Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

Về “sến” của Phạm Thị Hoài

 

Về “sến”, nhân dịp ra mắt bản điện tử của Marie Sến trên Amazon Kindle

Th3 5, 2021

Phạm Thị Hoài

Hiếm có từ nào trong tiếng Việt mà nguồn gốc thiếu chắc chắn, ta Tây Tàu hỗn loạn, nhưng lại gợi nhiều liên tưởng và hợp với tính cách Việt như sến. Là người Việt thì phải sến súa. Đó là ý tưởng kích thích tôi viết cuốn tiểu thuyết này.

Có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của cái tên Marie Sến:

Con sen

Con sen chỉ người hầu gái ở các gia đình khá giả, thường ở thành thị trong xã hội Việt Nam khoảng từ đầu thế kỷ hai mươi. Có thuyết cho đó là vế nữ của thằng quýt, chỉ hạng dân đen vô danh (Quýt làm Cam chịu) đã tồn tại từ lâu trong tiếng Việt, tuy lại có thuyết cho rằng thằng quýt chính là quất nô (橘奴), từ tích Lý Hoàng trồng ngàn gốc cam quýt trong sách Tương dương ký, được nhắc tới trong Tam quốc chí. Còn sen trong con sen, có thuyết cho đó là dạng Việt hóa của tiếng Pháp servante, con hầu, khác với con ở trong xã hội Việt Nam trước thời thuộc Pháp. Dù xuất phát từ đâu, thằng quýt con sen chỉ tôi tớ nô bộc, tức hạng tiện dân, thấp kém về mọi phương diện. 

Nếu sến bắt nguồn từ sen trong con sen thì vì sao sến hiếm khi xuất hiện ở miền Bắc trước 1975? Vì tầng lớp con hầu người ở đã biến mất trong xã hội mới, với một giới lãnh đạo tự định nghĩa là công bộc, đầy tớ của nhân dân? (Thời hậu xã hội chủ nghĩa, con sen nay đã thành con sin, Việt hóa của ô-sin, người giúp việc, theo bộ phim truyền hình Nhật Oshin.)

Mari Phông-tên

Con sen theo người Bắc 54 di cư vào miền Nam vốn chuộng một từ khác: ở đợ. Họ và những phụ nữ quê mùa nghèo khó khác ở thành phố thường đến máy nước công cộng (fontaine) giặt giũ, rửa ráy, vừa sinh hoạt vừa hò hát những điệu bình dân mùi mẫn. Báo chí gọi đùa họ cho sang là những Mari đờ la Phông-tên.

Maria Schell

Có thuyết cho rằng Marie Sến là tên Việt hóa của Maria Schell, diễn viên đóng vai nàng Grushenka trong phim Anh em nhà Karamazov theo tiểu thuyết cùng tên của Dostoevsky, được chiếu đầu những năm 60 ở các đô thị miền Nam. Maria Schell lẳng lơ, quyến rũ, rên rỉ, quằn quại, bốc lửa trong phim Hollywood lâm ly nhanh chóng kéo theo một làn sóng Marie Sến ngoài đời.

Sentimental

Có thuyết cho rằng sến là dạng Việt hóa ngắn gọn của sentimental, đa sầu đa cảm, tâm hồn diết da trái tim chảy nước.

Đàn sến

Nguyên là tần cầm (秦琴), từ bính âm qín, đọc là shin, chuyển thành sến, đàn sến là một nhạc cụ của miền Nam, cho các hình thức âm nhạc cổ truyền đặc trưng của miền Nam như cải lương, vọng cổ, đờn ca tài tử, nhưng lại cũng thích hợp với phong trào tân nhạc Bolero, rồi gắn liền với nhạc tân cổ giao duyên làm mưa làm gió ở miền Nam trước 1975. Dòng nhạc đó thích hợp với gu bình dân đa cảm, là si-rô cho đám đông, dĩ nhiên cũng được các con sen ưa chuộng. Tùy liên tưởng mà từ đó sến có thể gợi thêm những ấn tượng khác: thiết tha, não nề, nỉ non, than thở, cải lương, lãng mạn, đồng bóng, đua đòi, rẻ tiền, hời hợt, phô phang, rởm…

Tôi đã tìm cách dựng nên một Marie Sến từ chỗ không biết gì chính xác về Marie Sến. Vậy Marie Sến của tôi là một phỏng đoán nữa về sến, để thêm một nét có thể nữa vào chân dung người Việt.

Marie Sến được Thanh Văn ấn hành lần đầu năm 1996 tại California, chưa bao giờ được xuất bản tại Việt Nam và từ hôm nay được xuất bản điện tử trên Amazon Kindle.

5/3/2021


Marie Sến, Phạm Thị Hoài

 Thụy Khuê

     Phải thưa ngay với bạn đọc lạc quan hải ngoại rằng: Nếu ai bắt được Marie Sến, chớ vội hồ hỡi, chào mừng rằng đây "đích thực" là "văn chương hải ngoại", là tác phẩm chống cộng, "lột trần" đời sống xã hội cộng sản không thương tiếc, còn "chúng ta" (tại ngoại) vô can.

     Và đối với bạn đọc bi quan trong nước, chưa có dịp đọc Marie Sến, mặc dù sách đã do Thanh Văn xuất bản tại Mỹ từ năm 1996, cũng không nên buồn, rồi các bạn sẽ được đọc và biết đâu các bạn sẽ chẳng hết mình lên án Marie Sến "bôi nhọ tổ tiên", "phỉ báng thánh hiền", "mạ lỵ dân tộc".

     Xin mách rằng: Marie Sến trật rầy quốc cộng, Marie Sến chừng như cũng "không có tham vọng" nói xấu lèm bèm vụng về thô thiển bất cứ ai, bất cứ cá nhân hay thành phần xã hội nào. Sến chỉ quên không viết mào đầu: Nếu có giống một "mẫu hình thời đại" nào đó là "ngoài ý muốn của tác giả" như người ta vẫn có lệ ghi như vậy ở trang đầu những tiểu thuyết thời danh.

      Marie Sến là một tác phẩm quậy. Nó khuấy đục những môi trường giả đò trong, lập nghiêm đạo đức, bằng ngôn ngữ "cách tân" rất mốt, thứ ngôn ngữ sống động, lai căng; với chủ đích điều tra sự thực về những cơn sốt Sến thời đại, trong lòng những hữu thể Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước, quốc cũng như cộng ở thời này.

*

     Sến là "phăng-tát" dân tộc (nói một cách bác học, Sến mang tính ảo đăng) không phân biệt tả khuynh, hữu khuynh, mới cũ, hiện đại hay truyền thống. Sến là Sến tú cua.

     Marie Sến là một ẩn số, một ẩn ức, một sếch-áp-pin, một thực tại "phi lịch sử", cải lương, rởm, lai căng, một Tôn Ngộ Không Việt, hiện đại hóa, nữ hóa, ảo hóa, rất quậy.

     Sến (có vẻ) gốc gác đến từ phương Nam, muốn phá bĩnh sự ổn định môi trường phía Bắc. Sến là một thực thể đồi trụy, là nhọt ung thư và nó cũng là tình yêu, là tự do với bản chất mơ hồ và không tưởng: Sến là một tác phẩm văn học.

     Cơn sốt Sến bốc lên trong không khí giao lưu tưng bừng giữa cái đổi mới và cái phải đạo, cái tích cực và cái tiêu cực, cái kinh tế thị trường và cái xã hội chủ nghĩa, cái phản kháng và cái chính thống, cái Mỹ và cái Việt đề huề. Tóm lại, Sến, hầm bà làng như ngôn ngữ Việt Nam "hiện đại": Nó rổn rang, lổn nhổn, nó lai căng, nó nhăng nhít, nó lưỡi gỗ, nó siêu cường, nó a dua, nó bẻm, nó lém, nó tôm tép rẩy những: prô-tít, manh-xờ-lam, si đa, em xi-rô, đét xe, phó mát, mác, mác xờ (nghĩa là mác bằng tiếng Tây), ghế Việt Bắc, túi phong lưu, bản sắc dân tộc, hông đa 67, bây bi, gút bai, bách gia chi tử, hen nô, ai lớp iu, uy ét xì a, kit mi, đờ rim, giấc mộng mê ny...

