Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

VÌ SAO NƯỚC NGA KHÔNG CÓ HỌA SỸ VĨ ĐẠI?

 VÌ SAO NƯỚC NGA KHÔNG CÓ HỌA SỸ VĨ ĐẠI?

Konstantin Savitsky, Đón tranh thánh (1878),
sơn dầu trên canvas, 141 x 228 cm, Bảo tàng Tretyakov

Nguyễn Đình Đăng tổng hợp, dịch và bình luận

Trong phần ghi chú cuối chương 2 của cuốn “50 bí mật của tay nghề ma thuật” (1948) Salvador Dalí viết:
"Các họa sỹ cổ điển đều đồng ý rằng các nghiên cứu về hình hoạ, bố cục, can hình v.v. cần được tiến hành vào những tháng mùa đông và rằng họa sỹ không nên vẽ màu trước mùa có ngày dài để chắc chắn có nhiều ánh sáng mặt trời nhất vào những tháng mùa xuân và mùa hè.
Kẻ thù tồi tệ nhất cho đôi mắt của bạn, như một họa sỹ biết tôn trọng chính mình, là thực vật dị lạ vùng nhiệt đới, thứ tuyệt đối và triệt để phản hội họa. Độ clorua quá cao trong hòa sắc của Gauguin phải đủ để chữa độ thừa acid của một họa sỹ trẻ trong toàn bộ phần đời còn lại của anh ta. Về vấn đề này, ý tưởng có một họa sỹ giỏi đến từ vùng nhiệt đới cũng sẽ ngớ ngẩn và nực cười như có một họa sỹ Thụy Điển giỏi vậy.
Người Nga, bất chấp toàn bộ lãnh thổ dàn trải mênh mông và khí chất nghệ sỹ xuất chúng của mình (xét về các văn sỹ và nhạc sỹ của họ), chưa bao giờ từng có nổi một họa sỹ vĩ đại. Họ không có một người như thế hiện nay, và không bao giờ có thể có một người như vậy, và lý do của hiện tượng lạ lùng này, bên cạnh những nguyên nhân tế nhị hơn, là tuyết. Không một xứ tuyết nào từng sản sinh ra các họa sỹ giỏi, bởi lẽ tuyết là kẻ thù lớn nhất và tệ hại nhất của võng mạc. Nó là sự phủ nhận siêu thẩm mỹ đối với toàn bộ văn hóa thị giác. Màu trắng của tuyết đơn giản là chói lòa, và chính vì lý do đó mà các màu sắc của các họa sỹ của họ nhuốm sắc tím, bị sung huyết do tích tụ aniline acid, rất độc cho mắt cũng như cho tinh thần. Đó là lý do vì sao các họa sỹ Nga là những người vẽ hòa sắc tệ nhất."
Châm chước lối hành văn cực đoan, có thể thấy nhận xét của Dalí không phải không có cơ sở. Chính các nhà phê bình mỹ thuật t.k. XIX của Nga cũng đồng quan điểm rằng hòa sắc không phải là thế mạnh của các họa sỹ Nga.
Trong bài bình luận về triển lãm năm 1878 của các họa sỹ lưu động, Vladimir Stasov (1824 – 1906), nhà bình luận uy tín nhất của Nga thời đó, khi viết về tranh của họa sỹ Konstantin Savitsky, đã nhận xét như sau:
"Nhiều người, ngay cả những người mê tác phẩm Nga độc đáo này và chiêm ngưỡng nó với toàn bộ tấm lòng, tuy vậy chắc vẫn phải than phiền cay đắng vể hòa sắc đục của nó. Cũng vậy, có lẽ cùng với nửa số khán giả còn lại, tôi cũng than vãn không kém những người kia về hòa sắc của ngài Savitsky, và sẽ sung sướng không thua bất kỳ ai, nếu như bức ‘Đón tranh thánh’ được vẽ bằng màu chất lượng tuyệt hảo của Turner hay của Ostade. Nhưng làm sao bây giờ, không có cái đó, đành bằng lòng với cái gì ta có vậy. Thêm vào đó, tôi thấy dường như ngài Savitsky bị cản trở một chút, bởi, thứ nhất, sự việc trong tranh ông diễn ra trong mùa thu Nga xám đục, u ám, không lâu trước khi rét mướt tràn tới, và thứ hai, bởi vì, nói chung, trường phái hội họa Nga không thành công trong hòa sắc. Ngoại lệ quá ư là hiếm hoi, và nếu chỉ có thêm tí bớt tí màu sắc thì sự khác nhau cũng chẳng có gì là ghê gớm.”
Alexandre Benois (1870 - 1960) [1], họa sỹ và sử gia nghệ thuật Nga, trong cuốn “Lịch sử hội hoạ Nga trong t.k. XIX” (1902), cũng có nhận xét tương tự về họa sỹ Alexandre Ivanov và bức tranh “Sự xuất hiện của Chúa Jesus trước dân chúng”:
"Mặc dù nền giáo dục hàn lâm tại nhà trường ở quê nhà luôn vênh vang với hệ thống giảng dạy bách khoa, người ta đã quên dạy Ivanov cách dùng màu, cách quan sát sự tinh tế trong mối quan hệ giữa chúng trong thiên nhiên, trong vô số sắc thái, và cách truyền đạt lại nó trong tranh. Ở đây, tại Rome, các bức bích họa của Michelangelo và Raphael, các bức phác thảo của Camuccini, Overbeck và Cornelius, cũng như lời khuyên của ba ông hoạ sỹ cuối này cũng chẳng hé lộ gì cho ông về màu sắc."

