VÌ SAO NƯỚC NGA KHÔNG CÓ HỌA SỸ VĨ ĐẠI?
_%D0%92%D1%81%D1%82%D1%80%D0%B5%D1%87%D0%B0_%D0%B8%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D1%8B.jpg)
Konstantin Savitsky, Đón tranh thánh (1878),
sơn dầu trên canvas, 141 x 228 cm, Bảo tàng Tretyakov
Nguyễn Đình Đăng tổng hợp, dịch và bình luận
VÌ SAO NƯỚC NGA KHÔNG CÓ HỌA SỸ VĨ ĐẠI?
_%D0%92%D1%81%D1%82%D1%80%D0%B5%D1%87%D0%B0_%D0%B8%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D1%8B.jpg)
Konstantin Savitsky, Đón tranh thánh (1878),
sơn dầu trên canvas, 141 x 228 cm, Bảo tàng Tretyakov
Nguyễn Đình Đăng tổng hợp, dịch và bình luận
CHI TIẾT DANH SĨ | KHUẤT NGUYÊN 
Giữa thời Chiến Quốc loạn thế, nơi các chư hầu tranh hùng, Khuất Nguyên đứng giữa triều Sở như một tiếng nói cô độc nhưng kiên định. Ông lấy chí hướng thanh liêm làm gốc, dùng thi ca làm vũ khí, viết nên những áng văn chất chứa trung nghĩa và nỗi bi phẫn của bậc sĩ phu 
Từng được Sở Hoài Vương trọng dụng, ông dốc lòng phụng sự quốc gia, nhưng bởi kiên quyết phản đối liên minh với Tần mà bị xa lánh, đẩy dần ra khỏi triều chính. Khi Dĩnh Đô thất thủ, nước Sở suy vong, bi kịch thời đại dồn nén đến cực điểm. Giữa tuyệt vọng và phẫn uất, Khuất Nguyên chọn cách kết thúc đời mình nơi dòng Mịch La, để lại một biểu tượng bất diệt của trung liệt và thanh danh ngàn thu.
Từ những vần thơ đau đáu đến cái kết bi tráng giữa dòng nước lạnh, Khuất Nguyên không chỉ là một con người, mà là tiếng vọng của khí tiết và lý tưởng không bao giờ bị dập tắt.
Liệu Sứ Quân có sẵn sàng lắng nghe tiếng thơ từ dòng Mịch La, nơi một linh hồn trung nghĩa vẫn còn ngân vang giữa Vong Xuyên vạn cổ?| Thái Văn Cơ (177-249) |
Thái Văn Cơ, tên thật là Thái Diễm hay còn đọc là Sái Diễm, tự Chiêu Cơ, là một trong những nữ văn nhân đầu tiên và là nữ thi nhân duy nhất trong những văn sĩ trứ danh thời Kiến An của Trung Quốc. Bà quê ở Trần Lưu, tỉnh Hà Nam, Việt Châu.
Bà là con gái của đại thi hào Thái Ung, một nhà sử học nổi tiếng tài hoa và cực kỳ uyên bác. Thái Văn Cơ học theo cha nên từ nhỏ đã giỏi văn thơ và thông thạo âm luật.
Năm 16 tuổi, bà lấy chồng là Vệ Trọng Đạo, một danh sĩ khá nổi thuộc một tộc lớn ở Hà Đông, nhưng chẳng được bao lâu thì chồng bà qua đời. Nhà chồng cho là bà khắc mệnh, lại chưa có con nên đuổi về nhà mẹ đẻ.
Tới thời loạn lạc Hưng Bình, bà bị quân Đổng Trác bắt đi, rồi sau biến cố Lý Thôi, Quách Dĩ chiếm cung đình, bà lưu lạc sang đất Hung Nô và bị nạp làm thiếp của Tả Hiền Vương. Bà sống ở đó 12 năm và có 2 người con.