*

     Marie Sến có một nhan sắc tròn trĩnh Thúy Vân. Ðặc điểm: Sến ăn hết mình, Sến chẳng sợ béo, Sến không sĩ diện hão. Sến có tâm hồn khêu gợi kiểu Emmanuelle (hay Linda mặt ngang?), được giải phóng tình dục sau cơn cách mạng toàn cầu me-xoát-xăng-tuýt (Mai 68). Sến có sự chất phác rất Thị Nở và một tính người rất Ngộ Không. Cả ngần ấy thứ "vận" vào Nguyễn Thị Sến, me (tây, ta) thời mở cửa, rất mốt, một thực thể yêu tự do, thích ái tình cải lương mùi mẫn, vào ra xuất quỷ nhập thần, đằng vân giá vũ như khỉ đá.

     Marie Sến có quan hệ "ninh tinh" với ít nhất ba thế hệ: Nằm trong sáu phạm trù cá nhân mà năm là viện sĩ chính cống và một suýt thành viện sĩ.

     Thế hệ già: Một viện sĩ trí thức, cách mạng Việt Bắc, rồi Nhân Văn, ba mươi năm đọa đầy.

     Thế hệ trung niên: Một viện sĩ nhà quê, ngày đánh răng ba bận, sản phẩm nông thôn trăm phần trăm. Một viện sĩ bác học, đi Tây (Tây Liên Xô) nghiện phó mát, lấy tiếng Mẽo làm chuẩn. Một viện sĩ nhà văn, đang ngồi viết truyện Marie Sến -có lẽ là tác giả trá hình- bạc nhược, lười biếng, dân Hà Thành chính hiệu.

     Và thế hệ thứ ba, choai choai, gồm hai cậu ấm, thằng Tân hoang tưởng, khinh bỉ tổ tiên, trầm mình trong những cuộc độc thoại hun hút dài những cô đơn tập thể, và những ký ức uất hận. Thằng Tân "ra đời khi ông Thân đã đi kéo xe bò ở trại cải tạo, nhưng ấm Tân làm như chính nó mới là kẻ lằn vai, chính nó vác trên lưng nỗi đau địa ngục của cả một thế hệ trí thức bị đầy ải"

(Marie Sến, nxb Thanh Văn, California 1996, trang 34)

     Cậu ấm thứ hai là thằng Ðủ. Thằng Ðủ, típ Răm Bô bản xứ, con đẻ của các cuộc luân dân điên rồ đẩy hàng trăm ngàn người Hà Nội đi nông thôn, miền núi, và cho dân miền núi, nông thôn về chiếm hộ khẩu Hà Nội. Thằng Ðủ, con của me ta Tứ Kỳ với Sở Khanh Hà Nội, lớn vụt, ngoại khổ, du côn, hậu Thánh Gióng, là khối thịnh nộ lừng lững nhất nước Nam. Bao nhiêu uất ức nó quất lên đầu thằng bố Sở Khanh:

 "Tao cưỡi lên đầu chúng mày, quân thành thị lưu manh, quân thành thị ton hót, quân thành thị hèn ươn thây, lười thối thịt. Ðứa nào đào ngũ? Thằng Hà Nội! Ðứa nào trốn việc? Thằng Hà Nội! Ðứa nào vào làng ăn trộm gà? Thằng Hà Nội! Ðứa nào làm hại đời con gái nhà người ta rồi gút bai? Thằng Hà Nội! Ðứa nào mua thủ trưởng? Thằng Hà Nội! Ðứa nào bán lựu đạn? Thằng Hà Nội! Ðứa nào say rượu, triết lý thối cả đêm? Thằng Hà Nội!" (trang 31)

     Ðấy chỉ mới là "chân dung" hai nhân vật điển hình cho thế giới trẻ "tương lai của đất nước", và đây là thế giới thượng lưu trí thức có nhiệm vụ lãnh đạo đời sống tinh thần của dân tộc: "Ông viện trưởng có thể tiếp khách trong quần pyjama phía dưới, áo len phía trên, mà không thấy gì bất tiện. Ông là một người Việt điển hình, nhặt nhạnh khắp nơi trên thế giới và sống chen chúc với những vật dụng tùy tiện của mình, nhà ông giống một cửa tiệm bán đồ lưu niệm đông tây kim cổ. (trang 41)

     "Trí thức chúng ta không đi ra ngoài để mang về những kiến thức trước sau cũng trở thành vô dụng" (trang 47)

*

     Marie Sến là cuộc phiêu lưu tìm sự thật trong lòng ngôn ngữ Việt. Một cuộc phiêu lưu bí mật. Sến là một nhân vật ảo, không thể sờ mó được. Sến, như lời tác giả, là một câu đố, giải được đoạn này thì đoạn kia càng bí hiểm hơn.

     Kẻ nào chiếm đoạt được Sến đều toi mạng. Thằng Tân chết trước, rồi đến thằng Ðủ, v.v... Sến như cái động thiên thai sâu thẳm, huyền bí và nguy hiểm, mà ngàn đời, những kẻ không biết sống không thể chiếm hữu được. Sến là tình yêu.

     Sến còn là Tác Phẩm mà bạn cầm trên tay, viết bằng thứ ngôn ngữ Sến, của một dân tộc Sến, trong một nhà nước Sến. Ai dám bảo Sến dở? Ai dám chê Sến quê mùa? Sến là "tiến trình đổi mới xuyên qua các thời đại từ Hán thuộc đến ngày nay". Sến lai căng. Sến chính là cái tính dân tộc mà Phạm Thị Hoài muốn khám phá, muốn khai quật. Sến là sự thật. Và kẻ nào mon men đến gần sự thật, muốn làm tình với sự thật, tất phải hóa kiếp, đổi hộ khẩu xuống âm ty.

*

     Marie Sến tung tăng đi lại trong môi trường viện sĩ chung cư hộp diêm méo mó, bốn hộ chung nhau một cầu thang, cùng câu cơm ở một viện và cùng yêu một người: Marie Sến. Sự chung đụng bắn tung ra tất cả mùi vị cá nhân, và mỗi cá nhân lại gánh cái mùi chung của thế hệ.

     "Áp phe Sến" bắt đầu chỉ là fantasme của xã hội trí thức, viện sĩ Hà Nội; rồi từ bốn hộ viện sĩ ấy, Sến xuất hành tứ tung vào xã hội: mỗi chi tiết trên một nhân vật, trong một hành động cá nhân hay tập thể đều có "tính Sến"; từ các hội nghị, di sản, đổi mới, nổi loạn, vợ chồng... đến tình dục, văn chương, dấn thân, phản kháng, dân chủ, đi nước ngoài, tất cả đều xà bần, hổ lốn, làm dối, làm giả, pha trộn nhau như hũ nước mắm mậu dịch Việt Nam thuần túy. Tác phẩm nhại cái tính cóp, "tính Sến" ấy, "tính dân tộc" ấy trong ngôn ngữ giai cấp, ngôn ngữ cá nhân. Và chính cái ngôn ngữ ấy xác định bản chất của cá nhân, của tập đoàn và của dân tộc:

 "Tôi xin mạo muội nhắc bạn đọc rằng trong giới hàn lâm, thỉnh thoảng lại dậy lên một phong trào dùng từ mới (...) Chẳng hạn tính nữ, khi tai chúng ta đã điếc dở vì nghe ù ù cạc cạc toàn những tính đảng, tính dân tộc, tính thời đại, tính chiến đấu, tính công khai, tính khách quan, tính giai cấp, tính phê bình, tính cảnh giác, tính nhân loại, tính xã hội, tính nhân dân, tính tập thể, tính kỷ luật, tính khái quát, tính phê phán... thì một từ thường như tính nữ bỗng vang lên như một cuộc cách mạng nhung, nó mở cửa ra một con đường chưa ai đi, nó gợi ra một cái gì cá nhân, riêng tư, thuộc về con người, mười năm trước người ta gọi chung đấy là tiểu tư sản. Bạn đọc có thể chắc chắn rằng học giả đầu tiên của chúng ta dám dùng tính nữ đã tự coi mình là một đại diện đáng kể của giới dissident. Ông ta có quyền khoe rằng thư tín của mình bị kiểm tra và dĩ nhiên vụ tổ chức của cơ quan sẽ phong tỏa mọi lời mời ông đi nước ngoài dự hội nghị." (trang 29)

     Và đây là thằng Ðủ, Răm bô bản xứ, hậu Thánh Gióng, con lai Hà Nội Tứ Kỳ, diễn thuyết dậy đời ở chợ người, đầu đường Giảng Võ:

 "Các người phải nàm việc nghiêm túc, nhưng một khi quân Hà Nội giở thói mất dậy, bóc nột người nhà quê chất phác, thì đái vào nồi nước phở, tương mùn cưa vào vữa xây tường, tung hê xích nô, bóp vú bọn con đĩ thị thành mắt xanh mỏ đỏ, cứ nhằm những con Ðờ Rim Giấc Mộng Mê Ny mà chém, nếu cần thì cho tuốt một mồi nửa nà xong. Tội vạ đâu thằng Ðủ này chịu hết." (trang 33)

     Và đây là trường hợp học chữ của thằng Tân, con nhà trí thức kinh niên phản kháng:

 "Thằng Tân đẩy em (tức Marie Sến) vào thế giới đàn ông cao siêu mà nó khinh bỉ. Nó ngửi ra mùi thất bại của cái thế giới đó từ chăn tã nhà nó, trước khi biết tởm mùi phân người. Ngồi nghịch dép dưới gầm bàn, nó thuộc những từ đề mô cờ ra xi, li bẹc tê và cuyn tuya trước khi phải đánh vần a a a quả na, ơ huyền ờ lá cờ ở trường, sau này hễ nghe ai tha thiết phát âm mấy từ sang trọng đó, nó chỉ nhếch cười nhớ bạn bố nó tan cuộc bàn luận chính trị xã hội đứng lên dép ông dép tôi loạn xạ rồi thể nào cũng có một ông lật đật trở lại xin lỗi không phải dép tôi à cái bài báo hôm nọ ông nhớ đòi về, đúng thế, sau này nó bảo, vâng, các cụ tài giỏi thật, mỗi tội xỏ nhầm dép." (trang 54)

     Giữa tất cả những hỗn độn bầy nhầy ấy, Marie Sến là cầu nối, là phương tiện giao thông giữa các quần hùng cá nhân sâu xa cách biệt, giữa những thằng Tân, thằng Ðủ mất dậy và một ông trí thức uyên bác, chuyên môn "đặt tên mới cho những nội dung cũ mèn" (trang 110) cả đời bị chính thống hắt hủi nhưng suốt đời khao khát chính thống (trang 111) chỉ cần gặp không chính thứcvới lãnh đạo lớn của quốc gia là toàn bộ những năm tháng đau thương kể như được phục hồi (trang 111). Quả thật cuộc phản kháng của thế hệ ông Thân như thể khúc cung oán của những nàng cung nữ chết khô trong cuộc đời hạn hán dằng dặc mỏi mắt chờ trông một trận mưa tinh trùng của mình rồng [...] Nàng nào ngủ được với vua thì gút bai cung oán với lại phản kháng (trang 138) và thích nghi chắc chắn là đặc sản Việt góp cho nhân loại . (trang 133)

     Là một thực thể phi lịch sử, phi chính trị; trải bao đời các cụ Khổng, cụ Lão, cụ Hồ, cụ Mác, cụ Lê, các chủ nghĩa,  hệ thống, đổi mới, phản kháng... Sến là cơ chế Việt, đặc sản Việt, Sến là hậu duệ của Xuân tóc đỏ, với một tinh thần vọng ngoại sâu sắc, một dân tộc tính phi thời gian. Sến đã vượt qua hết cả các thời kỳ Hán thuộc, Phật hóa, Khổng hóa, Lão hóa đến thời Pháp thuộc của Xuân tóc đỏ, quá độ sang thời cách mạng mùa thu của cụ Hồ thuộc Mao, thuộc Mác, rồi thời ngụy thuộc Mẽo bước sang độc lập thống nhất thuộc kinh tế thị trường. "Mở cửa" trở về thuộc Pháp, yêu hồng mao Huê Kỳ: Chúng ta rất yêu những kẻ thù bại trận. Chữ thuộc là tính dân tộc, tính Sến, tính sáo, tính cóp, tính ăn mót, làm giả hàng ngoại.

*

     Vừa đánh trống vừa ăn cướp, Marie Sến chính là ngôn ngữ. Con người khai sinh ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ xác định con người. Ngôn ngữ của chúng ta lai căng, vay mượn. Chúng ta nhập cảnh những Phờ-Rớt, Mác Ðô Nan, Mác Xờ, Răm Bô, Ðờ Rim của các cường quốc, xuyên tạc chúng đi để làm vốn cho mình và chính các siêu Sến mà chúng ta vay mượn và cưỡng hiếp ấy lại làm nên bản chất của chúng ta.

     Phạm Thị Hoài dùng thứ ngôn ngữ lai căng đó để tạo sinh khí cho tác phẩm, mô tả xã hội nực nồng mùi Sến, gồm những mùi thất bại kinh niên của những trí thức phản kháng xó nhà kiểu ông Thân, mùi hoang tưởng khăm khẳm, giả vờ học lóm của thằng Tân, mùi tiện dân thum thủm ngày đánh răng ba bận ở Ðoài và mùi nổi loạn thối hoắc, pha trộn Rambo Thánh Gióng, hồn Trương Ba da hàng thịt ở thằng Ðủ. Chúng ta du nhập các chủ nghĩa Mác miếc, hiện sinh hiện siếc... của siêu cường. Chúng ta nhai dập dạp, nuốt vội cho nhanh, cho nhiều, cho đầy bụng "hàng ngoại". Rồi bão hòa vốn Sến, chúng ta đòi trở về nguồn. Trở lại chủ nghĩa dân tộc, một mực ta về ta tắm ao ta. Ai nào có biết cái ao của mình nó thế nào? Nó ở đâu? Nó có mùi gì?

     Trong một không khí dân tộc chủ nghĩa bốc mùi như thế, Marie Sến, con cháu của Xuân tóc đỏ, xứng đáng là chủ tịch nước, là tổng bí thư của một nhà nước xã hội phồn vinh, xây bằng cái tiếng Việt hiện đại lộn xà bần áp pô ca líp, đề mô cra xi, cuyn tuya, li bẹc tê, tính nữ, đít xi đăng, đô la, Bác... Sến hợp nhất các "gu" thời đại trong ngôn ngữ ăn cắp của cường quốc mà không có khả năng Việt hóa thành sản phẩm của mình. Chúng ta chưa bao giờ có một Bồ Ðề Ðạt Ma.

Tháng 4/1998

 

© 1995-2001 Thụy Khuê

Đọc Marie Sến ở đây

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

Trăm danh thắng Edo (mùa Xuân)

Trăm danh thắng Edo (mùa Xuân)

(Các tấm từ 01 đến 42)

Loạt bản họa Trăm danh thắng của Edo được Hiroshige thực hiện từ năm 1856 đến 1858 – tức năm Ansei 3 đến Ansei 5 trong lịch Nhật Bản. Chúng bao gồm tổng cộng 119 bản in về phong cảnh và các địa danh mang tính biểu tượng của Edo – tên cũ của Tokyo.

Phần bìa là tác phẩm của Baisotei Gengyo, theo yêu cầu của nhà xuất bản sau khi Hiroshige qua đời – con tem hình thoi của ông nằm ở góc dưới bên phải. Trên cùng có hai hình chữ nhật chứa tiêu đề của các tấm dành riêng cho mùa xuân, nhiều nhất (42); phía dưới, trong hình dạng của một chiếc quạt tay, tượng trưng cho mùa hè (30); hai hình chữ nhật dưới cùng đề cập đến mùa thu (26) và mùa đông (20). Trên hộp màu đỏ bên trái điền tên bộ tác phẩm, tên tác giả Ichiryūsai Hiroshige –một trong những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên của bậc thầy, và nó được cho là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông (issei ichidai); tên nhà xuất bản, Sakanaya Eikichi, và địa chỉ của ông tại Tōeizan Hirokōji, cũng nằm trong đó. Nền có các họa tiết ám chỉ các mùa: hoa mơ cho mùa xuân, chim hototogisu (chim cúc cu Nhật Bản) và mặt trăng cho hạ, một nhúm cỏ khô với bảy loại thảo mộc cho mùa thu và mùa đông. Thư pháp được thể hiện theo lối chữ viết rời rạc hay còn gọi là chirashigaki, điển hình trong các tuyển tập thơ.     




1. Nihonbashi: Quang đãng sau tuyết (日本橋雪晴) (5-1856)

Từ bản họa khởi đầu của loạt mùa xuân, Hiroshige đã thể hiện được những nét đặc trưng nhất trong phong cách của mình, một tầm nhìn bao quát cùng với những họa tiết chồng chéo lên nhau như yếu tố tự nhiênm kiến trúc và những bóng người nhỏ bé đang bận rộn công việc. Trung tâm của bản họa là cầu Nihon, được xây dựng vào năm 1603 và trở thành một trong những cây cầu lớn và tiêu biểu nhất của thành phố. Hậu cảnh là thành Edo và xa xa là núi Phú Sĩ. Đáng chú ý là kỹ thuật bokashi (làm nhòe) được áp dụng để việc phân cấp các sắc độ xanh của dòng sông, từ đậm đến nhạt.