Alexander Ivanov, Sự xuất hiện của Chúa Jesus trước dân chúng (1837 – 1857)
sơn dầu trên canvas, 540 x 750 cm, Bảo tàng Tretyakov
Về họa sỹ Ilya Repin, trong cuốn “Trường phái hội hoạ Nga” (1904), Benois viết:
"Các bức tranh chân dung là thể loại khá nhất của Repin. Nhưng sự thô thiển đã đổ bóng đen khó chịu lên chúng. Repin là một tài năng thuần túy bề ngoài, trong khi đó ông lại cố hết sức bình sinh truyền đạt ‘đặc tính’ cho các khuôn mặt trong chân dung. Hậu quả là các chân dung của ông vô vị về màu sắc và bố cục, được phác hoạ và tạo hình tạm bợ, được vẽ ẩu và không đẹp, hơn nữa, trên phương diện đặc tính thì đầy những nhấn mạnh thô thiển và khó chịu. Về mặt này, chúng thua xa các chân dung thông minh của Ge và thậm chí thua cả các chân dung chính xác của Kramskoi."
Cũng trong cuốn “Trường phái hội hoạ Nga”, Benois đã chỉ ra các nguyên nhân vì sao hội họa của người Nga thua kém văn học và âm nhạc của họ:
1 - Xuất thân
"Môi trường đen tối, từ đó các họa sỹ ưu tú nhất của chúng ta xuất thân (Kripensky và Tropinin là con nông nô, Varnek là con thợ mộc, cha của Alexander Ivanov là con bị bỏ rơi lớn lên trong cô nhi viện v.v.) đã in dấu ấn lên toàn bộ cuộc đời họ, và Họa viện cũng không đủ sức xóa đi dấu ấn đó, bất chấp tiếng Pháp, các bài học khiêu vũ, và đủ thứ khoa học. Dòng chảy cuộc sống bên ngoài hầu như không chui qua nổi bốn bức tường Họa viện. Sự ngu tối ti tiện ở nhà, việc cải huấn nghiêm khắc qua thực hành và nền giáo dục theo khuôn phép ở trường đã không thể tạo ra những người có khả năng bắt tay với những họa sỹ-nhà sáng tạo đầy tinh thần cao thượng mang trong mình toàn bộ sự kiều diễm của văn hóa t.k. XVIII cùng cơn tuyệt vọng hướng tới sự hồi sinh về tinh thần đang xâm chiếm toàn bộ nhân loại ốm yếu sau cuộc cách mạng Pháp. Trong số những người được Họa viện đào tạo, chỉ có những họa sỹ như Bruni và Bryullov, nhờ xuất thân ngoại quốc, đứng cao hơn các đồng môn thuần Nga trên bình diện văn hóa, là có thể cho một cái gì đó tuyệt vời và bạo dạn hơn. Alexander Ivanov - người vĩ đại nhất trong toàn bộ thế hệ các họa sỹ Nga đầy tài năng đó - chỉ thoát khỏi ảnh hưởng môi trường của mình sau nhiều năm dài sống ở nước ngoài, nhưng tiếc thay đã quá muộn, khi đã cận kề cái chết."
2 - Tư tưởng và nhận thức của chính các nghệ sỹ
"Quan điểm của những người thông minh và có học nhất của chúng ta là bằng chứng tốt nhất cho thấy nghệ thuật thâm nhập cuộc sống chúng ta ít đến mức nào. Bắt đầu từ Pushkin, quỵ lụy van xin "thiên tài" Bryullov, cho tới Lev Tolstoi viết ra khảo luận buồn thảm về nghệ thuật mà ông không hiểu bản chất, tất tật không trừ một ai, thậm chí cả Gogol và Dostoevsky, cũng chỉ có những khái niệm tối tăm, lộn xộn nhất về hội họa, điêu khắc và kiến trúc.
Mà nói chi các nhà văn, chính các họa sỹ của chúng ta cũng ít yêu thích nghệ thuật, nó không đi vào đời sống của họ, và bản thân họ không cảm thấy nhu cầu tinh thần trong nó. Còn gì chán hơn hoàn cảnh trong đó các bậc thầy vĩ đại nhất của chúng ta đang sống, còn gì bực mình hơn những lời lẽ thốt ra từ miệng họ mà ta buộc phải nghe, và trước hết, còn gì lạ lùng hơn cái tiên đề mà họ tin tưởng không lay chuyển, rằng nghệ thuật tạo hình nói chung về bản chất thấp hơn văn học nhiều?"

Ilya Repin, Chân dung nữ nam tước Varvara Ivanovna Ikskul von Hildenbandt, 1889,
sơn dầu trên canvas, 196 x 71 cm

