà.

Tôi vui lòng tan biến. Vui theo sự trưởng thành của thằng Cầm. Đời riêng, có gì để nuối tiếc.

Adieu Ái Điểu. Tôi ớn thế giới này quá rồi.

4-

Ngọn gió bấc thứ ba mươi ba. Thằng Cầm mười bốn tuổi.

Tôi thắp một cây nhang lên bàn thờ, phạt nó quỳ cho đến khi nhang tàn. Nó đã quăng một đứa hơn nó hai lớp xuống sông. Lý do, bị gọi là thằng con hoang.

Thằng Cầm lầm lỳ, không biện minh. Nó chờ cây nhang cháy hết rồi xuống bếp cầm một con dao. Chạy khỏi nhà.

Tôi hoảng hồn chạy theo. Nó chạy. Mất hút trên cồn cát.

Tôi cuống cuồng ngã xuống cổng nhà.

Chập sau, nó trở về. Tay cầm một nhánh xương rồng. Nhánh xương rồng không xanh nhưng gai góc, cứng cáp.

Thằng Cầm đỡ tôi lên, nói: Dạ, con xin lỗi má.

Rồi nó đào đất trồng nhánh xương rồng xuống một góc sân.

Cầm nói tiếp: Dạ, cây xương rồng không cần người trồng phải ở lại để chứng kiến nó trổ bông. Chỉ cần cát, nắng và gió.

5-

Ngọn gió bấc thứ ba mươi tám.

Lần đầu tiên – kể từ khi làm mẹ – không có thằng Cầm bên tôi khi gió bấc quay về.

Nó ở Sài Gòn từ đầu niên học. Không bao giờ điện thoại cho tôi, chỉ nhắn tin. Nó giải thích: Con thích sử dụng tin nhắn hơn gọi thoại. Con tôn trọng thời gian của má. Có khi má mắc làm hoặc cần khoảng lặng để nghỉ ngơi. Con nhắn tin, thuận tiện má trả lời.

Nó giống tôi điểm này.

Thằng Cầm viết: Dạ, những ngày quanh cái Tết, lưu dân về quê, Sài Gòn thiếu người làm mướn. Con được nghỉ học, ở lại có rất nhiều việc làm thêm.

Tôi viết: Không cần phải vậy. Má đủ sức cho con mà.

Nó viết: Dạ, tiền chỉ là một phần. Điều con thích là được sống như một người lao động. Con được đi sâu vào những nơi mà một sinh viên như con không thể đến như khách sạn, nhà hàng, quán bar… Dạ, con còn được lăn lóc ở các chợ đầu mối, chợ cóc…

Tôi viết: Con có thấy mình thiếu điều gì không?

Nó đáp: Dạ, con thấy mình đầy. Đầy sự tự do. Và con hiểu, tự do là thứ không thể van xin, vay mượn. Mình phải tự tìm. Tìm trong sự thật.

Tôi quên ngọn gió bấc lạnh thấu xương. Tôi thấy ấm áp. Tôi tin thằng Cầm sẽ nên người.

Có thể đời người cũng cần thành đạt vật chất, danh vị. Nhưng cần nhất là đứng thẳng, bước tới một mình – mà không thấy cô đơn.

6-

Ngọn gió bấc thứ bốn mươi ba mang thằng Cầm về với dòng sông, với cồn cát.

Theo nó là một con nhỏ dễ thương. Nó giới thiệu ngắn gọn: Dạ, dâu của má đó. Em ấy theo gia đình định cư ở Mỹ hơn sáu năm rồi. Hai đứa con quen nhau từ thời trung học.

Con nhỏ sẽ bảo lãnh cho thằng Cầm sang Mỹ sống.

Thật lòng, tôi không lo lắng, không buồn cũng không vui. Từ ngày nó vào đại học tôi vẫn sống đơn độc mà.

Tôi tôn trọng sự lựa chọn của nó. Tôn trọng tự do của một con người.

Tôi nhìn thằng Cầm. Con tôi. Đứng đó, như một dấu phẩy tự tin tiếp tục một truyện dài lẽ ra đã chấm hết từ lâu.

Chiều cuối năm trong căn nhà cũ. Hai bóng người, một già một trẻ, lặng yên không tiếp tục nói; nhưng được nối với nhau bằng sợi dây vô hình của tình mẫu tử và những hiểu biết không cần ký tự.

Tôi cảm nhận con tôi giống như cây xương rồng nó đã trồng ở góc sân. Cây vươn cao trong gió tìm mặt trời. Nó gai góc lớn lên bằng sự quang hợp tự thân, không cần người chăm sóc.

7-

Bây giờ, trên ngọn gió bấc thứ bốn mươi lăm.

Tôi ngồi bên thềm nhà. Nhìn bóng mình. Ngồi thật lâu, quên cả thở, quên cả mình đang tồn tại.

Chập sau, tôi vào nhà, thắp cây nhang, đốt ngọn lửa nhỏ trên bàn thờ.

Một luồng gió cát thổi bừng đốm sáng.

Những người khuất mặt là những hạt bụi lưu thân trong gian nhà từ đường này.

Tôi, cũng vậy thôi.

Thằng Cầm – con tôi – gió bấc cuốn trôi đến vùng đất khác. Hạt phù sa bên bờ sông nhỏ đã ra thế giới mênh mông.

Nó có về lại không? Còn bao lâu nữa nó thật sự trở về?



17 ĐOẢN KHÚC CỦA QUÁN CAFE ĐEN

"... Loạt truyện cô viết rồi treo trên FB cá nhân, không cao xa, sang trọng; chẳng có vũ trường, phòng lạnh, chân dài chân ngắn hay những mối tình đậm dấu phim ảnh giải trí. Trái lại, đó là những con người có thật, khung cảnh có thật quanh cô; mà thường là những cảnh đời, con người sống tận cùng đáy xã hội hôm nay.

Giữa một quán cà phê đâu đó ở miền biên viễn Tây-Nam, có thể là Tịnh Biên, Tri Tôn hay An Phú nào đó, các cô gái bán thân tụ tập nhau, kháo chuyện với nhau sau khi “hoàn tất các phi vụ”. Họ vô tư kể lại, không hề lưu dấu cảm xúc, chẳng hề thấy, nghe những oán than, cứ đều đều lướt qua như các nhân vật trong chiếc lồng đèn kéo quân, nhưng có sức mạnh như một quả bom làm tan nát lương tri con người còn giữ chút phẩm hạnh, trong thời buổi mà đạo đức suy đồi, tha hóa, tệ nạn xã hội ngày mỗi tăng cao trước sự bất lực của bậc cha mẹ. Cuối cùng cũng đành buông xuôi, tin vào mộng mị mê tín, rủi may!" (Nguyễn Lệ Uyên)

Nhưng Ái Điểu kể: 
"Thực tế, tôi chưa thấy những người đàn  này cùng nhau khóc. Họ chỉ cùng nhau cười.

 thể  họ chỉ khóc thầm, hoặc đã không còn nước mắt."



Những người hát rong. Tranh Lê Minh Phong

17 ĐOẢN KHÚC CỦA QUÁN CAFE ĐEN

Ái Điểu 

MỘT

Khoảng 9 giờ sáng các con bé tụ lại ở quán. Bọn chúng dậy trễ. Nhiều đứa đi khách lúc khuya. Chúng coi quán như trụ sở làm ăn của chúng...

… Con Yến -18 tuổi, nhỏ nhất hội, quậy cũng nhất - giật lấy điện thoại của tôi la to: Ê! Tụi mày coi chị Điểu có cái hình dị hợm nè!

Con Liên nhìn rồi trề môi: Vẽ hổng giống người mà bà Điểu thích là sao?

Tư- cỡ 45 tuổi, già nhất - xem, nói: Ăn thua là hình có ý nghĩa

Con Liễu đớp lời: Ý gì, má nói. Đám này ngu không hiểu?

Bà Bé Tư trầm ngâm: tao nghĩ là thằng vẽ tranh muốn nói mấy con đĩ như tụi mình bán cái... (tục) mà vẫn mắc cỡ, che mặt.

Con Điểu, mày chữ nghĩa giảng đi!

Tôi nói: Chị hiểu rồi đó, là bán nhục thể mà vẫn giữ nhân cách...

Con Diệu nheo mắt: Xí! Cho em xin, đĩ nhân cách cái con mẹ gì. Đặt chuyện xà lơ, ổng ghi cái nhan đề là Cởi Ra Cho Mát, hổng thấy sao?


tiếng chuông điện thoại. Con Trang buồn buồn:

Chị cất giùm ly cà phê em uống nửa chừng. Mẹ, hứng gì mà hứng sớm!

Tôi cẩn thận để ly phê của vào tủ lạnh. Hy vọng, đây là chuyến đi khách cuối cùng của đời nó. Mai, về quê, xa lắm, tận xẻo Đước, để cưới chồng.

Tôi nhìn theo Trang chạy xe băng qua con lộ.

Nó đi chiếc xe trắng, mặc bộ đồ trắng chạy chầm chậm trong ánh nắng rực lửa của trưa hè... như một thiên sứ…

 


Tranh của Lê Minh Phong

HAI

MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG BìNH YÊN (*).

 

Tôi đọc thơ Việt, xem phim Tàu, nghe nhạc Tây trên Iphone.

Con Trang gởi ảnh cưới. Mặc váy xoè màu trắng kiểu hoàng gia. Nhìn hình, khó biết đã làm đĩ hơn 10 năm.

Bé Diệu khoe em gái sắp thi Đại Học Y Khoa. Nó quên rằng nó phải đi khách nhiều hơn trong mấy năm em nó đi học. Và không được có chồng trong thời gian này.

Một ngày bình thường bình yên.

Người thi bảy mươi tuổi làm thơ tình mượt mà, y chang lúc ông mười tám .

Chị Bé Tư hút liên tiếp điếu thuốc thứ ba. Mấy ngày nay chị bị khách chê. Hai mươi lăm năm làm đĩ sao chị chưa bỏ nghề?

Một ngày bình thường bình yên.

Người thi già vẫn làm thơ tình như tuổi còn mười tám.

Mấy con nhỏ tiếp tục đi khách.

Tôi tiếp tục đọc thơ. Thả dấu like, dấu tim, thả icon cười ha ha.

Tôi ăn ngon, ngủ ngon, còn sống, còn thở, thỉnh thoảng có làm tình khi tôi thích.

Ngày mai, ngày kia… tôi mong bình thường và bình yên như ngày hôm nay.

Vậy cũng được.

(* ) câu thường dùng của fb Diệu

 


LỄ HỘI ĐƯỜNG CONG, tranh Nguyễn Nghiêm

BA

Chiều chạng vạng. Miền Tây vẫn yên tĩnh.

Một người đàn bà trọng tuổi dắt một người đàn bà nhỏ tuổi, vào quán cafe toàn những người đàn bà không chồng.

Chị Bé Tư nói: má Út Thêm ở Sóc Trăng dẫn con Mười Hai ra Nha Trang bán trinh xong, về đó.

Chị nói tỉnh như bán củ khoai, rổ cá. Được nhiêu? Chị hỏi.

Má Út Thêm nói: dà, họ đưa tui 5 triệu, còn giá bao nhiêu thì tui không biết, cơm nước, xe cộ rồi còn cỡ 4 triệu.

Nợ nần nhiều quá, nhắm mắt làm liều thôi. không bán thì nó cũng chửa hoang, càng khổ thêm. Con Linh cảm khái: mấy ông khách Tàu mua trinh để lấy hên đó mà.

Diệu sự: chữ trinh xưa đáng giá ngàn vàng mà nay còn chưa tới một chỉ.

Má Út Thêm nói: Bé Tư nè, tui gởi con nhỏ cho em, em chỉ nó cách mần ăn. Tui phải về trong đêm nay, ba sắp nhỏ bị tai biến đang nằm nhà thương, tui đang nợ tiền viện phí.

Chị Bé Tư mau mắn: Ừa, chị về cho kịp xe, để con nhỏ tui lo, tháng đầu tui bao tiền ăn, tiền nhà.

