Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019

VẬT THỰC CẨM GIANG KÊ


Chuyện vui về 'tứ vật' ở Kinh Bắc

TP - Có lần trò chuyện lan man về văn hóa làng, tôi được một cụ người Bắc Ninh kể Bắc Ninh có tứ vật, tóm tắt lại là bốn câu sau: “Vật giao Phù Lưu hữu/ Vật thú Đình Bảng thê/ Vật ẩm Đồng Kỵ thủy/ Vật thực Cẩm Giang kê”.


Có nghĩa là: Không kết bạn với người Phù Lưu/ Không lấy vợ người Đình Bảng/ Không uống nước làng Đồng Kỵ/ Không ăn thịt gà của người Cẩm Giang.


Minh họa: Đỗ Đức

Bốn nơi này là bốn làng cổ của đất Kinh Bắc. Và câu chuyện bốn không nói đến mặt khuất của cuộc sống, chưa thấy đề cập ở sách báo nào. Có lẽ người ta e ngại nếu thành văn tự sẽ gây phiền toái, cãi vã mất lòng, mà chỉ lưu truyền trong dân gian.

Vật giao Phù Lưu hữu (không kết bạn với người Phù Lưu), là vì người Phù Lưu bị cho rằng có cách sống đãi bôi. Khách đến chơi không được mời vào nhà, chủ nhà cứ đứng chắn trước cửa hết chuyện nọ chuyện kia rất thân tình.

Khách quay lưng ra về mới chèo kéo: Hôm nào bác lại chơi ạ. Hoặc khách đến nhà quá trưa không mời ở lại ăn cơm như thói quen của người nông thôn Bắc Bộ. Khách nhổm đứng dậy thì lại đãi bôi: Hay để em nấu cơm bác ăn.

Vật thú Đình Bảng thê (không lấy vợ người Đình Bảng) vì hai lẽ: Con gái Đình Bảng tháo vát, đi chợ buôn chuyến rất giỏi, nên thường làm chủ về kinh tế, có vị thế trong nhà, không dễ để chồng lên mặt. Điều đó rất kị với thói gia trưởng của dân Kinh Bắc.

Còn điều thứ hai mới quan trọng: Đi buôn chuyến thì phải ăn đường nằm chợ dễ chung chạ với giai.

Vật ẩm Đồng Kỵ thủy (không uống nước Đồng Kỵ) vì người Đồng Kỵ xưa có nghề nhặt phân tươi, gọi là Kẻ cời (cời, tiếng cổ có nghĩa là cái gắp, cái kẹp thường làm bằng tre). Họ đem về trữ làm phân bón, nên môi trường bị ô nhiễm dễ làm bẩn nước ăn (là người thiên hạ nghĩ thế). 

Vật thực Cẩm Giang kê (không ăn thịt gà ở Cẩm Giang). Theo giải thích thì người Cẩm Giang hay đãi khách bằng gà ăn trộm của hàng xóm, nên có khi vừa ăn lại phải vừa nghe chửi mất gà, vậy tránh đi là hơn.

Đó là những câu chuyện xưa, chỉ để lại trong tục ngôn. Bây giờ về những nơi ấy chẳng thấy dấu vết gì. Cuộc sống thay đổi, nếp sống văn hóa thân thiện.

Một bạn ở Sài Gòn nghe chuyện nói với tôi: “Người trong Nam chỉ biết Bắc Ninh là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, quê hương quan họ. Không ngờ trong văn hóa ứng xử lại có nét chi ly như vậy?

Những thói xấu đãi bôi, lờn mặt chồng, ăn uống mất vệ sinh, ăn cắp vặt thì vùng nào cũng có. Nhưng nâng tầm “văn hóa địa phương” thì đây là trường hợp đặc sắc”.

Tôi bảo anh: “Bắc Ninh quả là vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Như nhà văn Kim Lân, người Kinh Bắc, sinh thời từng bảo: “Đất có lề quê có thói, đâu cũng có cái tốt cái xấu, chỉ có điều người Bắc Ninh dám nói ra còn nơi khác thì không.

Đó là nét văn hóa đặc biệt Kinh Bắc, sòng phẳng và lành mạnh, chẳng giấu cái xấu cái dở của đất mình, biết sai thì sửa được. Nên bây giờ còn có chuyện đó đâu”.

Có lẽ vì thế mà văn hóa Kinh Bắc không mai một, văn hóa vùng Kinh Bắc vẫn rạng rỡ tới ngày nay.

ĐỖ ĐỨC

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

KHOẢNG TRỜI NGƯỜI LÍNH

Trận lụt đồng bằng sông Hồng năm 1971 (hay còn được biết đến với tên gọi Đại hồng thủy 1971) là một đợt lũ lụt rất lớn xảy ra ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào giữa tháng 8 năm 1971. Do chịu tác động của một tổ hợp thời tiết nguy hiểm nên ở khu vực trên đã xuất hiện các trận mưa lớn, gây vỡ đê và khiến lũ trên các sông lên nhanh, nhiều khu vực đạt tới mức báo động 3. Lũ lụt đã khiến khoảng 100 nghìn người thiệt mạng và gây thiệt hại về tài sản khoảng 70 triệu đồng theo thời giá bấy giờ.Đây được xem là trận lũ lụt lớn nhất trong vòng 250 năm qua ở miền Bắc Việt Nam, trong 100 năm qua ở vùng đồng bằng sông Hồng và nó đã đi vào ký ức không thể xóa nhòa của rất nhiều người dân sinh sống ở khu vực này. Trận lũ lụt được một cơ quan thời tiết của Hoa Kỳ xếp vào một trong những thiên tai lớn nhất của thế kỷ 20, và mức độ thảm khốc do nó gây ra chỉ đứng sau trận lụt trên sông Dương Tử ở Trung Quốc làm hàng triệu người chết xảy ra năm 1931. Một số nguồn thông tin khác, đi xa hơn, còn xếp trận lũ lụt lịch sử tại đồng bằng sông Hồng này trong danh sách 10 trận lũ lụt tồi tệ nhất trong lịch sử lũ lụt thế giới. (theo Wikipedia)
Tháng 9 năm 1971, từ Hải Dương, tôi và người bạn lúc đi bè chuối, lúc đi bộ từ Kim Thành lên TX Hải Dương (cầu Cất) để lên phà về Hanoi vào năm học năm thứ 3 ĐHSP. Khi lên cũng là tiễn những bạn SV đầu tiên của HN lên đường vào Nam (lớp tôi có bạn Vẻ đi mãi không về). Giữa năm thứ 3 (1972, ngày 16/4, B52 Mỹ nén bom Hải Phòng khi tôi đang học bên đê làng Viên Nội, ngày 12, tháng 5 vào lính, đợt lính SV thứ 2 của HN vào trận (chủ yếu đi QT). Đọc bài thơ của bạn, SV ĐH Cơ Điện, đợt lính SV đầu tiên ra trận, thấm thía và nhớ thương. Anh đã mất rồi, cầu mong linh hồn anh siêu thoát.

-----------------
Xin giới thiệu thơ của một đồng đội nhập ngũ năm 1971 - Lê Anh Quốc. Anh đã mất và để lại một tập thơ chép tay chưa xuất bản, tập hợp dưới cái tên KHOẢNG TRỜI NGƯỜI LÍNH.
Chúng tôi đánh máy theo sổ tay của anh, nhân bản và truyền nhau đọc. Tôi yêu thơ của bạn tôi vì qua đó, anh đã nhắc lại cả một thời Trai trẻ của chúng tôi; Những năm tháng Dân Ta dường như dồn Tổng lực vào cho cuộc chiến Giữ Nước. Chúng tôi đã đưa thơ của anh lên các trang lính (http://ccb1040.blogspot.com/2013/ của Lính Đại học Cơ điện và trang FB - Lính 6971; Trang Lính Xe tăng), Trang Đến với những bài thơ hay, Trang CLB Đẹp mãi tuổi Thanh xuân, Trang CLB Tình yêu Người lính, Trang Thơ Tình còn mãi với thời gian ... Hôm nay mời các bạn đọc bài thứ nhất của anh với mong ước rằng Tình cảm của lứa tuổi U70 đến được với các bạn ở nhiều lứa tuổi khác nhau, nhất là với các bạn Thanh Niên... (
Hang Khach)

----
Và đây là bài viết của bạn Phan Chí Thắng (người cùng lứa trê
n FB)

Phan Chi

Đọc NHỮNG NGƯỜI LÍNH SINH VIÊN của Lê Anh Quốc
Tôi hoàn toàn không quen biết người lính Lê Anh Quốc, càng không biết có nhà thơ tên là Lê Anh Quốc. Vô tình đọc được thơ anh trên Facebook, tôi không thể làm được việc gì khác ngoài việc viết cảm nhận về trường ca hơn 500 câu “Những người lính sinh viên” của anh.
Tôi rất ít khi bình thơ, phải xúc động lắm mới viết.
Được biết anh nhập ngũ năm 1971, khi đang là sinh viên. 
Một người lính sinh viên, một nhà thơ lính. Một người trong số hơn 10.000 sinh viên các trường đại học của Hà Nội lên đường vào Nam chiến đấu từ năm 1970 đến năm 1972. Hơn một nửa đã hy sinh tại các mặt trận, nhưng nhiều hơn cả là hy sinh tại chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị những tháng ngày đỏ lửa.