2. Kasumigaseki (霞が関  1-1857)          

Bản họa này theo một bố cục thẳng đứng rõ rệt, trong đó bầu trời rộng lớn trải qua các sắc thái khác nhau, phủ lên con phố tấp nập của thành phố bên dưới. Phối cảnh tuyến tính được áp dụng trên hai dãy nhà chạy dài về phía vịnh Edo, nhưng điều này ít nhiều đã được giảm nhẹ bởi màu sắc mạnh mẽ của chúng. Ở hai đầu phố là dinh thự của hai lãnh chúa phong kiến (daimyō): bên trái là Asano của Hiroshima và bên phải là Kuroda của Fukuoka, cùng hai cây thông lớn (kadomatsu) nổi bật bên lề. Trong đoàn người đang qua lại trên phố có thể nhận ra một số vũ nữ, tu sĩ và số khác là samurai. Một con diều bay trên bầu trời có thêu chữ sakana (cá), bắt nguồn từ họ của nhà xuất bản Sakanaya.


3. Cảnh quan Hibiya và Soto-Sakurada nhìn từ Yamashita-chō
                         (
山下町日比谷外さくら田 12-1857) 


Thêm một bố cục thẳng đứng với tầm nhìn bao quát cả núi Phú Sĩ ở hậu cảnh. Dấu hiệu chuyển mùa được thể hiện thông qua các biểu tượng đại diện cho năm mới. Bên phải là bức tường thuộc thành Edo. Góp mặt hai bên lề có những cành thông và hai cây vợt haceita đặc trưng của trò chơi đánh cầu hanetsuki, được tổ chức mỗi dịp tết đến tại đền Sensō-ji ở Asakusa; theo đó là một quả cầu vừa được phát lên trời. Những chiếc vợt này được làm từ tre, có trang trí yakusha-e, bijin-ga hoặc kadomatsu (vật trang trí truyền thống của năm mới) ở mặt sau. Như trong bản họa trước, một số cánh diều cũng xuất hiện trên bầu trời, một chiếc yakko trên cùng nổi bật với họa tiết kimono. Hậu cảnh là khuôn viên của lãnh chúa Nabeshima Kansō, một thợ làm pháo, với cánh cổng được trang trí bằng một dải rơm rạ.


4.  Đảo Tsukuda và cầu Eitai (永代橋佃しま  2-1857)            


Ở đây, giới thiệu một quang cảnh về đêm, có thể thấy một bến tàu trên hòn đảo nhỏ Tsukuda ở Vịnh Edo. Góc nhìn từ Eitaibashi (cầu Hoàng Tuyền), có thể nhận ra được qua một cột trụ ở phía bên trái. cây cầu dài nhất ở Edo này được khởi công vào năm 1698, bắc qua sông Sumida là con sông chính của thành phố. Hòn đảo cũng là một cảng cá được ủy quyền chính thức cung cấp cá tươi cho Tướng quân (shōgun). Vào những đêm đông xuân, shirauo (cá ngân) được đánh bắt bằng cách sử dụng ánh sáng từ đuốc để thu hút, điều này cũng được tái hiện trong bức tranh.

5. Đền Ryōgoku Ekōin và Cầu Moto-Yanagi (両ごく回向院元柳橋  5-1857)      
  

Một bố cục thẳng đứng lại được sử dụng, với ngọn núi Phú Sĩ và bầu trời rộng trong xanh, góc nhìn khác thường này xuất phát từ ngôi đền được nêu trong tiêu đề, mặc dù nó không xuất hiện mà thay vào đó một chòi gỗ cao ở bên trái. Một cái trống nằm trên nóc, cho thấy niềm đam mê của Hiroshige đối với những yếu tố mang tính truyền thống. Tại chòi gỗ này, trống được sử dụng cho các cuộc đấu sumo tổ chức trong khuyên viên chùa – giải đấu sumo đầu tiên được tổ chức tại đây vào năm 1768. Đền Ekōin được xây dựng vào năm 1657 – thuộc tông phái Tịnh độ (Jōdo) Phật giáo – để tưởng nhớ 100.000 nạn nhân trong trận hỏa hoạn đã tàn phá thành phố. Phía sau là dòng sông Sumida với thuyền phà tấp nập trên đó. Xuất hiện cả dinh thự Matsudaira của lãnh chúa Tanba, nằm cạnh cây cầu Moto-Yanagi cùng hàng liễu rủ.

6. Trại cưỡi ngựa Hatsune ở Bakuro-chō (馬喰町初音の馬場  9-1857)            

Hatsune, một trại tập luyện cưỡi ngựa lâu đời bậc nhất ở Edo hiện lên qua một góc nhìn khác thường, những tấm vải chắn trước tiền cảnh được thợ nhuộm từ quận Kon'ya lân cận đem đến phơi khô, chúng mang màu trắng, cam đất và tím kết hợp hài hòa nền trời phía sau. Phía trên các gian hàng thuộc trường đua là một tháp lửa trông coi toàn bộ khu vực. Đây là một nơi quen thuộc đối với Hiroshige, người đã kế thừa vị trí đội trưởng đội canh góc hỏa hoạn từ cha mình vào năm 1809, rồi ông lại lần lượt trao cho con trai vào năm 1832, để có thể cống hiến hết mình cho nghệ thuật.

7. Cửa hàng bông ở phố Ōdenma-chō (大てんま町木綿店 4-1858)


Khu phố Ōdenma-chō (phố bưu điện lớn) là một trạm bưu điện tập trung phần lớn các hàng hóa vận chuyển ở thủ đô Nhật Bản. Bên phải là các cửa hàng bán
bông, một số trong đó có tên được khắc trên cửa như: Tahataya, Masuya và Shimaya. Trên các mái nhà, có thể nhìn thấy giá đỡ của thùng chứa nước mưa đề phòng hỏa hoạn. Bên dưới là hai geisha trong trang phục kimono màu xám được tô điểm bởi những họa tiết chuồn chuồn, đang rảo bước trên phố với khuôn mặt hầu như chưa có gì đặc sắc. Về bố cục chung, màu xanh lam được sử dụng khéo léo với nhiều cấp độ khác nhau, nhằm tạo ra được hiệu ứng đổ bóng. Theo Rosanne Lightstone, phối cảnh xiên của bản họa này đã tạo cảm hứng cho bức tranh Le Pont de l'Europe của họa sĩ ấn tượng người Pháp, Gustave Caillebotte.

8. Suruga-chō (する賀てふ 9-1856)


Bản họa này được tác giả áp dụng phối cảnh tuyến tính phương Tây từ một vị trí cao, nhằm tái hiện con phố Suruga-chō kéo dài vào sâu bên trong làn sương mù, dẫn ánh nhìn thẳng tới ngọn núi Phú Sĩ mọc lên hùng vĩ phía sau. Khu phố tấp nập này được đặt theo tên cũ của tỉnh nơi núi Phú Sĩ tọa lạc, nằm rải rác ở đây là cơ số các cửa hàng dệt may. Phía hai bên đường, có thể thấy chữ cái trong tên của cửa hàng Mitsui: mitsu (ba) và i (tốt), ngày nay chúng đã trở thành chuỗi cửa hàng bách hóa Mitsukoshi

9. Phố Yatsukōji gần cổng Sujikai (筋違内八ツ小路 ※ 11-1857)


Một góc nhìn trên cao được áp dụng, bao quát toàn cảnh đoàn diễu hành của lãnh chúa, xuất phát từ các địa phương đến thủ đô và ngược lại. Tuyến đường Yatsukōji (Bát lộ) chéo qua thành phố và là một trong những trung tâm giao thương chính ở đây. Khoảng không gian rộng và trống ở giữa đường phố được phác họa một cách tinh tế với các dải màu nâu, xanh lá cây và xám xen kẽ nhau, trong khi bầu trời thì biến đổi từ xanh lam sang trắng, rồi đến đỏ. Hậu cảnh phía xa là điện thờ Kanda nổi lên giữa làn sương mù đỏ đang bao quanh mặt sông Kanda.


