Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh thần bí.


Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh thần bí.
 Nguồn
Sudeih Babu, nhà chiêm tinh giỏi nhất Ấn Ðộ
--------------------
Giáo sư Olivers hỏi.
-"Nhưng tại sao các tinh tú ở xa lại ảnh hưởng đến từng cá nhân được?"
Babu thong thả trả lời:
"Nếu tinh tú ở xa quá thì khoa học thực nghiệm giải thích thế nào về ảnh hưởng của mặt trăng đối với nước thủy triều lên xuống hoặc chu kỳ trong thân thể đàn bà?"
"Nhưng nếu tôi bị tai nạn thì điều đó ăn nhập gì đến các hành tinh?"
Babu lắc đầu mỉm cười:
"Các ông nên nghĩ thế này, tinh tú chỉ là biểu tượng mà thôi. Tự nó không ăn nhập gì đến chúng ta hết mà chính cái dĩ vãng của ta đã ảnh hưởng đến đời sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu lại cái ảnh hưởng này mà thôi. Không ai có thể hiểu khoa chiêm tinh nếu họ không tin luật Luân Hồi (Reincarnation). Con người chết và tái sinh trở lại trong nhiều kiếp. Ðịnh mệnh của y theo dõi và ảnh hưởng lên đời sống của y theo luật Nhân Quả (Karma of cause and effect). Nếu ta không tin con người chết đi và đầu thai lại để học hỏi, để tiến hóa, để trở nên một người toàn thiện thì mọi sự đều là ngẫu nhiên hay sao? Một Thượng Ðế công bình, bác ái có lẽ nào dung túng điều này?
Khi qua đời thể xác hư thối tan rã nhưng tính tình, dục vọng, ý chí vẫn còn nguyên cho đến khi ta đầu thai vào một kiếp sống mới thì những tính này sẽ trở nên cá tính (personality) của kiếp sau. Các hành tinh chỉ là tấm gương ghi nhận các nguyên nhân này và phản chiếu trở lại. Bất cứ một hành động nào cũng tạo nên một nguyên nhân dù xấu hay tốt ví như ta ném một trái bóng lên không trung. Trước sau gì nó cũng rơi xuống vì trọng lượng và ảnh hưởng của sức hút trái đất, nhưng đến khi nào nó rơi xuống còn tùy sức ném của ta nặng nhẹ ra sao. Khoa Chiêm tinh nghiên cứu các vũ trụ tuyến này để đoán được khi nào cái nguyên nhân trước sẽ trở lại. Babu im lặng một lúc và thong thả giải thích thêm:
"Trước khi đi xa hơn, tôi muốn các ông hiểu lịch sử chiêm tinh để có một cái nhìn thật đứng đắn. Từ ngàn xưa, Chiêm tinh học vẫn được coi là một khoa học quan trọng. Chiêm tinh gia chỉ đứng ở địa vị thứ hai sau Giáo Sĩ mà thôi. Ðối tượng của khoa chiêm tinh là vũ trụ. Tiếc thay phần này đã bị thất truyền chỉ còn phần nhỏ nói về sự liên hệ giữa con người và các bầu tinh tú còn được lưu truyền đến nay và được xem là khoa bói toán. Khoa chiêm tinh có từ lúc nào không ai biết nhưng hiền triết Bhrigu đã truyền dạy các môn đồ của ông vào khoảng 6000 năm trước. Nòng cốt của nó nằm trong bộ sách Brahma Chinta do ông soạn ra. Bhrigu có bốn đệ tử: Người thứ nhất rất giỏi về khoa học đã đi sang Ba Tư lập nghiệp, từ đó ngành Chiêm tinh đi về hướng Tây và ảnh hưởng đến Hy Lạp và La Mã sau này. Người thứ hai rất giỏi về triết học đi về phương Ðông sang Trung Hoa truyền bá ngành này ở đây. Người thứ ba thích nghiên cứu những hiện tượng siêu hình đã lên Tuyết Sơn nhập thất và sau truyền môn này cho dân chúng Tây Tạng. Người thứ tư ở lại xứ Ấn và làm đến chức quốc sư. Bộ sách Brahma Chinta được coi là quốc bảo cất trong cung điện.
Sau này, các hoàng tử tranh cướp ngôi vua đã giành nhau bộ sách quý. Sau mấy chục năm chinh chiến, bộ sách được phân chia làm nhiều phần, mỗi ông Hoàng giữ một mảnh và từ đó khoa Chiêm tinh trở nên thất truyền--- Các mẫu vụn này đã được các thầy bói sưu tầm, ghi chép lại để kiếm ăn nhưng họ chỉ nắm một vài then chốt chứ không sao hiểu hết. Như các ông thấy, căn nhà này rất lớn, gồm có 49 phòng, mỗi phòng đều chứa đầy các sách vở do tôi sưu tầm. Tất cả gia tài sự nghiệp của tôi đều được sử dụng để sưu tầm các sách cổ--- Tôi xuất thân từ một gia đình Hoàng tộc nhưng tôi chỉ ham mê khoa Chiêm Tinh. Tôi bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu, theo học các vị Chiêm Tinh Gia nổi tiếng cho đến khi sưu tầm được bộ Brahma Chinta. Dĩ nhiên, bộ sách này nguyên bản mấy ngàn trang nhưng tôi chỉ sưu tầm được có vài trăm trang và tốn gần 20 năm nghiên cứu nó.
Babu mỉm cười nhìn giáo sư Olivers:
"Bạn Olivers thân mến, lá số tôi lấy cho ông rất khác thường so với người Âu. Tin hay không tùy ý bạn, đúng hay sai chỉ bạn biết nhưng tôi muốn nói thêm rằng các nghiệp quả đã trả xong. Ðời bạn đã bước vào một khúc quanh quan trọng. Lá số cho thấy bạn đã đến bên thềm Ðạo và sẽ được một sự dìu dắt của một hiền giả."
Giáo sư Olivers cảm động xiết chặt đôi tay gầy guộc của nhà Chiêm Tinh. Toàn thể phái đoàn cũng xúc động không kém. Khi trước họ đã nghi ngờ khoa bói toán nhưng sự kiện vừa xảy ra đã thay đổi tất cả. Không ai ngờ giáo sư Olivers lại có một đời sống cá nhân bất hạnh như thế.
"Chúng ta chỉ mới ở vào một buổi bình minh của khoa học nhưng mỗi khám phá mới, mỗi kiến thức mới đều đem lại cho chúng ta một bằng chứng rằng vũ trụ nầy là công trình của một Ðấng Hóa Công.
Hãy lấy một thí dụ Toán học cho dễ hiểu: Nếu ta bỏ vào túi 10 thẻ nhỏ, mỗi thẻ có ghi từ số 1 đến 10 và tuần tự rút ra tùng cái một. Sau khi rút xong ta lại bỏ thẻ vào túi, trộn đều và rút ra lần nữa. Làm sao ta có thể rút tuần tự từ số 1 dến số 10? Theo toán học ta phải rút mười lần mới có một lần rút được thẻ mang số 1. Phải rút 100 lần mới có một lần rút được số 1 và 2. Phải rút 1000 lần mới được số 1,2,3 liên tiếp. Nếu muốn rút theo thứ tự từ 1 đến 10 thì trường hợp đặc biệt này chỉ có thể xẩy ra một lần trong mười tỷ lần có đúng không? Nếu áp dụng Toán Học vào các điều kiện tạo đời sống ở quả đất này thì ta thấy nguyên lý ngẫu nhiên không sao hội đủ các điều kiện cần thiết. Vậy thì ai đã tạo ra nó?
Trái đất quay quanh trục của nó với vận tốc 1600 cây số một giờ ở giữa đường xích đạo. Nếu nó quay chậm 10 lần thì ngày sẽ dài gấp 10 và dĩ nhiên sức nóng cuả mặt trời cũng gia tăng gấp 10 lần. Thế thì cây cối, sinh vật đều bị thiêu sống hết còn gì. Nếu cái gì chống được sức nóng cũng chết lạnh vì đêm cũng dài ra gấp 10 và sức lạnh cũng tăng lên gấp 10 lần kia mà. Ai đã làm trái đất quay trong một điều kiện tốt đẹp như thế?