Tôi gõ tên anh cùng tên bài trường ca của anh trong Google. Không thấy.
Nghĩa là anh không nổi tiếng, thơ anh thuộc loại “chưa được xếp hạng” theo cách xếp hạng của giới tự phong cho mình là chuyên nghiệp.
Thơ về chiến tranh có hai giai đoạn. Giai đoạn trong chiến tranh và giai đoạn sau chiến tranh.
Thơ chiến tranh trong chiến tranh mang tính động viên ca ngợi với âm hưởng chủ đạo là cảm hứng sử thi. Phạm Tiến Duật: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm!” hay Nam Hà “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!”.
Thời kì hậu chiến, khi đã có độ lùi của thời gian, bối cảnh xã hội và tâm thế sáng tạo cho phép người viết được tái hiện chiến tranh thiên về chất trữ tình triết lí, chiêm nghiệm. Cốt truyện không còn là điều quan trọng như trong trường ca truyền thống mà mang yếu tố tự sự nhiều hơn.
Trường ca Những người lính sinh viên nằm trong số đó.
Tác giả không nhận mình là thi sĩ chuyên nghiệp:
“Chúng tôi đi đánh giặc những tháng năm dài
Phút khuây khỏa
Làm thơ trên báng súng.
Đời chẳng tĩnh
Nên câu thơ quá động.
Lục bát trèo
Lên võng
Đung đưa…”
Lục bát trèo lên võng đung đưa là thơ nó tự trèo lên người lính. Câu thơ thật hay, chuyên nghiệp chắc gì nghĩ ra.
Thơ anh tự sự nhưng không phải tự sự của “tôi” mà là của “chúng tôi”, những người người lính có học mà anh gọi là lính sinh viên, từ ruột gan người lính. Những vần thơ mộc mạc, tự nhiên như chính đời lính gian khổ, đói rét, hy sinh, ngời sáng tình đồng đội thiêng liêng cao thượng.
Nói về thế hệ mình, anh tự hào:
“Thế hệ chúng tôi !
Ai cũng dễ thương,
Thơm thảo như hoa,
Ngọt ngào như trái.
Tình đồng đội lòng không cỏ dại,
Nghĩa đồng bào - Bầu, Bí thương nhau.”
Anh nói về sự hy sinh của các chị các em các mẹ mà anh cho là cao cả hơn sự hy sinh của người đàn ông:
“Thế hệ chúng tôi phụ nữ muộn chồng
Nhiều đứa quá thì nên cầm lòng vậy
Đời con gái chín dần trong cây gậy
Rụng xuống đường lọc cọc tiếng đơn côi.”
Chỉ người đàn ông đích thực mới nhìn thấy cái mất mát đáng sợ do chiến tranh mang lại cho người đàn bà:
“Con dâu nằm chung với mẹ chồng,
Tay bó gối phòng lúc mình mê ngủ.
Hai cái thiếu chẳng làm nên cái đủ.
Dưới mái nghèo năm tháng vắng đàn ông.”
Hình ảnh chiếc võng được lính liên tưởng như vầng trăng khuyết, như con thuyền chở lòng căm thù giặc, như cánh cung mà mỗi người lính là một mũi tên.
Người lính còn biết mơ mộng một ngày đỗ đạt vinh quy bái tổ ngồi trên võng. Thương quá những chàng sinh viên gác bút nghiên đi đánh giặc!
Nói về sự lạc quan của người lính, khó ai có thể nói hay hơn:
“Chúng tôi cười
Cười chật đất
Cười chật sông
Cười chật suối...”
Về cái đói của lính, anh cũng có cách nói rất độc đáo đồng thời lại rất thật:
“Không sợ giặc, không sợ đạn bom rơi,
Cái sợ nhất lúc này là đói.
Đói vàng mắt,
Đói long đầu gối,
Đói phạc phờ,
Đói thừa cả chân tay...!
Mà lạ chưa?
Vào chính lúc này,
Chúng tôi lại đánh lui quân giặc.”
Kết thúc chiến tranh, anh không quá say sưa chiến thắng mà nói về làng quê, về đời sống của người dân và đương nhiên là nói về mẹ:
“Bây giờ mắt mẹ đã mờ,
Nhìn tôi bằng “ngón tay rờ” run run”
Câu thơ tuyệt hay. Cần gì phải nói bao năm chờ đợi mẹ khóc đến mù hai mắt, chỉ cần hình ảnh nhìn bằng tay là đủ lay động lòng người.
Anh có một “nỗi buồn chiến tranh” giống mọi người:
“Bao cô gái
Bao chàng trai
Lứa tuổi đôi mươi
Đã nằm xuống dưới bạt ngàn nấm mộ
Những cái tên…
ngày nào xanh nhãn vở
Giờ xếp hàng
Đỏ rực nghĩa trang.”
Không phải rất nhiều nấm mộ mà là chỉ một nấm mộ thôi nhưng bạt ngàn. Thơ đấy chứ đâu, nghệ thuật đấy chứ đâu nữa!
Và một nỗi buồn rất khác. Các anh trở về với luống cày cây lúa. Thời trai trẻ đã qua đi, không được học hành như mơ ước. Trong thời đại công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các anh bị lạc hậu:
“Không thể đem việc đổi xạ - bóp cò,
Làm công nghiệp trong thời mở cửa.
Ta sẽ chẳng vượt qua đói khổ,
Nếu chân mình còn nặng đế cao su!”
Đau hơn cả là cái tương lai tươi sáng mà vì nó các anh đã chiến đấu hy sinh vẫn còn xa chưa đến:
“Ta đã qua dài rộng rừng sâu,
Chân đã thuộc những nẻo đường ngang dọc,
Mà bây giờ trước đồng, trước ruộng
Sao ta đi, đi mãi... chẳng đến bờ?
Vẫn chỉ là muôn thuở: Đói hay No?
Mà lăn lóc cả đời với đất
Từ mặt trận,
mang Cái còn - Cái mất
Trở về làng đánh đổi Cái có - Cái không...”
*****
Tôi bỏ cả ăn sáng, viết cho xong bài này.
Hãy cho tôi một lần được làm người bình thơ, hãy cho tôi thắp nén tâm nhang cho anh, người lính thơ, nhà thơ lính.
Có thể anh không có danh xưng nhà thơ (tôi không rõ lắm) nhưng anh là nhà thơ trang trọng trong tôi, trong những người bình thường và những người yêu thơ.
Chúng ta căm ghét chiến tranh, chúng ta mong con cháu mình không bao giờ phải cầm súng, không muốn rồi sẽ có những người lính sinh viên như anh. Nhưng để mong muốn đó thành hiện thực, chúng ta phải trân quý những người như anh - người lính vô danh, nhà thơ thầm lặng!
Bài thơ rất dài nhưng tôi khuyên bạn nên đọc
KHOẢNG TRỜI NGƯỜI LÍNH
Chương 1 : KHÚC DẠO ĐẦU
Thế hệ chúng tôi!
Chưa kịp lớn lên,
Bom đạn Mỹ xé rách trời, nát đất.
Vừa buông nách đứa em bé nhất,
Trên đầu mình,
Già dặn khoảng trời xanh.
Thế hệ chúng tôi- Thế hệ chiến tranh.
Hoa lau trắng những ngày tiễn biệt
Người lên đường - Đất Nước là Tiền tuyến
Người ở nhà – Tổ quốc hóa Hậu phương
Thế hệ chúng tôi !
Ai cũng dễ thương,
Thơm thảo như hoa,
Ngọt ngào như trái.
Tình đồng đội lòng không cỏ dại,
Nghĩa đồng bào - Bầu, Bí thương nhau.
Thế hệ chúng tôi con gái cũng “mày râu”
Chẻ lạt lợp nhà, đốn cây, bổ củi
Đêm trăng lên nhoi nhói câu thầm hỏi:
- Mình đàn bà sao bóng tựa đàn ông?
Thế hệ chúng tôi phụ nữ muộn chồng
Nhiều đứa quá thì nên cầm lòng vậy
Đời con gái chín dần trong cây gậy
Rụng xuống đường lọc cọc tiếng đơn côi.
Thế hệ chúng tôi...
Meo mốc bình vôi,
Mùa cau lại vàng,
Mùa trầu lại đỏ,
Mẹ cần chổi gom những mùa lá đổ,
Đợi con về …
Run rẩy quét thời gian.
Ngôn ngữ Tình Yêu
thời của chúng tôi:
Một đôi chim bay trên áo gối,
Một bông hồng thả hương bối rối,
Một khoảng tròn quanh những chiếc khung thêu.
Thế là thương
Là nhớ
Là yêu
Là gánh vác việc nhà người ra trận.
Dẫu không hóa làm thân Núi Vọng,
Cũng một đời chín đợi, mười trông.
Đêm.
Con dâu nằm chung với mẹ chồng,
Tay bó gối phòng lúc mình mê ngủ.
Hai cái thiếu chẳng làm nên cái đủ.
Dưới mái nghèo năm tháng vắng đàn ông.
Thệ chúng tôi,
Ra ngõ gặp Anh hùng.
Đâu cũng thấy hy sinh cho Tổ quốc.
Người trước ngã,
Người sau không bỏ cuộc.
Trận đánh này,
Phải TOÀN THẮNG ngày mai …
Ngày mai
Ngày mai
Ngày mai…
Có thể là gần
Có thể xa vời vợi...
Sẽ chẳng tới nếu ta ngồi chờ đợi.
Chỉ con đường duy nhất phải vượt lên !
Dù ngày mai sẽ chẳng vẹn nguyên,
Những cô gái, chàng trai tuổi xuân hơ hớ.
Dù ngày mai sẽ bạt ngàn nấm mộ.
Những con người của thế hệ chúng tôi.
Mặc gian nan!
Mặc đạn bom rơi!
Đích phải đến là TỰ DO - ĐỘC LẬP.
Là Đất Nước sạch bóng quân xâm lược.
Là Bắc – Nam sum họp một nhà.
Mẹ sẽ vui
Ngày mai .
Khải hoàn ca !
Chúng con hát dọc đường về thăm mẹ.
Ta tưng bừng,
Ta thương người lặng lẽ.
Bởi
Mất - Còn,
Cũng đến một ngày mai…
Chương hai: KHOẢNG TRỜI NGƯỜI LÍNH
1- ĐƯỜNG VÀO
Đêm đầu tiên,
Ngủ giữa rừng cây
Chúng tôi níu rừng vào hai đầu cánh võng.
Chống chếnh thế,
Những ngôi nhà của Lính,
Gió hướng nào thổi đến cũng thông thênh.
Khoảng trời vuông trên mỗi “mái tăng”
Không che được hạt mưa xiên xối xả.