Sau này, Tào Tháo vì là bạn thân với cha của bà nên thương thay số phận bà, mà đem vàng bạc châu báu sang chuộc bà về lại. Giai thoại Thái Văn Cơ dứt ruột từ con mà trở về quê tổ được gọi là “Văn Cơ quy Hán” là một giai thoại nổi tiếng được lưu truyền đến ngày nay.
Bà được Tào Tháo mai mối cho tái giá với người cùng quận là Đổng Tự, nhưng sau đó, Đổng Tự làm quan bị tội, bị khép tội chết, Thái Văn Cơ đã đích thân đi tìm Tào Tháo xin cầu tình. Nhờ tài hùng biện của mình, bà đã khiến Tào Tháo đặc xá cho Đổng Tự.
Vì mang ơn Tào Tháo, nên bà đã giúp ghi lại một phần mười số sách mà cha bà đã sưu tầm rồi trao lại cho bà, số đó sấp sỉ 400 thiên sách đều do tự tay bà nhớ lại và chép, không một chút sai lầm.
| Tào Tháo (155-220) |
| Vương Duy (699-761) |
| Đỗ Phủ (712-770) |
| Lý Bach (701-762) |
| Lưu Vũ Tích (772-842) |
| Lý Hạ (790-816) |
| Lý Thanh Chiếu (1084-1155) |
| Tân Khí Tật (1140-1207) |
Tiểu thuyết Kim Bình Mai
Bùi Thụy Đào Nguyên
Kim Bình Mai (金瓶梅),
tên đầy đủ là Kim Bình Mai từ thoại (Truyện kể có xen thi từ về Kim Bình Mai);
là bộ tiểu thuyết dài gồm 100 hồi [1] của Trung Quốc.
Đây là “bộ truyện dài đầu
tiên do mà cốt truyện hoàn toàn là hư cấu sáng tạo của một cá nhân”. Trước đó,
các truyện kể đều dựa ít nhiều ít nhiều vào sử sách hoặc truyện kể dân gian, và
đều là sự chắp nối công công sức của nhiều người.
Tên truyện do tên ba nhân vật
nữ là Phan Kim Liên, Lý Bình Nhi và Bàng Xuân Mai mà thành.
Theo một số nhà nghiên cứu văn học, thì tác giả là một người ở Sơn Đông không
rõ họ tên, có bút hiệu là Tiếu Tiếu Sinh (có nghĩa là “Ông thầy cười”) [2].
Có thể nói trong các tiểu
thuyết viết về “nhân tình thế thái” (nói gọn là “thế tình”, tức “tình đời”) ở
Trung Quốc, thì đây là truyện có tiếng nhất, đã khiến cho nhiều người bàn luận.
1. Vài nét về bộ truyện.
Theo bài tựa của Hân Hân Tử ở
trong sách “Kim Bình Mai từ thoại”, thì tác giả là Lan Lăng Tiếu Tiếu sinh (có
nghĩa là “Ông thầy cười” ở Lan Lăng) hay nói gọn là Tiếu Tiếu Sinh. Song đây chỉ
là bút hiệu, còn tên thật của tác giả là gì thì có nhiều lời đồn đoán, như đó
có thể là Hân Hân Tử, là Vương Thế Trinh, hoặc là: Lý Khai Tiên, Triệu Nam
Tinh, Tiết Ứng Kỳ, … nhưng tất cả đều không đủ chứng cứ để chắc chắn.
Vì vậy, trong cuốn Vạn Lịch
dã hoạch biên, Thẩm Đức Phù chỉ nói tác giả là một “đại danh sĩ” thời Gia Tĩnh
(niên hiệu vua Minh Thế Tông từ 1522 đến 1566). Ý kiến này có thể xác đáng, vì
thời gian sáng tác và thời gian sống của tác giả khá ăn khớp nhau.