Mặt trời là nguồn sống của quả đất phải không? Mặt trời nóng khoảng 5500 độ bách phân. Quả địa cầu ở đúng một vị trí tốt đẹp không xa quá mà cũng không gần quá. Vừa vặn đủ để đón nhận sức nóng của mặt trời. Nếu sức nóng mặt trời gia tăng một chút, ta sẽ chết thiêu và ngược lại nếu sức nóng mặt trời giảm đi một chút, ta sẽ chết rét. Tại sao trái đất nằm ở điều kiện thuận lợi như vậy? Trục trái đất nghiêng theo một tà độ là 23 độ. Nếu trái đất đứng thẳng không nghiêng theo bên nào thì sẽ không có thời tiết bốn mùa. Nước sẽ bốc hơi hết về hai cực và đông thành băng giá cả.
Mặt trăng là một vệ tinh của trái đất điều khiển thủy triều biển cả. Nếu nó không cách xa trái đất 380000 cây số mà xích lại gần hơn 80000 cây số thì một cuộc hồng thủy sẽ xảy ra. Nước sẽ bị sức hút dâng lên ngập tất cả các lục địa mỗi ngày hai lần. Tóm lại tất cả mọi đời sống trên mặt địa cầu sẽ biến mất nếu các điều kiện trên sai lệch đi một ly. Nếu nói rằng đời sống chỉ là một sự ngẫu nhiên thì trong tỷ tỷ lần may ra mới có một điều kiện tốt đẹp hoàn toàn để có sự sống như thế được."
Babu yên lặng nhìn mọi người. Không ai có thể ngờ nhà chiêm tinh xứ Ấn lại có thể sang sảng chứng minh một cách khoa học và hùng biện trước một cử tọa toàn những khoa học gia nổi tiếng nhất ở Âu Châu.
Babu quay sang nhìn giáo sư Allen, một nhà sinh vật học của trường Havard:

"Nếu toán học xem có vẽ trừu tượng quá hãy thử quan sát thiên nhiên dưới cái nhìn của khoa Sinh Vật Học (Biology) xem sao:
Với khả năng sinh tồn của mọi vật, ta thấy sự hiện diện của tạo hóa rất chu đáo. Sự sống không có sức nặng hay bề đo mà mạnh mẽ làm sao? Bạn hãy nhìn một rễ cây non nớt, mềm yếu, vậy mà nó có thể soi nứt một tảng đá cứng rắn. Sự sống chinh phục không khí, đất, nước. Nó thống trị mọi nguyên tố, nó bắt buộc vật chất tan rã rồi lại kết hợp thành các hình thể mới. Sự sống là nhà điêu khắc nặn thành những hình thể mới lạ, là họa sĩ vẽ những cảnh vật thiên nhiên tô điểm cho tạo hóa. Sự sống cũng là nhạc sĩ dạy chim hót thánh thót, dạy côn trùng ngân nga, là nhà hóa học chế các hương thơm, quả ngọt. Sự sống từ các loài thảo mộc thu hút thán khí biến thành dưỡng khí nuôi muôn loài. Hãy nhìn những giọt Nguyên sinh chất (Protoplasm) trong suốt gần như vô hình, mắt ta không thể nhìn thấy mà nó di động nhờ hấp thụ sinh khí thái dương. Chính cái tế bào đơn độc này chứa mầm sống của muôn loài và là cội nguồn của toàn sự sống theo khoa học thực nghiệm. Tự nó không tạo ra sự sống vậy thì sự sống ở đâu đã đến?
Này các ông bạn, cá hồi (Salmon) sinh ra ở nước ngọt, theo dòng nước ra biển và sống ở đây cho đến khi trưởng thành rồi lại trở về nguồn. Hãy nhìn nó lội ngược dòng về sinh quán, nó bơi một mạch đâu hề phân vân lưỡng lự. Nếu ta bắt nó đem đến một chỗ khác, nó vẫn trở lại nơi xưa. Ai đã dạy cho nó phân biệt một cách chắc chắn như vậy? Loài lươn biển cũng thế, chúng rời sinh quán từ các ao hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới để bắt đầu một cuộc du hành đến tận ngoài khơi quần đảo Bermuda. Muốn đến đây một con lươn Âu Châu phải đi gần 4000 cây số, lươn Á Châu phải đi xa hơn có khi gần 8000 cây số. Chỉ tại đây chúng mới sinh sản và chết. Các con lươn con sinh ra tại đây không biết gì về sinh quán mà vẫn trở về quê hương xa xôi của cha mẹ chúng nó. Biết tìm về một cái lạch ở Pháp hay một cái hồ ở Nam Dương. Giống nào về nhà giống đó, một con lươn Pháp không bao giờ bị bắt ở Ấn Ðộ và một con lươn giống Thái Lan không bao giờ đi lạc sang Phi Châu. Ai đã ban cho loài lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đã hướng dẫn những con lươn bé bỏng trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc chắn không thể do ngẫu nhiên phải không các bạn?
Toàn thể phái đoàn kinh ngạc trước kiến thức quảng bác của nhà chiêm tinh gầy gò, bé nhỏ. Không ai ngờ một xứ chậm tiến như Ấn lại có một nhà bác học uyên thâm như vậy. Babu mỉm cười nói tiếp:
"Có lẽ các ông còn nhiều phân vân, thôi được hãy nói về yếu tố di truyền cho thực tế hơn. Yếu tố này là một mầm sống nguyên thủy rất nhỏ chứa đựng trong tất cả các tế bào. Mọi sinh vật đều có đặc điểm di truyền khác nhau. Yếu tố này cho ta thấy rõ sự sống đã được trù định từ trước vì một cái cây sẽ tạo ra một cái cây chứ không phải con vật. Từ các loại sinh vật bé nhỏ như con kiến đến các loài sinh vật to lớn như cá voi đều chịu sự chi phối của yếu tố này.

Ðiều này chắc chắn không phải ai nghĩ ra hay ngẫu nhiên phải không? Chỉ có Ðấng Sáng Tạo mới có đủ quyền năng làm các việc đó. Này các bạn, khắp nơi trong vũ trụ đâu đâu cũng có một sự quân bình tuyệt đối, không loài nào lấn át loài nào. Hãy nhìn loài côn trùng, chúng sinh sản rất nhanh mà sao không chiếm quả đất? ấy là vì chúng không có bộ phổi như loài có vú (Mamma). Vì chúng thở bằng khí quản (Trachea) và khi chúng lột xác lớn lên, khí quản không lớn lên theo nên thân thể chúng bị giới hạn trong khuôn khổ nhất định. Con người hơn loài thú ở điểm lý trí. Bản năng con thú tuy kỳ diệu nhưng bị giới hạn. Bộ óc con người tuyệt vời ở chỗ nó có thể vượt xa tầm giới hạn của nó. Muốn quan niệm sự hiện hữu của Thượng Ðế, cần phải có một năng khiếu mà chỉ loài người mới có. Ta có thể gọi nó là trí tưởng tuợng cũng được nhưng nhờ nó mà con người mới thu nhận các sự kiện vô hình, vô ảnh. Trí tưởng tượng mở cho ta một chân trời bao la và nhờ thế ta mới ý thức một thực tại tuyệt diệu rằng Thượng Ðế là tất cả, ngài ở khắp mọi nơi nhưng không ở đâu Ngài hiện rõ như trong tâm hồn chúng ta."
Toàn thể phái đoàn yên lặng, thán phục những dẫn chứng hoàn toàn khoa học và giản dị của nhà chiêm tinh. Vài giờ trước đây, ai cũng nghi ngờ khả năng của "Gã thầy bói" nhưng hiện giờ mọi người đều công nhận y là một nhà bác học với kiến thức uyên bác không thua ai.
Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi nguời và nói:
"Là khoa học gia, các ông hãy suy nghĩ về những điều tôi vừa trình bày. Hãy quan sát vũ trụ, hãy dẹp bỏ các thành kiến sẵn có và sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm rồi các ông sẽ thấy tất cả đều diễn ra trong một trật tự, mỹ lệ và điều hòa. Các ông sẽ ý thức sự bé nhỏ của con người trước vũ trụ bao la vì khoa học xây dựng trên căn bản của giác quan vốn rất giới hạn, sao có thể cảm xúc vũ trụ được? Nếu ta cứ khăng khăng cho rằng những cái gì không nghe được, không nhìn được đều không hiện hữu thì thật là một sai lầm tai hại. Có biết bao nhiêu sự kiện xảy ra mà giác quan giới hạn không thể cảm nhận cho đến một ngày nào họ khai mở các giác quan khác..."
Từ xưa đến nay khoa Chiêm tinh vẫn bị người đời hiểu lầm và diễn tả sai lạc rất nhiều. Nhờ nghiên cứu bộ sách nguyên thủy Brahma Chinta nên tôi có thể nói cho các ông biết chút ít về khoa học này với hy vọng sẽ đánh đổ phần nào thành kiến sai lầm của người Âu.
Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều mang sẵn một tài sản khác nhau đó là Nghiệp Báo. Tài sản này có thể tốt đẹp do các nguyên nhân hợp với Thiên Ý hoặc xấu xa bởi các lỗi lầm trong tiền kiếp. Tất cả nguyên nhân này đều chứa chấp trong Tàng Thức (A Lại Da thức) và trở nên một động lực chi phối đời ta. Ðộng lực này được phân phối bởi các mãnh lực trong vũ trụ một cách vô cùng phức tạp và biến thành một thứ gọi là Vũ Trụ Tuyến (Cosmic rays). Những vũ trụ tuyến này không ồ ạt ảnh hưởng đến ta ngay mà tùy theo sự thay đổi của tinh tú để phản chiếu xuống trần gian. Ðiều này rất hợp lý vì trải qua vô lượng kiếp sống, con người đã làm biết bao điều xấu xa, đâu thể nào trong vài ba kiếp mà trả hết được. Ðó cũng là lý do con người cứ trầm luân trong luân hồi sinh tử.
Chiêm tinh học nghiên cứu sự xê dịch, vận hà của tinh tú mà đoán biết được các ảnh hưởng con người trong kiếp sống này. Nhờ nghiên cứu Chiêm Tinh mà người ta hiểu rõ rằng không hề có một Ðấng Thần Linh thưởng phạt hay kiểm soát các hành động của ta. Tất cả chỉ là hậu quả của những gì do ta tạo nên và phải gánh chịu."
"Nhưng chính ông đã đề cập đến Thượng Ðế và sự hiện hữu của Ngài kia mà?" Babu bật cười:
"Các ông vẫn còn quan niệm rằng Thượng Ðế là một ông già ngồi trên cao nắm quyền sinh sát, định đoạt số phận con người - đó là một quan niệm rất ấu trĩ. Thượng Ðế cao cả hơn nhiều - Ngài sáng tạo và đặt tất cả vào một trật tự trong vũ trụ. Làm gì có việc ngài định đoạt số phận từng người như các ông nghĩ. Tất cả diễn tiến theo luật vũ trụ - nhân nào quả nấy, một lực nào cũng có một phản lực đi kèm đó là khoa vật lý chứ đâu phải gì xa lạ? Làm gì có việc số mệnh đã định sẵn, nếu thế ta cứ tiêu cực, bất động mặc cho số phận run rủi hay sao? Này các ông bạn, Chiêm Tinh Học là một khoa học thực tiễn và tiến bộ không thể có vấn đề mê tín. Lá số tử vi không có nghĩa là con người chỉ là nô lệ của quá khứ mà chỉ cho ta thấy rõ sự tuần hoàn của vũ trụ mà trong đó con người có thể thay đổi tính mạng.
Chiêm Tinh Học nghiên cứu phản ứng của con người dưới ảnh hưởng tinh tú. Các tinh tú chỉ là những khí cụ trung gian biểu lộ một cách trung thực các tác động quân bình của nghiệp quả gây nên trong quá khứ. Mỗi người sinh ra đời vào một ngày giờ mà ảnh hưởng của tinh tú hòa hợp với nghiệp quả cá nhân của y. Các vũ trụ tuyến được tinh tú phản chiếu xuống làm mạch máu di chuyển, tế bào thay đổi dĩ nhiên ảnh hưởng đến cuộc đời con người. Mặc dù con người không thể thay đổi việc đã xảy ra trong quá khứ nhưng nhờ ý chí tự do, y có thể vượt khỏi tầm ảnh hưởng này và chiến thắng ảnh hưởng tinh tú.
Tôi lấy một thí dụ như thương gia Keymakers bạn của các ông. Ðáng lý theo số mạng thì ông ta phải chết trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng vì một mầm thiện nẩy sinh, thấy chiến tranh quá ư tàn khốc ông động lòng trắc ẩn mang tài sản ra giúp đỡ rất nhiều nạn nhân chiến cuộc. Dĩ nhiên, khi đó ông ta không hề biết gì về số mạng của mình nhưng hành vi bác ái này đã tạo một phản lực mạnh mẽ thúc đẩy các vũ trụ tuyến xê dịch sang một bên và nhờ thế ông ta thoát chết. Số mạng của ông ta hoàn toàn thay đổi từ đó. Các ông hiểu rằng hoán cải số mạng không có nghĩa việc quá khứ sẽ bị xóa bỏ nhưng đáng lý một biến cố lớn sẽ xẩy ra trong kiếp này lại không xảy ra. Khi ta phát tâm làm một việc hợp với Thiên Ý thì một ảnh hưởng tinh tú bỗng chói sáng và các từ điện mạnh mẽ đẩy ngược luồng vũ trụ tuyến sang hướng khác. Do đó, con người có thể cải mệnh số dễ dàng nếu biết làm các việc tốt lành, đẹp đẽ. Dĩ nhiên, ảnh hưởng xấu không mất đi nhưng sẽ tiềm ẩn, chờ một cơ hội khác sẽ phát hiện lại. Nói một cách khoa học thì đời người có thể ví như một phương trình toán học A * B equals C. A và B là nguyên nhân và C là hậu quả nhưng nếu ta thêm vào đó một nguyên nhân X thì A * B * X sẽ không thể bằng C nữa vì đã có thêm nguyên tố X. Ðó là nguyên lý hoán cải số mạng mà tôi vừa trình bày.
Ðời người thực ra đã ghi khắc trên tinh tú nhưng các tinh tú khi sáng khi mờ và sự mờ tỏ do chính ta quyết định. Khi ta có các hành vi xấu xa nó tạo ra những động lực xấu và sẽ thu hút các điều xấu ghi khắc trên tinh tú phản chiếu xuống mau lẹ hơn. Dĩ nhiên hậu quả không thể lường. Trái lại, nếu ta ý thức điều này, phát tâm làm việc hữu ích tự nhiên phát sinh các động lực tốt đánh bật các ảnh hưởng xấu sang một bên. Nhờ nghiên cứu Chiêm Tinh Học một cách đứng đắn, khoa học, con người sẽ hiểu biết mệnh trời, biết tin tưởng ở mình và sống cuộc đời thoải mái, không bi quan, không lạc quan, an vui tự tại."
"Như thế người đi trên đường Ðạo sẽ gặp gì khi đã có nghiệp quả xấu?"
"Nghiệp quả xấu ví như một án treo, bất động - nhưng không ai có thể tránh được nó. Ðối với những người đã vào cửa Ðạo, đã hiểu biết thì họ lại cầu xin được trả quả cho lẹ. Tuy họ không gây các nhân xấu nữa nhưng họ đủ can đảm để chịu đựng nghiệp quả. Có thế họ mới rút ngắn thời gian trong sinh tử luân hồi. Hiểu biết mệnh trời để sống thoải mái chính là mục đích khoa Chiêm Tinh chân chính."