Đêm đầu tiên nên ai cũng lạ,
Giấc ngủ chập chờn như lá rừng rơi ...
Anh lính gác hết đứng lại ngồi,
Nghe tí tách mưa rơi trên áo bạt;
Cách dăm nhà có ai khe khẽ hát.
Đêm bỗng òa...
Một thoáng nhớ xôn xao ...
Lại đằng kia có tiếng rít thuốc lào,
Đêm vo lại,
đỏ lừ mắt điếu.
Ước gì có chiếc Hồ lô Kì diệu,
Hút Đêm vào cho Lính khỏi chờ lâu...
Đêm không ngủ.
Là đêm rất sâu,
Lính hóm hỉnh nghĩ ra đủ chuyện.
Đứa thì bảo,
Võng như hình trăng khuyết
Treo giữa rừng và thức với ngàn cây.
Đứa thì bảo,
Võng như con thuyền đầy,
Chở hờn căm trên dòng sông cạn.
Dòng sông ấy là Đường ra Mặt trận.
Bao Con Thuyền mải miết vượt bằng chân...
Đứa lại nói
Võng như cánh cung.
Đêm để ngửa,
bình minh lên sẽ “úp”
Còn Người Lính
là mũi tên vun vút,
Phút bình minh
là lao thẳng ngực thù!
Có đứa láu lỉnh đến lạ chưa?
Bảo,
Mái Tăng giống như chiếc lọng,
Lính xếp bằng ngồi trên cánh võng,
Chẳng khác gì Quan Trạng ngày xưa.
Thì, bây giờ nào có kém chi
Khoa Đánh giặc,
đậu nhiều Dũng sĩ.
Ngày bái tổ,
Ngày Ta thắng Mỹ,
Dũng sĩ về còn hơn Trạng vinh qui...
Đêm va vào xoong chảo đằng kia
Vỡ từng tiếng.
Lanh canh trên bếp lửa...
Chúng tôi hiểu,
Bình Minh về gọi cửa,
Chỉ tích tắc thôi,
Nhà Lính dỡ xong rồi.
Chúng tôi lại đi...
Náo nức những dòng người.
Bình tông nước nối hai đầu Binh trạm.
Nắm cơm vắt tòng teng trên lưng bạn,
Biết độ đường còn mấy “đoạn dao quăng”.
Gửi Đại Ngàn,
những đêm phía sau.
Phía Nỗi nhớ cứ dài vào vô tận.
Bao gương mặt cỏ cây chưa kịp nhận.
Đã vội ào đi trước lúc trời hừng.
Để lại những địa danh
- Khắc lên cây rừng.
Những dấu thời gian còn tươi roi rói.
Hàng Lốc lịch treo trên lưng chừng núi.
Dọc đường vào
Năm tháng cũng vào theo !
-----
2. TÂN BINH
Thắc thỏm quá.
Trận đánh đầu tiên.
Những tân binh chưa thạo bắn.
Giặc tràn lên
sọc sằn như đàn rắn.
Chúng tôi rợn người!
Nhắm mắt!
Ngồi im...!
Bên chiến hào, người Lính Cựu thản nhiên.
Anh thủ thỉ,
” Lần đầu, ai chả thế!”
Nói cho biết,
” Tớ chẳng bằng Cánh Trẻ.
Còn tệ hơn. Tè cả ra quần!...”
Tôi thoáng nhìn, những cựu quân nhân.
Gương mặt các anh như tạc bằng đá núi.
Nét phong trần, làn da xẫm lại.
Trước chúng tôi. Các anh hóa thiên thần!
Bọn giặc ào lên!
Mỗi lúc một gần.
Lệnh phát hỏa!
Chúng tôi ào ào bắn!
Những viên đạn xả nòng không cần ngắm ...
Phía bên nào cũng có tiếng rên la ...
Nghe gằn đầy âm thanh AK
Mà trận đánh tưởng chừng còn rất dữ ...
Mãi sau này chúng tôi mới rõ,
Cánh tân binh,
đã bắn phứa lên trời.
Rồi trận đánh nào cũng kết thúc thôi.
Chỉ huy bảo:
“ Chúng ta đã thắng...”
Bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc.
Ta cũng nhiều chiến sĩ hy sinh
Chúng tôi đi tìm Đồng đội của mình.
Lóng ngóng quá,
Những vòng tay ôm bạn.
Người Lính Cựu đã dạn dày bom đạn,
Bế đứa này...
Rồi bồng đứa kia ...
Chàng lính ví mình như Quan Trạng xưa,
Một trận thôi đã thành liệt sĩ.
Ngày trở về,
Ngày Ta thắng Mỹ
Anh chẳng thể làm “Trạng vinh qui”
Trước mộ các anh,
chúng tôi lặng đi.
Nhớ chuyện hôm xưa làm ai cũng khóc...
Hoàng hôn xuống.
Đỏ mọng từng con mắt.
Đêm nặng đè lên mỗi “cánh cung” ...
-----
3. TIẾNG CƯỜI CỦA LÍNH
Cuộc đời lính.
Đạn trước mặt.
Bom trên đầu.
Mìn vùi dưới đất ...
Sống và chết đo bằng gang tấc.
Thắng và thua đọ ở sức người.
Có phải thế?
Chúng tôi cười
Cười chật đất
Cười chật sông
Cười chật suối...
Đường ra trận nào ai tính tuổi ?
Nên tiếng cười cứ lẫn cả vào nhau ...
Nếu gom được
- Xin giữ cho mai sau.
Phòng có giặc hãy phát làm vũ khí,
Nếu còn sống nhớ mang về quê tớ,
Những trận cười rừng rực sức trai ...
Những nụ cười
hình hoa mơ, hoa mai
Rụng trăng gốc
vẫn khát ngày xây quả
Những nụ cười thấm cả vào máu đổ
Chôn dưới mồ
vẫn cứ vút bay lên!
Những nụ cười mang hình mũi tên
Làm thế trận bủa vây quân giặc
Những nụ cười nối phương Nam - Phương Bắc
Cứ trùng trùng …
Theo bước những đoàn quân
Những nụ cười nuôi từ Lòng Dân
Thành sức mạnh
Kẻ thù nào thắng được?
Những nụ cười của Bốn ngàn năm Dựng nước.
Hóa thành đồng
Muôn thuở
Việt Nam ơi!
Những nụ cười làm khô giọt lệ rơi.
Ngày TOÀN THẮNG nếu con không về nữa
Mẹ lắng nghe trong từng làn gió
Có tiếng cười của đứa con yêu …
4. THI SĨ
Chúng tôi đi đánh giặc những tháng năm dài
Phút khuây khỏa
Làm thơ trên báng súng.
Đời chẳng tĩnh
Nên câu thơ quá động.
Lục bát trèo
Lên võng
Đung đưa…
Có phải vì quen với nắng mưa
Nên câu thơ biết xòe ô cho bạn?
Có phải quanh mình ùng oàng bom đạn,
Nên trong thơ
khao khát một nụ hồng!
Có phải vì thương,
vì nhớ cháy lòng
Nên lửa cứ bập bùng nơi ta viết?
Có phải vì anh yêu da diết
Nên bài nào cũng nói về em?
Chẳng tài đâu!
Làm mãi rồi quen
Như đánh giặc lâu ngày thành lính cựu.
Trước cuộc sống
Bao cái Hùng tề tựu
Dẫu chẳng là Thi Sĩ ...
Cũng Thơ!
Ẫy là nói những đứa ngu ngơ
Chứ thế hệ thì thiếu gì đứa giỏi.
Đánh giặc cừ
Làm thơ cũng sõi,
Dũng Sĩ và Thi Sĩ rất xứng danh.
Đêm bồi hồi bên cánh rừng xanh
Náo nức quá!
Nghe Chương trình văn nghệ
“ Thơ Chiến sĩ ”?
Sao nhạc buồn đến thế?
Lính nhớ nhà...
càng nhớ nhà hơn!
Ơi!
Tiếng đàn bầu
Nỉ non
Nỉ non…
Đem thân phận thả vào đêm chiến trận
Này Cung Nhớ!
Này Cung Thương!
Này Cung Hờn!
Này Cung Hận!
Hỏi cung nào Người Lính chẳng từng qua ???
------
5. ĐÓI
Trận đánh này.
Chúng tôi giữ điểm cao,
Quần cả tháng,
lương ăn không còn nữa!
Giặc vây chốt đông như đàn kiến lửa
Phía chúng tôi ...
Còn lại mấy đứa thôi.
Không sợ giặc, không sợ đạn bom rơi,
Cái sợ nhất lúc này là đói.
Đói vàng mắt,
Đói long đầu gối,
Đói phạc phờ,
Đói thừa cả chân tay...!
Mà lạ chưa?
Vào chính lúc này,
Chúng tôi lại đánh lui quân giặc.
Có lẽ vì chẳng cách nào khác được!
Có lẽ vì... Còn - Mất đó thôi...
Phía chân đồi, giặc đã rút rồi.
Cái Đói lại xông lên ngợp chốt.
Không thể bắn,
Và cũng không thể giết
Muốn cầm hòa...
Cái Đói
Chẳng buông tha !
Đồng đội tôi gục xuống giữa chiều tà...
Gạo vừa tới, cơm còn đang nấu dở
Boong canh rừng lục bục sôi trên lửa
Bạn đi rồi...
Chẳng kip bữa cơm no !
Ôm xác bạn chúng tôi khóc hu hu!
Người đói chết trên tay người đói lả
Chôn bạn xong... Đói tràn lên cỏ
Tôi cầm cành cây,
đói lả trước mồ ...
Chúng tôi thường cúng bạn cả nồi to
Cơm đấy, canh đấy...
Bạn ăn đi khỏi đói !
Sống giữ chốt
Chết thành ma đói
Đêm đứt rời ...
Bởi những cơn đau....
6. TIẾN VỀ THÀNH PHỐ
Từng trận đánh,
cứ nối tiếp nhau
Như mùa lũ ngập dần đôi bờ đất
Từng chiến dịch mở bung mặt trận
Như gió ngàn ồ ạt thổi võng thung.
Mùa mưa đi qua.
Khô khát những cánh rừng.
Cây trút lá bên đường tơi tả.
Đất như choàng tấm chăn màu đỏ.
Những nấm mồ đồng đội rực lên!
Tiến về Sài gòn
Từ khắp nẻo Trường Sơn.
Đại bác
Xe tăng
Chuyển rung thành phố
Rầm rập những Binh đoàn
Ào ào thác đổ
Cả nước dồn về
Trùng điệp quân đi.
Các hướng tấn công
Thần tốc – diệu kỳ
Ngày mai hiện dần
Bằng xương
Bằng máu
Ngày mai sẽ về
Gang tấc nữa thôi!
Gang tấc nữa thôi!
Cờ giải phóng tung bay dinh Độc Lập
Tổ quốc tưng bừng niềm vui thống nhất
Chúng con sẽ về
Bên mẹ
Mẹ hiền ơi!
Gang tấc nữa thôi!
Ác liệt lại ngàn lần ác liệt
Sào huyệt cuối cùng
Sào huyệt lửa bung ra.
Máu Người Lính đã thấm rừng già,
Nay lại đổ dọc đường vào Thành Phố !
Người lính cựu,
Mang nửa đời chữ thọ,
Có ai ngờ!
Ngã xuống,
Trước ngày mai.
Chúng tôi nghiêm trang
Đứng trước thi hài
Người Đồng đội,
Người Anh,
Người Thầy trong trận mạc.
Giữa Sài Gòn - 30 THÁNG TƯ.
Chương ba: SAU CHIẾN TRANH
1. LÀNG XƯA
Giặc tan rồi
Chúng tôi trở về quê
Bồi hồi quá!
Những bàn chân lính
Chiếc ba lô trên lưng nhẹ tếch
Chỉ nặng nhiều là mấy búp bê.