Tuy chưa thể quả quyết,
nhưng qua tác phẩm có thể thấy, tác giả dùng tiếng địa phương Sơn Đông rất
thành thạo, và Lan Lăng chính là tên cũ của huyện Dịch thuộc tỉnh Sơn Đông; vậy
rất có thể tác giả là người Sơn Đông, và từng sống ở Bắc Kinh, vì trong tác phẩm
hầu như đều lấy nơi đây làm bối cảnh. Kim Bình Mai có lẽ viết xong vào khoảng từ
năm Long Khánh thứ 2 (niên hiệu của vua Minh Mục Tông) đến năm Vạn Lịch thứ 30
(niên hiệu của vua Minh Thần Tông), tức từ 1568 đến 1602, nhưng phải 8 năm sau
(1610) tác phẩm mới được khắc in, vì bị ghép vào loại “dâm thư”.
Theo nhà văn Lỗ Tấn, ban đầu
chỉ có bản chép tay. Sau, Viên Hoằng Đạo có thấy được vài hồi, bèn đem ghép với
Thủy Hử truyện, và gọi là Ngoại điển. Đến năm 1610, tác phẩm mới được khắc in ở
Ngộ Trung. Nhưng vì hồi 53 đến hồi 57 đã khuyết mất, nên có người (không rõ là
ai) đã phải viết bổ sung. Những bản Kim Bình Mai hiện còn chia làm hai loại:
- Một là Kim Bình Mai từ thoại.
Đầu quyển có bài tựa của Long Châu Khánh, là người đất Đông Ngô, viết năm Vạn Lịch
thứ 15 (1617) đời nhà Minh.
- Hai là Nguyên bản Kim Bình
Mai, viết vào khoảng những năm Thiên Khải đời nhà Minh (Niên hiệu của Minh Hy
Tông, từ 1621 đến 1257). Sự khác nhau chủ yếu của chúng thể hiện ở chỗ nửa đầu
của hồi thứ nhất, hồi thứ 53 và hồi thứ 54 là hoàn toàn khác nhau về lối hành
văn, thí dụ như ở loại 1 phần lớn là từ, thì ở loại 2 phần lớn lại là thơ….
2. Nội dung sơ lược.
Tác phẩm Kim Bình Mai vốn được
phát triển từ một số tình tiết trong tác phẩm Thủy Hử (từ hồi 23 đến hồi 26) của
Thi Nại Am.
Nội dung truyện chủ yếu mô tả
cuộc đời nhiều tội ác và trụy lạc của nhân vật Tây Môn Khánh, hiệu: Tứ Truyền,
là người Thanh Hà, vốn là chủ một hiệu thuốc nhưng không ưa đọc sách, chỉ giỏi chơi
bời phóng đãng, lại kết bạn với một bọn du côn đàng điếm.
Ông này đã có một vợ chính
và ba người thiếp, nhưng thấy Phan Kim Liên có nhan sắc, ông liền lập mưu giết
chết chồng nàng là Võ Đại (trong Thủy Hử truyện ghi là Võ Đại Lang), rồi cưới
nàng làm thiếp. Võ Tòng (em trai Võ Đại) báo thù, giết lầm người khác nên Tây
Môn Khánh vẫn không can gì…
Sau đó, Tây Môn Khánh còn
mua Lý Bình Nhi về làm vợ lẽ, và gian dâm với người hầu gái của Phan Kim Liên
là Bàng Xuân Mai. Nhờ thông đồng với quan lại, Tây Môn Khánh trở thành một cường
hào. Rồi nhờ nhận Thái Kinh (một trọng thần) làm cha nuôi, ông được bổ làm một
chức quan coi việc xử án trong huyện, nên tha hồ đổi trắng thay đen để ức hiếp
dân lành. Có tiền, có thế, ông ta lại càng ăn chơi phóng đãng, hoang dâm vô độ,
để rồi cuối cùng lâm bạo bệnh mà chết (hồi thứ 80).
Tiếp theo, Kim Liên và Xuân
Mai (lúc này không còn Lý Bình Nhi vì đã ốm chết ở hồi 63) lại thông dâm với
con rể của Môn Khánh là Trần Kinh Tế. Việc bị phát giác, cả hai đều bị đuổi khỏi
nhà. Võ Tòng tình cờ gặp Kim Liên ở nhà Vương bà bèn giết chết (hồi 87).