"Vạn vật trong vũ trụ dù ở cõi vô hình hay hữu hình đều được sắp hạng và phân loại theo quy mô của số 7. Tất cả mọi hình thức sinh hoạt trong dãy hành tinh hiện tại đều thuộc một trong 7 cung. Mỗi cung có 7 phân bộ hay 49 nhóm.
Toàn thể Thái Dương hệ của chúng ta đều là sự biểu lộ của Thượng Ðế, mỗi phần tử trong đó đều là một phần của Ngài. Ngoài ra có 7 vị tinh quân (Logoi) mỗi vị kiểm soát một cung. Thật ra các vị này chỉ là những trung tâm thần lực những con đường vận hà để thần lực Thượng Ðế ban rãi ra. Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với ba cõi giới Hạ Giới, Trung Giới và Thượng Giới. Thượng Ðế cũng thế. Tất cả vật chất trong Hạ Giới hợp thân thể xác của Ngài. Tất cả vật chất cõi Trung Giới hợp thành Vía của Ngài và tất cả vật chất cõi Thượng Giới hợp thành thể Trí của Ngài. Tóm lại, tất cả đều là thành phần của Thượng Ðế từ hạt bụi đến các dãy Thiên Hà. Mọi nguyên tử vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một phần của Thượng Ðế xuyên qua 7 cung - khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều tùy ảnh hưởng các cung. Khoa chiêm tinh có thể phân biệt người nào chịu ảnh hưởng cung nào tùy số lượng nguyên tử cấu tạo xuất phát từ cung liên hệ."
Babu nhìn mọi người thấy cũng có vẻ ngơ ngác. Y mỉm cười giải thích:
"Ðề tài này rất khó hiểu, thôi để tôi giải thích rộng ra vậy. Nói theo danh từ Thiên Chúa Giáo thì Bảy vị Tinh Quân (Logoi) này đã xuất hiện trong linh ảnh (Vision) của Thánh Jean. Sách Khải Huyền 4.5 nói rõ: "Có 7 ngọn đèn thắp trước Ngài, đó là 7 vị Ðại Thiên Thần của Chúa Trời." Lúc khởi thủy mọi người chúng ta đều là thành phần của Thượng Ðế nghĩa là cùng bắt nguồn từ một nơi. Sau đó, chúng ta tách rời ra xuyên qua 7 con đường vận hà này. Theo sự hiểu biết của tôi thì 7 con đường biểu lộ 7 đức tính của Thượng Ðế qua 7 vị Tinh quân: Vị thứ nhất là Thiên Thần Michael (Sức mạnh) liên hệ đến Hỏa Tinh. Vị thứ hai là Gabriel (Toàn tri) liên quan đến Thủy Tinh. Vị thứ ba là Raphael (Quyền năng) liên quan đến Thái Dương. Vị thứ tư là Uriel (Ánh sáng) liên quan đến Mặt Trăng. Vị thứ năm là Zakiel (Hảo ý) liên quan đến Mộc Tinh còn hai vị kia là Jophiel và Chamuel thì tôi không biết rõ hành tinh liên hệ.
Khoa học thực nghiệm tin rằng các hành tinh đều là sự kết hợp ngẫu nhiên của vật chất. Nếu là ngẫu nhiên tại sao chúng nằm ở các vị trí nhất định trong vũ trụ và di chuyển theo một quỹ đạo cố định? Mọi vật dường như tuân theo một định luật thiên nhiên nhưng đằng sau định luật đó luôn luôn có một sức mạnh thiêng liêng cai quản. Tôi cố gắng dùng tên các vị thiên thần và danh từ Thiên Chúa Giáo để giải thích cho các ông. Ðiều này có thể được diễn tả khác đi tùy quan niện tôn giáo, văn hóa nhưng sự thật vẫn là một. Muốn hiểu khoa Chiêm Tinh phải đi ngược về nguồn cội. Con người từ một chốn nguyên thủy ví như nước cùng một nguồn chảy theo bảy dòng suối khác nhau để ra biển. Mỗi dòng suối sẽ mang một tính chất khác nhau, do đó nước trong suối cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều.
Loài người có thể phân biệt ra 7 đức tính rõ rệt tùy theo con đường vận hà mà họ trải qua. Khoa Chiêm Tinh nghiên cứu con người và ảnh hưởng hành tinh đến các tính nết nhất định. Cũng như khoa Sinh Lý Học phân biệt con người qua tính chất nồng nhiệt, lạnh nhạt, Bạch Huyết chất hay Ða Huyết chất. Thực ra đó chỉ là các phương pháp khác nhau để trình bày tính chất con người.
Dĩ nhiên, không dễ gì tìm ra cung của mỗi người vì y đã đi sâu trong luân hồi sinh tử, tạo các nghiệp quả phức tạp và những nguyên nhân này chế ngự, ảnh hưởng đến tính tình y rất nhiều. Chỉ với sự khai mở các giác quan như Thần Nhãn hay có một kinh nghiệm sâu xa về huyền môn ta mới có thể biết rõ họ thuộc cung nào.
Nếu một người biết rõ cung của mình và tiếp tục trau dồi bản tính sẵn có thì y sẽ tiến rất nhanh vì khí cụ hữu hiệu nhất là phương pháp thuộc về cung liên hệ. Thí dụ như người có khiếu về âm nhạc lại cứ học Toán. Không phải y sẽ không tiến bộ gì nhưng nếu đi về âm nhạc y sẽ tiến nhanh hơn vì hợp với khả năng hơn. Sự hiểu biết mình là ai, có những khả năng tiềm ẩn nào sẽ giúp ta định hướng đi cho chính xác. Ðó mới là mục đích của khoa Chiêm Tinh.
Ða số con người hành động không ý thức, chịu ảnh hưởng ngoại cảnh nên luôn bất mãn, không thoải mái. Họ tự đóng kịch với chính mình hoặc sống theo một lề lối khuôn khổ không thích hợp. Trong Kinh Thánh có câu: "Nếu các ngươi không hồn nhiên như trẻ con, các ngươi không thể vào nước Thiên Ðàng". Ðiều này khuyên ta nên sống thật với chính mình. Chiêm Tinh Học có thể giúp ta biết ta là ai, thích hợp với những công việc gì? Sự nghiên cứu Chiêm Tinh như thế mới gọi là đứng đắn chứ không phải chỉ xem quá khứ, vị lai, may rủi.
"Làm sao con người có thể biết họ thích hợp với cung nào?"
"Một nhà Chiêm Tinh giỏi có thể lấy lá số tử vi để xem cá nhân liên hệ với cung nào, điều này đòi hỏi rất nhiều thời giờ, kinh nghiệm. Một phương pháp khác là hãy nhìn hành động mỗi người: Người thuộc cung 1 sẽ đạt đến mục đích bằng sức mạnh ý chí. Người thuộc cung 2 phân tích kỹ lưỡng vấn đề để lựa chọn phương pháp nào hữu hiệu nhất. Người thuộc cung 3 nghiên cứu rất kỹ về thời gian, giờ khắc thuận lợi nhất v.v... Một thí dụ khác như trong việc chữa bệnh, người thuộc cung 2 sẽ tìm hiểu nguyên nhân và phương pháp nào thích hợp nhất để chữa khi người thuộc cung 3 sẽ nghiên cứu thời gian nào thuận lợi để chữa. Người thuộc cung 6 sẽ tìm cách chữa bệnh bằng đức tin. Người thuộc cung 7 sẽ chữa bằng các nghi lễ, cúng tế v.v... Tuy nhiên, cách tốt hơn hết là tự mình, xét lấy mình. Hãy dẹp bỏ những điều mình vẫn khoác lên bản ngã như danh vọng, địa vị, ham muốn. Hãy thành thật với chính mình thì ta có thể xem được mình thuộc về cung nào. Nếu ta là người có ý chí mạnh mẽ, cương quyết làm việc trong tinh thần khoa học thì có lẽ ta thuộc cung 1. Nếu ta là người khôn khéo, thích lý luận và làm việc một cách hiệu quả thì có lẽ ta thuộc cung 2. Nếu ta là người nhạy cảm, thích hoạt động xã hội, từ thiện thì có lẽ ta thuộc cung 5. Nếu ta là người có đức tin mạnh mẽ, cẩn thận, có thể ta thuộc cung 7 v.v...