10. Bình minh ở đền Kanda Myōjin (神田明神曙之  9-1857)
Nếu tại bản họa trước, kiến trúc ngôi điện chỉ được trông thấy từ xa, thì tại đây tác giả đã mang tới người xem một góc nhìn tại chính khuôn viên điện thờ Kanda. Với nền đất cao này, có thể nhìn ra toàn cảnh những mái nhà của thành phố vẫn chìm trong bóng tối, đối lập với ánh mặt trời đang dần hiện lên ở phía chân trời. Chắn giữa đằng trước là cây tuyết tùng cao sừng sững, mang lại một góc nhìn thẳng đứng cho bố cục. Phía sau đó là hình bóng của một thầy tu và vu nữ trong đền thờ, theo sau đó là phụ tá của cô, mặc quần áo màu sáng. Đền Kanda Myōjin được xây dựng vào năm 730, và là địa điểm tổ chức lễ thần hộ mệnh, trong đó người dân Edo sẽ tiến vào thành của Tướng quân để rước kiệu.


11. Điện Kiyomizudō và ao Shinobazu ở Ueno (上野清水堂不忍ノ池  4-1856)


Lại là một góc nhìn khác thường từ vườn Kiyomizudō, nằm trong khuôn viên đền Kan'ei-ji. Từ đây, hành lang ngôi đền hiện lên giữa vườn hoa anh đào, một vẻ đẹp phù du mà người Nhật Bản luôn đặc biệt ngưỡng mộ, có thể thấy rõ qua lễ hội Hanami. Hành lang có tầm nhìn hướng ra ao Shinobazu thuộc công viên Ueno với mặt nước mang một màu xanh dịu. Đối diện bên đường với những cây anh đào, là hàng "cây thông mặt trăng" đặc trưng với thân hình kỳ lạ, sẽ được miêu tả chi tiết hơn tại tấm 89. Tỷ lệ phóng đại của cây thông và sảnh thờ có lẽ là để phù hợp với góc nhìn thẳng đứng, cảnh này cũng cho thấy một chủ nghĩa hiện thực hơn so với cuốn minh họa Hồi ức Edo (Ehon Edo miyage) của tác giả.


12. Ueno Yamashita (上野山した  10-1858)


Trọng tâm bản họa này nằm ở bên phải, một nhà hàng đồ ăn nhanh có tên Iseya, được viết bằng katakana và hiragana. Trên áp phích cũng có dòng chữ shisomeshi, một món ăn gồm cơm với lá shiso. Ở góc dưới bên trái là một tập hợp các quý cô thanh lịch với những chiếc ô lớn, có lẽ đang hướng đến đền thờ Ueno gần đó. Nổi bật giữa bầu trời là một đàn quạ, vốn rất nhiều ở vùng này. Tác phẩm được xuất bản vào tháng sau khi Hiroshige qua đời, được cho rằng hoàn thiện bởi Hiroshige II, dựa trên phác thảo mà sư phụ để lại.


13. Shitaya Hirokōji (下谷広小路  9-1856)

Toàn cảnh phố Hirokōji, dẫn đến đền Kan'ei-ji ở Ueno, có thể trông thấy ngôi đền này cuối dãy phố, giữa một khu rừng ngập sương mù. Trong số những người trên đường phố, là một nhóm samurai nổi bật với kiếm trên hông và một đoàn dài những phụ nữ che ô. Ở phía bên phải chính là cửa hàng Matsuzakaya - vẫn tồn tại đến ngày nay ở địa điểm này, dành riêng cho thương mại dệt may. Tòa nhà được xây dựng lại gần đây sau khi bị phá hủy hoàn toàn bởi trận động đất năm 1855.



14. Khu vườn trong khuyên viên đền Nippori (日暮里寺院の林泉  2-1857)


Bố cục bản họa này có được từ một góc nhìn trên cao, trong khu vườn thuộc đền Shūshōin, nơi tràn ngập những bông hoa anh đào, tạo ra một màu hồng nhẹ nhàng. Cũng ở đây tác giả có điều kiện được kết hợp hoa anh đào và hoa đỗ quyên trong cùng một khung cảnh, điều mà không xảy ra trong tự nhiên vì chúng không nở cùng thời điểm. Tại một số bản in của bức họa này, màu hồng của hai cây anh đào phía trước có những vết thừa ra, có vẻ là do lỗi in ấn. Trong khu vực Nippori từng có nhiều đền thờ của cả Phật giáo và Thần đạo, tuy nhiên thời gian chung sống này đã không còn nữa với việc xóa bỏ Phật giáo và đưa Thần đạo trở thành tôn giáo chính thức vào năm 1868.

15. Dốc Suwa tại Nippori (日暮里諏訪の台  5-1856)


Tiếp tục là quang cảnh sân vườn thuộc khuôn viên điện thờ Suwa Myōjin, nằm giữa thiên nhiên nhưng lại gần với các khu phố đông đúc Nippori, Ueno và Asakusa. Cũng chính vì vậy mà nơi đây thu hút nhiều lượt du khách tới ngắm cảnh cũng như thưởng trà. Ở trục giữa là hai cây tuyết tùng đứng lộng lẫy, vây quanh bởi những bông hoa anh đào sắc hồng nổi bật. Tại phần hậu cảnh bên phải, có thể thấy hình dáng của núi Tsukubasan đặc trưng với phần đỉnh kép, dưới nền trời được tái hiện qua các sắc màu đỏ, trắng, xanh lam và tím đậm ở trên cùng.


16. Công viên hoa và dốc Dangozaka tại Sendagi (千駄木団子坂花屋敷  5-1856)


Một ví dụ tiêu biểu chứng minh sự điêu luyện của tác giả trong việc tái hiện những toàn cảnh bao quát, kết hợp giữa yếu tố tự nhiên và kiến trúc, rồi xen kẽ trong đó là những bóng người nhỏ bé. Phần dưới của bản họa, lại một lần nữa bị chi phối bởi hoa anh đào, đây là một công viên công cộng, là nơi để mọi người đi dạo, trò chuyện và thưởng trà. Những tán cây được một làn sương trắng với các sắc thái xanh đỏ bao phủ, cạnh đó là kiến trúc Shisentei (Pavilion of the Violet Spring). Mang đến một cái nhìn toàn cảnh về khu phố Ueno và ao Shinobazu. Khu vườn đã được thiết kế bốn năm trước đó bởi người làm vườn Kusuda Uheiji. Bản họa cũng được dùng để truyền tải thông tin tái thiết Shisentai sau trận động đất năm 1855 và chuyến thăm công viên của Tướng quân Tokugawa Iesada hai tháng trước khi xuất bản.


17. Góc nhìn về phía bắc từ núi Asukayama (飛鳥山北の眺望  5-1856)


Như trong hai bản họa trước, một nhóm người đang thưởng trà dưới tán hoa anh đào, bên dưới là cánh đồng lúa bát ngát với tông màu xanh lá cây nhạt, trong khi hậu cảnh là hình dáng đặc trưng của núi Tsukubasan. Vùng đất này thuộc về đền Kinrin-ji, nhưng có thể đã thành nơi công cộng bởi quy định năm 1737 được tướng quân (shōgun) Tokugawa Yoshimune thông qua; đến năm 1873 nơi đây trở thành công viên công cộng đầu tiên của Nhật Bản hiện đại. Hirohige đã thực hiện bản in này ngay sau khi tướng quân Tokugawa Iesada đến thăm khu vực này vào năm 1856, một minh chứng về tính chất tư liệu của nhiều bản họa trong sê-ri này




18. Điện thờ Inari ở Ōji (王子稲荷の社 9-1857)

Điện thờ này thuộc một nhánh của đền Fushimi Inari ở Kyōto, nằm trên ngọn đồi gần Ōji, một thị trấn gần Edo. Inari là vị thần của lúa gạo, vì vậy nơi đây là trung tâm hành hương cho những người nông dân cầu mong cho một mùa màng bội thu. Hiroshige một lần nữa đã chọn một góc nhìn khác thường, chỉ cho thấy một phần cấu trúc ngôi đền, còn lại chủ yếu là rừng tuyết tùng tươi tốt bao quanh nó. Nổi bật là màu đỏ đậm trên thân gỗ của ngôi đền, vì theo Thần đạo màu này xua đuổi ma quỷ. Ở nền, phần đỉnh kép của Tsukubasan lại được hiện lên.