Con Mười Hai mặc bộ váy màu đỏ thắm, đeo cặp bông tai nhựa màu đỏ, tóc gắn bông nhựa cũng màu đỏ.

Trang phục cầu hên, người ta bắt mặc mà nó chưa kịp thay.

Nhìn bộ dạng nó mường tượng như một cốt đồng. Xác còn mà không có hồn.

Mắt nó nhìn vào cõi mông lung nào đó, ráo hoảnh, không xúc động khi mẹ nó đi ra mé lộ đón xe.

Bé Yến hí hửng chạy vào quán. Nó nói to: trúng mánh, trúng mánh… rồi phấn khích kể: Tui "đi" với ông Việt Kiều, xong việc ổng đưa tờ 100 đô nói: em dễ thương quá, típ em.

Tui thất kinh, ổng hì hà hì hục thở ra tai luôn mà mần tiếp sao được.


Tui nói: thôi anh, tiếp nữa không nổi đâu anh. Ổng cười hiền khô nói: Tip là cho em thêm đó. Cả đám cười ngặt nghẽo .

Bé Hường nói: Á đù, cha này sộp, bo cho mày gấp năm giá!

Con Yến mời: sớm mai cả đám không chồng ra quán bún mắm Bà Hai Ù nghen, tui bao!

Bầy đàn cười vang nói: ô kê! ô kê! típ típ!

Tụi nhỏ hồn nhiên như đám nữ sinh trong giờ ra chơi.

Giờ ra chơi của trường đời.

Con Mười Hai cũng nhếch miệng cười không ra tiếng.

Phải chi khóc được.

Nước mắt cần thiết hơn nụ cười để trôi đi đắng cay của cuộc đời.

Đêm xuống rồi. Mai, trời lại sáng .

Miền Tây vẫn yên tĩnh.

 

 


Tranh của NSUT Quách Trường Sơn

BỐN

Bé Diệu báo tin em gái nó đậu đại học Y. Cả đám nhảy lên mừng y như bữa Kim Thanh bắt được cú phạt đền của Mỹ.

Diệu có vẻ không phấn khởi nhiều, nói: thi rớt thì dễ thở cho tui hơn; đậu rồi tiền đâu mà học 5-6 năm?

Con Liên trề môi ra kiểu hiểu biết: lo gì mậy, chuyện đến đâu lo đến đó. Nó đậu rồi, phải học thôi. Hổng lẽ mày muốn nó làm gái như mày?

Bé Diệu lý sự: dô Y khó lắm, học phải siêu đó; tui nghĩ nhà nước nên đừng lấy tiền học mấy đứa đậu Y.

Linh nói: mấy đứa đậu Y nhân tài, nên nuôi tụi nhỏ. Mà thu tiền học nhiều, ra trường tụi nó chặt chém bịnh nhân để kiếm lại thôi. Không nhân đức với tụi nó sao mà thành bác sĩ nó biết thương người bịnh.

Chị Bé Tư lên tiếng: xì! Chuyện nhà nước để mấy ổng lo. Tao tính như zày nè: tụi mình chơi cái quê (hụi) tháng, mỗi phần 3 triệu, đứa nào ngon chơi 2 phần. Hàng tháng con Bé Diệu trả 3 triệu, ai cần thì nhận, không lời lãi gì đó.

Cả đám đồng thanh: OK , OK !

Tôi nói: chị Bé Tư nghĩ cách hay. Bé Diệu nói ba má ở quê xem vay ở chính sách cho người học đại học, đi làm trả dần.

Bé Diệu như thấy bớt bế tắc: dà, em sẽ nói để ba má vay.

Nó như muốn chảy nước mắt: nhờ chị em tui mới vui chút.

Chị Bé Tư nghiêm chỉnh: ăn thua là mày, tụi tao chỉ cứu ngặt không giúp nghèo được.

Rồi chị tiếp tục sắp việc: con Điểu, có chữ nghĩa, mở sổ thu quê. Còn bây giờ tụi mình ít nhiều cũng thưởng luôn cho Bé Dàng; Đ M! Em của đĩ mà học cũng giỏi a!

Cả bọn nhao nhao OK! Ok! rồi đưa tiền cho con Diệu.

Con Diệu chảy nước mắt mà miệng cười vì câu nói bậy của chị Bé Tư.

Chị Bé Tư ngon trớn xổ thêm: Đù, phải chi có ông Việt Kiều nào bốc tao qua Mỹ, tao ráng cày, hàng tháng cho con Dàng 500 đô.

Chị dạy con Diệu: trong 6-7 năm tới mày phải mần gấp 2 lần. Không được yêu, không được có chồng. Có thằng nào yêu mày mà để cho mày đi khách? Nó sẽ bắt mày bỏ nghề, ưng nó; rồi mày có cứt mà lo cho con Dàng.

Cả bọn không cười câu nói của chị Tư. Tất cả yên lặng, câm nín.

Con Diệu trầm giọng: tui cũng không ham hố gì cái nghề này. Tui định làm chừng vài ba năm kiếm mớ tiền về quê, mở cái quán cafe như chị Điểu, rồi có chồng, đẻ con. Ngờ đâu con Dàng học giỏi quá. Tui phải ráng mần thêm, chắc cũng phải 10 năm nữa.

Con Yến nhận cuộc gọi đi khách, nó uống vội ly cà phê, đứng lên phá tan không khí ngộp thở: lý sự mẹ gì, làm, kiếm lúa, được ngày nào mừng ngày đó. Không có tiền mới chết. Không yêu, không chồng đâu có chết.

Tụi mình chết, sướng cái thân; mà đám nhỏ ở quê tiền đâu đi học… đủ thứ chuyện khác nữa.

Con nhỏ này nói không sai, cuộc sống không bình yên nhưng vẫn bình thường. Có chết ai đâu.

nếu ai chết cũng bình thường thôi mà.


 

 


Tranh của Đỗ Trung Quân

NĂM

Chị Bé Tư rủ tôi đi chợ. Quán cafe giao cho đám nhỏ coi dùm.

Vào chợ, cảm giác đơn độc tự nhiên biến mất.

Má Tám Cá gọi: Điểu, Điểu cá tươi còn giãy nè, mua giùm chị đi em!

Chú Bảy Đồ Lót gọi: Con Điểu hôm nay đẹp thiệt, sắp có chồng chưa? Quẹo lựa quần xì cho chồng luôn, hai chục ngàn một cái, ba cái năm chục ngàn

Thím Sáu Hò mời chị Bé Tư mua mắm cá linh, bà Tư Điệu kéo tay mời mua chè bưởi…

Chị Bé Tư nói: hôm qua tao sắm đủ rồi, chỉ sót vài thứ. Chị ghé mua hai bị bánh đường thốt nốt, tiện thể mua mướp hương ở cạnh đó.

Thím Ba nói: ba chục ngàn. Chị đưa tiền. Thím Ba nói: tao nói thách để mày trả, mà mày không trả tao lấy hai mươi lăm ngàn thôi, cho đúng giá. Thím Ba còn cho thêm ít hành ngò, vài trái ớt… Ông giữ xe Năm Cụt để chị Bé Tư dắt xe ra, không cần thẻ giữ, còn nói: xe nhão sên rồi, nhớ thay, đi cho ngon nghe Tư cưng …

Có những lúc tuyệt vọng, thấy mình như không có thực tôi thường đi vào chợ quê. Và, không hiểu tại sao, từ cái chốn "thị phi" này, tôi thấy mình còn sống, còn gắn bó với cõi người.

*

Chị trong dãy nhà trọ xóm Gành. Đang mùa nước nổi, có đoạn xe ngập đến nửa bánh.

Tụi nhỏ đã có mặt ở đây. Có đứa đang nấu nướng, có đứa đang lau chùi ngoài hàng ba (hành lang).

Chị Bé bảo: Mười Hai ơi, mày gọi mấy đứa ở quán cafe đóng cửa, qua hết, ăn trưa ở đây.

Chị Bé Tư mở tủ lấy một bức ảnh đen trắng, cũ kỹ. Chị cầm vạt áo lau rồi đặt lên nóc tủ quần áo.

Chị nói: ba tao hy sinh ở Cam. Chị trầm ngâm: má tao đụng ba tao đêm tiễn ổng nhập ngũ. Tao thôi nôi thì ổng mất.

Tao năm tuổi, má gởi tao cho bà ngoại, rồi lấy chồng khác, trẻ quá mà. Nhà nội lưu lạc nơi nào tao cũng không biết.

Tao không cúng ba thì ai cúng, ai còn nhớ ổng? Chị đốt cây nhang vái vái.

Con Nga nói: ông ngoại tui chết trận Củ Chi. Con Hường nói: ông nội tui hy sinh tận ngoài Huế luôn. Con Liên nói: bác tui tử trận Xuân Lộc. Con Linh nói…, con Hậu nói…

Đứa nào cũng thắp nhang vái ba chị tưởng nhớ về người thân của riêng từng đứa.

Chị nói: lỡ mai tao chết thì ai cúng ba tao? Bé Liên xía ngang: chết ai cúng sao không lo?

Không ai cười.

Khói nhang quyện đưa lời khấn nguyện lặng lẽ bay ra ngoài khung cửa, tan trong khoảng mênh mông giữa đất và trời.



LŨ NGƯỜI QUỶ ÁM, tranh Tào Linh

SÁU

Chiều nay mưa tầm tã. Cả đám gái ế hàng đang ngóng khách gọi đi.

Tôi ngồi xem phim "Bến Không Chồng".

Phía sau chiến tranh là những người đàn bà chờ đợi. Đợi chờ vô vọng, nhưng không tuyệt vọng.

Còn bây giờ, những người đàn bà này, sanh ra khi không còn chiến tranh, đang mong ước điều gì?

Chị Bé Tư rít liên tiếp ba hơi thuốc, ra vẻ suy tư rồi nói: con Mười Hai đã vô nghề gần hai tháng rồi, có nhớ tao bày biểu gì không?

Con nhỏ Mười Hai lễ phép: dạ má! con nhớ mà. Chị Bé Tư hỏi: nhớ gì, nói nghe thử coi.

Bé Mười Hai đọc như học trò trả bài: dạ! Không được ăn cắp, lừa gạt khách. Không được xì ke, bài bạc, xài phí, dành dụm tiền gởi về nhà ...

Chị Bé Tư khen: ngon đó, nói hay nhưng có làm được không? Nhớ cho kỹ không được yêu, không cho ai yêu.

Bé Diệu chen vào: không được dính bầu, phá mang tội, giữ lại sao mà mần ăn.

Con Linh trề môi nói: cái vụ không yêu vậy mà khó lắm đó. Yêu cũng cần như ăn, như ngủ.

Hồi lâu rồi có một thằng ship bơ yêu tui, tui cũng động lòng. Mèn ơi! ra khỏi nhà là thấy nó, làm sao đi khách. Tui phải bỏ xứ Phan Thiết về đây đó.

Chị Bé Tư dựa lời: yêu iếc gì bây, lo học một nghề để sau này giải nghệ sống đàng hoàng, mặc sức mà yêu. Lúc rảnh vô mấy tiệm Spa phụ làm không công, học lóm; hay là học chị Điểu cách bán cafe … Bé Diệu lầm bầm: có sớm cũng trên mười năm nữa mới thoát được chốn này.

Những người đàn bà nín thinh, câm lặng nhìn mưa. Không có chiến tranh, sao cái quán cafe này y như cái bến không chồng. Cũng chờ, cũng đợi, mà không đợi tình yêu, không chờ hạnh phúc. Không có quyền nghĩ đến điều cần thiết tối thiểu cho kiếp làm người. Con Liên phá tan phút yên lặng, ra vẻ đàn chị chất vấn: Mười Hai! Theo mày nên chọn khách trẻ hay già?