Khao khát gì mà bồng bế thế kia?
Hay ở rừng lâu ngày không bóng trẻ?
Ngoài mặt trận nào ai thành bố - mẹ
Tìm đâu ra tiếng bé khóc chào đời.
Hay tuổi xuân ta
trầm bổng cuối trời?
Như hạt mưa sa xuống vườn đồng đội
Hay vì thương cây
tháng năm ngóng đợi?
Mùa hoa về
cho tươi lại cành xanh.
Thôi!
Gác lại một thời chiến tranh,
Ào về nơi chôn nhau, cắt rốn.
Để ngắm Mẹ
Cho hả hê nỗi nhớ.
Để nhìn Cha
Cho đã buổi thương Người.
Để được gặp,
Nàng mặc áo nâu tươi
Khoe với Em rằng: chỉ thêu vẫn thắm,
Rằng: hai đứa chẳng còn xa ngàn dặm,
Rằng: hôm nay thuyền đã cập bến rồi.
Đây mái nhà tuổi thơ của tôi.
Đây bậu cửa chắn ngang thời lẫm chẫm.
Đây hình vẽ ngu ngơ thời chấy rận,
Màu than đen còn nhánh đến bây giờ.
Đây hàng cau cha trồng từ ngày xưa.
Rụng đỏ đất...
Những mùa đành để lỡ.
Đây vườn trầu mẹ ươm hồi ta nhỏ,
Rơi vàng trời
như thể khát tìm cau.
Đây con đường nối sang nhà nhau.
Bên ấy, bên này
đi về một ngõ.
Đêm.
Họp Đoàn cùng chung đuốc tỏ,
Ta soi cho Em về tới sân nhà.
Đây xóm làng lam lũ của ta.
Những bữa cơm còn đầy mâm rau má.
Người ra trận vẫn mang manh áo vá.
Trẻ tới trường,
quyển sách đọc thay nhau.
Mùa đông về chăn chưa đủ ấm đâu,
Mùa hạ đến chẳng đủ màn ngăn muỗi.
Ta gặp ai cũng già trước tuổi.
Biết: Hy sinh đâu chỉ ở chiến trường!
Ơi! Xóm làng mà ta gọi Quê hương,
Người ra trận đông hơn người ở lại,
Đã kín vách BẢNG VÀNG DANH DỰ,
Giờ lại nhiều BẰNG TỔ QUỐC GHI CÔNG.
Bao hố bom chằng chịt trên đồng,
Nghe lành lạnh tiếng cá cờ búng nước.
Hiểu hạt gạo nuôi quân ngày chiến cuộc,
Đã chan hòa,
Máu với Mồ hôi.
2. MẸ
Con về với Mẹ hôm nay
Thật đây! Sao Mẹ tưởng ngày…mình mơ.
Bây giờ mắt mẹ đã mờ,
Nhìn tôi bằng “ngón tay rờ” run run.
Như là để thật tôi hơn
Mẹ rờ vết sẹo vai con ngày nào.
Nhận ra, mắt Mẹ lệ trào
Rưng rưng...
vào khoảng khát khao con về.
Và tôi cứ thế lặng đi
Trước pho Tượng Phật từ bi giữa nhà.
Mấy năm đánh giặc đường xa
Chẳng ngờ đâu
Mẹ tôi già thế kia?
Hàm răng đen nhánh ngày xưa
Đi đâu vội,
để nắng mưa cối trầu?
Hạt sương kéo sợi trên đầu
Bảo tôi:
Đời Mẹ dãi dầu đấy thôi.
Mắt huyền xưa buộc Cha tôi
Bây giờ,
Mẹ buộc lá rơi ngoài thềm.
Mỏng manh chiếc áo vải mềm,
Tuổi thơ tôi để trong nền yếm nâu.
Yếm Người nào có rộng đâu.
Mà sao như thửa đất giàu mênh mông…
Ở đây cũng thể Thành đồng
Ở đây nuôi những Anh hùng nước non.
Yếm vuông cho giọt sữa tròn
Đọng trong mỗi dấu chân con tháng ngày.
Con về với Mẹ hôm nay
Thật đây!
Sao Mẹ tưởng ngày mình mơ!
Mẹ tôi giờ, mắt đã lòa
Nhìn tôi bằng ngón tay già…
rưng rưng…
3. MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG
Chúng tôi về với việc nhà nông,
Đông hơn cả,
Vì đồng rộng lắm
Những người lính một thời chiến trận
Giờ lại về cuốc bẫm cày sâu.
Ruộng có bờ,
Việc chẳng có bờ đâu
Buổi lật cỏ đã lo ngày bắc mạ.
Gieo trên đất những mầm vui hối hả,
Những lo toan, thắc thỏm, trông chờ.
Tưởng đã quen rồi, sao vẫn gặp bất ngờ?
Bất ngờ hạn - mặt đồng khô như ngói.
Bất ngờ úng - lúa chìm trong tê tái.
Bất ngờ sâu - đau thắt ruột người trồng.
Cấy cây lúa
Là cấy phận nhà nông.
Xòe bàn tay tính từng ngày, từng tháng.
Mặt trời lên
đến thâu đêm
lại sáng.
Bóng người còng,
mơ…
lúa tròn bông.
Hạt gạo dẻo thơm?
nào dễ hiểu đồng,
Khi chưa có một lần với lúa.
Khi cuộc đời lượt là trong nhung lụa,
Đã chắc gì hiểu nổi bát cơm bưng ?
Đã chắc gì biết cái rét cuối đông?
Chân mẹ nẻ ngậm bùn rét giá.
Đã chắc gì biết những chiều nắng hạ?
Áo cha dầy thêm mỗi bận mồ hôi.
Về với đồng mới hiểu hết đồng ơi!
Bát cơm chan mồ hôi - nước mắt
Lại có chuyện... những người khuất tất
Lại bão giông… rình rập trên đầu...
Ta đã qua dài rộng rừng sâu,
Chân đã thuộc những nẻo đường ngang dọc,
Mà bây giờ trước đồng, trước ruộng
Sao ta đi, đi mãi... chẳng đến bờ?
Vẫn chỉ là muôn thuở: Đói hay No?
Mà lăn lóc cả đời với đất
Từ mặt trận,
mang Cái còn - Cái mất
Trở về làng đánh đổi Cái có - Cái không...
Phải vượt lên thôi!
Mình tự cứu mình.
Than phận làm gì cho thêm yếu lính?
Đất Nước chiến tranh ra đi đánh giặc.
Đất Nước hòa bình, tất cả dựng xây.
Nào tập đi!
Cho thẳng những đường cày
Cho con trâu khỏi nhắc người: vắt - diệt
Cho vụ mùa gối tiếp nhau mải miết
Cho đồng làng bông lúa gọi : đời no!
Nào học đi!
Ta mới chỉ i tờ.
Nghề nhà nông còn bao điều mới lạ,
Muốn xênh xang từ cọng rơm, gốc rạ.
Phải hiểu đồng,
như hiểu chiến trường xưa.
Ta đã nghe !
Nhiều đồng đội gần, xa
Bát ăn đủ rồi, giờ thêm bát để.
Đã rộng cửa nhà,
Đã yên dâu - rể,
Đã ông - bà…
còn rất lính mà Em!
Ta lại nghe.
Từ phía mặt trời lên
Tiếng tần tảo gõ vang đường xuống chợ
Những mảnh vườn cho mùa chín đỏ
Thơm chật gùi…Đồng đội địu trên lưng.
Và đằng kia,
trên khắp nẻo núi rừng,
Bao trang trại mở đường vào giàu có.
Nhiều người lính đã thành ông chủ.
Cũng đình huỳnh xe máy hon đa.
Vườn-Ao-Chuồng xây cất Vi la,
Ai bảo lính không biết làm kinh tế?
Bao doanh nghiệp tư nhân
Bao nhiêu nhà tỷ phú
Cũng đều từ những Cựu Chiến binh.
Ta dõi theo vóc dáng những công trình.
Bao người lính trở về xây thủy điện
Đời lại thắp những NGỌN ĐÈN trước biển
Sóng gầm gào…
Đèn vẫn sáng lung linh.
Ấy là khi
Ta tự biết vượt mình
Trước cuộc sống
Có bao điều Cầu ước.
Nếu được ước
Xin ước cho tất cả
Đừng hóa mình xa lạ với Nhân Dân.
Chương 4: HỒI TƯỞNG
Thế hệ chúng tôi, Đi qua Chiến Tranh.
Đời mỗi đứa là một thời để nhớ
Về đồng đội,
Về những ngày khói lửa
Về những hy sinh,
… không nói hết bằng lời.
Bao cô gái
Bao chàng trai
Lứa tuổi đôi mươi
Đã nằm xuống dưới bạt ngàn nấm mộ
Những cái tên…
ngày nào xanh nhãn vở
Giờ xếp hàng
Đỏ rực nghĩa trang.
Có những hy sinh
Âm ỉ với thời gian
Người trở về trên mình đầy thương tích
Chiếc nạng gỗ gõ dọc chiều cơn lốc
Hiểu con đường đang chín giọt mồ hôi.
Có đứa về lành lặn hẳn hoi
Nào ai hay?
Chất độc vùi trong bạn
Lúc làm cha mới biết mình trúng đạn
Vết thương
- Là con anh.
“Vì Nhân Dân quên mình! Vì Nhân Dân hy sinh!”
Bài hát gọi ta về quân ngũ.
Cuộc sống Lính có khi nào đầy đủ?
Thiếu thốn nhiều nên cũng phải quen đi!
Cũng phải quen.
Như thể chẳng thiếu gì
Vì khi ấy chiến trường cần phải thế!
Ngày trở về Ta không còn trai trẻ.
Giữa đời thường cái thiếu lại thiếu thêm.
Những hy sinh không thể bắc lên cân.
Càng không thể quy thành tem phiếu.
Những người lính có bao giờ định liệu
Cái giá mình trước Tổ Quốc, Nhân Dân!
“Vì Nhân Dân quên mình!
Vì Nhân Dân hy sinh!”
Lẽ sống ấy làm nên Nhân cách Lính.
Ngay cả khi mình không mang quân phục,
Nhưng Lính thì chẳng lẫn với ai đâu?
Không biết người ta sống mai sau,
Có đời hơn thời chúng tôi đang sống?
Rồi đến lúc phải quên đi tiếng súng,
Ta vẫn tin!
Đồng đội chẳng quên nhau!
Nhân Dân mình sống có trước có sau.
Cứ nhìn những Nghĩa trang, những Tượng đài thì biết.
Và cả những Tượng đài thơm hương tha thiết,
Cho người sống,
Cho người còn
mà chết tuổi thanh xuân.
Nếu Cuộc đời biết vì Nhân Dân
Thì Nhân Dân cũng vì ta năm tháng.
Như mặt trời cho cỏ cây nguồn sáng,
Cỏ cây nào chẳng cho đất những mùa hoa?
Bom đạn tạnh đi rồi
Chiến tranh đã lùi xa!
Cuộc sống mới bảo chúng tôi đổi mới!
Không thể đem những ngày lửa khói
Giữa thị trường đánh đổi lấy ấm no!
Không thể đem việc đổi xạ - bóp cò,
Làm công nghiệp trong thời mở cửa.
Ta sẽ chẳng vượt qua đói khổ,
Nếu chân mình còn nặng đế cao su!
“Vì Nhân Dân quên mình! Vì Nhân Dân hy sinh!”
Bài ca ấy đã trở thành lẽ sống!
Chúng tôi hát từ buổi tò te lính.
Đến bây giờ vẫn hát
- Những Cựu binh.
Lê Anh Quốc
Thị xã Yên Bái - Tháng 1-2000