19. Con đập sông Otonashi ở Ōji (王子音無川堰棣  2-1857)

Con đập này được gọi là Ōtaki (Thác lớn). Hai bên dòng sông một lần nữa xuất những hàng hoa anh đào nổi bật. Sông Otonashi ("Dòng sông lặng im") bắt nguồn từ thác nước, được tái hiện qua màu xanh lam nhẹ, và mạnh để biểu thị độ sâu của nước tại giữa sông. Dưới chân thác và ven bờ, có thể thấy bóng dáng nhỏ bé của những người đang tắm sông. Trong khu rừng, nằm dưới những cây tuyết tùng cao là điện thờ Phật A-di-đà, thuộc ngôi đền Kinrin-ji. Hiroshige thực hiện bức họa này để kỉ niệm một chuyến thăm của Tướng quân Iesada đến khu vực này vào năm 1857

20. Phà Kawaguchi và đền Zenkōji (川口のわたし善光寺  2-1857)

Chính giữa bản họa là một nhánh sông Sumida – thường được gọi là Arakawa, và cũng là mốc ranh giới phía bắc của Edo. Dòng sông xuất hiện theo đường chéo, và cũng giống như tấm trước, màu sông được làm đậm hơn tại trung tâm. Trên mặt sông gồm một số bè khai thác gỗ và chiếc thuyền phục vụ khách qua sông tương tự như phà. Ở phía xa hiện lên kiến trúc màu đỏ thẫm là ngôi đền Zenkōji nổi tiếng với biểu tượng Phật giáo hibutsu bí ẩn của Nhật Bản, người thường chỉ có cơ hội chiêm ngưỡng 17 năm một lần. Ngôi đền bị che khuất một phần bởi hộp tiêu đề, có lẽ đây cũng là dụng ý của tác giả ám chỉ sự bí ẩn này.



21. Núi Atagoyama ở Shiba (芝愛宕山 8-1857)

Núi Atagoyama nằm ở phía nam của Hoàng cung Edo, chỉ cao hơn 26 mét so với mặt nước ở vịnh Edo. Trên đỉnh của nó là khu bảo tồn Atago, ở bản họa này chỉ xuất hiện một cây cột và một mảnh phần mái của nó. Vào đêm giao thừa, một buổi lễ được tổ chức tại ngôi đền này để cầu may mắn, sức khỏe và thịnh vượng, cũng như xua đuổi nạn đói và bệnh tật. Do đó, xuất hiện một thầy tu trong bộ lễ phục biểu tượng Phật giáo màu trắng, cầm trên tay phải một thìa cơm lớn, một biểu tượng của sự thanh cao, và bên trái là một cây chùy, một biểu tượng mạnh mẽ tương trưng cho việc bảo vệ giáo lý Phật giáo. Ông đeo lá rong biển như một chiếc vòng cổ, vật mà sau khi làm lễ sẽ được được truyền lại cho các tín đồ để chống cảm lạnh. Đây cũng là một trong những hình ảnh người cao tuổi có thần thái nhất được Hiroshige miêu tả trong toàn bộ tác phẩm. Ở hậu cảnh, gồm những ngôi nhà gần cảng Edo và ngoài vịnh là vài cánh buồm phía chân trời, nhuốm màu đỏ của bình minh. Thẻ vàng bên trái có dòng chữ: shōgatsu mikka, Bishamon tsukai (vào ngày thứ ba của tháng đầu tiên, nhà truyền giáo từ Bishamon).



22. Hiroo trên sông Furukawa (渋谷区広尾 7-1856)

Sông Furukawa uốn lượn giữa những ngọn đồi xanh ngắt, trên cây cầu cong bắc qua sông là những bóng người nhỏ bé đang băng qua, một số có ô che nắng. Dòng sông mang sắc xanh nhạt, đôi bờ màu đậm hơn. Ở phía bên trái là lữ quán Kitsune (Con cáo), nổi tiếng với đặc sản unagi (lươn nước ngọt nướng). Còn phía trên bầu trời mang một vẻ phớt hồng của mặt trời đang mọc. Nhưng kể từ khi con sông được thiết kế thành kênh đào, khu vực này cũng dần được đô thị hóa, phong cảnh bình dị này không còn tồn tại nữa mà thay vào đó là một trong những khu phố thanh lịch bậc nhất Tōkyō.



23. Ao Chiyogaike ở Meguro (目黒千代か池  7-1856)

Chiyogaike (ao Chiyo) là địa điểm gắn liền với một truyền thuyết nổi tiếng: trong đó có người phụ nữ tên Chiyo (thế kỷ XIV) đã tự kết liễu đời mình vì quá tuyệt vọng trước cái chết của chồng cô, chiến binh Nitta Yoshioki. Trong bản họa này, tác giả tái hiện một khung cảnh bình dị với một vườn hoa anh đào, đang được bao phủ trong một làn sương trắng đỏ lơ lửng bên trên, cạnh đó là những tầng thác nước chảy vào ao. Cùng với đó là hình ảnh hai người phụ nữ và một cô gái đang đứng trên mô đất nhỏ gần đó. Đáng chú ý ở đây là việc bóng cây được phản chiếu trên mặt nước, điều mà hiếm khi được Hiroshige quan tâm, chúng được tái hiện tại đây nhờ ảnh hưởng của kỹ thuật hội họa phương Tây



24. Núi Phú Sĩ mới ở Meguro (目黒新富士  4-1857)


Ngọn đồi này là một trong nhiều bản sao của Núi Phú Sĩ, được đắp từ năm 1829 bởi Kondō Jūzō, một chư hầu của Đại tướng quân. Phong tục này bắt nguồn từ năm 1780 với bản sao đầu tiên ở Takata-chō, dành cho các tín đồ thờ phụng núi Phú Sĩ (Fuji shinkō). Phía dưới, nước từ máng Mita chảy ra uốn khúc, xen giữa đồng cỏ xanh và hàng anh đào. Một số người dạo quanh khu vườn, trong khi số khác đang trên đường lên đỉnh đồi và một số khác nữa đã ở sẵn trên đỉnh, ngồi thưởng thức toàn cảnh thiên nhiên. Xa hơn là những cánh đồng và rừng cây bát ngát, đang được bao phủ bởi một lớp sương mù hồng và vàng. Ngọn núi Phú Sĩ nổi bật trên nền trời, mang một màu hồng nhạt của sáng sớm.



25. Núi Phú Sĩ nguyên bản ở Meguro (目黒元不二   4-1857)

Một khung cảnh tương tự như bản họa trước, núi Phú Sĩ được nhìn thấy từ một bản mô phỏng của nó. Không giống với tấm trước, ngọn đồi này cao 12 mét được đắp vào năm 1812, vì là bản sao đầu tiên ở Edo nên nó được gọi là "nguyên bản". Trọng tâm tiền cảnh là phần dốc ngọn đồi, từ đây một cây thông cao mọc lên với cành lá phủ hết một phần bản họa. Ở giữa tiếp tục là một vườn hoa anh đào, nơi một nhóm lữ khách đang ngồi nghỉ, trong khi phía chân trời là ngọn núi lửa hùng vĩ mà người Nhật luôn ngưỡng mộ như một vị thần. Cần lưu ý rằng cây anh đào ở bản họa này không nở hoa, chúng có lá màu rám nắng của mùa thu; tuy nhiên, do có liên kết với chủ đề của bản họa trước nên đã được đưa vào bộ mùa xuân. Bầu trời có sự chuyển màu tinh tế từ đỏ qua màu trắng, từ vàng sang màu xanh lam rồi dần trở nên tối hơn khi lên trên.




26. "Cây thông treo giáp" và dốc Hakkeizaka (八景坂鎧掛松    5-1856)

Hakkeizaka là một sườn núi nổi tiếng nằm trên Vịnh Edo, đứng từ đây có thể phóng tầm mắt ra tám góc nhìn với phong cảnh tuyệt đẹp xung quanh. Cái tên này xuất phát từ Tám cảnh Xiaoxiang của Trung Quốc (trong tiếng Nhật là Shōshō hakkei), một chủ đề thơ ca nổi tiếng được giới thiệu vào thế kỉ 14, được coi là biểu tượng trong việc thể hiện phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Một cây thông có hình dáng kỳ lạ sừng sững trên ngọn đồi, chiếm trọn phần trung tâm của bố cục; theo truyền thuyết, chiến binh Minamoto no Yoshiie đã treo áo giáp của mình lên cây này, trước khi khuất phục một gia tộc đối địch ở tỉnh Mutsu (Aomori ngày nay). Dọc bờ biển là Tōkaidō, tuyến đường nổi tiếng nối liền giữa Edo đến Kyōto, Hiroshige cũng đã có cơ hội được du dành dọc theo tuyến đường này để rồi sáng tác ra loạt bản họa Năm mươi ba trạm nghỉ của Tōkaidō. Một số người ngồi ngồi quanh gốc thông, thưởng ngoạn cảnh vật trong khi uống trà hoặc rượu sake.