3 - Xã hội
"Nhưng dù sao tất cả bọn họ vẫn thừa thế nào đó: tự đáy lòng chúng ta không chấp nhận họ, chúng ta cũng không hề có ý định tự thay đổi mình theo họ, chúng ta coi họ như trò tiêu khiển thoảng qua, như một thứ minh hoạ, chưa chắc đã cần thiết, cho những cuốn sách chúng ta thích đọc trong tủ sách."
Theo tôi, sở dĩ hội họa Nga không phát triển được đến tầm của hội họa châu Âu có lẽ cũng còn do hệ thống hàn lâm cứng nhắc của họa viện Saint Petersburg, một hệ thống được rập khuôn từ sự bảo thủ trì trệ của họa viện Paris t.k. XVIII, nhưng lại thiếu những người thầy như Jacques-Louis David hay Jean-Auguste-Dominique Ingres. Hơn nữa, và đây mới là nguyên nhân chính, chủ nghĩa hàn lâm của Nga, tuy nói là tôn thờ cổ điển, nhưng thực chất chỉ sao chép phong cách hàn lâm Pháp. Phương pháp hội họa sơn dầu của trường phái hội họa Nga thực chất là phương pháp vẽ trực tiếp. Những vẻ đẹp sống động, tao nhã, tự nhiên toát ra từ các dessin cùa Leonardo da Vinci, Michelangelo, Albrecht Dürer, những hòa sắc quang học kỳ ảo của phương pháp vẽ sơn dầu nhiều lớp trong tranh của Van Eyck, Titian, Rubens, Rembrandt, Vermeer, v.v., nếu không nói là hoàn toàn không có chút ảnh hưởng nào lên hội họa Nga, thì cũng chỉ ảnh hưởng rất ít. Thay vào đó là những dessin hàn lâm thiếu sinh khí, những bố cục dàn dựng kiểu nhà hát, những chân dung quý tộc, vua chúa kiểu salon thời thượng, với những hòa sắc khi thì mệt mỏi buồn bã, lúc thì sặc sỡ thái quá. Tiếc thay, như Benois đã nhận xét, “uy danh của thẩm mỹ họa viện không tạo khả năng suy nghĩ sâu hơn về thực chất của nghệ thuật, về bản chất đích thực và truyền cảm của nó.”
8/2/2018
_____________
[1] Alexandre Benois xuất thân từ gia tộc gồm toàn nghệ sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ, kiến trúc sư, tinh hoa của xã hội Nga t.k. XIX. Cha Alexandre Benois là kiến trúc sư Nikolai Benois. Mẹ ông cũng xuất thân từ gia đình kiến trúc sư. Hai người anh của ông, một người là họa sỹ màu nước, người kia là kiến trúc sư, đều dạy tại hoạ viện Saint Petersburg. Alexandre Benois từng vào học tại Hoạ viện Saint Petersburg, nhưng ngay lập tức chán ghét hệ thống hàn lâm giáo điều của hoạ viện Nga và đã thôi học sau 4 tháng. Ông học luật và tốt nghiệp khoa luật Đại học Saint Petersburg năm 1894. Sau đó ông vừa là họa sỹ vừa là sử gia kiêm lý thuyết gia về nghệ thuật ở Nga. Ông sáng lập ra tổ hợp Thế giới nghệ thuật và xuất bản tạp chí cùng tên, đóng vai trò lớn trong việc phổ biến nghệ thuật tới công chúng. Các họa sỹ Nga như Repin, Vasnetsov, Serov, Nesterov, Levitan, Korovin, Bakst, Lansere v.v. đều tham gia tạp chí này.
Thân bolshevik, sau cách mạng tháng 10, Benois được chính quyền Xô Viết bổ nhiệm làm giám đốc Bảo tàng tranh tại Hermitage, và đã xuất bản vựng tập đầu tiên của nó. Chính nhờ các nỗ lực của Benois trong giai đoạn này mà bộ sưu tập tại hai bảo tàng Hermitage và Bảo tàng Nga được gìn giữ tương đối vẹn toàn cho đời sau. Sau khi nhìn thấy sự thực của những gì xảy ra dưới chính quyền Soviet, và đặc biệt bất bình vụ nhà nước Liên Xô bán các tác phẩm hội hoạ của Hermitage cho tư bản phương Tây để lấy ngoại tệ, Benois đã rời nước Nga sang Paris năm 1926 và từ đó không bao giờ quay về Nga nữa.
Trong hai cuốn sách "Lịch sử hội hoạ Nga t.k. XIX" (1902) và "Trường phái hội hoạ Nga" (1904) Alexandre Benois đã đưa ra những phân tích rõ ràng, sâu sắc, chính xác và chi tiết đối với hội họa Nga. Tuy nhiên các lý tưởng nghệ thuật thuần túy của Benois vô cùng xa lạ với quan điểm chính thống của chính quyền Soviet. Vì thế sách của ông không được phổ biến dưới thời cộng sản Liên Xô và chỉ được tái bản sau khi hệ thống này sụp đổ.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Tranh của hoạ sĩ Lưu Đán Trạch về các thi nhân Trung Hoa


Lưu Đán Trạch là một bậc thầy hội họa người Trung Quốc, nổi tiếng với phong cách vẽ nhân vật lịch sử, cổ điển.
Ông nguyên tên là Lưu Hồn, sinh năm 1931, mất năm 2011, nguyên quán Ôn Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Từ nhỏ đã nổi danh thần đồng, năm 10 tuổi từng tổ chức triển lãm tranh riêng, sở trường về tranh nhân vật và tranh hoa điểu, đồng thời cũng là một cây đại thụ trong giới liên hoàn họa. Tranh của ông là sự dung hợp của các lối vẽ công bút, tuyến miêu và bát mặc.

Tranh của hoạ sĩ Lưu Đán Trạch về các thi nhân Trung Hoa bất hủ.


Khuất Nguyên (340 TCN - 278 TCN)

CHI TIẾT DANH SĨ | KHUẤT NGUYÊN

Giữa thời Chiến Quốc loạn thế, nơi các chư hầu tranh hùng, Khuất Nguyên đứng giữa triều Sở như một tiếng nói cô độc nhưng kiên định. Ông lấy chí hướng thanh liêm làm gốc, dùng thi ca làm vũ khí, viết nên những áng văn chất chứa trung nghĩa và nỗi bi phẫn của bậc sĩ phu

Từng được Sở Hoài Vương trọng dụng, ông dốc lòng phụng sự quốc gia, nhưng bởi kiên quyết phản đối liên minh với Tần mà bị xa lánh, đẩy dần ra khỏi triều chính. Khi Dĩnh Đô thất thủ, nước Sở suy vong, bi kịch thời đại dồn nén đến cực điểm. Giữa tuyệt vọng và phẫn uất, Khuất Nguyên chọn cách kết thúc đời mình nơi dòng Mịch La, để lại một biểu tượng bất diệt của trung liệt và thanh danh ngàn thu.

Từ những vần thơ đau đáu đến cái kết bi tráng giữa dòng nước lạnh, Khuất Nguyên không chỉ là một con người, mà là tiếng vọng của khí tiết và lý tưởng không bao giờ bị dập tắt.

Liệu Sứ Quân có sẵn sàng lắng nghe tiếng thơ từ dòng Mịch La, nơi một linh hồn trung nghĩa vẫn còn ngân vang giữa Vong Xuyên vạn cổ?


Thái Văn Cơ (177-249) 

Thái Văn Cơ – Cai WenJi – 蔡文

Thái Văn Cơ, tên thật là Thái Diễm hay còn đọc là Sái Diễm, tự Chiêu Cơ, là một trong những nữ văn nhân đầu tiên và là nữ thi nhân duy nhất trong những văn sĩ trứ danh thời Kiến An của Trung Quốc. Bà quê ở Trần Lưu, tỉnh Hà Nam, Việt Châu.

Bà là con gái của đại thi hào Thái Ung, một nhà sử học nổi tiếng tài hoa và cực kỳ uyên bác. Thái Văn Cơ học theo cha nên từ nhỏ đã giỏi văn thơ và thông thạo âm luật.