Phần Xuân Mai thì bán cho
viên quan họ Chu (Chu Tú), được ông này yêu lại có con nên được làm vợ cả. Gặp
lại Trần Kinh Tế, Xuân Mai giả gọi là em, tìm cách đưa vào nhà để thông dâm như
cũ.
Thế rồi quan họ Chu đi đánh
Tống Giang có công, được thăng quan, Kinh Tế cũng được thăng làm tham mưu, vì
có dự phần. Nhưng đến hồi 99, thì Kinh Tế bị đâm chết vì kết oán với Trương Thắng.
Đến khi quân Kim tràn vào lấn cướp, Chu Tú chết trận, Xuân Mai sau đó cũng chết
đột ngột vì dâm dục quá độ với người con chồng là Chu Nghĩa (hồi 100).
Gặp cảnh nước nhà loạn lạc,
vợ cả của Tây Môn Khánh là Nguyệt Nương dắt đứa con trai độc nhất của họ Tây
Môn là Hiếu Ca trốn chạy. Dọc đường,gặp một nhà sư cho biết Hiếu Ca chính là kiếp
sau của Tây Môn Khánh, phải xuất gia đầu Phật mới khỏi nạn. Nghe lời, Nguyệt
Nương bèn gửi con vào cửa Phật, sau trở thành nhà sư Minh Ngộ.
3. Một vài đánh giá.
Trong Kim Bình Mai, hiện thực
được phản ánh là bộ mặt thật của xã hội phong kiến thời Minh, từ sau Chính Đức
(1521) đến giữa Vạn Lịch (1570-1620). Tác giả muốn thông qua nhân vật điển hình
là Tây Môn Khánh để vạch trần sự xấu xa bỉ ổi của xã hội lúc bấy giờ một cách
khách quan, cụ thể và chi tiết.
Trong cuộc hội thảo quốc gia
về bộ truyện này ở Trung Quốc năm 1987,đã khẳng định giá trị phê phán và hiện
thực của tác phẩm và vị trí quan trọng của nó trong quá trình phát triển chủ
nghĩa hiện thực. Vì thế, nó đã được phép phát hành rộng rãi và dựng thành phim.
Theo Lời Tựa của một “Danh sĩ đời Minh” (và cũng là tác giả), viết vào mùa hạ
năm Gia Tĩnh thứ 37 (Mậu Ngọ, 1558) đề ở đầu bộ truyện, thì đây là một tác phẩm
mà các nhân vật đều tuân theo luật “báo ứng”, cốt để người đọc “sợ sệt mà tự
răn mình, đồng thời tự di dưỡng tâm tính”.
Vì thế, theo GS. Lương Duy
Thứ, tác giả đã đưa người đọc đến một kết luận rằng: cuộc đời chỉ là sự minh họa
cho chân lý nhà Phật “sắc không, không sắc”,và rốt cuộc giải pháp cũng chỉ có thể
là con đường “Minh ngộ” (có nghĩa hiểu được chân lý của sự giác ngộ) mà thôi.
Và cũng theo giáo sư, trong lịch sử văn học Trung Quốc “phải đợi đến Kim Bình
Mai mới xuất hiện một kiểu nhân vật thoát ly hẳn lịch sử, và có sự đa dạng
trong tính cách, không còn ‘trắng đen minh bạch’ như trước kia.
Song, cũng vì hướng nhân vật
theo luật ‘quả báo’, nên tính cách nhân vật thay đổi có phần gượng ép, thí dụ
như Lý Bình Nhi trước kia hung ác hiểm độc, sau lại hiền lành nhu nhược; Phan
Kim Liên trước kia kín đáo để ranh ma, sau lại đứng đắn tử tế”…[tr. 752].
Về mặt nghệ thuật, tác giả
đã sáng tạo được một số nhân vật rất điển hình (Tây Môn Khánh, Phan Kim Liên,
Bàng Xuân Mai,…), đồng thời có tài làm cho các tính cách nhân vật khác nhau khá
rõ. Một điểm đáng chú ý nữa, đó là người viết đã vượt qua nhiều khuyết điểm của
loại chuyện chương hồi khác; có nghĩa là tác giả người “viết chuyện” chứ không
phải là người “thuật chuyện”, vì thế những sự việc tiếp diễn đều do nhân vật tự
bộc lộ. Riêng phần phong cách ngôn ngữ trong truyện, nhìn chung là trong sáng,
dí dỏm và trau chuốt.