27. Vườn mơ ở Kamada (大田区蒲田   2-1857)

Đây được công nhận là một trong những bản họa đẹp nhất sê-ri, đặc biệt là cách xử lý bầu khí quyển với bảng màu tinh tế, từ hồng trắng đến đỏ sẫm, trải qua các cấp độ một cách nhịp nhàng, cho thấy quang cảnh bình minh đậm chất trữ tình và khơi gợi xúc cảm. Bối cảnh diễn ra trong một khu vườn mơ đang nở hoa trắng muốt. Một số gian hàng và người đi bộ có thể nhìn thấy ở giữa nền, trong khi một chiếc kiệu được cắt ra ở phía bên phải, một đặc trưng cho thấy sở thích của người họa sĩ đối với các yếu tố giai thoại và góc nhìn khác lạ. Bản họa này nhận được nhiều ngưỡng mộ ở phương Tây, đặc biệt là với những họa sĩ theo trường phái ấn tượng.



28. Đồi Hoàng Cung ở Shinagawa (品川御殿やま   4-1856)

Gotenyama, ngọn đồi nằm bên cạnh Hoàng cung Edo cổ kính, được thiết kế và xây dựng vào năm 1457 bởi Ōta Dōkan và đây cũng là khu nhà vườn nông thôn được shōgun lui đến vào thế kỷ 17, trong thời gian Hoàng cung bị hỏa hoạn thiêu rụi. Địa điểm này là một trong những nơi nổi tiếng nhất để ngắm hoa anh đào, thu hút nhiều du khách đến thưởng ngoạn. Dưới chân đồi là một con sông với cây cầu nhỏ bắc ngang, nơi hai người phụ nữ đang băng qua. Trên sườn đồi, có những vết nứt, lở do việc khai thác đá dùng để gia cố cấp tốc vào năm 1853, sau sự xuất hiện của Đề đốc Matthew Perry.




29. Điện thờ Moto-Hachiman ở Sunamura (砂むら元八まん   4-1856)

Mặc dù điện thờ được ghi trên tiêu đề, dấu hiệu duy nhất của nó chỉ là một cánh cổng torii (điểu cư) ở góc dưới phải. Còn lại là một cảnh quan rộng lớn với con đê cắt ngang, tất cả được tái hiện qua tầm mắt của một chú chim, vịnh Edo ngoài xa bị thu hẹp lại với vài cánh buồm trên đó. Thực vật bao gồm một số anh đào và hàng thông cao, cũng như thảm lau sậy trải rộng ở khu vực tiếp giáp với vịnh. Khu vực đầm lầy Sunamura hiện nay đã cạn kiệt nước để nhường chỗ cho phát triển đô thị; là một phần của quận Kōtō-ku hiện đại. Tấm này cho thấy một số ảnh hưởng từ hội họa Trung Quốc, mà Hiroshige biết đến, thông qua một trong những người thầy của ông, Ōoka Unpō.



30. Vườn mơ ở Kameido (亀戸梅屋舗   11-1857)


Bản họa này có một số điểm tương đồng với số 27, tuy nhiên tiền cảnh ở đây là một cành mơ chắn ngang bố cục rồi mới đến vườn mơ ở hậu cảnh, một ví dụ tiêu biểu cho thấy sở thích của tác giả đối với những khung hình và hiệu ứng quang học khác thường. Giống với bức thứ 27, các sắc màu trắng, hồng và đỏ của bầu trời một lần nữa được làm nổi bật, theo sự phân cấp tinh tế và gây ấn tượng mạnh với thị giác. Khu vườn thuộc về ngôi đền Kameido Tenjinsha, cây mơ chắn giữa với hình dáng khác thường này còn được biết đến với cái tên Garyūbai (Ngọa long mai), nó còn được nhắc tới trong hầu hết các cẩm nang du lịch Edo. Không may thay, cái cây đã biến mất trong một trận lũ lụt vào năm 1910. Người ta nói về nó trong Danh sách các danh thắng ở Edo: "Nó thực sự giống như thể một con rồng. Cành này mọc lên từ cành khác và cứ như vậy mà vươn lên từ mặt đất. Cành hoa kéo dài sang phải và trái, mùi thơm của nó làm lu mờ cả hương hoa lan, còn những bông hoa trắng rực rỡ mọc san sát nhau làm xua tan đi ánh hoàng hôn". Vincent van Gogh đã sao chép bức tranh này vào năm 1887.




31. Điện thời Azuma no mori và cây long não xoắn (吾嬬の森連理の梓   7-1856)

Cây long não ở tiêu đề đứng giữa và vươn cao hơn những cây kế bên, hướng về phía bầu trời nơi có một đàn chim bay qua. Hai cành của nó là đại diện cho cả hai giới tính, nam và nữ. Trong thần thoại, loài cây này là biểu tượng của Hoàng tử Yamato Takeru và người vợ Ototachibana-hime. Theo truyền thuyết, cha của hoàng tử là Thiên hoàng Keikō, gửi con trai mình đến chiến trường phương bắc. Khi đang trên vượt biển, Takeru đã có những thái độ chế diễu biển cả, sự ngạo nghễ của ông đã đánh thức cơn thịnh nộ của các vị thần, một cơn bão được gửi đến đánh chìm con tàu mà người con trai đang ở trên. Nhưng sau đó công chúa đã gieo mình xuống biển, hiến tế bản thân để đổi lấy sự sóng cho chồng mình. Trên đường hồi kinh Takeru có đi qua con đèo Usui, cảnh vật nơi đây khiến Takeru nhớ đến nàng Ototachibana-hime và gọi tên: "Ôi, Azuma, Azuma!" (Azuma là vợ). Kể từ đó khu vực này được đặt tên Azuma. Takeru sau này cũng đã trồng cây long não trên mộ của cô để tưởng nhớ. Khu điện thờ Azuma bao quanh rừng cây thưa thớt, làm nổi bật lên con đường vàng dẫn đến đây. Kích thước cây cối đã được Hiroshige phóng đại có chủ ý, nhằm mang lại yếu tố nhấn mạnh cho bố cục.




32. Đảo Yanagishima (柳しま   4-1857)

Đảo Yanagishima (Đảo liễu) nằm ở phía đông bắc Edo, cạnh bờ sông Sumida. Du khách có thể đến được khi băng qua cầu Yanagi (Cầu liễu) có mái vòm, dưới chân cầu là nhà hàng Hashimotoya. Ở gần đó, điện thờ Myōkendō thuộc ngôi đền Nichiren Hōshōji, hiện lên với màu đỏ sẫm đặc trưng. Nơi đây nổi tiếng với hình ảnh Bồ tát Myōken, thường được lui đến để cầu mong tránh khỏi hỏa hoạn, có một cuộc sống sung túc và ấm êm. Họa sĩ vĩ đại Katsushika Hokusai là một tín đồ rất sùng kính ngôi đền này. Ở ven sông là một cầu cảng dẫn lên khuôn viên chùa. Xa xa giữa làn sương mù, nổi rõ hình dáng đặc trưng của Núi Tsukubasan.



33. Sà lan dọc kênh Yotsugi-dōri (四ツ木通用水引ふね   2-1857)


Trọng tâm bố cục là con kênh Yotsugi-dōri, một nhánh phía sông Sumida, được khởi công vào đầu thế kỷ 17 để dẫn nước uống đến thành phố, mặc dù sau đó nó được sử dụng với mục đích tưới tiêu và giao thông – tạo thành một đường cong lớn dần ẩn mình trong làn sương mù. Màu xanh của dòng kênh và ven bờ tương phản với màu vàng tươi của con đường bao quanh, trên đó có một số lữ khách đang bộ hành, trong khi một số thuyền di chuyển trên kênh, số khác di chuyển bằng dây của những người khuân vác. Mặc dù con kênh thẳng, tác giả đã uốn khúc để gây ấn tượng hơn.



34. Cảnh đêm ở Matsuchiyama và kênh San'yabori (真乳山山谷堀夜景   8-1857)


Một bức tả cảnh đêm thứ hai, sau tấm 4. Cũng là một trong số ít – với tấm 21 – mô tả hình ảnh người trưởng thành, cụ thể trong bản họa này là một geisha. Người phụ nữ được tái hiện trong trang phục truyền thống, với khuôn mặt trang điểm với tông màu trắng đậm tương phản với bầu trời đêm đầy sao, đang phản chiếu trên mặt nước của sông Sumida. Đáng chú ý là kiểu tóc và trang phục của người phụ nữ được miêu tả với độ chính xác cao, cho thấy tác giả đã được qua đào tạo bài bản về thể loại bijin-ga. Phía sau là ánh đèn từ nhiều địa điểm khác nhau trên đồi Matsuchiyama, trên đỉnh là đền Shōten. Ngọn đồi này cũng là thượng nguồn của kênh San'yabori, chảy đến khu phố giải trí Shin-Yoshiwara.