Năm 16 tuổi, bà lấy chồng là Vệ Trọng Đạo, một danh sĩ khá nổi thuộc một tộc lớn ở Hà Đông, nhưng chẳng được bao lâu thì chồng bà qua đời. Nhà chồng cho là bà khắc mệnh, lại chưa có con nên đuổi về nhà mẹ đẻ.

Tới thời loạn lạc Hưng Bình, bà bị quân Đổng Trác bắt đi, rồi sau biến cố Lý Thôi, Quách Dĩ chiếm cung đình, bà lưu lạc sang đất Hung Nô và bị nạp làm thiếp của Tả Hiền Vương. Bà sống ở đó 12 năm và có 2 người con.

Sau này, Tào Tháo vì là bạn thân với cha của bà nên thương thay số phận bà, mà đem vàng bạc châu báu sang chuộc bà về lại. Giai thoại Thái Văn Cơ dứt ruột từ con mà trở về quê tổ được gọi là “Văn Cơ quy Hán” là một giai thoại nổi tiếng được lưu truyền đến ngày nay.

Bà được Tào Tháo mai mối cho tái giá với người cùng quận là Đổng Tự, nhưng sau đó, Đổng Tự làm quan bị tội, bị khép tội chết, Thái Văn Cơ đã đích thân đi tìm Tào Tháo xin cầu tình. Nhờ tài hùng biện của mình, bà đã khiến Tào Tháo đặc xá cho Đổng Tự.

Vì mang ơn Tào Tháo, nên bà đã giúp ghi lại một phần mười số sách mà cha bà đã sưu tầm rồi trao lại cho bà, số đó sấp sỉ 400 thiên sách đều do tự tay bà nhớ lại và chép, không một chút sai lầm.


Tào Tháo (155-220)

Tào Tháo là nhà chính trị, nhà quân sự và còn là một nhà thơ nổi tiếng cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đã đặt cơ sở cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc. Ông được con trai truy tôn là Thái Tổ Vũ Hoàng đế (太祖武皇帝).


Đào Uyên Minh (365-427)

Đào Uyên Minh (Đào Tiềm), biểu tự Nguyên Lượng, hiệu Uyên Minh, lại có biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh, là một trong những nhà thơ lớn của Trung Quốc thời nhà Tấn và Lưu Tống.


Vương Duy (699-761)

Vương Duy được biết đến với biệt danh Thi Phật. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, nhà thư pháp, họa sĩ với nét họa tài hoa. Có cái tài xuất chúng cùng với tín tâm tròn đầy nơi đất Phật, ông là nhà thơ duy nhất phác họa được cảnh giới tư tưởng Phật gia trong họa, và thổi hồn thiện trong từng ý thơ.
Tác phẩm của ông được đánh giá là: “Xem thơ mà nhìn họa, xem họa mà nghe thanh”, nghĩa là đọc thơ mà như chiêm ngưỡng một bức họa, ngắm họa mà như nghe thanh nhạc.
Vương Duy (701 – 761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) là ba người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã. Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng.

Đỗ Phủ (712-770)
Đỗ Phủ là một nhà thơ và quan người Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ông và Lý Bạch được đánh giá là hai nhà thơ vĩ đại nhất của nhà Đường. Trong suốt cuộc đời, hoài bão lớn nhất của ông là có được một chức quan để giúp nước, nhưng ông không thể thực hiện được điều này.

Lý Bach (701-762) 

Lý Bạch, biểu tự Thái Bạch, là một nhà thơ người Trung Quốc, được đánh giá là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất và quan trọng nhất của thời nhà Đường, thậm chí là của cả nền thơ Trung Quốc. Đường Văn Tông ngự phong tán dương thơ Lý Bạch, kiếm vũ Bùi Mân và thảo thư Trương Húc là "Tam Tuyệt"

Lưu Vũ Tích (772-842)

Lưu Vũ Tích là nhà văn, nhà thơ người Trung Quốc. Ông sinh tại Lạc Dương, Hà Nam, nguyên quán tổ tiên ở Trung Sơn. Lưu Vũ Tích năm mười chín tuổi học ở Trương An, ông đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, sau lại đỗ khoa Bác học hoành từ. Tác phẩm để lại có 40 quyển. Ông là một nhà tư tưởng duy vật thô phác nổi tiếng đời Đường, ông viết ba thiên "Thiên luận" trình bày sâu sắc thêm tư tưởng vô thần, có ý nghĩ rất tiến bộ đối với đương thời. Ngoài ra ông còn đề xướng quan điểm pháp trị đối với chủ nghĩa đặc quyền của xã hội phong kiến. Sống lưu lạc nhiều năm nơi đất khách, nhất là khi hoài bão lớn, tuổi còn trẻ, ông sinh ra căm phẫn xã hội bất công. Vì vậy mà ông viết khá nhiều thơ phúng thích, nổi tiếng nhất là bài thất ngôn tứ tuyệt "Đùa tặng các bậc quân tử xem hoa". Bất chấp bao lần bị đả kích về chính trị, ông vẫn kiên trì, ngoan cường xem kinh kẻ thù của mình. Ông còn làm khá nhiều bài thơ bộc lộ nỗi phẫn uất trong lòng, hoặc mượn cớ vịnh sử để tỏ chí bất khuất, hoặc lấy cớ vịnh vật để chửi nền chính trị thối nát. Từng sống lấu ở vùng sông Sở núi Ba, ông đã yêu mến học tập ca dao địa phương. Điều này đem lại cho thơ ca ông một phong vị mới. Thành tựu thơ ca của Ông có nhiều mặt. Thơ cận thể nổi bật ở âm điu du dương. Thơ hoài cổ của ông cũng rất được truyền tụng. Thơ ông trong trẻo, hùng hồn, tiết tấu khá hài hoà. Đương thời ông sánh ngang với Bạch Cư Dị.

Từ lâu tôi đã thích bài thơ này của ông.

 Ẩm tửu khán mẫu đơn
Kim nhật hoa tiền ẩm,
Cam tâm tuý sổ bôi.
Đãn sầu hoa hữu ngữ,
Bất vị lão nhân khai.