Mười Hai nói: chọn khách già, mấy ông càng già càng ít quậy. Mấy ổng ăn chơi lén, nhát thấy bà, hiền khô, dô phòng có ông run, nựng tui như nựng cháu. Có ông không cho tui cởi đồ, hun lên trán tui như muốn khóc…

Chị Bé Tư cắt ngang: kệ người ta, việc mình, mình cứ mần ăn. Mà nè, gặp khách nghi là lưu manh, muốn trấn lột mình thì làm sao?

Bé Mười Hai chưa trả lời, con Liên liến láu đáp: vô phòng phải làm cho khách cởi đồ trước. truồng thường không động thủ. Trong xách tay mình phải phòng thân cây kéo nhỏ.

Bé Nga thắc mắc: sao không đem dao cho ngon? Con Liên tỏ vẻ thông thái mày muốn cớm vịn à. Khám người mày có dao bị cho chuẩn bị phạm tội; cây kéo , mày cãi là để cắt vải.

Nga hỏi: lỡ như tui trần truồng rồi mà nó uy hiếp thì sao?

Con Liên rành rọt: Nó ở truồng, tự nhiên mắc cỡ không chạy ra ngoài phòng. Còn mày, còn mẹ gì mà xấu hổ, cứ tồng ngồng chạy ra phòng la lên cho người ta cứu.

Chị Bé Tư đưa ngón tay cái lên, khoái chí: Ố de! Ố de! Giỏi! Giỏi! Cứ ở truồng tồng ngồng như loài vật mà chạy thoát nguy.

Chị cười sặc sụa. Cả đám cười theo.

Tiếng cười đồng thanh, kéo dài giữa cơn mưa, như tiếng gào của bầy thú hoang.

Bầy thú còn giữ trái tim loài người.

 


NGƯỜI THÈM ÁNH SÁNG tranh Lê Minh Phong

BẢY

Bé Trang gởi hình quán cafe của nó mới mở hơn hai tháng. Còn có hình vợ chồng nó đi chùa, làm từ thiện. Nó nói tuần sau sẽ cùng chồng về lại quán cafe này thăm bè bạn cũ.

Chị Bé Tư dàn dựng: đừng để thằng chồng con bé Trang biết nó với tụi mình làm đĩ nghen.

Khi đó, tụi mày giả đò đóng tuồng. Con Liên, con Linh vai chạy bàn cà phê. Mấy đứa kia vai khách, mà giới thiệu có nghề ngỗng đàng hoàng: con Diệu là chủ tiệm tóc, con Liên chủ quán xôi xiêm, bánh đúc, Nga bán trái cây…

Con Trang xạo với nhà chồng buôn thuốc lá qua biên giới. Tụi mày nhớ, cho nó khỏi bể mánh.

Con Diệu lý sự: má Tư khỏi lo, tụi này diễn y chang Lệ Thuỷ, Minh Vương… ngày nào mà chả diễn tuồng cho khách thích.

Chị Bé Tư rít thuốc, phán: đời mà, ai cũng đóng tuồng hết. Diễn khéo, lừa được thiên hạ thì thành vua, thành tướng; diễn dở lộ mặt ăn cắp, tội phạm.

Rồi chị tâm sự: nghe nó dắt chồng theo, tao mừng. Nó mà đi một mình là tao ngại nó quay về cái nghề nhơ nhớp này.

Đồng tiền như con quỷ cám dỗ; biết bao người bằng cấp cao, chức vụ lớn còn bị luỵ tiền, huống chi tụi mình.

Chị chửi thề: Đ. Má! Tao cũng bỏ nghề hai lần. Rồi mần không đủ nuôi gia đình, rồi nghiệp chướng bắt tao phải trở lại. Chắc bám theo tới khi thân tàn ma dại đó tụi bây. Mấy đứa mày phải ráng học một cái nghề lương thiện, may ra …

Chị Bé Tư liên tiếp rít thuốc, ém khói, thổi thành nhiều vòng tròn, như những vòng thòng lọng vô hình siết nghẹn phận người khốn khổ. Vùng vẫy thoát ra được là lúc đã tàn đời.

Con Liên nhìn mông lung ra đường lộ mưa bay. Chợt nó nói: a! Ai như con Mười Hai và má nó.

Chập sau, con Mười Hai, chị Út Thêm vào quán, đi theo là một phụ nữ cỡ 25- 26 tuổi.

Chị Út Thêm người dẫn con mình - con Mười Hai - đi bán trinh, rồi gởi cho chị Bé Tư dìu dắt hành nghề vài tháng nay.

Con Linh bưng trà đá ra mời mấy con họ.

Chị Út Thêm cúi mặt không nhìn lên, nói: dà, con này tên Sáu Lan, chị dâu của con Mười Hai.

Chị ngập ngừng rồi tiếp tục: chồng nó bị án tù 8 năm. Đi đòi nợ mướn, chém người ta.

Tụi nó có hai mặt con. Lâu nay tui cũng đùm bọc cháu nội, con dâu. Mà ba con Mười Hai bị tăng - xông nằm một chỗ rồi. Con Sáu Lan làm mướn không đủ nuôi con, thăm nuôi chồng.

Cực chẳng đã, nợ nần lút cổ, tui dẫn con dâu lên đây cho nó đi mần nghề như con Mười Hai, chừng nào chồng nó gần về tính tiếp.

Chị Bé Tư vỗ bàn cái rầm đứng dậy nói to: ông trời ơi! Xuống đây mà coi mẹ chồng dắt nàng dâu đi làm đĩ.

Chị Út Thêm bưng mặt khóc, con Mười Hai cũng khóc.

Con Sáu Lan không khóc, nó trơ hai con mắt thất thần nhìn trân trân lên bầu trời u tối.

Mưa mới ngớt, chắc sắp mưa lại.

 


Vũ Điệu tranh Mai Huy Dũng

TÁM

Con Liên ngồi xụ mặt. Con Linh tò mò: sao mậy? Mất tiền hay yêu thằng nào?

Con Liên nói: cày đổ mồ hôi trán, rán mồ hôi … rồi như quăng tiền xuống sông, xuống biển.

Nó giải bày: tiền đĩ mà ở quê xài như tiền chùa. Hai thằng anh trời đánh, mấy năm nay tui cho tiền đi học nghề sửa xe; éo thằng nào nên hồn nên vía. 

Thêm cái trò cá độ banh, nợ giang hồ.

Chị Bé Tư hỏi: bộ má mày không dạy tụi nó sao? Con Liên kể lể: ba tui mất sớm, nhà như không có cột. Má tui hả? bả cũng đâu có vừa gì. Năm mươi mấy tuổi rồi còn mê trai. Lúc nghèo chịu khổ, ở vậy nuôi con; bây giờ mê thằng cha Tám Đàn ca tài tử, chắc tốn bộn tiền.

Chị Bé Tư khuyên giải: mày đừng rầu rĩ, con người mà, lúc khổ chỉ nghĩ đến no cái bụng, bụng no lại thèm thứ kia.

Mày cứ nhắm mắt lại mà sống, ông trời đâu phụ lòng mày.

Con Linh xía chuyện: ông trời mù mắt rồi má Tư. Liên đau một, tui đau xấp mười, mấy người thấy bao năm rồi tui đâu có về quê.

Bé Diệu tò mò: ờ, tui thấy bà hổng có về thăm nhà. Sao dzậy?

Con Linh kể: quê tui ở thấu Vĩnh Châu - Sóc Trăng, nhà sáu anh em. Khổ, má tui bịnh dài dài, lúc còn nhỏ mình ba tui cán ráng cũng tạm no. Thiệt tình, không có ổng chắc anh em tui trôi sông, lạc chợ.

Chị Bé Tư chen ngang: mày vắn tắt đi, ở đây đâu có ai sung sướng.

Con Linh kể tiếp: thấy cả nhà khổ quá tui mới mần cái nghề này. Mà sợ chòm xóm khinh chê, sợ ba tui đánh, tui phải trốn lên thành phố cho không gặp người quen.

Con Nga bình luận: chuyện đó tụi tui cũng như bà thôi.

Con Linh nhỏ giọng lại, như không muốn nói, như muốn giấu: Tui mần được ba năm, nhịn nhục gởi tiền về nhà cũng khá nhiều.

Rồi đêm đó thằng đĩ gọi, nói tui đến số phòng  khách sạn … có mối du lịch chờ đó. Tui lật đật đến nơi, vào phòng.

Đèn chưa thắp, trong bóng tối mờ mờ tui thấy ông khách đang nằm trên giường, chắc đang say.

Tui để ổng nằm yên, nhẹ bước vào phòng tắm, tắm thơm tho để mần ăn với ổng cho ngon lành.

Tắm xong, tui trần truồng quấn cái khăn che sơ sài, hấp dẫn. Rồi ra giường bật đèn lên, khách thường thích mần chuyện đó trong ánh sáng.

Ông khách trần, nằm úp mặt vách, lưng quay ra ngoài.

Úi ơi! Trên lưng ổng xăm dòng chữ to tướng: BẢY LÓC, ANH YÊU EM.

Bảy Lóc là tên má tui. Ba tui xăm dòng chữ này lúc ổng cua má tui.

Ông khách- ba tui- đã ngồi dậy. Tui mất hồn vía, quỳ xuống đất lạy như tế sao: ba tha tội cho con … tha tội cho con, đừng méc với má. Tui nhắm mắt lạy như cái máy, lạy lạy lạy ba tui hay lạy ông trời, lạy cuộc đời này?

Rồi tui tông cửa chạy ra khỏi phòng. Trần truồng mà chạy, chạy không hồn, cứ chạy vào bóng tối, y như muốn tan biến trong màu đen của đêm.



DI TRÚ tranh Lê Minh Phong

CHÍN

Mấy bữa gần đây, trời còn chưa sáng, chừng 4 giờ hơn, đã thấy con nhỏ lạ đó đến uống cà phê.

Đúng lạ, giờ này chỉ có dân lao động, buôn bán… đến thôi. Đám gái trẻ cũng phải hơn 8 giờ mới dậy. Lạ nữa, vì con nhỏ đẹp, lại ăn mặc sang, không lố lăng.

nói: cho con 2 phin phê, không đường.

Lại lạ nữa, nói giọng Bắc. Cái giọng Bắc của người sinh ở miền Nam.

Tôi giọng nói đó từ lúc còn nhỏ.

Tôi mở sonata Devil’s Trill của Tartini. Rồi tôi nổi da gà vì thấy con nhỏ đang phiêu theo điệu nhạc.

Lạ thiệt, ở tuổi này, ở nơi đây, hiếm có ai thích nghe loại nhạc đó.

Nó chờ ai mà kêu hai phin cà phê đen? Không! Nó dồn hai ly lại, không bỏ đường, nhấp một ngụm rồi rít một hơi thuốc dài, nhả khói.

Như mọi ngày, hơn 8 giờ sáng tụi nhỏ mới đến quán. Chúng những con cò, đợi khách gọi đến nhà trọ, khách sạn trong đêm.

Tụi nhỏ ngồi bên trong, ở khu pha chế, cách phòng chính một vách ngăn.

Con Linh ra dấu, hỏi chị Bé Tư: má có thấy con nhỏ kia không?

Chị Bé Tư xăng xái: tao có nghe thiên hạ nói con nhỏ này từ Đà Lạt xuống, nó đẹp thiệt, sang thiệt, bụi đời kiểu này uổng quá.


Con Linh nhỏ giọng: tháng trước, tui thấy cặp với lão Cương Trọc vô khách sạn bên Long Xuyên.

Con Liên xía chuyện: dính với tay đầu sỏ đòi nợ mướn đó tiêu tùng đời con nhỏ. Coi chừng lão xài ớn xong bán cho mấy sòng bài bên Miên.

Chị Bé Tư tỏ vẻ hiểu biết: tao nghe nói ba nó làm chức to lắm mà bị tù vì vụ đất đai gì đó; mẹ nó có bồ, nó tức khí bỏ nhà đi bụi.

Con Mười Hai như nhớ lại phận mình, nói: tui tưởng nghèo như tụi mình mới lâm kiếp khổ, ai con nhà chức quyền, đại gia cũng sa cơ.