Ðề tài các cung rất khó giải thích trong một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt thôi: Cái vật chất sơ khai nguyên thủy bắt đầu tiến hóa qua 7 con đường vận hà hay 7 đức tính quan trọng. Chỉ khi nào con người phát triển toàn vẹn cả 7 đức tính này y sẽ trở nên toàn thiện. Dĩ nhiên, chúng ta đều bất toàn dù mỗi cá nhân đã nẩy nở các đức tính cần thiết căn bản.
Người Âu Tây đã khai mở rất nhiều khả năng suy luận, khoa học nhưng thiếu khả năng sùng tín, bác ái. Vì lý trí nẩy nở nhiều hơn tình cảm nên họ có vẻ thiếu thiện cảm, lạnh lùng thích chống báng thay vì dung hòa. Trong khi đó, người Á Châu phát triển mạnh về sùng tín và bác ái nhưng thiếu khả năng suy luận, để tình cảm chi phối nên họ có vẻ chịu đựng, nhượng bộ, khoan dung, dễ dãi. Cả hai đều không quân bình tuyệt đối nên trong tương lai sẽ có các biến chuyển mạnh mẽ, xáo trộn để cả hai dân tộc có dịp học hỏi, hòa hợp với nhau."
Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi trầm giọng:
"Trong cuộc đời nghiên cứu sách vở bí truyền của các tôn giáo, tôi không hề thấy có sự khác biệt giữa các giáo lý nếu không nói là giống hệt nhau. Tiếc thay, con người chỉ thích đi tìm sự khác biệt để chỉ trích, phê bình và càng ngày càng đi xa đến chỗ vô minh cùng cực."
"Nhưng các tôn giáo có khác biệt nhau chứ?"
Babu nhẹ nhàng:
"Này các bạn, mỗi quốc gia có phong tục, tập quán riêng biệt. Mỗi thời buổi đều có các thay đổi, giá trị khác nhau do đó, một chân lý cũng có thể được giảng dạy bằng các phương pháp khác nhau. Phương pháp, ngôn ngữ có thể khác nhưng chân lý vẫn là một cũng như Thượng Ðế có 7 con đường vận hà khác nhau qua bảy cung. Nguyên tử mỗi cung có các rung động khác nhau, có màu sắc khác nhau, tính chất khác nhau nhưng nó đều là nguyên tử xuất phát từ Thượng Ðế. Nếu bạn thay đổi áo mặc khác nhau thì bạn đâu có thay đổi, chiếc áo có thể khác nhưng người mặc áo vẫn chỉ là một. Nếu các ông đi ngược về cội nguồn các ông sẽ hiểu sự thay đổi từng thời kỳ qua ảnh hưởng tinh tú."
Giáo sư Allen thắc mắc:
"Xin ông giải thích thêm về việc này."
Babu trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
"Trong 7 vị Tinh Quân có những biến đổi diễn ra từng thời kỳ giống như sự tuần hoàn của hơi thở trong bộ máy hô hấp hay sự vận động của trái tim. Các sự biến đổi này diễn ra vô cùng phức tạp dưới thiên hình vạn trạng. Vì lẽ thể vía con người được cấu tạo cùng một nguyên tử với thể vía các vị Tinh Quân nên khi vị Tinh quân thay đổi tự nhiên mọi người trên thế gian cũng ít nhiều ảnh hưởng theo. Nói một cách khác, khi vị Tinh Quân cai quản một cung thay đổi thì những người đã đi qua cung đó, nguyên tử cấu tạo có chứa đựng nhiều tỷ lệ của cung đó sẽ thay đổi theo. Trong lịch trình tiến hóa, đã có những sự thay đổi trong đầu óc loài người từng thời kỳ và do đó, văn minh nhân loại cũng đổi thay. Theo sự nghiên cứu của tôi thì mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 100 năm, nhưng cứ 25 năm cuối lại có các biến chuyển gây ảnh hưởng cho chu kỳ kế tiếp.
"Như vậy thì sự biến chuyển kỳ này sẽ bắt đầu vào khoảng 1975 cho đến năm 2000 và ảnh hưởng đến thế kỷ 21?"
Babu gật đầu:
"Thật ra chu kỳ không hoàn toàn trùng hợp từng năm, từng tháng vì niên lịch thông thường không chính xác. Khoa Chiêm tinh xử dụng một thứ lịch khác theo sự vận chuyển của các tinh tú. Tuy nhiên, để giản dị hóa vấn đề này ta có thể nói rằng cứ 25 năm cuối của mỗi thế kỷ là buổi giao thời có nhiều sự thay đổi mãnh liệt."
Giáo sư Mortimer buột miệng:
"Nhưng đã có bằng chứng nào rằng cuối thế kỷ này sẽ có các thay đổi lớn?"
Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi người:
"Các ông đều là người Âu, tôi xin dẫn chứng bằng lịch sử Âu Châu cho dễ hiểu. Các ông có thể coi nó là sự trùng hợp ngẫu nhiên cũng được:
Năm 1275, Roger Bacon phát động phong trào phục hưng văn hóa rồi suốt 100 năm sau toàn thể Âu Châu đều thay đổi. Năm 1375, Christian Rosenkreuz phổ biến nền văn hóa này khắp từng lớp dân chúng đưa Âu Châu thoát khỏi nền tảng hắc ám của thời kỳ Trung Cổ. Năm 1275 và 1375 chả là 25 năm chót của thế kỷ 13 và 14 hay sao?"
Giáo sư Mortimer, một nhà bác học về Cổ ngữ và Lịch sử Âu Châu suy nghĩ:
"Quả thế, phong trào phổ thông văn hóa bằng đường lối phục hưng đã cứu nguy cho sự suy đồi của Âu Châu nhưng đó chỉ là hai trường hợp. Tôi thiết nghĩ muốn kết luận ta cần nhiều dữ kiện rõ ràng hơn."
Babu mỉm một nụ cười bí mật và xác định:
"Thế thì ông nghĩ sao về việc phát minh ra máy in, kỹ thuật ấn loát vào năm 1473? Nhờ thế tư tưởng các triết gia, giáo sĩ mới phổ thông khắp quần chúng, nâng cao dân trí Âu Châu? Ông nghĩ sao về Francis Bacon và cao trào nghiên cứu khoa học năm 1578, xử dụng Anh Ngữ thay vì Latin để phổ biến kiến thức khoa học. Có phải những việc này đã đem khoa học vào xã hội để cải thiện cuộc sống hay không? Việc này xảy ra vào 25 năm cuối của thế kỷ 15 và 16.
Phải phục hưng văn hóa, đưa Âu Châu khỏi các thành kiến bảo thủ đã rồi cải cách, phát triển khoa học để mọi người biết suy luận sau đó, mới thay đổi xã hội được chứ. Văn hóa đi trước phổ biến tư tưởng để dọn đường cho các thay đổi chính trị, xã hội về sau.
Năm 1675, các Hội kín bất đầu mọc lên kêu gọi san bằng giai cấp, dẹp tan bất công xã hội gây nên bởi chế độ Bảo Hoàng. Năm 1789, cuộc cách mạng Pháp đã bùng nổ và thay đổi hẳn lịch sử Âu Châu. Hai biến cố này đều xảy ra trong vòng 25 năm cuối của thế kỷ 17 và 18. Từ đó đến nay chắc các ông đã thấy?"