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2019

Ức Đông Sơn

TƯỜNG VI KỶ ĐỘ HOA 
bạch vân hoàn tự tán 

不向東山久 , 
薔薇幾度花 ?
白雲還自散 , 
明月落誰家 ? 


 憶東山 – Lý Bạch
bất hướng đông sơn cửu,
tường vi kỷ độ hoa ?
bạch vân hoàn tự tán,
minh nguyệt lạc thùy gia ?

Từ lâu không về Đông sơn
Tường vi đã mấy lần hoa nở ?
Đám mây trắng hẳn còn giăng mắc
Ánh trăng rọi xuống nhà ai ?
(PVB dich) 

薇 vi , bộ thảo (艸) 

1. Rau vi. 

2. Tử vi 紫薇 (mãn đường hồng 滿堂紅, bách nhật hồng 百日紅, hồng hoa cửu khung tử 紅花九芎仔 cây hoa tử vi, tục gọi là hoa bách nhật hồng 百日紅. Về nhà Đường 唐 trồng ở tỉnh Trung Thư. Sau gọi tỉnh Trung Thư là Tử Vi tỉnh 紫薇省. Nhà Minh 明 đổi làm ty Bố Chính, cho nên gọi Bố Chính ty 布政司 là Vi viên 薇垣. 

3. Tường vi 薔薇. Xem chữ tường 薔 . 薔 sắc, tường [sc 蔷 bộ thảo (艸) 1. Cỏ sắc. 2. Một âm là tường . Tường vi 薔薇 một thứ cây mọc ven tường, xúm xít từng bụi, hoa cái đỏ, cái trắng, cái vàng. 

Nguyễn Du 阮攸 : 

Kế trình tại tam nguyệt, 
Do cập tường vi hoa
計程在三月,
猶及薔薇花
(Hoàng Mai đạo trung 黃梅道中) 
Tính đường đi, tháng ba về tới, 
Còn kịp thấy hoa tường vi.
------------


ỨC ĐÔNG SƠN 
của Lý Bạch
Thu Tứ

Nguyên văn 

Dịch nghĩa
Mây trắng tan, như người họp rồi tan.
Trăng sáng rụng đâu mất, như cảnh sum vầy đầm ấm... rụng đâu mất.
Nhớ quá, Đông Sơn!
Nguyên văn
Ức Đông Sơn
Bất hướng Ðông Sơn cửu
Tường vi kỷ độ hoa
Bạch vân hoàn tự tán
Minh nguyệt lạc thùy gia.
Dịch nghĩa
Nhớ Ðông Sơn
Lâu không trở về Ðông Sơn
Không biết bụi tường vi đã nở hoa mấy lần
Mây trắng lại tan rồi
Không biết trăng sáng đã rơi xuống nhà ai.
Dịch ra thơ lục bát
Trần Trọng Kim:
Ðông Sơn xa cách bao xuân,
Tường vi đã trải mấy lần nở hoa.
Mây kia bạc xóa tan ra,
Vầng trăng khuất sáng, bóng sa nhà nào.
Ngô Tất Tố:
Non Đông xa cách bao xuân!
Cây tường vi đã mấy lần nở hoa?
Mây xưa hẳn vẫn bay xa?
Trăng xưa biết rụng xuống nhà ai nao?
Anh Nguyên:
Đông Sơn chẳng đến đã lâu,
Tường vi mấy độ khoe mầu sắc, hương?
Những làn mây trắng còn vương?
Nhà ai trăng sáng đầy vườn đêm nay?!...
Thu Tứ:
Đêm trăng ngồi nhớ nơi xa,
Vườn xưa đã mấy mùa hoa thưa người...
Kìa mây trắng lại tan rồi,
Kìa trăng vằng vặc đã rơi phương nào...

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

DU THẢN CHI



DU THẢN CHI là một nhân vật khá ly kỳ trong tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ của nhà văn Kim Dung, khi mới đọc tác phẩm, nếu không thấy anh ta đáng ghét thì thấy anh chàng đáng thương. Bị A Tử bắt về hành hạ đủ kiểu, bắt làm đủ trò, A Tử xử tệ với hắn như vậy thật là đáng hận, thế mà hắn gắng sức chiều chuộng, cung phụng cô nàng như thiên thần, khiến A Tử càng thêm đắc ý, điều này làm hắn trở nên vô cùng đáng ghét.

Nhưng hãy xem Kim Dung viết tiếp nhân vật này như thế nào nhé! Không phải chỉ đơn giản là đáng thương hay đáng ghét như thế đâu. Du Thản Chi là con trai của trang chủ Tụ Huyền Trang, từ nhỏ hắn đã không dụng công luyện võ, lại chẳng có chí lớn, mặc cho cha mẹ có đốc thúc thế nào, hắn cũng học hành chẳng tới đâu, sau chiến dịch Tiêu Phong đại chiến Tụ Hiền Trang, Du Thản Chi nhà tan cửa nát, phụ mẫu anh em chết thảm, từ đó hắn lang thang sống lây lất cho qua ngày, lúc nào cũng mang ý niệm kiếm Tiêu Phong báo thù, nhưng khi tìm được, thì thủ đoạn báo thù lại rất ấu trĩ, hèn hạ, không chút tác dụng, lần thất bại ấy khiến hắn trở nên kinh sợ, mỗi khi nghe tới Tiêu Phong ở chỗ nào là lập tức kinh hoảng tìm đường chạy trốn ngay. 