Con Liên ra vẻ thông thái: cha mẹ phạm tội ở tù là đúng, rồi con cái họ thiếu người nuôi dưỡng cũng sẽ trở thành tội nhân trong tương lai thôi.

Chị bưng ca trà đá ra châm cho con nhỏ, để tò mò xem kỹ mặt nó.

Chị trở vô, nói nhỏ với tôi: chết mẹ, nó dính hàng đá, cặp mắt sâu hoắm, quầng thâm. Cái kiểu không ngủ được, uống cà phê đô cao này nữa, ghiền hung rồi.

Cỡ 9 giờ lần lượt có điện thoại gọi mấy con nhỏ đi. Ban ngày khách mối ruột trốn vợ đi chơi, ban đêm là khách nơi xa đến.

Chỉ còn tôi chị phòng trong. Lớn tuổi rồi chị mất mối thường xuyên, chỉ trông vào gọi đêm khuya cho khách thập phương.

Con nhỏ lạ chậm rãi đến bàn chị Bé Tư. Nó cúi đầu thiệt lễ phép, nói: dạ thưa cô… có gì cô chỉ chỗ cho con làm. Con cảm ơn cô nhiều.


Chị nghèn nghẹn hỏi: con biết làm nghề gì mà xin làm.

Con nhỏ lí nhí đáp như nữ sinh không học bài bị cô giáo tra: dạ thưa cô con biết, cô giúp con, con cũng hết biết phải làm gì.

Chị Bé Tư nhìn nó. Mắt nó mơ hồ không chút xúc động, mà mắt chị như đã ngấn lệ.

Chị khóc cho đời chị chưa đủ sao mà còn khóc cho người xa lạ?

Quán vắng khách, khúc cầm ―Tiếng vọng của quỷ dữ― vẫn còn đó. Lúc ray rứt, lúc mệt mỏi -rã rời, lúc dồn dập - cuồng nộ như phận người ở chốn này.

 


NÀNG tranh của Nguyễn Nghiêm

MƯỜI

Chị nói nhỏ với tôi: con Ngọc, cái con Đà Lạt đó, nó không chơi xì ke được ba ngày rồi, không tiền thì lấy đâu mà chơi. Hên là nó chưa lậm, mà hàng đá hình như dễ bỏ hơn hàng trắng.

Tôi nói: bà ráng giúp nó, con nhỏ này không thể sống bằng cái nghề của bà.

Chị Bé Tư bưng ly cà phê ra bàn, ngồi gần con Ngọc. Chị hút liền mấy hơi thuốc, rồi nói: Ngọc nè, chị em ở đây chia mối cho con. Sòng phẳng, con trả công lại chừng 50 ngàn thôi, coi như tiền nước.

Con Ngọc nhìn chị, như muốn hỏi gì.

Chị Bé Tư đoán ý, nhanh nhảu: giá một lần bằng…10 tô phở .


Như ở chỗ này tô phở, tô hủ tiếu giá 25-35 ngàn, con gấp 10 lần lên rồi cộng thêm 1 giờ tiền nhà nghỉ bình dân, cũng 50 ngàn nữa.

Con Ngọc nói: dạ, con từng ăn tô phở 1 triệu ở Landmark, Sài Gòn; có tô 3 triệu mà con chưa ăn đó cô.

Con Linh ra vẻ sành đời: giá tụi mình, ở chỗ đó, cũng phải tính gấp 10 lần. Mấy cha đã ăn tô phở 3 triệu thì mần một phát 30 triệu họ coi là chuyện nhỏ. Bé Diệu góp chuyện: xứ này nghèo, phở giá bèo thì mình cũng giá bèo. Lấy nhiều, khách đâu dám xài.

Chị suy tư: phở nhiều loại: phở vỉa hè, phở quán bình dân, phở có máy lạnh, phở dát vàng… Á Đù! Gái cũng như phở, nhiều đẳng cấp: gái đứng đường, gái xe số, gái xe tay ga, gái xe con, rồi hoa hậu, người mẫu, chân dài, chân ngắn nữa.

Bé Yến nói như có phát hiện mới: hèn chi thiên hạ nói tụi mình là phở.

Cả bọn cười to. Ngọc nhếch môi gượng gạo cười theo. Nó vẫn lạc lõng giữa đám gái này.

Chị Bé Tư đặt câu hỏi: đám nghèo như tụi mình, quên cả thân xác; ước muốn kiếm tiền cho đời được sướng; sao nhà con Ngọc có quá nhiều tiền mà vẫn tan nát?

Không ai trả lời.

Tôi nghĩ vu vơ: mơ ước của Bé Linh, Bé Liên, Bé Nga…và ngay cả của Bé Diệu tuy xa vời nhưng có thật. Là món tiền gởi về cho ba má hay nuôi em đi học.


Còn, có lẽ giấc mơ của Ngọc là gia đình có bố, có mẹ của quá khứ. Hy vọng khó thành quá, sẽ là niềm tuyệt vọng thôi.

Đời mà, ước muốn này qua đi sẽ có ước muốn khác đến. Hy vọng có thể chỉ là ảo vọng.

Nhưng không niềm tin, không có ước mơ thì sự sống còn thua cái chết.

Mà dù có gì, cũng phải sống. Có giấc mơ khác đi Ngọc, ước muốn điều gì dễ thực hiện thôi. Để khỏi tuyệt vọng. Để sống.

Tôi muốn nói suy nghĩ mông lung của mình với Ngọc. Nhưng không nói.

Tôi hiểu nổi cõi đời nghiệt ngã này lên tiếng.

 

 


Tranh của Tào Linh

MƯỜI MỘT

Sáng nay chị Bé Tư diện bộ váy Maxi 2 dây bèo hở vai, ngực.

Chị đẹp thiệt, tuổi 45 chỉ làm mất vẻ mềm mại nhưng những nét khêu gợi vẫn còn. Da ngâm, môi dày hấp dẫn, mắt to đen, hình như có chút lai người Miên.

Tôi khen: vui mà diện ngon lành quá?

Yến nói: đẹp nhất quán cà-phê này đó.

Chị Bé Tư thích thú: còn mướt hả? Già rồi, không ngon chỉ có nước đứng đường.

Con Linh góp chuyện: già già, Năm Hường 60 tuổi còn kiếm khách được đó má.

Chị Bé Tư nói: ờ, tao mần nghề lúc 18, bây giờ 45; đúng là nghề này khác hồi xưa, hồi đó chỉ chừng 40 là không làm được nữa. Khách chơi 70 trở lên bây giờ nhiều, có ông 80 cũng còn mần ăn được, tiến bộ thiệt.

Con Liên trề môi ra vẻ thông thạo: nhờ tiến bộ, đi lên; mấy ổng xài thuốc, chớ tuổi đó mà không có thuốc thì có mà đi xuống nhanh.

Con Hường tham gia: nghe nói mấy năm trước có ông 80 tuổi, ham hố quất 2 viên; tử trận trên bụng ngựa cái. Sợ quá!

Bé Nga nói: mèn ơi! Bữa đó có thằng còn trẻ mà xài thuốc, nó mần dai nhách, tui lạy nó mới tha.

Bé Yến nói chen: có nhiều bác già, ăn chơi vẫn còn giữ đức. Tui gặp ông khách tuổi cỡ ông ngoại tui. Ổng cho tui ít tiền rồi thay đào khác, lớn tuổi. Trẻ quá, mấy ông già lại ngại.

Chị Bé Tư thêm chuyện: có lần tao gặp thằng nhỏ, chừng 17 tuổi. Á đù! Chắc coi phim séc quá nên rượng đực sớm. Tao từ chối vì thấy kỳ kỳ.

Chị kể thêm: thằng nhỏ nói nó cua con nhỏ 15 tuổi, tốn nhiều tiền, mà con nhỏ chưa chịu đi nhà nghỉ. Nó còn nói chỉ tốn mấy trăm ngàn cũng xả được, chớ theo con nhỏ tốn bộn, chả xơ múi gì được.

Con Linh góp ý: tiến bộ thiệt đó má. Cách đây chừng 10 năm, mần nghề này, học lớp 6 như tui là cao; bây giờ toàn lớp 9, 12. Có đứa nói tiếng Mỹ như gõ cây.

Chị ái ngại nhìn con Ngọc.

Con Ngọc bình thản nói: dạ, con học năm 3 đại học cũng bước chân vào nghề làm đĩ đây.

Chị Bé Tư bình luận: ăn chơi ngày càng tiến bộ đi lên bằng Mỹ, bằng Tàu. Cái gì cũng lên. Cọng rau, củ khoai, nhà, đất đều lên như diều. Á đù! Nghe nói giờ miếng đất chôn, cái mả, cái hòm tệ nhất cũng 30 triệu. Má nó! Rủi mai tao chết, tiền đâu mà chôn?

Con Liên trề môi nói: má lo gì chời! Không ai để cái thây thúi nằm đó đâu.

Mấy tháng nay đám gái gọi trong quán cafe này ế khách. Họ tụ tập nói chuyện nọ xọ chuyện kia cả ngày.

Con Linh nhận xét: đi lên, tiến bộ gì đâu! Thứ gì cũng lên, chỉ có tụi mình đi xuống, mất giá. Hồi tui mới làm kiếm một phát tiền mua được 20 hủ tíu, bây giờ chỉ được 10.

Con Diệu nãy giờ yên lặng, lên tiếng:

Giá đĩ 3 năm rồi không lên mà bây giờ ế nữa chớ, hồi đó một ngày 4-5 khách gọi, tui chịu hết thấu phải từ chối bớt.

Mấy tháng rồi ế mem, các cha mần ăn thất bại hết tiền ăn chơi. Kiểu này kéo dài chắc tui cạn tiền gởi về quê.

Con Yến nói theo: công ty, hãng xưởng ở Bình Dương, Sài Gòn thải người về quá chừng. Nhiều đứa thất nghiệp nhào dô mần nghề này.

Chị thông cảm: đĩ thì tăng khách thì giảm. Mấy đứa công nhân cũng phải tìm cách sống chớ. Đâu phải tại tụi nó, tại chuyện lớn hơn, tao không hiểu được. Thôi cầm cự qua ngày, chắc sang năm khá hơn.

Mười Hai tham dự: tới đâu hay tới đó. Giờ ai nói gì dzui dzui đi, phải dzui mới sống tiếp. Quên mẹ chuyện mần ăn không được đi.

Chị Bé Tư cười: tao kể chuyện dzui nghen, chuyện tiến bộ khoa học nghiêm chỉnh, mà sợ bà Điểu chê là tục tĩu.

Tôi nói: kể đi, nói bóng gió thôi đó.

Chị hít liền mấy hơi thuốc, cười cười kể: năm ngoái, tao làm gái bao cho ông Việt kiều, tuổi xấp xỉ 70. Ổng trớt quớt, chả mần ăn được; lại có bịnh cao huyết áp nên không dám uống thuốc cường dương. Nghe ai bày, ổng ra tiệm thuốc Tây mua chai thuốc xịt cho nó có chỗ đứng đàn ông. Chỉ cần hành động ngon lành 5 phút là ô kê.

Trưa đó ổng mần liền, hiệu nghiệm lắm. Hồi xưa làm gì có thần dược như bây giờ để cứu đám đàn ông già cả, đúng là khoa học tiến bộ thiệt.

Đến chừng 10 phút, trên đã chán, dưới không chịu về hưu, tao vẫn chịu được mà ổng thở dốc rồi.

Má ơi! Hết cơn thái lai, đến hồi bĩ cực. Thằng chả xoay sở đủ kiểu, cả tiếng đồng hồ mà cái nợ đời vẫn không trở lại bình thường.

Tao mệt, ổng càng quá mệt. Tao biểu ổng nằm yên, cầm chai thuốc, mặc quần áo, chạy ra tiệm thuốc mắng vốn.

Con chủ tiệm cười sặc cơm nói: xịt một hơi nhẹ thôi, ai biểu ham hố tưới lên. Chừng nào bay hơi, hết thuốc, thì nó hết tác dụng. Bây giờ, bà dìa rửa sạch là xong.