Giáo sư Mortimer toát mồ hôi trán, lịch sử Âu Châu đối với ông nào có xa lạ gì nhưng sự giải thích của Babu đã làm ông bừng tỉnh.
Toàn thể phái đoàn đều bàng hoàng khâm phục Babu. Trong một buổi chiều nhà Chiêm Tinh xứ Ấn đã hùng biện dẫn chứng về Toán Học, Sinh vật Học, Triết Học, Tôn Giáo và cả lịch sử Âu Châu như một học giả uyên bác nhất. Kiến thức của y đã chinh phục tất cả mọi người.
Giáo sư Mortimer run giọng:
"Vậy thì theo ông việc gì sẽ xảy ra cho thế kỷ 20 này?"
Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
"Năm 1875 đánh dấu một bước tiến quan trọng, đó là sự phát triển khoa học văn minh cơ giới cùng thuyết "Tiến Hóa" của Darwin và phong trào Thiên Chúa giáo tự do. Từ đây bắt đầu một cuộc tranh chấp giữa tinh thần và vật chất. Có hai mãnh lực rất mạnh phát xuất từ hai bầu tinh tú đói cực gây nên phong trào Duy Tâm và Duy Vật. Thế kỷ 20 bắt đầu với sự phát triển cực thịnh của thuyết Duy Vật. Con người sẽ bị thúc đẩy vào các sự kiện vật chất, họ sẽ gặp các thử thách mà nhu cầu bao tử, khoái cảm xác thân tranh đấu với nhu cầu tâm linh một cách mãnh liệt. Ðến khoảng 25 năm cuối, từ 1975 trở đi thì phong trào Duy Tâm sẽ phát triển mạnh mẽ và được phổ biến sâu rộng để thúc đẩy sự tiến hóa tâm linh. Cuối thế kỷ 20 phong trào Duy Vật sẽ sụp đổ, hiện tượng nghiên cứu các giáo lý bí truyền sẽ bắt đầu.
Này các ông bạn, các bạn đều là những người tiền phong. Trước khi một sự phổ thông Bí Giáo được thực hiện phải có những hạt giống gieo sẵn và nẩy mầm.
Ðó là lý do các bạn được thúc đẩy để nghiên cứu các hiện tượng huyền bí Phương Ðông. Tôi không thể tiết lộ thêm điều gì nhưng qua lá số tử vi của Olivers tôi qủa quyết những điều tiên đoán đều sẽ thành sự thật.
Chắc chắn trong 25 năm cuối của thế kỷ này sẽ có nhiều thay đổi và có những cố gắng giúp cho sự tiến bộ của nhân loại, giai đoạn này rất quan trọng. Có hai loại người trên thế gian: Một loại đã thấy ánh sáng rực rỡ nơi cuối chân trời và định hướng để tiến tới đó. Dĩ nhiên, họ sẽ phải chiến đấu cam go với các cám dỗ, các hoàn cảnh bất lợi xảy ra chung quanh nhưng ở họ, hy vọng luôn luôn sáng rỡ. Hạng thứ hai không cảm xúc được các tư tưởng thanh cao, không tin tưởng những điều cao thượng. Họ là những người lạc lõng, đáng thương vì họ sẽ phải học các bài học hết sức đau khổ cho đến khi họ hiểu biết và quay đầu về phía ánh sáng. Ðiều này đã và đang xảy ra."
"Chuyện gì sẽ xảy ra cho những người không hiểu biết này?"
Babu bật cười:
"Các ông nghĩ rằng Thượng Ðế sẽ trừng phạt họ ư? Không đâu, họ sẽ phải tự học lấy những bài học trong lầm lỗi, trong đau khổ. Thí dụ như một người muốn đi từ quê lên tỉnh. Y có thể đi theo các đường lộ xây cất sẵn sàng, theo bản đồ chỉ dẫn. Nhưng có người cứ khăng khăng đi theo ý mình bất tuân theo luật lệ, đường dọn sẵn không đi, bản đồ có sẵn không thèm nhìn. Y sẽ đi vào rừng, dẫm lên gai góc, đau đớn, lạc lối lung tung sau đó mới ý thức sự ngu xuẩn của mình. Ðời là một bài học vô cùng qúy giá mà ai cũng phải học. Cõi đời đầy những vô thường, khi thế này, lúc thế khác chứ đâu êm xuôi bằng phẳng.
Babu ngưng nói đưa mắt nhìn về sông Hằng. Bên kia bờ sông là một câu lạc bộ với những ánh đèn màu cùng tiếng nhạc dập dìu. Y thở dài:
"Ðó là nơi hội họp của một hội đồng thương mại. Hội này quy tụ toàn các thương gia, các bậc thượng lưu trí thức giàu có bật nhất thành phố này. Tuần nào họ cũng hội họp ăn uống. Ða số đều đã ngoài 60 mà vẫn còn ham vui. Cơ thể họ đã suy nhược ngưng lòng hưởng thụ vật chất còn mãnh liệt. Họ tụ tập nhau để nói chuyện mưa gió, thời tiết, thú vui đời người. Không ai ý thức được rằng chỉ ít lâu nữa, ai cũng phải từ giã cõi trần. Nghe họ vui đùa, tưởng như họ có thể lột da như giống rắn để sống mãi mãi như thế."
Babu nhìn lên bầu trời đầy sao trầm ngâm:
"Mọi vật trong vũ trụ đều quân bình tuyệt đối, không dư, không thiếu, từ hạt bụi bé nhỏ đến những dãy Thiên Hà vĩ đại. Ðời người quá ngắn và luôn bị lôi cuốn vào sinh hoạt quay cuồng. Ðâu mấy ai ý thức được sự phung phí hôm nay dọn đường cho sự đau khổ ngày mai. Tất cả chỉ là những ảo ảnh chập chờn thế mà người ta cứ coi như thật. Nếu biết thức tỉnh quan sát ta có thể học hỏi biết bao điều hay. Tiếc rằng khi đắc thời người ta quên đi quá khứ rất nhanh, chỉ trong đau khổ, nhục nhã ê chề mới chịu học. Có thể đó cũng là lý do luôn luôn có các biến động vô thường, thúc dục con người học hỏi."
"Ông nghĩ rằng con người sẽ học hỏi trong đau khổ?"
Babu thở dài:
"Ðúng thế, chúng ta có tính hay quên nên cứ phải học đi học lại các bài học khổ. Chỉ khi bị khổ sở, bị đàn áp, tự do bị chà đạp con người mới quay về với niềm hy vọng cuối cùng là đức tin. Khi sung sướng ít ai nghĩ đến việc tu thân cầu giải thoát. Khi cơ thể bệnh hoạn ta mới thấy khỏe mạnh là hạnh phúc. Khi bị tù đày ta mới thấy giá trị của tự do. Tiếc rằng khi khỏi bệnh, ta không ý thức nguyên nhân đã gây nên bệnh đó mà lại tiếp tục một đời sống như trước do đó, ta cứ bị bệnh hoài.
"Nhưng con người cũng học hỏi rất nhiều và đã có tiến bộ lớn lao."
Babu ngắt lời:
"Các ông gọi như thế nào là tiến bộ? Trên phương diện vật chất con người ta đã tiến bộ chút ít so với ngững thế kỷ trước nhưng phương diện tinh thần vẫn nghèo nàn như xưa, chả tiến được chút nào, bằng cớ là họ vẫn tiếp tục các lỗi lầm quá khứ."
"Ông muốn nói đến chiến tranh ư?"
Babu im lặng nhìn lên bầu trời đầy tinh tú ngẫm nghĩ một điều gì. Toàn thể mọi người im lặng chờ dợi. Sau cùng, giáo sư Allen lên tiếng:
"Theo ông thì hòa bình có thể thực hiện một ngày gần đây không?"