Lý Hạ (790-816)

Lý Hạ là một nhà thơ sống vào thời Trung Đường. Ông có tên tự là Trường Cát, còn có các biệt hiệu Thi Quỷ và Quỷ Tài. Lý Hạ bị cấm tham gia khoa cử vì phạm vào tội húy kỵ. Ông qua đời khi tuổi còn rất trẻ và được miêu tả là có ngoại hình ốm yếu. (đọc thêm)


Lý Thanh Chiếu (1084-1155)

Lý Thanh Chiếu, hiệu Dị An cư sĩ, là nữ tác gia chuyên sáng tác từ nổi tiếng thời nhà Tống, cùng Tân Khí Tật xưng gọi 「Tế Nam nhị An; 濟南二安」. Với lối dùng hoa mỹ, bà đứng đầu trường phái "Uyển ước từ" biểu thị sự hoa lệ và giàu sự gợi hình trong khi sáng tác. 


Tân Khí Tật (1140-1207)

Tân Khí Tật, nguyên tự Thản Phu, sau đổi là Ấu An, hiệu Giá Hiên cư sĩ, là quan thời Nam Tống, và là nhà làm từ nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc.

DANH SĨ TÂN KHÍ TẬT
⚔️
"Không hận cố nhân ta không gặp, hận cố nhân không thấy ta điên cuồng!"
🌟
Tân Khí Tật – tự Ấu An, hiệu Giá Hiên Cư Sĩ, một bậc hào kiệt đất Sơn Đông. Sinh trong thời loạn, ông theo Cảnh Kinh khởi nghĩa, ngựa sắt cờ bay, dâng biểu quy Tống, mang hoài bão khôi phục giang sơn.
🔥
Ở Vong Xuyên, Tân Khí Tật vẫn giữ uy phong năm nào: Vầng trán nghiêm nghị, khí cốt thanh cao, ánh mắt như xuyên thấu thành trì nơi phương Bắc
✨
Giờ đây, đứng trên nơi cao của Vong Xuyên, Giá Hiên để mặc gió cuốn đi nỗi lòng, nhìn trời đất bao la mà tâm đã nhẹ hơn kiếp trước.
🔥
Sứ Quân, liệu người có muốn cùng Giá Hiên leo lên tầng cao, nghe tiếng núi sông kể lại chí lớn của một đời anh hùng?


Tô Đông Pha (1037-1101)

Tô Thức, tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơ thời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

Tiểu thuyết Kim Bình Mai

 

Tiểu thuyết Kim Bình Mai

Bùi Thụy Đào Nguyên

Kim Bình Mai (金瓶梅), tên đầy đủ là Kim Bình Mai từ thoại (Truyện kể có xen thi từ về Kim Bình Mai); là bộ tiểu thuyết dài gồm 100 hồi [1] của Trung Quốc.

Đây là “bộ truyện dài đầu tiên do mà cốt truyện hoàn toàn là hư cấu sáng tạo của một cá nhân”. Trước đó, các truyện kể đều dựa ít nhiều ít nhiều vào sử sách hoặc truyện kể dân gian, và đều là sự chắp nối công công sức của nhiều người.

Tên truyện do tên ba nhân vật nữ là Phan Kim Liên, Lý Bình Nhi và Bàng Xuân Mai mà thành.
Theo một số nhà nghiên cứu văn học, thì tác giả là một người ở Sơn Đông không rõ họ tên, có bút hiệu là Tiếu Tiếu Sinh (có nghĩa là “Ông thầy cười”) [2].

Có thể nói trong các tiểu thuyết viết về “nhân tình thế thái” (nói gọn là “thế tình”, tức “tình đời”) ở Trung Quốc, thì đây là truyện có tiếng nhất, đã khiến cho nhiều người bàn luận.

1Vài nét về bộ truyện.

Theo bài tựa của Hân Hân Tử ở trong sách “Kim Bình Mai từ thoại”, thì tác giả là Lan Lăng Tiếu Tiếu sinh (có nghĩa là “Ông thầy cười” ở Lan Lăng) hay nói gọn là Tiếu Tiếu Sinh. Song đây chỉ là bút hiệu, còn tên thật của tác giả là gì thì có nhiều lời đồn đoán, như đó có thể là Hân Hân Tử, là Vương Thế Trinh, hoặc là: Lý Khai Tiên, Triệu Nam Tinh, Tiết Ứng Kỳ, … nhưng tất cả đều không đủ chứng cứ để chắc chắn.

Vì vậy, trong cuốn Vạn Lịch dã hoạch biên, Thẩm Đức Phù chỉ nói tác giả là một “đại danh sĩ” thời Gia Tĩnh (niên hiệu vua Minh Thế Tông từ 1522 đến 1566). Ý kiến này có thể xác đáng, vì thời gian sáng tác và thời gian sống của tác giả khá ăn khớp nhau.

Tuy chưa thể quả quyết, nhưng qua tác phẩm có thể thấy, tác giả dùng tiếng địa phương Sơn Đông rất thành thạo, và Lan Lăng chính là tên cũ của huyện Dịch thuộc tỉnh Sơn Đông; vậy rất có thể tác giả là người Sơn Đông, và từng sống ở Bắc Kinh, vì trong tác phẩm hầu như đều lấy nơi đây làm bối cảnh. Kim Bình Mai có lẽ viết xong vào khoảng từ năm Long Khánh thứ 2 (niên hiệu của vua Minh Mục Tông) đến năm Vạn Lịch thứ 30 (niên hiệu của vua Minh Thần Tông), tức từ 1568 đến 1602, nhưng phải 8 năm sau (1610) tác phẩm mới được khắc in, vì bị ghép vào loại “dâm thư”.

Theo nhà văn Lỗ Tấn, ban đầu chỉ có bản chép tay. Sau, Viên Hoằng Đạo có thấy được vài hồi, bèn đem ghép với Thủy Hử truyện, và gọi là Ngoại điển. Đến năm 1610, tác phẩm mới được khắc in ở Ngộ Trung. Nhưng vì hồi 53 đến hồi 57 đã khuyết mất, nên có người (không rõ là ai) đã phải viết bổ sung. Những bản Kim Bình Mai hiện còn chia làm hai loại:

- Một là Kim Bình Mai từ thoại. Đầu quyển có bài tựa của Long Châu Khánh, là người đất Đông Ngô, viết năm Vạn Lịch thứ 15 (1617) đời nhà Minh.