Tao lật đật bay về làm theo lời nó. Vừa rửa cho lão, vừa cười. Lão nhơn tình mệt quá cũng cười theo. Thiệt là vui.

Nghe chị Bé Tư kể xong cả đám con gái cười té nghiêng, té ngửa.


***

Năm mới, tôi kể một chuyện vui, mà viết xong tôi nhận thấy mình hay lập lại cái kiểu kết thúc truyện bằng một tiếng cười chung. Thiệt là nhàm.

Thực tế, tôi chưa thấy những người đàn này cùng nhau khóc. Họ chỉ cùng nhau cười.

thể họ chỉ khóc thầm, hoặc đã không còn nước mắt.

Những tiếng cười qua các câu chuyện dung tục, tào lao lại là liều thuốc tâm lý, giúp họ tạm quên sự chán ngán cuộc sống.

Quá khứ nghèo đói, hiện tại bùn dơ, tương lai vực tối. Những người đàn bà này chỉ còn biết cười để hoá giải bi đát của cuộc đời.

Vì họ đâu có đủ khả năng để tự dối gạt chính mình. Nụ cười đau như dùng kim khâu vết nứt của khối ung thư. Tạm thời xoa dịu, kéo dài thời gian huỷ diệt sự sống.

Đến khi nào? bằng cách để họ cuộc đời đáng sống?



 Tranh của Tào Linh

MƯỜI HAI

CÕI NHÂN GIAN

Dân gian câu  "Đừng nghe cave kể chuyện, đừng tin con nghiện trình bày".

Ngọc là cave, lại mới cai nghiện, nó kể câu chuyện này. Thật, hư lẫn lộn.

Cũng có thể Ngọc đã đọc ở đâu đó. Trong di chứng mộng du của ma tuý, nó hoang tưởng và hoá thân vào câu chuyện.

Chiều tối hôm ấy có điện thoại của thằng cò gọi, nó bảo Ngọc ra trước đường, có xe đón.

Không phải là xe ôm, mà một chiếc bốn bánh đang đợi.

Ngọc mở cửa xe, lòng có chút nghi ngại, hỏi: dạ, mấy người? Đông thì em gọi thêm.

Ngọc nhìn người đang lái xe. Trực giác cho thấy không phải là đám giang hồ, vũ phu.

Người đàn ông không nhìn lại, giọng ông ta nhẹ nhàng, thân thiện: không sao đâu, đừng lo lắng nhiều.

Ngọc lên xe từ cửa sau. Người đàn ông nói: xin lỗi, tôi cũng già rồi, cứ gọi tôi bằng chú. Cháu có thể từ chối nếu thấy bất tiện. Rồi tôi sẽ nói cho cháu nghe việc tôi cần cháu làm.

Ngọc có cảm giác an tâm nhưng vẫn nghi ngại. Nhiều ông khách già hơn ông ngoại nó, vẫn thích được gọi bằng anh mà. Ông này lạ lùng quá, điều gì sẽ đến?

Ngọc nói: dạ, đương nhiên là ông đã biết em làm gì. Nếu là việc ngoài "chuyên môn" của em, em không làm được đó.

Ông khách điềm đạm: cháu yên tâm, nếu cháu không đồng ý tôi vẫn trả tiền cho cháu. Còn làm gì, tôi sẽ nói sau.

Xe đi qua nhiều đoạn đường, ra khỏi thị trấn, đến trước cửa một biệt thự.

Ngôi nhà nằm sâu trong vùng cây, thật thơ mộng nhưng tạo cho Ngọc cảm giác bất an. e sợ những điều kinh dị sẽ xảy ra.

Ông khách như đoán được ý nghĩ của nó. Ông nói: ngoài trời gió lạnh, cháu vào trong cho ấm.

Ông ta dẫn Ngọc vào một gian phòng bài trí trang nhã. Giọng ông thân ái, như trong gia đình: cháu ngồi nghỉ một chút, tôi cũng đói rồi, để tôi làm ít món ăn.

Giây lát sau, Ngọc đã nghe mùi thức ăn. Nó không còn lo lắng, chỉ thắc mắc không biết ông khách này sẽ biểu mình làm chuyện gì. Khó hiểu quá.

Ngọc dạn nói: chú, chú cần con giúp gì không? Ông khách bưng ra khay thức ăn. Đơn giản, nhưng sang trọng: hai đĩa mỳ Ý, một đĩa thịt nguội khai vị. Có cả một chai vang.

Ông ta rót rượu, nói: tôi quá quen với việc bếp núc. Rượu khai vị, nhẹ thôi, cháu uống cho ấm và ăn tự nhiên, cũng đã tối rồi.

Món ăn làm kiểu Tây, ngon. Ông khách tiếp đãi lịch sự, thân thiện. Ngọc cảm thấy an tâm.

Một lúc sau, khi thấy Ngọc đã xong bữa, ông khách nói: bây giờ, mời cháu đi gặp con trai chú. Nó ở phòng trong.

Ông ta mở cửa. Căn phòng rất rộng, có cả giường ngủ, bàn làm việc, như một phòng lớn của khách sạn.

Trên bàn ăn, Ngọc thấy một cái bánh sinh nhật. Nến đã thắp, sáng lung linh.

Ông khách gọi: Đức ơi! Mở nhạc đi, bạn đến mừng sinh nhật con đây.

Từ phòng trong, có chiếc xe lăn chậm rãi chạy ra. Ngọc mím môi ngăn tiếng kêu hoảng sợ của mình.

Trên chiếc xe lăn một người không tay, không chân.

Ông khách nhẹ nhàng đặt tay lên vai Ngọc, trấn an: nó người. Người, rất người như mọi người.

Ông kể: vợ tôi, sau khi sinh nó được tròn tháng đã bỏ đi. Chính xác là 25 năm rồi. Tôi ở vậy nuôi thằng bé.

Đức- tên thằng bé- sinh ra đã không có tứ chi. Tay, chân nó teo lại chỉ còn một mẩu nhỏ. Nhờ tập luyện nhiều, Đức dùng mẩu thịt nhỏ đó đủ để điều khiển xe lăn, máy vi tính và các thiết bị trong phòng.

Đức bị phế tật thân xác, nhưng trí óc nó bình thường. Nó hiểu được đời sống nhờ công nghệ thông tin. Tôi cũng thường chở cháu đi ra ngoài nhìn người, nhìn cảnh vật.


Ông ngừng câu chuyện: mà thôi, chúng ta hãy mừng 25 năm làm người của Đức.

Ngọc thầm nghĩ: mừng! Có thể mừng cho cái sự sống người không ra người không? Ngọc lại liên tưởng đến Stephen Hawking. Và nó mong phép lạ đến cho hai cha con tội nghiệp này.

Ông khách nắm tay Ngọc, đẩy chiếc xe lăn đến trước bàn ăn.

Đèn, nến huyền ảo trong tiếng nhạc mừng sinh nhật. Ông khách cất tiếng hát: Happy birthday to you.

Ngọc hát theo. Đức, cái thân hình không tay, không chân cũng hát: Happy birthday to you. Happy birthday to you..

Giọng Đức ngọng nghịu, như vọng về từ một cõi oan khiên nào đó.

Những giọt nước mắt đã lăn trên mặt người cha. Ngọc cũng rưng rưng cay mắt.

Một lúc sau, như đợi một khoảng lặn trong giai điệu ma mị, người cha nói riêng với Ngọc: tôi thật lòng cảm ơn cháu. Tôi có đề nghị này muốn nói, mà… khiếm nhã. Cháu có thể từ chối.

Ngọc thông cảm: dạ, chú cứ nói.

Người cha khẽ khàng nói tiếp: dù thân xác không đầy đủ, không ra người. Nhưng Đức trí, tâm hồn như Người. Và, tất nhiên, cũng ham muốn tình dục như mọi người.

Trong tồn sinh của đời mình ai cũng có khổ đau, có hoan lạc. Đức đã gánh chịu sự bất hạnh quá nặng của kiếp người từ khi mới chào đời.

Người cha nghẹn ngào tiếp tục ý tưởng:


Cháu à, nhân ngày sinh của Đức, chú muốn cho con chú món quà tặng của tạo hoá… đó là khoái cảm lạc thú giữa nam và nữ.

Chú muốn con giúp Đức được làm người, được như mọi người.

Chắc con đã hiểu. Con có thể từ chối. Chú không trách con đâu.

Ngọc sững sờ. Nó yên lặng, như không còn trong cõi nhân gian này.

Rồi nó nghĩ: tôi, tôi chỉ là một con đĩ, xã hội không xem người, lại được giúp một người sống cho trọn chữ con-người sao?

Có lẽ ai cũng sẽ tò mò muốn biết kết cuộc câu chuyện. Mà con Ngọc ngưng, không kể nữa. Cũng không có đứa nào biểu nó kể tiếp.

 

(viết theo lời kể của Ngọc)

 


Tranh của Lê Minh Phong.

MƯỜI BA

TIỆC TẤT NIÊN CỦA LOÀI SÁT

Ba Mươi Tết năm nào tôi cũng chỉ mở tiệm đến 10 giờ sáng, có bán cũng ít khách. Dù có gì đi nữa, mọi người cũng muốn trở về nhà mình, trở về với nguồn cội, với những quá vãng, với tâm linh.

Trưa nay tôi cúng tất niên, mời đám đàn bà không chồng dự.


Đến 9 giờ, quán không còn khách; đám gái gần như đến đủ. Đứa nào cũng diện đồ đẹp, trang điểm hơn mọi ngày.

Chị Bé Tư nói: đến 10 giờ có khách gọi tao cũng từ chối; mần đĩ cả năm cũng phải ít ngày làm người, ăn Tết chớ.

Tôi mở nhạc Xuân, cho có không khí nhộn nhịp, hứng khởi.

Con Liên, con Linh gõ muỗng xuống bàn phiêu theo điệu nhạc.

Con Diệu trầm ngâm: ngày Ba Mươi chắc không có cha nào đi chơi đâu, mấy chả cũng về vui với vợ con.

Con Hậu nói cay đắng: chắc phải qua Mùng Hai mới có khách. Mùng Một họ cữ, không gặp thứ dơ dáy như tụi mình, sợ xui cả năm.

Chị Bé Tư muốn hỏi con Ngọc sao nó không về Đà Lạt. Chắc chắn đây là lần đầu nó ăn Tết xa nhà. Chị ngại khêu dậy nỗi buồn của nó.

Ngờ đâu Ngọc lại hỏi ngược: ủa! Sao ai cũng ở lại, không về nhà ăn Tết? Tui không về là đúng, vì tui còn cha mẹ coi như không. đây, còn chị, em.

Con Liên trề môi nói: tui nhớ nhà lắm, muốn về, mà lại không về. Tui sợ những con mắt người quen nhìn tui.

Con Linh diễn giải: thì tụi mình cũng nói xạo là đi mần mướn, ô-sin, đợ, mần công nhân đó. Ai mà tin, công nhân sao tiền gởi về nuôi gia đình. Họ biết hết nhưng không nói ra. Có người ganh tị nói xấu sau lưng: nó làm đĩ chớ làm gì.

Bé Hường góp chuyện: ừa, có bà hàng xóm qua nhà nói: con mần chỗ nào trên đó mà ngon dữ, con dẫn con gái dì lên đó mần hen. Biết mình làm gì, ganh tị mà muốn cho con theo nghề mình. Cũng cảnh khổ với nhau thôi mà.

Chị Bé Tư nhắc: cũng gần 11 giờ trưa rồi, mấy đứa xúm lại bày biện bàn ghế, bưng đồ cúng lên giúp chị Điểu.

Con Mười Hai và Sáu Lan- chị dâu nó- mở cửa vào quán. Con Mười Hai vui vẻ: chị em tui kiếm được mối cuối năm.

Sáu Lan chu miệng chê: đ. má! Gặp hai lão thua bài, xả xui. Nó trút cái xui của nó vào người mình mà còn xin bớt 50 ngàn. Đ. má! tui cũng ô-kê cho nhanh về ăn tất niên.