Một con người khiếp nhược, hèn hạ như vậy mà sau đó lại luyện thành một tuyệt thế thần công – Dịch Cân Kinh. A Tử phí tận tâm tư trộm được thần mộc vương đỉnh để dẫn dụ côn trùng độc vật, sau đó bắt được thứ lợi hại nhất – Băng Tầm, nhưng toàn bộ thành quả đều do Du Thản Chi ôm hết trong hoàn cảnh hết sức miễn cưỡng. Sau khi thần công luyện thành, đã có vô số cao thủ chính tà lưỡng phái chết dưới hàn âm chưởng lực của hắn, chức vị bang chủ cái bang, cuối cùng cũng dễ dàng lọt vào tay hắn..mà hắn chỉ chẳng qua là tên tiểu tử có tâm địa đê hèn, nhân phẩm thấp kém, đã vô dũng lại còn vô mưu, lý tưởng cao nhất của đời hắn là chỉ là làm thế nào để một thiếu nữ được vui lòng, có thể vì cô nàng mà giết người phóng hỏa thậm chí tàn hại bản thân mà không bao giờ từ chối.. cho nên ngoài đáng thương, đáng ghét ra hắn còn trở nên đê tiện và đáng sợ. 

Nếu đem Du Thản Chi và Lâm Bình Chi ra so sánh thì kết quả cho ra sẽ rất thú vị. “Bình Chi” và “Thản Chi” là một sự trùng hợp ngẫu nhiên về chữ hay còn thâm ý gì khác? Cả hai đều xuất thân từ thiếu gia, công tử, quen với lối sống cơm no bò cỡi, đều gặp phải tai họa trời giáng, trong phút chốc mà tan cửa nát nhà, phải lưu lạc giang hồ, cả hai đều lấy chuyện báo thù làm mục tiêu, đều luyện thành thần công, đều có cái kết trong bi kịch và điều vi diệu nhất đó là khi hết phim cả hai đều trở thành kẻ mù lòa.. 
  
Lúc đầu cảnh ngộ của hai người có nhiều chỗ tương đồng, nhưng những điểm khác nhau cũng không hề ít, nguyên nhân cơ bản nhất của sự khác nhau đó là vì tính cách hai người hoàn toàn khác nhau, cái bị động của Du Thản Chi trái ngược hoàn toàn với sự chủ động của Lâm Bình Chi.   

Tính nhẫn nại của Lâm Bình Chi được chứng tỏ mạnh mẽ sau khi tai nạn ập đến, hắn quyết chí tìm bằng được kiếm phổ gia truyền, để luyện thành kiếm pháp báo thù cho phụ mẫu, vì thế hắn có thể dốc hết tài trí, nếm hết đau khổ, cuối cùng thành công đạt tới mục tiêu. ngược lại, Du Thản Chi vốn là tên nhu nhược bị động, núp dưới bóng râm gia đình, chẳng mang hoài bão, khi tai họa giáng xuống, cũng không có chủ trương, tuy muốn báo thù, nhưng ra quân lần đầu liền thất bại, từ đó không còn dám nghĩ tới nữa, nếu không phải do cơ duyên đưa đẩy, đến hết đời chắc hắn cũng chẳng luyện được võ công gì, mà cho dù có luyện thành thần công đi chăng nữa, cũng chưa chắc hắn đã biết tận dụng sức mạnh của thần công đó để đạt được mục tiêu.

Động cơ giết người của hắn rất đơn giản, là sợ người ta lột chiếc mặt nạ tiết lộ khuôn mặt ma chê quỷ hờn của mình cho A Tử biết, nàng sẽ coi thường hắn. Cả đời Lâm Bình Chi bị chi phối bởi ý niệm trả thù, còn Du Thản Chi lại bị thứ tình cảm sùng bái người tình chi phối. nếu Lâm Bình Chi muốn báo thù, gã sẽ tự lập ra chí nguyện cho riêng mình, trong khi Du Thản Chi chính hắn cũng không biết tại sao lại mê mẩn A Tử đến thế, mà chắc cũng chẳng ai biết.

Nhìn bề ngoài, chúng ta nói Du Thản Chi yêu đơn phương A Tử là số mạng đen đủi của hắn, nhưng thực tế, chỉ đến khi thấy được A Tử mới khiến hắn lần đầu tiên trong đời có được mục tiêu, có được hy vọng, biết được sự đợi chờ, nỗi lo âu và niềm vui sướng trong tình yêu.

Hắn sống vì A Tử, chụi khổ vì A Tử, làm đại anh hùng, kẻ tiểu nhân, rồi bang chủ cái bang, tất cả đều vì A Tử. Ngay cả lần duy nhất hắn hành động không tự tư, lần duy nhất hy sinh vì người khác cũng là vì A Tử, lấy đôi mắt của mình cấy cho A Tử, để nàng lấy lại được ánh sáng và hắn sẽ vĩnh viễn chìm vào đêm tối, nhưng cũng từ đó ánh mắt ai oán của hắn được biểu lộ thấp thoáng trong đôi mắt của A Tử, linh hồn của hắn với thân xác A Tử cứ như hợp thành một thể, A Tử nhảy xuống vực với Tiêu Phong thì hắn cũng không thiết sống nữa.

Cách xây dựng hai nhân vật Lâm Bình Chi và Du Thản Chi vừa giống nhau lại vừa khác nhau, nhưng kết cục của cả hai đều kết thúc trong bi kịch, không biết bên trong cách xây dựng ấy còn có thâm ý nào khác, hay còn tham ngộ nào không? Hình tượng Lâm Bình Chi được Kim Dung khắc họa một cách thành công và nổi bật nhưng không khó để nuốt trôi, còn Du Thản Chi thì mỗi lần đọc là một lần nghiền ngẫm, mỗi lần đều như có một cảm xúc khó nói trào lên, nó giống như có lúc người ta vừa cảm thấy nhân thế thật xấu xa, tàn ác, thống khổ, bi ai, không có ý nghĩa nhưng lại vừa có cảm giác “thiên đường là đây”.
... Tây Cuồng...

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Đờn ca tài tử nam bộ

20 bản tổ chia ra 4 loại: 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc), kể ra:
- Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai + Nam Ai Lớp Mái , Đảo Ngũ Cung + Song Cước .
- Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.
- Bảy bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
- Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu.
- 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ
Nhạc cụ cổ nhạc đờn ca tài tử
1. Sáu bài Bắc: xếp vào mùa Xuân, giọng nhạc vui tươi. Nhạc sĩ đờn 6 bài nầy thì day mặt về hướng Bắc.
Sáu bài Bắc gồm: Lưu Thủy Trường, Xuân Tình, Phú Lục, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Cổ Bản.

Các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của "đoản" bằng hai câu của "trường". Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.


2. Bảy bài nhạc Lễ: xếp vào mùa Hạ, nên thường gọi là 7 bài Hạ, giọng nhạc bực tức, hùng hồn. Nhạc sĩ đờn 7 bài nầy day mặt về hướng Ðông. Bảy bài nhạc Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Ðối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.

Ý nghĩa như sau:

Xàng Xê: Thời kỳ Hỗn độn sơ khai, các khí lộn lạo. hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị

Ngũ Ðối Thượng: Ngũ Khí nhẹ nổi lên làm Trời.

Ngũ Ðối Hạ: Ngũ Khí nặng hạ xuống làm đất. Ðó là Ngũ Hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.

Long Ðăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.

Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. : giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị,

Tiểu khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.

ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.


3. Ba bài Nam: xếp vào mùa Thu, giọng nhạc trầm buồn ai oán. Nhạc sĩ đờn 3 bài nầy thì day mặt về hướng Nam.
Ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Ðảo Ngũ Cung.

Nam Xuân: gặp mời, mừng. (Thượng nguơn)

Nam Ai: trông mong, ngưỡng mộ. (Trung nguơn)

Ðảo Ngũ Cung: bày tỏ, tái ngộ. (Hạ nguơn)

Ba bài Nam nầy có 4 giọng đờn khác nhau tùy theo 4 mùa (Tứ quí: Xuân, Hạ, Thu, Ðông) kể ra:

Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là "tiên phong đạo cốt". Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.

Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là "song cước".

Giọng Xuân (mùa Xuân) biểu thị mát mẻ, tỏ rạng, vui tươi,

Giọng Ai (mùa Hạ) biểu thị nóng nực, tâm hồn buồn thảm.

Giọng Ðảo (mùa Thu) biểu thị mưa dầm, xây vần, đảo lộn.

Giọng Song cước (mùa Ðông) biểu thị thâm trầm, mùi mẫn.

4. Bốn bài Oán: xếp vào mùa Ðông, giọng nhạc hiền hòa, non nước thanh bình. Nhạc sĩ đờn 4 bài nầy thì day mặt về hướng Tây. Bốn bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu, Phụng Hoàng.

Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.

Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

4 bài Oán phụ:

Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dựng.

Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.


Phân Loại Bài Bản Cải Lương Tài Tử


Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:
- Nhứt Lý : các điệu Lý
- Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc...
- Tam Nam : ba bài Nam lớn
- Tứ Oán : các bài Oán
- Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
- Lục Xuất : sáu bài ngắn
- Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
- Bát Ngự : tám bài Ngự
- Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
- Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn

Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãị Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậỵ

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :
- Lý Con Sáo
- Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
- Lý Thập Tình
- Lý Giao Duyên
- Lý Vọng Phu
- Lý Chiều Chiều
- Lý Cái Mơn
- Lý Huế

Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Aị Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm
Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam
Gồm ba bài Nam:

- Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là "tiên phong đạo cốt". Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.

- Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.

- Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là "song cước".

Trong "Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam" của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam Chạỵ

- Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (một trong Bát Ngự).

- Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán gồm các bài:

- Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.

- Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo nãọ Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dùng lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.

- Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dư.ng.

- Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.

- Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

- Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãị

- Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.

- Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường. Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm
Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.

- Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài rạ Một câu của "đoản" bằng hai câu của "trường". Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

- Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

- Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

- Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấụ

- Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

- Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất
Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
- Bình Bán Vắn
- Tây Thi Vắn
- Cổ Bản Vắn
- Xuân Phong
- Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhaụ
- Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọị

7. Thất Chinh
Gồm bảy bài:

- Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm áị
- Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
- Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
- Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
- Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
- Vạn Giá
- Tiểu Khúc

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự
Gồm tám bài:

- Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
- Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng
- Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã,vui tươị
- Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
- Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
- Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
- Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo nãọ Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
- Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Aị

Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư

9. Cửu Nhĩ
Gồm hai bài:
- Hội Nguyên Tiêu
- Bát Bản Chấn

Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ
Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóạ Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhaụ

- Phẩm Tuyết
- Nguyên Tiêu
- Hồ Quảng
- Liên Hoàn
- Bình Bản (Bình Nguyên)
- Tây Mai
- Kim Tiền Huế
- Xuân Phong
- Long Hổ
- Tẩu Mã

Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950 hay sớm hơn. Cho đến nay đã có hơn 100 bài được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn. Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ - trung bình, trung bình - lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi ...)

Cách Dùng:
Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng ... mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các bản:
Long Hổ Hội, Ngũ Điểm - Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều, Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản :
Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dùng các bản :
Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê. Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản: Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng:
Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Ta..

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v...

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhi

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

Tượng Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc

Tượng Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc

Trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam, tượng chân dung hậu Phật là nguồn tư liệu không nhỏ trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa, mỹ thuật…. Thờ hậu Phật là một tín ngưỡng truyền thống trong Phật giáo đồng bằng Bắc Bộ, ghi lại những phong tục tập quán, phản ánh sâu sắc sinh hoạt trong xã hội đương thời. Tượng chân dung Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là một trong những pho tượng chân dung hậu Phật được các nhà nghiên cứu mỹ thuật đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc tượng chân dung người Việt thế kỷ 17. Pho tượng được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013.
Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595 - 1660) là con gái Thanh đô vương Trịnh Tráng. Năm 1630, Vua Lê Thần Tông bị ép lấy con gái của Trịnh Tráng là Trịnh Thị Ngọc Trúc làm Hoàng hậu, bà là một trong sáu bà vợ của Vua Lê Thần Tông được tạc tượng thờ ở chùa Mật. Theo sách Đại Nam nhất thống chí - Thanh Hóa thì chùa Mật được dựng vào thời Vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), sách Đại Nam nhất thống chí do Viện Sử học phiên dịch và chú giải lại cho biết Vua Lê Thần Tông (1619-1643, 1649-1662) mới là người cho dựng chùa và tô tượng. Căn cứ tư liệu thác bản văn bia Mật Sơn Đại Bi tự (AB. 633 Viện Nghiên cứu Hán Nôm), chùa Mật do Vua Lê Huyền Tông (1663-1671) cho dựng để thờ vua cha cùng Thánh mẫu và các phi tần của cha. Qua các tư liệu trên chúng ta có thể xác định chùa Mật Sơn (thường gọi chùa Mật) tên chữ là Đại Bi tự nay thuộc phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa. Về thời gian dựng chùa, thác bản văn bia Mật Sơ Đại Bi tự cho biết: “Chùa do Vua Lê Huyền Tông (1663-1671) dựng ra để thờ vua cha cùng Thánh mẫu và các phi tần....”. Một trong các pho tượng đó là Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc được chuyển về Viện Viễn Đông Bắc Cổ, nay được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Pho tượng có kích thước: cao 111cm, khuôn mặt 19cm, ngang vai 43cm, ngang hai đầu gối 67cm, dày thân tượng 45 cm, tượng được tạc bằng gỗ mít phủ sơn son thếp vàng, hoa văn trang trí cầu kỳ, tinh xảo và rõ nét.



Tượng được tạc ở tư thế ngồi thiền trên bệ vạt bốn góc. Tay phải giơ ngang ngực kết ấn vô úy, bàn tay biểu tượng trí tuệ của Phật pháp, một lòng kiên trì khai sáng, rộng lòng từ bi. Thế tay này tượng trưng cho sự phổ độ chúng sinh, đồng thời thể hiện tâm Phật của nhân vật được tạc. Tay trái đặt trong lòng đùi kết ấn cam lồ, biểu tượng sự kiên định của Phật pháp, cầu mong ban phát cho chúng sinh cuộc sống ấm no, hạnh phúc, cùng tận hưởng niềm giải thoát.
Đầu tượng đội vương miện, có dải tóc kẹp thả sau lưng, vương miện được chạm khắc tỷ mỷ với nhiều lớp khác nhau: Vành dưới ôm sát đầu chạm vân xoắn. Vành thứ hai chạm các cụm sen nổi cao. Vành trên cùng chạm thủng hình hoa sen và vân lửa rất đặc trưng cho trang trí điêu khắc thế kỷ 17. Phía trước, đỉnh của vành mũ được chạm hình vòng cung, trong có tượng Adida ngồi tọa thiền trên đài sen. Đây cũng là biểu tượng thường thấy trên các pho tượng Bồ Tát Quan Thế Âm và là dấu hiệu đặc trưng cho việc bà là người qui y Phật pháp. Phía trên các vành mũ chạm kiểu tóc vấn cao trên đỉnh đầu và một tấm che tóc cũng được nghệ nhân chạm thủng rất cầu kì. Từ vành dưới mũ là hai dải mũ được chạm vắt mềm mại ra phía trước vai.
Trang phục của pho tượng cũng rất cầu kỳ và tinh xảo so với hầu hết các tác phẩm điêu khắc tượng chân dung thế kỷ 17 mà tác giả đã gặp. Trang phục quý tộc, ba lớp áo trong và một áo vân kiên khoác ngoài. Riêng tấm áo choàng vân kiên này được đánh giá là một trong những tấm áo được chạm đẹp nhất với mô típ lưỡng long chầu phượng trước ngực. Áo phía dưới có ba lớp đính ngọc châu tỷ mỷ, tinh tế. Cổ đeo chuỗi hạt rủ mềm xuống lòng đùi. Điểm nhấn đặc sắc nhất của pho tượng chính là gương mặt tươi sáng rạng rỡ, phúc hậu, chân thực với dái tai dài, cổ cao ba ngấn. Về sắc đẹp và sự thông minh, tài hoa của bà, linh mục Alexandre de Rodes khi ở Việt Nam cũng từng viết như sau: Bà rất thông chữ Hán, giỏi về thơ, chúng tôi gọi bà là Ca-tê-ri-na vì bà giống Thánh nữ về nhiệt tâm cũng như đạo hạnh, về những đức tính tinh thần cũng như sang trọng về dòng họ. Nhìn tổng thể, pho tượng mang vẻ đẹp quý phái, thông tuệ, nét mặt hiền đôn hậu, trang phục lộng lẫy lộ vẻ cao sang, quyền quý. Dáng thanh thoát, nét chạm kênh bong cẩn trọng. Ngôn ngữ điêu khắc gợi ý tưởng tôn sùng hài hòa triết lý Phật pháp và nội lực tự tâm của bà.
Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc còn là tác giả của bộ từ điển “Chỉ Nam ngọc Âm giải nghĩa” bằng chữ Hán Nôm (đã được NXB KHXH ấn hành năm 1985), với dung lượng 40 chương, dài trên 3.000 câu, tổng số cả Hán lẫn Nôm là 24.000 chữ, đã đề cập đến nhiều lĩnh vực, chứa đựng nhiều tri thức về xã hội, thiên nhiên như: Nông canh, hôn nhân, nhân luân, thiên văn, nhạc khí…. Bộ từ điển của bà là một kho báu về tư liệu ngôn ngữ để các thế hệ sau có điều kiện nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là người đàn bà có tâm, có đức lại thông minh tài giỏi, những công việc bà đã làm được đã làm vẻ vang truyền thống phụ nữ Việt Nam.
Tượng Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là tác phẩm được rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, mỹ thuật đánh giá là tác phẩm là điêu khắc nguyên gốc, độc bản có niên đại thế kỷ 17, là tượng chân dung tả thực hiếm có về một nhân vật lừng lẫy cả nhân đức và học thức uyên thâm trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Pho tượng là đại diện xuất sắc cho phong cách nghệ thuật điêu khắc tượng chân dung hậu Phật Việt Nam
Nguyễn Văn Nghi
-------------------

Ly tán giữa vàng son


Hồi mới vào đại học, tôi từng gặp được bà. Ở sảnh trưng bày mỹ thuật cổ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có pho tượng quý được đặt trong lồng kính. Đó là hình ảnh hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (ngày xưa đặt ở chùa Mật, Thanh Hóa). Bà hoàng phục sức lộng lẫy, thần thái sống động như vẫn còn hơi thở. Nhưng trông bà xa cách và cô độc.



Còn ở đây, trong phủ thờ chùa Bút Tháp, hoàng hậu Ngọc Trúc là một người khác hẳn, chỉ mặc tấm áo kép đơn giản, tóc buông thả xuống lưng. Trên người bà không có chút gì vướng bận danh phận của một người có địa vị cao nhất trong xã hội Lê - Trịnh lúc bấy giờ. Cạnh bên bà là con gái ruột - công chúa Lê Thị Ngọc Duyên. Khung cảnh tình thân ấy lại đặt để giữa chốn Phật môn có điều gì đó khiến chúng tôi phải chạnh lòng.