4. Giai thoại.
Tương truyền thân phụ của
Vương Thế Trinh (một trong số người từng được coi là tác giả của Kim Bình Mai),
là Vương Dư bị Nghiêm Tung ám hại. Lúc bấy giờ uy thế của Nghiêm Thế Phồn (con
trai độc nhất của Nghiêm Tung) rất mạnh nên Vương Thế Trinh không làm gì được.
Biết Nghiêm Thế Phồn là người rất thích đọc truyện khiêu dâm, Vương Thế Trinh
bèn viết ra bộ Kim Bình Mai rồi tìm cách đưa đến. Ở mỗi góc tờ sách đều có tẩm
thuốc độc, để khi Nghiêm Thế Phồn lấy tay thấm vào môi lật sách thì sẽ bị ngộ độc
mà chết… Vì thế, mới có người [3] đem câu truyện trên (được gọi là “Khổ hiếu
thuyết”) đặt lên đầu bộ truyện Kim Bình Mai. Song theo Nguyễn Huy Khánh, đây chẳng
qua là một câu chuyện truyền khẩu không căn cứ. Có thể vì thấy chuyện dâm ô
quá, sợ mất tiếng Vương Thế Trinh, nên mới bày thêm chuyện “Khổ hiếu thuyết” để
biện giải cho họ Vương [tr. 181].
5. Thông tin liên quan.
Kế tục Kim Bình Mai, thời Vạn
Lịch (1570-1620) lại có chuyện tên là Ngọc Kiều Lý, nghe nói cũng là do tác giả
Tiếu Tiếu Sinh viết, nhưng nay đã thất truyền. Đại để, sách này cũng như sách
trước (chỉ Kim Bình Mai), thảy đều đặt ra chuyện nhân quả báo ứng. Võ Đại kiếp
sau hóa làm dâm phu, Tây Môn Khánh thì làm người đàn ông si ngốc, v.v… Ngoài ra
còn có Tục Kim Bình mai gồm 64 hồi, do Đinh Diệu Cang, người Sơn Đông biên soạn,
làm xong khoảng đầu đời Thanh… So với Kim Bình Mai, tuy cũng thuộc loại “nhân
tình thế thái”, nhưng nội dung cả hai bộ đều kém xa.
Chú thích.
1. Bản dịch Kim Bình Mai
(không đề tên người dịch) do nhà xuất bản Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành gồm
4 quyển, tổng cộng dài trên 1.900 trang khổ 13cm x 19cm.
2. Như một số tác giả khác, ở
đây Tiếu Tiếu Sinh cũng không cho biết tên thật, là vì ngày xưa người ta coi trọng
thơ, từ, phú hơn là truyện, tiểu thuyết.
3. Theo Lỗ Tấn thì người đó
là Trương Thúc Pha, người Bành Thành, viết Khổ hiếu thuyết vào đời Khang Hy
(tr. 232).
Sách tham khảo:
- Tiếu Tiếu sinh, Kim Bình
Mai (trọn bộ 4 tập). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1989.
- Lỗ Tấn, Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc (Lương Duy Tâm dịch). Nhà xuất
bản Văn hóa, 1996.
- Sở nghiên cứu văn học thuộc
Viện Khoa học xã hội Trung Quốcbiên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 3), Bản
dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm1993.
-Lương Duy Thứ, mục từ “Kim Bình Mai” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất
bản Thế giới, 2004.
- Nguyễn Huy Khánh, Khảo luận
tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa. Nhà xuất bản Văn học, 199

Georg Hainz
Tĩnh vật với cốc bia và hạt - 1645
sơn dầu trên canvas dán lên ván ép - 41.5 x 39 cm
Nationalmuseum, Stockholm
MUSCA DEPICTA
Nguyễn Đình Đăng