- Hai là Nguyên bản Kim Bình Mai, viết vào khoảng những năm Thiên Khải đời nhà Minh (Niên hiệu của Minh Hy Tông, từ 1621 đến 1257). Sự khác nhau chủ yếu của chúng thể hiện ở chỗ nửa đầu của hồi thứ nhất, hồi thứ 53 và hồi thứ 54 là hoàn toàn khác nhau về lối hành văn, thí dụ như ở loại 1 phần lớn là từ, thì ở loại 2 phần lớn lại là thơ….

2. Nội dung sơ lược.

Tác phẩm Kim Bình Mai vốn được phát triển từ một số tình tiết trong tác phẩm Thủy Hử (từ hồi 23 đến hồi 26) của Thi Nại Am.

Nội dung truyện chủ yếu mô tả cuộc đời nhiều tội ác và trụy lạc của nhân vật Tây Môn Khánh, hiệu: Tứ Truyền, là người Thanh Hà, vốn là chủ một hiệu thuốc nhưng không ưa đọc sách, chỉ giỏi chơi bời phóng đãng, lại kết bạn với một bọn du côn đàng điếm.

Ông này đã có một vợ chính và ba người thiếp, nhưng thấy Phan Kim Liên có nhan sắc, ông liền lập mưu giết chết chồng nàng là Võ Đại (trong Thủy Hử truyện ghi là Võ Đại Lang), rồi cưới nàng làm thiếp. Võ Tòng (em trai Võ Đại) báo thù, giết lầm người khác nên Tây Môn Khánh vẫn không can gì…

Sau đó, Tây Môn Khánh còn mua Lý Bình Nhi về làm vợ lẽ, và gian dâm với người hầu gái của Phan Kim Liên là Bàng Xuân Mai. Nhờ thông đồng với quan lại, Tây Môn Khánh trở thành một cường hào. Rồi nhờ nhận Thái Kinh (một trọng thần) làm cha nuôi, ông được bổ làm một chức quan coi việc xử án trong huyện, nên tha hồ đổi trắng thay đen để ức hiếp dân lành. Có tiền, có thế, ông ta lại càng ăn chơi phóng đãng, hoang dâm vô độ, để rồi cuối cùng lâm bạo bệnh mà chết (hồi thứ 80).

Tiếp theo, Kim Liên và Xuân Mai (lúc này không còn Lý Bình Nhi vì đã ốm chết ở hồi 63) lại thông dâm với con rể của Môn Khánh là Trần Kinh Tế. Việc bị phát giác, cả hai đều bị đuổi khỏi nhà. Võ Tòng tình cờ gặp Kim Liên ở nhà Vương bà bèn giết chết (hồi 87).

Phần Xuân Mai thì bán cho viên quan họ Chu (Chu Tú), được ông này yêu lại có con nên được làm vợ cả. Gặp lại Trần Kinh Tế, Xuân Mai giả gọi là em, tìm cách đưa vào nhà để thông dâm như cũ.

Thế rồi quan họ Chu đi đánh Tống Giang có công, được thăng quan, Kinh Tế cũng được thăng làm tham mưu, vì có dự phần. Nhưng đến hồi 99, thì Kinh Tế bị đâm chết vì kết oán với Trương Thắng. Đến khi quân Kim tràn vào lấn cướp, Chu Tú chết trận, Xuân Mai sau đó cũng chết đột ngột vì dâm dục quá độ với người con chồng là Chu Nghĩa (hồi 100).

Gặp cảnh nước nhà loạn lạc, vợ cả của Tây Môn Khánh là Nguyệt Nương dắt đứa con trai độc nhất của họ Tây Môn là Hiếu Ca trốn chạy. Dọc đường,gặp một nhà sư cho biết Hiếu Ca chính là kiếp sau của Tây Môn Khánh, phải xuất gia đầu Phật mới khỏi nạn. Nghe lời, Nguyệt Nương bèn gửi con vào cửa Phật, sau trở thành nhà sư Minh Ngộ.

3. Một vài đánh giá.

Trong Kim Bình Mai, hiện thực được phản ánh là bộ mặt thật của xã hội phong kiến thời Minh, từ sau Chính Đức (1521) đến giữa Vạn Lịch (1570-1620). Tác giả muốn thông qua nhân vật điển hình là Tây Môn Khánh để vạch trần sự xấu xa bỉ ổi của xã hội lúc bấy giờ một cách khách quan, cụ thể và chi tiết.

Trong cuộc hội thảo quốc gia về bộ truyện này ở Trung Quốc năm 1987,đã khẳng định giá trị phê phán và hiện thực của tác phẩm và vị trí quan trọng của nó trong quá trình phát triển chủ nghĩa hiện thực. Vì thế, nó đã được phép phát hành rộng rãi và dựng thành phim. Theo Lời Tựa của một “Danh sĩ đời Minh” (và cũng là tác giả), viết vào mùa hạ năm Gia Tĩnh thứ 37 (Mậu Ngọ, 1558) đề ở đầu bộ truyện, thì đây là một tác phẩm mà các nhân vật đều tuân theo luật “báo ứng”, cốt để người đọc “sợ sệt mà tự răn mình, đồng thời tự di dưỡng tâm tính”.

Vì thế, theo GS. Lương Duy Thứ, tác giả đã đưa người đọc đến một kết luận rằng: cuộc đời chỉ là sự minh họa cho chân lý nhà Phật “sắc không, không sắc”,và rốt cuộc giải pháp cũng chỉ có thể là con đường “Minh ngộ” (có nghĩa hiểu được chân lý của sự giác ngộ) mà thôi. Và cũng theo giáo sư, trong lịch sử văn học Trung Quốc “phải đợi đến Kim Bình Mai mới xuất hiện một kiểu nhân vật thoát ly hẳn lịch sử, và có sự đa dạng trong tính cách, không còn ‘trắng đen minh bạch’ như trước kia.