35. Đền Suijin và vùng Massaki bên sông Sumida (隅田川水神の森真崎  8-1856)


Một lần nữa, tác giả lại cho thấy một tiền cảnh được bao phủ bởi anh đào từ phía phải, những bông hoa đẹp với tông màu trắng và hồng được tái hiện đến từng chi tiết, thực hiện bằng kỹ thuật kimedashi (dập nổi), ép giấy vào những dấu khắc trên tấm ván gỗ. Dưới chân là khu rừng thuộc đền Suijin, thờ phụng các thủy thần ở sông Sumida, từ góc nhìn này có thể nhìn thấy lối vào một cổng torii và một điện thờ ngoài đầu. Trên đường đi, một số người đang tiến đến bến phà Hashiba - sẽ được tái hiện trong tấm 37 - và ở nền có thể nhìn thấy vùng Massaki và núi Tsukuba.



36. Quang cảnh từ Massaki đến khu rừng đền Suijin, lối vào Uchigawa và làng Sekiya
                            (真崎辺より水神の森内川関屋の里を見る図  
8-1857)


Một lần nữa, sở thích của tác giả đối với những góc nhìn khác thường được thể hiện mãnh liệt, phong cảnh được miêu tả thông qua một cánh cửa sổ trượt, phía sau là một cành mơ. Nơi đây có thể là một quán trà, với một bình hoa mộc lan lấp ló ở lề trái. Sau khung cửa số là một cái nhìn toàn cảnh về vùng Massaki, phía bắc của phố đèn đỏ Shin-Yoshiwara, được bao quanh bởi sông Sumida. Trong khu rừng bên phải mập mờ một cánh cổng torii của đền Suijin, đã xuất hiện trong bản họa trước. Ở hậu cảnh, vẫn là ngọn núi Tsukuba và một đàn chim bay trên bầu trời.



37. Lò nung và bến phà Hashiba bên sông Sumida (墨田河橋場の渡かわら竈 4-1857)


Bến phà Hashiba ở tấm số 35 một lần nữa xuất hiện, với một số phà đang đưa khách qua sông Sumida. Trong khi tiền cảnh ở góc dưới trái là những lò nung, từ đó một cột khói bốc lên trời với phân bố màu sắc từ xám đen đến trắng. Vài con mòng biển thuộc loài miyakodori ngâm mình giữa dòng sông. Khu rừng ở hậu cảnh, với đền Suijin cũng được góp mặt, và xa xa vẫn là ngọn núi Tsukuba. Các sọc mờ màu xanh và vàng giống mây trên bầu trời lần đầu tiên xuất hiện, được áp dụng với kỹ thuật atenashi bokashi. Đàn chim xám trên mặt sông ngầm nhắc đến một tác phẩm văn học cổ đại (Truyện Ise), trong đó có kể lại rằng một lữ khách đến từ Kyoto đã sáng tác một bài thơ trong khi ngắm những loài chim vô danh tại nơi này. Theo Smith, làn khói hiện ra tại đây (che khuất đi cổng torii của điện thờ Suijin) mang một ý nghĩa thi ca nhất định, biểu tượng cho sự sống và cô độc của người lữ khách.




38. Bình minh ở Yoshiwara (廓中東雲  4-1857)

Tiến đến khu phố đèn đỏ Shin-Yoshiwara, nằm ở quận Asakusa, gần đền Kinryūzan. Được dựng lên để thay thế cho Yoshiwara cũ trước đó ở Nihonbashi, gần cung điện Shōgun, đã bị phá hủy trong trận đại họa hoạn Meireki de 1657. Sau đó, Shin-Yoshiwara (Tân Yoshiwara) lại bị phá hủy trong trận động đất năm 1855, nhưng được gây dựng lại vào năm 1857, thời gian này năm bản họa được tác giả thực hiện tại khu vực này, một ví dụ cho tính chất tư liệu của bộ tác phẩm này. Mại dâm được đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ, không phải vì lý do đạo đức mà là vấn đề sức khỏe cộng đồng cũng như để thu thuế. Bầu trời thể hiện đang là khoảng thời gian tờ mờ sáng, khi mà mặt trời chưa lên cao. Đường phố, nhà cửa, cùng những cánh hoa anh đào được thể hiện bằng một màu xám nhạt thay vì màu hồng tươi như những bản họa trước. Mặt khác, bóng dáng của những người đi bộ được chiếu sáng bởi đèn đường, trang phục vẫn được thể hiện đầy đủ màu sắc, đạt được độ tương phản sống động ngược lại ánh sáng mập mờ của môi trường.



39. Đền Kinryūzan và cầu Azuma trông từ xa (吾妻橋金龍山遠望   8-1857)


Một góc nhìn khác thường nữa được đánh giá cao khi cảnh vật bị chắn ngang bởi chiếc thuyền ngắm cảnh, tuy nhiên, nó bị cắt ở cả hai đầu, và có thể thoáng nhìn thấy kiểu tóc và trang phục của một geisha ở trên đó. Phần hậu cảnh, là một bến tàu và nổi bật với màu đặc trưng là ngôi đền Kinryūzan (đền thờ rồng vàng) (Sensō-ji hiện tại), bên cạnh điện thờ chính là một ngọn tháp năm tầng. Xa hơn nữa là núi Phú Sĩ đầy tuyết. Xuyên suốt bố cục, những chiếc lá hoa anh đào bay lơ lửng, tạo nên một nhịp điệu thơ mộng cho toàn bộ bản họa, trong đó là sự tương phản giữa phù du và vĩnh hằng: phù du của hoa anh đào trước núi Phú Sĩ vĩnh cửu, tình yêu phù du của nàng geisha trước cõi vĩnh hằng tâm linh nơi đền thờ.



40. Ẩn thất Bashō trên đồi hoa trà và cầu cống Sekiguchi
                                 (せき口上水端はせを庵椿やま
4-1857)


Một mật thất dành riêng cho nhà thơ vĩ đại Matsuo Bashō, được các học trò dựng lên vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của ông, 1743. Tọa lạc ở Tsubakiyama (đồi hoa trà), thuộc quyền sở hữu của gia đình Hosokawa (bao gồm Morihiro Hosokawa, Thủ tướng Nhật Bản từ năm 1993 đến 1994). Cầu cống Sekiguchi là một trong những nguồn cung cấp nước chính cho thành phố, được duy trì bằng thuế hàng năm do người dân đóng. Như thường lệ, những nhân vật nhỏ bé rảo bước trên bờ sông tạo nên yếu tố con người giữa cảnh vật thiên nhiên.


41. Đền Hachiman ở Ichigaya (市ヶ谷八幡  10-1858)


Bản họa này thường được gán cho Hiroshige II, vì đã bị bên kiểm duyệt niêm phong một tháng sau cái chết của người thầy, mặc dù không loại trừ khả năng người đệ tử đã thực hiện dựa trên bản phác thảo sư phụ để lại. Đây là một bố cục điển hình của loạt tác phẩm, ở định dạng thẳng đứng. Phía dưới là một khu phố Ichigaya nhộn nhịp, nổi tiếng với các quán trà và lầu xanh lenocinio, cạnh đó là một nhà ga thuộc tuyến Đường sắt Đông Nhật Bản. Một vài đám mây màu trắng pha đỏ, vàng lơ lửng phía trên, trong khi đền Hachiman, thờ phụng Inari, nằm trên đỉnh núi bao quanh là cây cối rậm rạp và anh đào.



42. Hoa anh đào bên sông Tama (玉川堤の花  2-1856)

Họa tiết chính của bản họa lại là hoa anh đào, chúng xuất hiện trong hầu hết các bản họa mùa xuân. Người Nhật Bản luôn luôn loài cây này, như việc tổ chức lễ hội Hanami. Đại lộ dọc theo con sông Tama được xây dựng năm 1730 bởi Đại tướng quân Tokugawa Yoshimune, cũng người đã tạo ra những công viên công cộng đầu tiên ở Edo. Một số lượng lớn người lưu thông khắp đại lộ, đối lập với những công trình phía bên phải, là một trong những tụ điểm mại dâm ở khu Shinjuku. Màu sắc trong tác phẩm này được kết hợp tinh tế, nhẹ nhàng nhưng vẫn gây được những ấn tượng với người xem.