Tượng chân dung bà Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. Thế kỷ 17, chùa Bút Tháp. Gỗ phủ sơn, thếp vàng, tô màu áo xanh ngọc. Ảnh tư liệu từ cuốn Chùa Bút tháp. Kiến trúc và Điêu khắc, Trung tâm tu bổ Di tích Trung ương, 1993.

Khám và tượng thờ Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc
cũng bị cháy sém một phần bệ tượng 

(vụ cháy chùa Bút Tháp,  21-8- 2015. án gian bị cháy đặt tại gian giữa nhà Phủ thờ có mã hiệu CBT.PT.04 trong bản thống kê tài liệu, hiện vật di tích quốc gia đặc biệt chùa Bút Tháp (lưu tại hồ sơ khoa học di tích) đã bị cháy hoàn toàn. Hương án gỗ trước khi bị cháy có dạng hình chữ nhật (dài 194 cm, rộng 140 cm, cao 134 cm) kiểu chân quỳ dạ cá, chạm khắc tinh xảo, tỉ mỉ với đề tài “tứ linh, tứ quý”. Đây được đánh giá là cổ vật đẹp, tiêu biểu và điển hình của nghệ thuật chạm khắc thế kỷ XVII. Trên Hương án được bài trí một bát hương và đôi lọ hoa nhỏ bằng gốm men, các hiện vật này đều đã bị vỡ và lẫn vào trong than tro của đám cháy.)

Sử sách nói rằng năm 1630, chúa Trịnh Tráng đem con gái Trịnh Thị Ngọc Trúc gả cho vua Lê Thần Tông. Điều đau lòng trong câu chuyện này là bà Ngọc Trúc chính là vợ góa của Cường quận công Lê Trụ (chú họ vua Thần Tông), là người đàn bà đã có bốn con. Dưới sự sắp đặt kỳ quặc (và tàn nhẫn?) của cha, bà phải tái hôn, lên ngôi hoàng hậu. Bà hoàng khi ấy không chỉ có vai vế là trưởng bối mà còn hơn vua Thần Tông đến mười hai tuổi. Còn Lê Thần Tông khi lấy bà Ngọc Trúc, cả triều đình đều can, nói: “Đã trót rồi, lấy gượng vậy. Từ đó trời mưa dầm không ngớt”. (Theo Đại Việt sử ký toàn thư) Bỏ qua hết những lý giải chính trị và thời cuộc, đây là một câu chuyện gia đình thật sự buồn.

Bà Ngọc Trúc lên ngôi hoàng hậu không được bao lâu thì bỏ cung lên chùa làm người tu hành thật sự, mang theo con gái Ngọc Duyên (là con của bà và Lê Trụ). Tôi có ý tìm nhưng không thấy sử sách ghi gì về ba người con còn lại của bà (với Lê Trụ), cũng không có ghi chép bà có đứa con nào với vua Thần Tông. Hai cuộc hôn nhân đến với cuộc đời một người đàn bà. Cuối cùng là một kết cục buồn thương với chia ly và mất mát. Cũng như những câu chuyện gia đình ly tán khác, mỗi người trong cuộc đều nhận lấy một số phận có quá nhiều điều chưa thỏa nguyện.


Các bức tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, công chúa Ngọc Duyên; 
tượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ.

Trong buổi chiều vắng lạnh, khói hương thắp lên cứ quẩn một chỗ không tan ra được. Không biết các bạn tôi nghĩ gì? Riêng tôi chạnh lòng nghĩ tới công chúa Ngọc Duyên. Một thân phận cành vàng lá ngọc như nàng, dẫu đã cách chúng tôi hằng mấy trăm năm, vẫn có khác bao nhiêu. Ngồi bên cạnh mẹ mình đã bao thế kỷ trong phủ thờ heo hút của một ngôi chùa, nàng có bao giờ mong ngóng gặp lại cha mình, có bao giờ luyến nhớ những giây phút gia đình đầm ấm hay buồn thương thời thanh xuân đã trôi qua phí hoài trong câu chuyện đau buồn của người lớn?


Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên

Bạn tôi thắc mắc: vậy còn vua Lê Thần Tông trong câu chuyện này đâu phải là người ngoài cuộc? Cuộc hôn nhân của ông và bà Ngọc Trúc vốn từ lúc khởi đầu đã không thể tìm thấy điều gì có thể làm nên một câu chuyện gia đình bền chặt. Cho nên mấy trăm năm qua dù hình ảnh ông và hình ảnh bà Ngọc Trúc vẫn còn (trong khá nhiều di tích cổ), nhưng ông và bà không thể cùng ngồi lại bên nhau. Tuy ở chùa Mật ngày xưa vua Thần Tông ngồi giữa sáu bà hoàng của mình (các bà này được coi như là hoàng hậu, trong đó bà Ngọc Trúc là chính cung hoàng hậu) nhưng rồi khi chùa Mật không còn, người hậu thế đã đem bà Ngọc Trúc rời hẳn khỏi ông.

Người ta dời tượng bà về đặt vào lồng kính ở Bảo tàng Mỹ thuật, trong khi năm bà vợ kia vẫn còn ngồi lại bên ông, được phối thờ cùng ông ở đền Vua Lê. Người nào đã làm công việc di dời tượng bà Ngọc Trúc hẳn ngoài mục đích thực thi nghiệp vụ bảo tồn còn gửi chút lòng cảm khái cá nhân của mình vào đó. Vì trong bộ sáu pho tượng nguyên bản của sáu bà hoàng tượng nào cũng tuyệt đẹp và đặc sắc, sao lại chỉ muốn dời mỗi tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc?

Có lẽ lòng người thời nào cũng vậy, trân trọng những mối quan hệ thực chất. Còn những gì không thật, những con người không dành cho nhau dẫu có phải gán ghép lại vì những mục đích hay nỗi niềm nào đó thì cuối cùng cũng phải chia lìa. Trong câu chuyện gia đình xưa cũ, đầy bi thương của hoàng tộc Lê - Trịnh ấy, ai cũng ngẫm nghĩ được vài điều gì đó cho riêng mình. Vậy mà trong những câu chuyện hằng ngày thời hiện đại, bọn trẻ tụi tôi (và cả những người nhiều tuổi hơn chúng tôi nữa) thỉnh thoảng vẫn cứ thung dung bước vào những sai lầm. Chuyện xưa và chuyện bây giờ nào có khác gì đâu.


NGUYỄN THỊ NHƯ KHANH ( TTCT)

------------------

Vẻ đẹp Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc
 qua bức tượng 300 tuổi

Các nhà nghiên cứu đánh giá, tượng hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là tác phẩm đẹp nhất, đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc tượng chân dung người Việt thế kỷ 17.


Được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc có niên đại từ thế kỷ 17, là một bảo vật quốc gia với những giá trị mỹ thuật đặc sắc của Việt Nam.



Tượng có nguồn gốc từ chùa chùa Mật Sơn (Bố Vệ, Đông Sơn, Thanh Hóa), tái hiện chân dung bà Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595 - 1660), hoàng hậu thời vua Lê Thần Tông.



Tượng được tạc bằng gỗ nguyên khối, có chiều cao 111cm, tạo hình trong tư thế chân xếp bằng kiểu Kiết già toàn phần, một tay ngửa ra đặt trong lòng đùi, tay kia giơ ngang ngực kết ấn Vô Úy.


Thế tay này tượng trưng cho sự phổ độ chúng sinh, đồng thời thể hiện tâm Phật của Hoàng hậu Trịnh.




Trang phục của tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là loại triều phục với ba lớp áo trong và một áo vân kiên khoác ngoài. So với hầu hết các tác phẩm điêu khắc tượng từ thế kỷ 17 trở về sau, đây là bức tượng có trang phục cầu kỳ nhất.


Riêng tấm áo choàng vân kiên của tượng được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam với mô típ lưỡng long triều phụng (đôi rồng chầu phượng) trước ngực.



Điểm lôi cuốn nhất của pho tượng chính là gương mặt tươi sáng rạng rỡ, phúc hậu, chân thực với dái tai dài, cổ cao ba ngấn.


Chiếc vương miện được chạm khắc tỉ mỉ với nhiều lớp khác nhau, phía trước có tạc tượng A Di Đà ngồi tọa thiền. Đây là biểu tượng thường thấy trên các pho tượng Quan Âm, thể hiện sự kính ngưỡng của dân gian dành cho hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc.


Cổ hoàng hậu đeo chuỗi hạt rủ mềm xuống lòng đùi.


Các nhà nghiên cứu mỹ thuật đánh giá, pho tượng hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là tác phẩm đẹp nhất, đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc tượng chân dung người Việt thế kỷ 17.



Sau hơn 300 năm tồn tại, pho tượng vẫn còn nguyên vẹn với màu sắc và nước sơn nguyên bản từ khi mới được tạo tác.




Ngược dòng lịch sử, Trịnh Thị Ngọc Trúc nổi tiếng là một Hoàng hậu sùng đạo Phật và có học vấn uyên thâm. Bà là người biên soạn cuốn từ điển Hán - Nôm Chí Nam Ngọc Âm giải nghĩa - bộ bách khoa thư đầu tiên của Việt Nam.


Sau khi mất, bà được nhiều nơi tạc tượng thờ nhưng pho tượng ở chùa Mật là pho tượng đặc sắc nhất còn được lưu giữ đến nay. (Bài có tham khảo tư liệu của Cục Di sản văn hóa).

Quốc Lê