Song, cũng vì hướng nhân vật theo luật ‘quả báo’, nên tính cách nhân vật thay đổi có phần gượng ép, thí dụ như Lý Bình Nhi trước kia hung ác hiểm độc, sau lại hiền lành nhu nhược; Phan Kim Liên trước kia kín đáo để ranh ma, sau lại đứng đắn tử tế”…[tr. 752].

Về mặt nghệ thuật, tác giả đã sáng tạo được một số nhân vật rất điển hình (Tây Môn Khánh, Phan Kim Liên, Bàng Xuân Mai,…), đồng thời có tài làm cho các tính cách nhân vật khác nhau khá rõ. Một điểm đáng chú ý nữa, đó là người viết đã vượt qua nhiều khuyết điểm của loại chuyện chương hồi khác; có nghĩa là tác giả người “viết chuyện” chứ không phải là người “thuật chuyện”, vì thế những sự việc tiếp diễn đều do nhân vật tự bộc lộ. Riêng phần phong cách ngôn ngữ trong truyện, nhìn chung là trong sáng, dí dỏm và trau chuốt.

4. Giai thoại.

Tương truyền thân phụ của Vương Thế Trinh (một trong số người từng được coi là tác giả của Kim Bình Mai), là Vương Dư bị Nghiêm Tung ám hại. Lúc bấy giờ uy thế của Nghiêm Thế Phồn (con trai độc nhất của Nghiêm Tung) rất mạnh nên Vương Thế Trinh không làm gì được. Biết Nghiêm Thế Phồn là người rất thích đọc truyện khiêu dâm, Vương Thế Trinh bèn viết ra bộ Kim Bình Mai rồi tìm cách đưa đến. Ở mỗi góc tờ sách đều có tẩm thuốc độc, để khi Nghiêm Thế Phồn lấy tay thấm vào môi lật sách thì sẽ bị ngộ độc mà chết… Vì thế, mới có người [3] đem câu truyện trên (được gọi là “Khổ hiếu thuyết”) đặt lên đầu bộ truyện Kim Bình Mai. Song theo Nguyễn Huy Khánh, đây chẳng qua là một câu chuyện truyền khẩu không căn cứ. Có thể vì thấy chuyện dâm ô quá, sợ mất tiếng Vương Thế Trinh, nên mới bày thêm chuyện “Khổ hiếu thuyết” để biện giải cho họ Vương [tr. 181].

5. Thông tin liên quan.

Kế tục Kim Bình Mai, thời Vạn Lịch (1570-1620) lại có chuyện tên là Ngọc Kiều Lý, nghe nói cũng là do tác giả Tiếu Tiếu Sinh viết, nhưng nay đã thất truyền. Đại để, sách này cũng như sách trước (chỉ Kim Bình Mai), thảy đều đặt ra chuyện nhân quả báo ứng. Võ Đại kiếp sau hóa làm dâm phu, Tây Môn Khánh thì làm người đàn ông si ngốc, v.v… Ngoài ra còn có Tục Kim Bình mai gồm 64 hồi, do Đinh Diệu Cang, người Sơn Đông biên soạn, làm xong khoảng đầu đời Thanh… So với Kim Bình Mai, tuy cũng thuộc loại “nhân tình thế thái”, nhưng nội dung cả hai bộ đều kém xa.


Chú thích. 

1. Bản dịch Kim Bình Mai (không đề tên người dịch) do nhà xuất bản Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành gồm 4 quyển, tổng cộng dài trên 1.900 trang khổ 13cm x 19cm.

2. Như một số tác giả khác, ở đây Tiếu Tiếu Sinh cũng không cho biết tên thật, là vì ngày xưa người ta coi trọng thơ, từ, phú hơn là truyện, tiểu thuyết.

3. Theo Lỗ Tấn thì người đó là Trương Thúc Pha, người Bành Thành, viết Khổ hiếu thuyết vào đời Khang Hy (tr. 232).

Sách tham khảo:

- Tiếu Tiếu sinh, Kim Bình Mai (trọn bộ 4 tập). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1989.
- Lỗ Tấn, Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc (Lương Duy Tâm dịch). Nhà xuất bản Văn hóa, 1996.

- Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốcbiên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập 3), Bản dịch do Nxb Giáo dục Việt Nam ấn hành năm1993.
-Lương Duy Thứ, mục từ “Kim Bình Mai” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.

- Nguyễn Huy Khánh, Khảo luận tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa. Nhà xuất bản Văn học, 199

 Đọc tiếp

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

MUSCA DEPICTA

Georg Hainz
Tĩnh vật với cốc bia và hạt - 1645
sơn dầu trên canvas dán lên ván ép - 41.5 x 39 cm
Nationalmuseum, Stockholm
 