Babu mỉm cười trả lời:
"Các ông nghĩ rằng với khả năng bé nhỏ của tôi mà có thể biết hết được ư? Từ khi con người có mặt trên trái đất này đã có hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác. Chiến tranh có bao giờ chấm dứt được? Thực ra chiến tranh chỉ là sự biểu lộ trạng thái bên trong chúng ta, là sự phóng đại các động tác hằng ngày của chúng ta. Sở dĩ mỗi ngày nó một trầm trọng hơn là do kết quả các hoạt động kỹ nghệ và óc sáng tạo của con người. Chiến tranh không thể chấm dứt nếu các nguyên nhân gây nên cuộc chiến vẫn còn. Nếu có một cây cổ thụ thật lớn và ta muốn chặt nó. Ta không thể leo lên vặt hết lá cây được, vặt lá này nó lại mọc lá khác phải không các bạn? Cách duy nhất là đốn tận gốc rễ. Nguyên nhân chiến tranh bắt nguồn từ các tham vọng, giận dữ, oán hận, đầu óc quốc gia, bộ lạc, tinh thần phe phái, đố kỵ, ganh ghét. v.v... Tận diệt được các thói xấu này là chấm dứt chiến tranh. Phương pháp duy nhất là làm một cuộc cách mạng trong tâm hồn. Chỉ khi nào loài người ý thức điều này và thay đổi quan niệm sống, xóa bỏ lòng thù hận thì họ sẽ thấy bình an. Tiếc rằng ai cũng chỉ nhìn thấy sự sai quấy nơi người khác nên mới có tình trạng ngày nay.
Hòa bình và thiện chí cần đi đôi với nhau nên không ai có thể thực hiện hòa bình khi lòng còn đầy oán thù, ghen ghét muốn bốc lột kẻ khác để mưu lợi cho cá nhân mình hay phe phái mình. Tất cả các hội nghị, các mưu tính để mang lại hòa bình cho nhân loại đều thất bại vì con người không chịu thực hiện hòa bình ở chính mình."
Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi người một lúc rồi trầm giọng:
"Các ông đều biết Ðại Ðế Alexandre, người đã chinh phục thế giới. Trong việc xây dựng hòa bình cho Hy Lạp, ông đã càn quét, tiêu diệt tất cả những nước láng giềng có thể đe dọa xứ ông, rồi cứ thắng xong trận này lại phải lo đến trận khác và cuộc chiến tranh để mang lại hòa bình cứ thế kéo dài. Alexandre là một người thông minh theo học với hiền triết Aristotle.
Khi lên ngôi Hoàng Ðế ông đã tâm sự với Thầy:
"Con sẽ chiến thắng Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ."
Aristotle hỏi:
"Rồi sao nữa?"
Alexandre trả lời:
"Rồi con sẽ đem binh đánh Ba Tư nêu cao ngọn cờ Hy Lạp. Sau đó con sẽ đem quân chinh phục tất cả các quốc gia Trung Ðông."
"Rồi sao nữa?"
Alexandre suy nghĩ:
"Sau đó thì con có thể ngủ một cách bình an."
(Ghi chú: Thời đó người Hy Lạp chỉ biết đến Ấn Ðộ mà thôi chưa biết đến các nước khác ở Á Châu)
Aristotle mỉm cười:
"Con hỡi, tại sao con không ngủ bình an ngay đêm nay có hơn không?"
Babu kết luận:
"Tôi nghĩ con người cần đặt cho mình một câu hỏi tương tự. Hãy quan sát lòng mình một cách thành thật xem mình muốn gì? Chúng ta muốn bình an hay kích động? Phải chăng chúng ta đều náo nức muốn cái gì? Mỗi buổi sáng, chúng ta vội vã cầm lấy tờ báo để tìm các tin tức sôi nổi nhất. Nếu không có tin gì về chiến tranh, thiên tai, xáo trộn, khó khăn kinh tế - thì chúng ta vứt tờ báo xuống đất và than rằng chả có gì đáng xem. Có phải thế không?
Chúng ta muốn sống yên ổn, không thích xáo trộn nhưng rất thích thú nghe nói về các sự xáo trộn của kẻ khác. Chúng ta dành nhiều giờ để bàn cãi sôi nổi về người này, người nọ, chê bai ông này, diễu cợt bà kia. Phải chăng chúng ta vẫn làm thế? Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi tại sao ta lại làm thế không?
Lòng ta còn ham tiền bạc, danh vọng, địa vị, sức khỏe và chỉ cầu bình an cho chính mình thôi nên chẳng bao giờ thỏa mãn. Nếu ai có hỏi thì ta cũng sẽ chối quanh như Ðại Ðế Alexandre chỉ xin một giấc ngủ bình an mà thôi.
Giấc ngủ bình an nào có khó, nào xa xôi diệu vợi, tốn công nhọc sức mới có. Làm sao ta có thể lao đầu vào vật chất phù du, xây dựng dang vọng địa vị, thỏa mãn cái phàm ngã hữu hình hữu hoại đồng thời tìm sự bình an, êm tĩnh? Chính các điều trên đã phá vỡ sự yên tĩnh xung mãn của nội tâm ta. Phiền não là do chính ta tạo nên chứ đâu phải hoàn cảnh phải không các bạn?
Ngày hôm nay chúng ta đã nói chuyện rất lâu rồi, các bạn sẽ còn trải qua một hành trình dài, gặp gỡ nhiều bậc danh sư, hiền triết. Tôi chúc các bạn tìm được niềm an tĩnh của tâm hồn."
Babu mỉm cười dơ tay tiễn khách, vầng trăng đã lên cao, lấp loáng phản chiếu trên sông Hằng.

Tượng Ngọc Hoàng


Tượng Ngọc Hoàng cùng các tượng Nam Tào - Bắc Đẩu trong các thượng điện của Chùa Việt thể hiện rõ nét cho tư tưởng "Tam Giáo đồng nguyên", đặc biệt các pho tượng Ngọc Hoàng (hoặc tượng Đế Thích - Phạm Thiên) là minh chứng cho kỹ thuật tạc tượng đầy vương giả và tỷ mẩn in đậm dấu ấn của các triều đại, thời kỳ (như tượng Ngọc Hoàng chùa Sùng Ân)

Pho tượng Ngọc Hoàng chùa Thiên Hương (Chùa Mét HP) mang nhiều dấu ấn của phong cách tạc tượng tài hoa bởi nghệ nhân Bảo Hà. Tượng cao 1m21, đầu đội mũ bình thiên, do nhiều yếu tố đã bị hư hai đi góc phải của miện, gương mặt an nhiên, phục sức hai lớp áo, lớp bào bên ngoài chạm hình chim (Ô thước - tượng trưng cho mặt trời "?"). Hai tay tượng, một tay hạ ngang ngực theo đà vuốt râu, một tay đặt trên đùi, các ngon tay được tạo tác vô cùng khoan thai, hai ngón cái đều có móng tay dài. Đai bụng và các nếp áo đều mượt mà,sinh động, tóc thả dài ngang lưng phía sau tượng.
---
Tượng Chùa Mét - Hải Phòng


Nguồn FB Chùa Việt

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

Sài Gòn – Phố Của Sông & Sông Của Phố Tùy bút

Sài Gòn – Phố Của Sông & Sông Của Phố
Tùy bút
Nguyễn Thị Hậu
Một trong những đặc trưng của Sài Gòn là “đô thị sông nước”. Vùng đất này là nơi gặp gỡ của hai dòng sông lớn Đồng Nai và Sài Gòn để cùng đi ra biển; nơi có những kinh rạch mà mức độ lưu thông có thể sánh ngang những con đường giao thông quan trọng nhất như Rạch Bến Nghé, kinh Tàu Hũ, kinh Tẻ kinh Đôi... có những con rạch quanh co xuyên qua thành phố như Nhiêu Lộc, Thị Nghè; có khu vực chằng chịt kinh rạch lớn nhỏ như vùng Chợ Lớn, có con rạch mang tên cả một làng nghề sầm uất và nổi tiếng là rạch Lò Gốm, có cả kinh đào thẳng tắp một thời quan trọng như Kênh Ruột Ngựa. Và Sài Gòn còn là nơi cửa sông gặp biển ở Cần Giờ...