Con Vy ít nói, bữa nay lại cảm khái: họ xem tụi mình không phải là con người mà y như hố rác, xả dơ bẩn, xui rủi vào người mình.

Con Mười Hai nói: có cha mới đầu cũng tình cảm, nhẹ nhàng; xong cơn sung sướng nó đẩy mình ra như phun miếng thịt thiu.

Chị Bé Tư nói: thôi thôi! Cuối năm nói chi mấy chuyện buồn. Muốn có tiền phải ráng.

Tôi soi gương, vuốt lại tóc rồi đốt nhang. Tôi vái, khấn to: hôm nay là ngày cuối năm, con cầu xin Trời, Đất, những người khuất mặt phù hộ cho ba má, con của con mấy người đàn trong cái quán này được khoẻ mạnh, vui vẻ.


Tôi khấn thầm thêm, không nói ra: cầu cho các bác, chú, cô, anh chị, bè bạn qua Fb của con cũng mạnh khoẻ, vui vẻ.

Chị Bé Tư nói: ủa, sao bà không cầu ước cho riêng bà?

Tôi nói: tui thấy tui vậy là được rồi, thay đổi chi cho mệt.

Tôi nhìn những khuôn mặt thân yêu. Qua một năm, bớt Bé Trang, nó đã có chồng; lại tăng thêm con Mười Hai, chị dâu nó là Sáu Lan và con Ngọc.

Chị Bé Tư nhìn tôi nói: tất niên phá lệ, nhậu, đánh bài nghen bà.

Tôi nói: ô-kê. Và vào trong xách ra can rượu đế có pha chút rượu thốt nốt.

Con Sáu Lan nhanh nhảu: để tui lấy chén uống mới đã đời.

Cả đám đàn bà xúm nhau vào bàn. Nhang chưa tàn nên đồ ăn chưa dọn lên, chị Bé Tư đã rót rượu.

Tôi nâng chén nói: chào năm cũ, mừng năm mới. Dô! Dô!

Cả đám la to dô! Rồi tất cả cạn chén.

Chị Bé Tư lại rót lượt thứ hai cho tất cả mọi người. Đến chén của con Ngọc chị nói: con ít uống thì không cần theo mấy con bợm này.

Con Ngọc cầm chén rượu nốc trọn một hơi rồi biểu: má Tư rót lại đầy lại cho con, không sao đâu, chết càng sướng mà.

Đám gái đưa ngón tay cái lên khen con Ngọc rồi cạn chén la to: dô! dô! dô!


Con Diệu, con Nga dọn đồ ăn lên bàn. Tôi nói: ăn, nhậu xả láng hen. Chán thì đánh bài, ngủ tại đây, đón giao thừa luôn. Nếu thích cứ ở đây mấy ngày Tết.

Cả đám đồng thanh: ô-kê, ô-kê.

Con Hậu nói giọng buồn: về nhà trọ nằm chèo queo trong đêm giao thừa chắc chỉ có khóc.

Đang ồn ào, cả bọn lặng câm, nhìn nhau.

Chập lâu, bé Vy phá tan bầu không khí nặng nề, nêu ý kiến: đánh bài quẹt lọ nghẹ đi. Ai thua bị quẹt một cái, uống một chén rượu.

Con Linh thêm vào: đồng ý phạt uống rượu, quẹt lọ nghẹ, thêm vào phải nhảy múa một vòng.

Cả đám lại la to: ô-kê, ô-kê.

Chị Bé Tư chợt hỏi: bà Điểu tuổi Thân phải không? Qua ngày mai là 45 tuổi ta rồi, sang năm tuyển thằng chồng cho dzui.

Tôi cười, không trả lời mà ngẫm nghĩ: Tuổi Thân là tủi thân, hèn chi đời mình không bao giờ trọn vẹn một ngày vui.

Bài chia, rượu rót, cạn chén, quẹt lọ nghẹ, nhảy múa.

Trong cơn say chúng nó vừa la hét hú hó, vừa tự chế ra những kiểu nhảy múa hài hước như con vịt xoè cánh, trống cơm, chèo ghe, giã gạo…

Chúng cười ngặt nghẽo, như điên loạn khi thấy mặt đứa nào cũng vằn vện đen thui.

Và chúng quên, quên hết tất cả bất hạnh của đời mình trong buổi tiệc tẩy trần cuối năm.


Đến tối, tôi tỉnh dậy. Đám nhỏ ôm nhau nằm la liệt trên sàn nhà. Tóc tai rượi, váy xống tốc lên loã lồ, mặt vằn vện lọ nghẹ.

Nhìn y như loài bò sát mới xuất hiện trên cõi nhân gian này.

Loài sát đang bị trúng độc của loài người.

Chị tỉnh rượu trước tôi. Chị đang kéo lại váy, áo của đám nhỏ cho bớt trần truồng.

Tôi mở cửa, nhìn ra khoảng trời đất mờ mịt. Con lộ 91 đêm cuối năm chợt quạnh hiu như một nơi chốn khác.

Tôi cảm nhận vòng tay ai ôm tôi. Chị Tư. Tôi thấy vai trần của tôi có nước mắt của chị.

Chị thầm thì: chỉ còn mấy giờ nữa sang năm mới đó Điểu ơi.

 

 


Tranh của Lytan Man

MƯỜI BỐN

Tôi tâm sự với chị Bé Tư chút chuyện nhà của tôi. Nhân dịp trường đại học nghỉ Tết dài ngày, con trai tôi, đang học năm cuối, về thăm nhà.

Nó dẫn về con Phương, bồ của nó. Hai đứa thăm tôi và ông bà ngoại một tuần rồi sẽ về quê con Phương ở miền Trung, ăn Tết.

Tôi không có ý tự tìm hiểu quá cặn kẽ về con nhỏ. Thấy nó hiền hậu, dễ mến tôi cũng thích.

Đến bữa cơm chiều tiễn hai đứa đi, thằng con tôi mới kể:


Hai đứa con quen nhau từ năm đầu đại học. Sang năm hai thì Phương theo gia đình đi định cư bên Mỹ.

Ý định ban đầu của con Phương qua đó sẽ tiếp tục học đại học. Nhưng sau, vì ngôn ngữ, sinh hoạt… Phương dính vào nghề làm nail. Cô nó có ba tiệm nail, cũng cần có người trong gia đình vừa làm, vừa quản lý khi cô nó già, hết muốn trông coi nhiều tiệm.

Nghề nail không khó mấy với Phương, thu nhập cũng cao mà không đòi hỏi đầu tư thời gian, kinh phí học. Nó bỏ dự tính tiếp tục đại học, chấp nhận công việc mà ở quê nhà nó chưa bao giờ nghĩ đến.

Tình yêu của Phương và con trai tôi khá sâu đậm. Hai đứa hẹn nhau sau khi con trai tôi tốt nghiệp đại học, Phương sẽ về kết hôn và bảo lãnh qua Mỹ.

Nghe đến đây chị Bé Tư nhận xét: vậy là con nhỏ yêu con trai bà dữ à, thường thì con gái qua Mỹ nó ưng Mỹ, Đức, Hàn… hoặc Việt kiều.

Chị nói thêm: vậy cũng tốt, ai cũng muốn qua Mỹ ở. Mà tốn nhiều tiền lắm đó, cả tỉ bạc nếu kết hôn giả. Con bà được qua Mỹ học tiếp, sống với người yêu nó, có phước mới được đó.

Con Ngọc nghe chuyện, nó tham dự: qua Mỹ ở y như giấc mơ của dân mình. Người nghèo, người giàu, quan to, dân thường đều muốn qua Mỹ sống. Mấy người làm chức lớn như bố con đều tìm cách cho con họ qua Mỹ, để tạo điều kiện cho cả gia đình sang đó định cư khi đã về hưu.

Tôi hỏi nó: sao cháu không đi?


Nó đăm chiêu giây lát rồi nói: dạ, bố con bắt con qua Mỹ du học, nhưng con không chịu.

Dạ, sách vở dạy "yêu tổ quốc, yêu đồng bào"… cao xa, trừu tượng quá. Con không đi, đơn giản chỉ vì con mê những con đường dốc ở Đà Lạt, mê ly sữa đậu nành nóng trong đêm lạnh hè phố, mê đám bạn thuở học cấp hai…

Chị Bé Tư nói: rồi thời gian sẽ làm mình quên thôi mà. Tao mong lão Việt kiều nào đem tao qua bển, cho đời bớt khổ.

Rồi chị hỏi tôi: chịu cho con trai đi không? Tôi nói: tui tôn trọng lựa chọn của nó.

Tui nói với hai đứa nó: đời tụi con, tuỳ tụi con quyết định; nhưng má thích hai đứa ở lại, sống với quê mình.

Con bồ nó lại nói: tụi con sẽ bảo lãnh má qua ở bên đó luôn.

Tui nói: cây cội, nước nguồn. như cọng rễ của tụi con cắm lại đất mình. Má mà cũng đi nữa như cây đã đứt rễ. Má đi, còn ai đón tụi con về?

Thôi, tuỳ số trời bà Tư ơi. Tụi trẻ đã chọn lựa, mình không thay đổi được.

Chị Bé Tư hỏi: ờ, tui lo cho bà lúc già, ai chăm sóc, khi chết ai lo mồ mả?

Con Liên xía chuyện, nó chọc: má Tư sao lúc nào cũng nghĩ chuyện chết không ai chôn; sống còn chưa xong, lo chết.

Tôi có suy nghĩ chuyện này. Ba má tôi, tôi lo mồ mả bình thường được. Phần tôi khi chết cứ thiêu, tro tàn cứ để tại lò, khỏi thờ, khỏi thả sông, thả biển cho phiền phức.

Mà nếu tôi sống quá lâu hoặc bị bịnh nặng dai dẳng, làm phiền người khác tôi sẽ âm thầm thực hiện quyền được rời khỏi chốn nhân gian này.

Chị lại nói: nhiều chuyện tao khó biết quá, như mấy con bạn tao qua Mỹ ở, khi về quê thấy coi bộ như qua đó ăn không ngon, ngủ không đủ, không rảnh để cà phê nói dóc như ở quê mình.

Chị phán xét thêm: á đù! Tiền nhiều để mần chi khi tứ khoái không sướng.

Tôi thọc chị Tư: bà chỉ ham tứ khoái mà quên bà lo già không ai nuôi, chết không ai chôn. Qua đó khi mình già được cấp tiền đủ sống đó bà.

Con Liên tham gia câu chuyện: mấy ơi! Mình không sống ở Mỹ sao mà biết đúng chuyện bên đó. Mấy người Việt kiều về rên bển khổ, sao họ không ở lại mà tiếp tục bỏ xứ qua đó sống.

Tui thấy nhiều nhà giàu, nhà lầu hai ba cái, xe hơi hai ba chiếc; ở Việt Nam làm chủ, ăn ba đời không hết, mà lại qua Mỹ làm mướn. Thiệt tình tui không hiểu nổi.

Tôi thấy mình cũng có tìm hiểu nhiều, nhưng vẫn hoang mang như con Liên thôi.

chắc qua Mỹ sống rồi hiểu được mọi điều?

Tôi nhớ hồi tôi sanh thằng Cầm; nó vừa lọt lòng má tôi bồng không xem mặt cháu trước, mà nhìn phía dưới. Bà đã mừng rỡ nói: con trai, ngon lành hén.

Lúc đó tôi còn trẻ, chỉ nghĩ là dân mình thích con trai vì tập quán, dòng họ…


Sau, tôi cảm nhận đó là tiềm thức tự nhiên của sự duy trì nòi giống loài người trong đấu tranh sinh tồn và bảo vệ lãnh địa.

Thế hệ ba tôi nhiều người ra đi cũng dễ hiểu. Vì bị kỳ thị, đói khổ. Ở lại, quả là quá khó để sống.

Nhưng bất chấp nghịch cảnh, bất chấp lời khuyên của bạn bè, ba tôi vẫn ở lại mà.