MUSCA DEPICTA

Nguyễn Đình Đăng

Musca depicta (tiếng Latin: con ruồi được vẽ) là một trong những motif thuộc loại thú vị nhất của hội họa châu Âu. Nhiều Bậc Thày Cổ Điển (t.k. XV - XVII) đã chủ ý vẽ con ruồi cực kỳ chân thực như đang đậu trên mặt tranh. Chi tiết này hầu như không bao giờ là ngẫu nhiên, mà thường mang một dụng ý nghệ thuật và trí tuệ đã được tính toán kỹ lưỡng.
Vậy dụng ý đó là gì?
Ý nghĩa của musca depicta không phải đều như nhau trong mọi tác phẩm, mà có thể nhằm những mục đích khác nhau như sau:
Lý do phổ biến nhất là nhằm thể hiện tài nghệ tạo ảo giác của họa sỹ, bởi con ruồi là một sinh vật rất nhỏ bé, hình dạng chẳng theo một quy tắc nhất định, với đôi cánh trong và óng ánh, quá ư quen thuộc với tất cả mọi người. Vì thế, khả năng vẽ con ruồi chân thực, tới mức người xem như muốn đưa tay xua đuổi một cách vô thức, chứng tỏ họa sỹ đã đạt tới cảnh giới bậc thày trong mô phỏng tự nhiên.
Quan niệm này bắt nguồn từ giai thoại thời Hy Lạp Cổ Đại về cuộc thi tài giữa Zeuxis và Parrhasius. Zeuxis đã vẽ chùm nho giống thật đến nỗi chim sà xuống mổ, còn Parrhasius vẽ một tấm rèm che bức tranh khiến chính Zeuxis tưởng là thật, toan kéo rèm ra để xem tranh. Rốt cuộc, Zeuxis đã chịu thua vì cho rằng mình chỉ đánh lừa được chim trong khi Parrhasius đã đánh lừa được mắt người. Truyền thống vẽ như thật này có tên "trompe-l'œil" ("đánh lừa thị giác"). Musca depicta cũng thuộc truyền thống đó.
Các họa sỹ thời Phục Hưng vẽ thêm con ruồi vào tranh như ngầm tuyên bố: "Ta có thể mô phỏng tự nhiên hoàn hảo tới mức cả sinh vật nhỏ bé này cũng hiện lên như thể đang sống."
Lý do thứ hai là sự xóa nhòa ranh giới giữa hội họa và hiện thực, trong đó con ruồi thường được bố trí như thể nó đang đậu trên bề mặt của bức họa, chứ không phải là một phần trong thế giới được miêu tả trong tranh.
Khác biệt này rất tinh tế nhưng cực kỳ quan trọng. Vì thế các họa sỹ thường vẽ con ruồi đậu trên khung tranh, trên gờ đá giả, trên một mảnh giấy nhỏ có ghi chữ (cartellino), hoặc ngay sát mép bức tranh. Cách vẽ như thế này khiến con ruồi dường như tồn tại trong cùng một không gian với người xem, nối liền thế giới trong bức tranh với thế giới thực, khiến ảo giác bức tranh như một khung cửa sổ mở ra thế giới càng trở nên mạnh mẽ hơn.
Lý do thứ ba là memento mori (tiếng Latin: Hãy nhớ rằng mi phải chết) với con ruồi là biểu tượng, bởi con ruồi vốn gắn với những hình ảnh về sự mục nát, hư hoại, cái chết, và tính vô thường của kiếp người. Trong hội họa Kitô giáo, đặc biệt là trong những tác phẩm về khổ nạn của Chúa Kitô hoặc các vị thánh, con ruồi nhắc nhở chúng ta rằng xác thịt rồi sẽ phân hủy, vẻ đẹp trần thế là phù du, và chỉ sự cứu rỗi mới vĩnh cửu. Thậm chí ngay cả trong tranh chân dung, con ruồi cũng có thể âm thầm nhắc nhở về cái chết ẩn sau vẻ đẹp và sự giàu sang của con người.
Lý do thứ tư là con ruồi đóng vai trò biểu tượng của tội lỗi hoặc ma quỷ. Trong biểu tượng học Kitô giáo, con ruồi tượng trưng cho sự cám dỗ, băng hoại về đạo đức, quyền lực của ma quỷ. Vì vậy, khi một con ruồi xuất hiện gần Chúa Kitô hoặc các vị thánh, nó có thể ám chỉ sự hiện diện của tội lỗi mà các ngài đã chiến thắng.
Ví dụ, trong bức "Lễ Thánh Mẫu Mân Côi" (Feast of the Rosary) (1506), Dürer đã vẽ một con ruồi đậu trên đầu gối trái của Thánh Mẫu, trong phần không gian giữa Chúa Hài Đồng và Hoàng Đế La Mã Thần thánh.
Bên cạnh sự phô diễn tài nghệ bằng thủ pháp "trompe-l'œil" và dùng con ruồi làm biểu tượng của cái ác và sự phân hủy, việc Dürer vẽ con ruồi đậu trên đầu gối Thánh Mẫu có thể còn mang ý nghĩa đối lập về mặt thần học, cụ thể là ông đã đặt loài côn trùng đại diện cho tội lỗi và cái ác bên cạnh sự hiện diện của Chúa Hài Đồng, tức Đấng Cứu Thế, Đấng sẽ chiến thắng chúng.
Chưa hết, bằng cách vẽ một con ruồi sống động như thật, nằm ngay giữa Chúa Hài Đồng và Hoàng đế La Mã Thần thánh, Dürer có lẽ muốn ám chỉ sự phù du của quyền lực, hay bản chất hữu hạn của các quân vương trần thế khi đặt cạnh quyền năng thiêng liêng vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Lý do thứ năm của musca depicta là nó được coi như một trò chơi thị giác đầy tính trí tuệ.
Các nhà bảo trợ nghệ thuật thời Phục Hưng rất yêu thích những câu đố thị giác. Musca depicta khiến người xem phải tự hỏi vậy con ruồi là thật hay giả, thuộc về bức tranh hay đang đậu trên mặt tranh, và ta có nên phủi nó đi không? Chính khoảnh khắc lưỡng lự ấy là một phần của trải nghiệm thưởng ngoạn. Giới nhân văn thời Phục Hưng đặc biệt trân trọng kiểu dí dỏm đầy trí tuệ này như một biểu hiện của tài năng sáng tạo.
Cuối cùng, lý do thứ sáu, con ruồi được vẽ như một dấu hiệu của chủ nghĩa Hiện thực. Thật vậy, musca depicta đôi khi chỉ khiến cảnh vật trong tranh trở nên chân thực hơn. Con ruồi thật có thể đậu lên bất kỳ chỗ nào một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Vì vậy, bằng cách vẽ một con ruồi vào tranh, họa sỹ tạo cho người xem cảm giác rằng chính tự nhiên đã xâm nhập vào bức tranh, khiến thế giới trong tranh trở nên sống động, gần gũi hơn.
Tóm lại, musca depicta không mang một ý nghĩa duy nhất, mà ý nghĩa của nó luôn phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể của từng tác phẩm và ý đồ của từng tác giả. Song, cho dù được hiểu theo cách nào đi chăng nữa, musca depicta vẫn luôn nhấn mạnh một nghịch lý căn bản của hội họa. Nghịch lý đó là trên một mặt phẳng hai chiều, họa sỹ có thể khiến người xem tin rằng họ đang đối diện với chính sự sống.
Minh họa:
Musca depicta trong bức "Shichi-Go-San" (2026) (trích đoạn) của Nguyễn Đình Đăng