Còn thế hệ con tôi, đâu còn những nguyên nhân đó nữa, mà sao nó vẫn muốn ra đi?

Tôi là người đàn bà không chồng, trong thâm tâm thích sống gần con, gần cháu.

Nhưng cháu tôi không sanh ở nước mình, sau này mang tên Mỹ, bập bẹ tiếng Việt. Rồi đời sau nữa chắc cháu của con tôi hết biết tiếng Việt luôn.

Người xưa nói: "Đất lành chim đậu".

Quê hương mình hoa thơm, trái ngọt bốn mùa. Núi, rừng, biển, sông hiền hoà không hiểm trở.

Đất lành, sao chim lại ra đi?

 

 


Tranh của Tào Linh

MƯỜI LĂM

RƯỢU LẠT

Tôi biết trước, sau nhiều tin nhắn vào buổi sáng chúc tôi một ngày bình an; vào ban đêm chúc tôi ngủ ngon, anh sẽ rủ tôi đi uống cà-phê sáng.


Tại quán cà-phê anh nói nhiều về các trường phái thơ. Tôi có nghe gì đâu. Mà có nghe tôi cũng không hiểu.

Tôi muốn anh im lặng giây lát để tôi thưởng thức J. Brahms.

Nhưng mà anh nói to quá, tôi đành phải nghe. Hình như anh nói khâm phục các nhà thơ X, Y, Z nào đó. Rồi lại thêm vào "tuy vậy nhà thơ X còn yếu ở chỗ này, nhà thơ Y sai chỗ nọ, nhà thơ Z quá bạo chỗ kia."

Tôi gật gù, nhìn qua khung cửa sổ. Một con ong bay vào kính, bay ra, rồi lại bay đụng vào khung cửa.

Buổi sáng trời dịu mát, cà-phê ngon, nhạc của J.Brahms sẽ tuyệt diệu biết dường nào nếu không có các trường phái thơ.

Tôi biết trước, sau nhiều lần uống cà-phê sáng, nghe kiến thức của anh về thơ, anh sẽ mời tôi đi ăn chiều. Chúng tôi đến quán hủ tíu Nam Vang đường Thủ Khoa Nghĩa.

Trong khi tôi xụp thưởng thức hương vị nước lèo ngon chấy, anh nói về các trường phái hội hoạ cổ điển Tây Phương.

Tôi đang nhai mớ tim, gan bùi bùi, sực sực thì nghe anh hỏi tôi đã xem tranh Paul Cézanne chưa. Tôi lắc đầu thể hiện là chưa vì miệng và đầu óc tôi đang tận tâm tận ý cho tô hủ tíu.

Tôi hít hà khoan khoái với vị ớt cay nồng rồi chợt nhớ đến hình ảnh hai người đàn ông chơi bài trong bức The Card Players của Cézanne.

lẽ chúng tôi cũng giống vậy.


Tôi biết trước, sau nhiều ngày, khi tôi thưởng thức hết các món ăn đặc sản Châu Đốc như: lẩu mắm, xôi xiêm, lẩu cá bông lau, cá lóc nướng trui, bún cá…Và anh cũng nói hết kiến thức của anh về âm nhạc, hội hoạ, thơ văn…anh sẽ mời tôi đi ăn đêm.

Chúng tôi đến La Giang Restaurant.

Anh đã đặt bàn trước. Đúng giờ, chu đáo, lịch sự, trang trọng là phẩm chất tôi thấy ở anh.

Bữa tiệc đêm, chỉ hai người; có cả nến, hoa, ánh sáng huyền ảo và nhạc cổ điển thầm lặng.

Anh cầm cuốn thực đơn xem rồi lịch sự chuyển cho tôi, nói: em chọn món dùm, anh không rành lắm.

Tôi biết đó là câu nói thật lòng, qua cách xem thực đơn của anh.

Tôi chọn khai vị với Salade Nicoise. Tiếp đó là ốc sên nướng Écargot, súp hải sản Bouillabaisse, gà nấu vang Coq au vin. Và cuối cùng tráng miệng với món Crème brûlée.

Anh nhắc tôi chọn rượu. Tôi biết, đây mới thứ anh muốn tôi dùng trong buổi tiệc này.

Tôi gọi một chai Macallan 18.

Hai người hầu bàn kính cẩn cúi đầu chào sau khi rót rượu vào ly.

Anh cụng ly nói: chúc em một đêm đẹp.

Tôi nhấp một ngụm Macallan, nói: dạ, em cũng nghĩ vậy.

Tôi nhấm nháp thưởng thức mùi hương trái khô, mùi vani, vị mật ong, gừng, quế; cảm nhận có hương gỗ sồi trong Macallan.

Rượu, các món ăn, khung cảnh đều rất tuyệt vời.


Tôi cạn ly, và anh rót rượu. Tôi nói: mình uống trọn ly này nghen.

Tôi biết là anh đồng ý, mà tôi cũng biết là anh muốn tôi say mềm trong bữa tiệc này.

Tối nay anh không nói về văn chương, nghệ thuật. Tôi biết, đầu óc anh đang tập trung cho ý định sau buổi tiệc.

Anh rót đầy rượu cho tôi. Tôi cạn ly, trong khi anh chỉ nhấp một phần.

Mắt anh biểu lộ sự thích thú khi tôi uống nhiều hơn anh.

Anh lại rót đầy ly cho tôi và châm một ít cho ly của anh.

Cứ thế, vậy mà cho đến khi tôi tận hưởng hương vị ngọt, béo, dòn của món tráng miệng Crème brûlée thì anh đã say lắm rồi.

Tôi biết, chỉ chừng một phần ba ly nữa là anh sẽ gục, nên tôi ngưng mời anh uống.

Tôi giả vờ như chếnh choáng, say hơn anh. Tôi thấy trong mắt anh có khoái cảm của người chơi xì phé đang có bộ Thùng Phá Sảnh.

Anh gọi thanh toán; lúng túng không thực hiện được giao dịch qua điện thoại.

Tôi mở ví của tôi, thanh toán bằng tiền mặt. Anh nói, giọng của người say: không được, không được, thôi để anh gởi trả em sau.

Anh dìu tôi ra xe, chạy ra khỏi sân nhà hàng.

Rồi anh nói cái câu mà tôi biết anh đã chuẩn bị cả tháng nay: mình phải ghé chỗ nào nghỉ chút, anh ngại bị phạt nồng độ cồn.


Tôi không trả lời, nhìn trời đêm qua kính xe. Đêm dịu mát, bình yên.

Có mấy con côn trùng bay va vào khung cửa kính, bay ra; rồi lại bay đập vào nhiều lần.

Hình như tôi nghe tiếng vo ve của chúng.

Nhìn cái cách anh nhận phòng của nhà nghỉ, tôi biết anh đã thuần thục việc này.

Anh choàng vai, dìu tôi vào phòng. Lẽ ra, tôi phải là người dìu anh mới hợp lý, vì anh say hơn tôi. Nhưng, như vậy mới đúng với kịch bản anh đã chuẩn bị.

Sau đó, như anh đã định trước, mà tôi cũng biết trước, môi anh chạm vào mặt tôi.

Mùi thực phẩm và rượu lúc này không hấp dẫn nữa mà rất hôi tởm.

Tôi tránh né, môi anh đi xuống thân thể tôi.

Tôi khó chịu, thấy dơ bẩn vì sự nhớp nháp của nước bọt có mỡ thức ăn.

Anh đè tôi xuống. Lưng tôi cấn cái túi xách của tôi. Cổ tôi đau vì cái đồng hồ của anh.

Tôi mở mắt nhìn lên tường nhà. Chằng chịt những vết sáng tối,loang lỗ như một bức tranh lập thể.

Tôi thấy một con ong bay qua bay lại. Và có cảm giác con ong chui vào người tôi.

Anh thở dồn dập, mắt nhắm nghiền. Cơ mặt biến dạng trong mảng đen trắng của ánh đèn yếu ớt. Thân thể quằn quại như con thú bị thương.

Hơi thở, cơ mặt, đôi mắt và tư thế vật vã của con người trong hoan lạc gần giống như lúc hấp hối.


Tôi nghiệm ra điều này vì tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh ông ngoại tôi qua đời vì ung thư phổi.

Giây lát, anh lăn ra giường, thở nhẹ, rồi ngủ say.

 

Tôi để anh nằm lại, xuống quày thu ngân trả tiền phòng.

Tôi nói: ảnh sẽ về sau, đi bây giờ chắc chắn bị phạt nặng.

Con nhỏ thu ngân cười bằng mắt. Tôi cũng nheo mắt hưởng ứng.

Tôi gọi taxi. Tôi bảo người lái xe mở khung cửa kính. Gió sông thổi thật mát. Tôi hít thở mấy hơi dài. Thật sảng khoái.

Tôi lấy điện thoại, chặn Fb, Messenger và tất cả các đường dẫn liên hệ với anh.

Lúc này tôi nhớ là mình chưa biết tên thật của anh. Mà không biết cũng được, tôi thầm nghĩ.

Cũng trong lúc này, tôi mới chợt nhớ ra anh ta có khuôn mặt, tính cách giống ba của thằng Cầm-con tôi.

Anh ấy đã biến mất khỏi cuộc đời của tôi hơn hai mươi năm rồi.

Gió mát trên đường đêm làm tôi thấy thanh thản, an lành.

Mấy con côn trùng trong xe bay qua khoảng trống của khung cửa, thoát vào trời đen.

 

Rượu đời đã lạt.




Rao bán một bài thơ buồn - tranh của  Minh Phong

MƯỜI SÁU

 

Lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng, Bé Trang xuất hiện trong tư cách làm gái đó là ở bài viết đầu tay của tôi, tuỳ bút 1.

Mới đó đã một năm Trang từ bỏ được nghiệp chướng, về quê lấy chồng. Cũng là một năm tôi tập tành lại, ráp vần, đặt câu, sống một góc đời khác cùng chữ nghĩa.

Với tôi, chỉ sự ngẫu nhiên. Nhưng với Trang là đích sống đã định trước.

Tôi kể về Bé Trang vì nó vừa gởi cho tôi mấy tấm hình đang ẵm con, hạnh phúc bên chồng.

Lòng tôi vui nước mắt cứ trào ra.

Tôi phấn khích, muốn khoe hình Bé Trang trong bộ váy cưới màu trắng-như một thiên sứ, hình nó cùng chồng con, hình nó mặc áo lam đi lễ chùa, làm từ thiện… nhưng nghĩ lại làm vậy là xúc phạm đời tư của nó, nên thôi.

Ước gì biết vẽ, tôi sẽ vẽ lại những tấm hình đó, theo cách không thấy mặt thật của Bé Trang.

Bé Trang làm nghề này năm 19 tuổi, bỏ nghề lấy chồng năm 31 tuổi.

Mười hai năm bán thân kiếm sống, nhưng tâm hồn Bé Trang luôn hướng thiện.

Nó thường mặc trang phục màu trắng, kín đáo. Chị Bé Tư có câu bình phẩm: gái nhà lành thích diện đồ kiểu đĩ, gái mần đĩ ưa mặc đồ gái lành.


Tôi ghé nhà nó trọ, thấy ở bức vách phía chân giường ngủ của nó có dán một bức tranh lớn vẽ hoa sen trắng. Tôi góp ý: hoa sen tượng trưng cho sự thuần khiết, em không nên treo chỗ giường ngủ. Bé Trang nói: dạ, em treo ở đây để nhắc nhở em ở dưới bùn nhưng không cho dơ bẩn tâm hồn.

Bé Trang đâu có được học nhiều, chỉ đến nửa năm lớp Chín rồi nghỉ. Vậy mà nó đã ngoi lên khỏi cuộc sống dưới đáy nhân gian đầy cám dỗ, bằng thiên tánh thiện lương của một người phụ nữ chơn chất.

Nửa đời hoen ố của Bé Trang là một ý thơ kỳ diệu mà tôi không đủ khả năng diễn đạt.

Bé Trang đi được cỡ chừng 5 tháng, con Ngọc mới đến cái quán cà-phê này, tôi có kể ở tuỳ bút 9.

Ở nơi đây, làm gái mà có 3 năm đại học như Ngọc thiệt là hiếm thấy.

Tất cả làm gái đều vì kiếm tiền. Chỉ riêng Ngọc, đó là sự trốn chạy khỏi cái căn nhà tráng lệ nhưng không là mái ấm.

Cái biệt thự của ba Ngọc đương nhiên che được mưa, nắng; nhưng không phải là nơi tránh được giông bão của phù hoa hư ảo phủ lên tham dục của ba má nó.

Cũng hơn 5 tháng rồi, Ngọc được sự đùm bọc của bầy con gái sống dưới đáy nhân phẩm.

Tôi thấy đám trẻ có học theo con Ngọc nhiều điều tốt; như cách ăn mặc, trang điểm lịch lãm không thô kệch, cách nói năng điềm đạm giảm bớt dung tục.


Ngọc lại được học ở đám gái bài học lớn hơn; bài học thực tế của cuộc đời, bài học nhân quần.

Nghe kể về Bé Trang, Ngọc khen: chị ấy giỏi hơn em. Từ con số âm chị đã tìm được hạnh phúc, an lành như mơ ước.

Tôi nói: đường về của em dễ hơn Bé Trang mà, dù gì thì tiền, vật chất vẫn rất cần thiết trong cuộc sống. Chị Bé Tư bày cách cho nó: ba em đi tù rồi nhưng nhà em không bị lấy. Má đã đi theo người khác, em được quyền ở cái biệt thự đó. Em nên cho mướn, hàng tháng có số tiền lớn, em dùng tiền này mướn chung cư ở và sinh sống cũng dư.

Chị Bé Tư nói thêm: mấy đứa ở đây còn bám cái nghề này cần tiền, muốn thoát ra mà đâu được; trừ con Bé Trang, mà cũng mất đến mười hai năm.

Tôi suy nghĩ bâng quơ: mấy quan chức tham lợi danh như ba con Ngọc bị đúng rồi. Nhưng cha, mẹ đi tù, gia đình ly tán; con bị cú sốc quá đột ngột rất dễ đi vào tuyệt lộ của đường đời.

Báo chí vừa có tin đứa con gái chết khô -trên ghế sopha-ở căn hộ chung cư, trong hai năm trời mà không ai biết.

Cảm giác lạc lõng, lẻ loi còn đáng sợ hơn bị tù đày. Trong cô đơn, tuyệt vọng, bế tắc kéo dài nhiều em đã tìm đến cái chết hay ma tuý.

Tôi đoán con Ngọc cũng sắp từ biệt chúng tôi để trở về nhà. Nó đã thoát ra được cảm giác đơn độc giữa loài người.

Sự trở về thường khó hơn sự ra đi. Tôi mong Ngọc sẽ trở về mà không quay lại kiếm sống ở nơi này.


 

Có bạn đọc nhắc tôi sao lâu rồi không viết chuyện của mấy đứa con gái hành nghề ca-ve trong quán cà- phê của tôi.

Viết như bài này thật không lôi cuốn, không có tình tiết gây cấn hấp dẫn người đọc.

Tôi mong sao cho ngày tháng trôi qua với nhiều nghiệt ngã thường xuyên, đã trở thành quen thuộc, mà lũ nhỏ chịu đựng được.

Thật là nhẫn tâm khi tôi muốn có những bất hạnh phũ phàng đến với chúng nó để tôi thêu dệt nên những câu chuyện hấp dẫn.

Ước đời này êm đềm, bình lặng để tôi ngưng viết.






DƯỚI ĐÁY NHÂN GIAN tranh Lytan Man

MƯỜI BẢY

Chị Bé Tư đến quán lúc xẩm tối. Chị ôm một vật gì lớn, vội vã, bí ẩn vào phòng trong. Mấy đứa làm gái tò mò chạy theo.

Chị ra dấu giữ yên lặng, cẩn thận mở lớp mền phủ. Trong đó là một đứa bé chừng ba tháng tuổi.

Lúc này chị mới lộ vẻ mừng, hớn hở nói: tao có con rồi.

Đám gái gọi không quá ngạc nhiên. Chúng biết là chị kiếm được con nuôi. Chúng đã biết chị ao ước có một đứa con.

Con Linh hỏi: đâu ra vậy má?

Chị Bé Tư nhỏ giọng, kể: Số là lúc xế, tao vừa xong mối ở Kim Ngân ra thì thấy có đông người nhốn nháo ở bên hông nhà nghỉ.

Họ vây kín một đứa con gái nói nó bắt cóc con nít. Con nhỏ co rúm người che đứa bé, phân bua: tui không bắt cóc, nó là con của tui.

Rồi nó vạch đùi bé cho mọi người xem. Trên đó có xăm dòng chữ lớn "Má Là Ng Thị Lăng". Nó đưa căn cước ra giải thích: tui là Nguyễn thị Lăng, má của nó, tui không phải là mẹ mìn.

Một người, có lẽ thích người khác có tội, ác ý nói: má con gì thứ như mày, đem con đi bán để ăn chơi chớ gì.

Con nhỏ Lăng cãi: tui không bán con, tui chỉ cho.

Đám đông có vẻ bớt hung hăng, yên lặng nghe nó nói tiếp:

Tui xăm tên tui lên đùi đứa con để lớn lên, còn sống, nó biết má nó là ai. Nếu trời thương, tui còn gặp lại nó.

Tụi tui ở miệt quê, lên đây mần mướn, tạm kiếm ăn qua ngày. Đẻ được hơn tháng thì ba phải chạy thận. Nuôi nó, tiền đâu chữa bịnh cho chồng. Cho nó, tui còn có thời gian kiếm tiền lo cho ba nó. Chị Bé Tư kể tiếp: nghe đến đây, tao liền ôm đứa nhỏ, móc hết số tiền tao hốt quê hôm qua tiền vừa đi khách đưa cho nó.

Con nhỏ Lăng quẹt nước mắt nhận tiền của tao. Nhiều người nãy giờ hung hăng cũng cho nó tiền.

Nó ôm đứa bé hun thật lâu, nói: con cho nó là đứt ruột, cháy gan, mà giữ nó thì chồng con chết, cả nhà cũng chết mòn. Xong, nó dứt khoát đưa bé cho tao rồi lảo đảo đi.

Tao cũng quên cho nó số điện thoại để nó gặp tao, lấy thêm tiền. Nghĩ lại, tao đưa nó ít quá.

Con Sáu Lam xin xỏ: má Tư cho đứa nhỏ làm con chung của cả đám nghen.

Sáu Lam ôm đứa nhỏ mà nhớ con nó ở quê. Đã gần hai năm rồi chưa gặp con của nó. Lúc Sáu Lam đi làm gái con nó cũng cỡ bằng đứa nhỏ này.

Con Liên nói: mần nghề này không được quyền có con do mình đẻ ra. Trừ khi có con từ trước. Thằng khùng nào mà chịu cho vợ làm đĩ.

Con Diệu lý sự: ờ hén, con heo, con chó đều được có bầu, có con. Mà con người như tụi mình thì không được. Giả dụ như không cần thằng chồng, chỉ muốn có con mang giọt máu của mình cũng đâu có được. Mang bầu, có chửa, nuôi con thì làm sao đi khách kiếm tiền?

Chị Bé Tư nói: tụi mình không có con được đâu mà hòng. Bị ông Trời phạt. Con Sáu Lam vậy mà có phước, có đứa con trước rồi mới vào nghề.

Lúc tao ba mươi tuổi, làm đĩ hơn mười năm mà vẫn còn mướt rượt. Có thằng kia thiệt lòng thương tao, cưới làm vợ, đám cưới đầy đủ. Tao thoát cái nghề này.

Ở với nhau hai năm mà vẫn không đẻ đái gì. Đi Từ Dũ khám, bác sĩ chốt hạ là tao không thể có bầu được. Họ nói tao rối loạn đó, đường sinh dục biến dạng gì gì đó.

Không hiểu chữ nghĩa bác sĩ nói, nhưng tao tự biết. Mấy đứa mày ngẫm nghĩ coi: đàn bà người ta một hay nhiều ngày mới quất một cái; còn tụi mình thì như tao nè, lúc trẻ ngày đắt khách bảy, tám phát, ngày ế cũng hai ba phát. Chủ Nhật, ngày lễ mần gấp hai gấp ba ngày thường. Bịnh, khách gọi cũng ngóc đầu lên ứng chiến. Tiền mà, ai không ham.

Năm, mười năm như vậy thử hỏi cái chỗ sinh con của tụi mình nó còn thể thống gì nữa mà có bầu hở trời!

Cả bọn đồng thanh cười ha ha vì chị Bé Tư nói thật mà quá tục tĩu.

Chị Bé Tư kể tiếp: không có con được nên thằng chồng nó bỏ tao, đi tìm vợ khác để kiếm con. Tao cũng không trách nó, do mình làm đĩ lâu năm, trời phạt không cho có con. Không phải thằng chồng đó ở ác.

chồng không xong, tao quay lại đành chịu nghiệp chướng kiếm sống đến nay.

Con Linh Trề thổ lộ: tui mần nghề tám năm, mà mất kinh hai năm rồi. Tui cũng có đi khám bác sĩ, uống thuốc mấy tháng trời, éo xi nhê. Tui bỏ luôn, không chữa trị nữa.

Mà nè, cái dụ này có cái lợi là hàng tháng mình khỏi nghỉ mấy ngày vì chuyện đó.

Ù má! Có nhiều thằng khách xài thứ bao cao su quái gở, đau bỏ bú luôn đó. Bộ đồ lòng của tụi mình sẹo sần sùi, như xác chết khô, như đá, như gỗ. Sao mà mang bầu được.

Con Linh nói cũng thô tục mà cả bọn không cười được. Chúng yên lặng nhìn nhau. Nghẹn ngào. Có đứa rưng rưng nước mắt.

Chị Bé Tư đưa đứa nhỏ cho con Linh nói: lo làm gì tụi mày. Chỉ cần còn sống, không bịnh, mướt mát để kiếm tiền. Không đẻ được thì khỏi lấy chồng luôn, xin con nuôi như tao nè.

Con Linh vạch tã ra nhìn kỹ, trề môi nhận định: á đù! Sao bà xin con gái. Để nó tiếp tục hành nghề đĩ gia truyền sao?

Cả bọn lại rộ lên cười.

Chị Bé Tư giảng bài học của đời: con gái, nó còn nấu được miếng cháo cho tao ăn lúc già yếu. Đ. m con trai mười thằng, tao thấy hết chín ăn chơi sa đoạ, gụ chè, cá độ, đua xe, hút sách, gái gú.


Nói bậy chớ nuôi con gái, nó không thành hoa khôi, người mẫu được thì làm gái bao, gái gọi cũng kiếm được tiền lo cho tao lúc hết xí quách, không mần ăn được nữa.

Con Yến xía vào, lập lại ý con Linh Trề: vậy là chị Linh đoán y chang, má Tư muốn có đệ tử chân truyền nghề làm đĩ.

Cả bọn cười rân như đám gái nhà lành đang nói chuyện tục.

 

Nhìn bầy con gái vui đùa với đứa nhỏ con nuôi, tôi muốn khóc. Mà nước mắt không trào ra được. Quá lâu rồi tôi không khóc được ra tiếng.

Ước chi tôi khóc được, khóc thật lâu, thật to, chảy thật nhiều nước mắt, có thể sẽ nhẹ lòng hơn.

Đám gái gọi, ngay cả quyền sinh con như những sinh vật khác còn không có, nói chi cao xa đến quyền làm người.

Vậy đó, đời gái gọi với nhiều điều bất trắc luôn xảy ra hàng ngày.

Những nghiệt ngã lâu dài quen dần, trở thành bình thường.

Đám con gái như thản nhiên sống, không tuyệt vọng, vẫn có niềm vui, vẫn có mơ ước.

lẽ, đời nhiều người cũng như vậy thôi mà.