Nhiều con đường ở đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn bắt đầu từ sông Sài Gòn – rạch Bến Nghé, nổi tiếng  như đường Đông Khởi hay đường Nguyễn Huệ (từ việc lấp Kinh Chợ Vải nên xưa còn gọi là đường Kinh Lấp)... Nhưng hình thành trước đó là đường ven sông đồng thời là hệ thống bến, bãi của một thời “trên bến dưới thuyền”. Rồi Sài Gòn phát triển đô thị kiểu phương Tây với nhiều đường “dọc” bắt đầu từ sông đan xen với đường “ngang” tạo thành những “ô vuông bàn cờ”, “phố ven sông” được coi là “mặt tiền” của đô thị này.
Trên mỗi chuyến bay về Sài Gòn, khi tiếp viên hàng không nhắc nhở “cài dây an toàn, mở tấm che cửa sổ” là tôi biết đã gần đến nhà... Lần nào cũng vậy, dù ngày hay đêm tôi cũng nhìn qua cửa sổ xuống dưới kia. Thành phố của tôi hiện ra đầu tiên là những dòng sông. Sông rạch ở Sài Gòn không đậm màu phù sa như sông nước miền Tây, cũng không trong xanh như vùng nước lợ nhiễm phèn ven biển... mà có thể nhận diện sông rạch Sài Gòn bằng những vệt nhà cửa hai bên bờ. Ban đêm ánh đèn như đường dài ở hai bên một đường đen thẫm...
           Có lẽ không ở đâu mật độ nhà ven sông dày đặc như ở Sài Gòn. Dày đến nỗi nhiều con đường không thể đi song song bên bờ sông mà phải len lỏi vòng vo giữa những khu nhà, muốn ra đến bờ sông phải theo những con hẻm ngoằn nghèo càng đi càng mất hút... mãi mới nhìn thấy sông. Trước kia phố ven kênh rạch hình như không bao giờ thấy bình minh, ban ngày ánh sáng chỉ nhờ nhờ. Còn đến chiều, bóng tối, không thèm đợi hoàng hôn, sụp xuống rất nhanh. Phố lúc ấy hầu hết là những xóm nhà cấp 4, nhà sàn lội ra giữa kinh rạch... Sông khi ấy hầu hết là kinh đen, nước đặc quánh mùi hôi lưu cữu hàng chục năm... Trên kinh rạch Sài Gòn từ lâu đã ít ghe tàu thông thương, chỉ vài đoạn có cảnh “trên bến dưới thuyền” vào những ngày giáp Tết.
Nhưng khoảng mươi năm gần đây cảnh quan này đã có nhiều thay đổi.
Bắt đầu từ việc mở đại lộ Võ Văn Kiệt từ quận Một đến Nhà Bè, Bình Chánh. Rồi rạch Bến Nghé, Kinh Tẻ Kinh Đôi vào Ch Lớn,  đến lưu vực Nhiêu Lộc, Thị Nghè, Lò Gốm... được nạo vét, kè bờ gọn gàng thì “xóm nhà mái tôn vách ván” trên sông rạch đã lần lượt “biến mất”. Con đường mới thành hình hai bên bờ làm “lộ diện” những ngôi nhà nhếch nhác, xấu xí. Nhưng như một phép màu, chúng được sửa sang hay xây mới rất nhanh. Những con hẻm ngoằn nghèo cũng mở rộng hơn, tráng xi-măng sạch sẽ... “phố ven sông” trở thành phố thị với những ngôi nhà mặt tiền đẹp đẽ, hàng quán khang trang.
Và sông, nước đã trong hơn, hầu như không còn nặng mùi dù trong ngày nước ròng nắng gắt. Người ta đã thả cá xuống kinh rạch, đã dự kiến có “tàu du lịch” xuôi ngược. Hai bên bờ bây giờ là thảm cỏ vườn hoa, đường đi bộ và hàng cây xanh... Phố của sông, sông của phố bên nhau như một đôi bạn thân.
***
Sài Gòn từ khi hình thành đô thị thì “sông của phố” là đường giao thông trong “nội đô” và ra ngoại tỉnh. Từ đường thủy, tính chất giao thương của Sài Gòn đã phát triển. Không phải tự nhiên mà cùng với việc xây Thành Gia Định, chúa Nguyễn Ánh đã dựng Xưởng thủy nơi rạch Thị Nghè gặp sông Sài Gòn, sau này là công xưởng Ba Son nổi tiếng. Từ Xưởng Thủy nghề đóng tàu của người Việt Nam đã trở thành một ngành công nghiệp, nhất là từ cuối thế kỷ 19 khi kỹ thuật đóng và sửa chữa tàu của phương Tây được ứng dụng tại đây.
Nơi ngã ba sông Sài Gòn tách một dòng là rạch Bến Nghé đi vô Chợ Lớn có cột cờ Thủ Ngữ làm tín hiệu cho tàu ra vào cảng, có bến Nhà Rồng trước là trụ sở của một công ty tàu biển... Dọc rạch Bến Nghé tiếp đến kinh Tàu Hũ, rồi Kinh Tẻ, kinh Đôi hồi đó đất đai rộng rãi, cặp sát bờ sông phía quận Tư, quận Tám còn là vùng đất khá trũng và hoang sơ.  Từ đó dần mọc lên hệ thống bến bãi, nhà máy xay sát lúa gạo, nhà máy sản xuất rượu, nước ngọt, thuốc lá, xà bông... Có thể nói sự kết hợp giữa “phố và sông” ở Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19 làm nên những khu công nghiệp và cảng thị. Tại đây tiếp nhận nông sản từ miền Tây lên, xuất cảng lúa gạo hàng hóa ra nước ngoài. Tại đây có một số chợ đầu mối mua bán hàng hóa sỉ, lẻ cho cả Sài Gòn, Chợ Lớn, xuống miền Tây, ra miền Đông, miền Trung...
Ven sông về phía quận Một, quận Năm, quận Sáu là phố thị. Có nhà máy đèn Chợ Quán và những dãy nhà một trệt một lầu san sát mặt tiền buôn bán sầm uất. Xưa “trên bến dưới thuyền” chủ yếu phía bên này (bên kia nhà máy thì tàu lớn, xà lan), từ rằm tháng Chạp đến ngày 30 Tết ghe chở cây kiểng bông chưng, dưa hấu, trái cây các loại, cả ghe chở than đước ông lò đất, ghe chiếu “Cà Mau” về đậu kín bến sông, ván bắc liền ghe nọ qua ghe kia, trên bờ hình thành chợ Tết.
Sông ở giữa chia đôi hai nửa thành phố, nhưng bên này bên kia liên kết với nhau bởi cùng tính chất kinh tế thương mại, có lẽ tính chất này bắt đầu từ ngôi chợ đầu tiên của thành Gia Định nằm ở bến sông Sài Gòn (khu vực chợ Cũ ngày nay): chợ Bến Thành. Sài Gòn được hình thành từ những dòng sông của phố và phát triển nhờ những đường phố của sông. Bản sắc Sài Gòn cũng là ở đó.  Sông rạch và hệ thống cảng thị là yếu tố Địa – Kinh tế giúp Sài Gòn phát triển nhanh chóng, một thời từng là trung tâm của khu vực Đông Nam Á.
***
Giờ đây, khi thành phố mở rộng nhiều hơn trước, sông Sài Gòn vẫn chia thành phố làm hai nửa: bên quận Một, quận Ba, quận Năm… là trung tâm đô thị  nơi chứa đựng nhiều di tích lịch sử của 320 năm Sài Gòn kể từ năm 1698. Bên kia là quận Bảy, quận Hai, quận Chín, quận Thủ Đức, là vùng “đô thị hóa” nhanh chóng, hiện đại như Phú Mỹ Hưng, bán đảo Kim Cương… Xa hơn là đô thị biển Cần Giờ đang thay đổi từng ngày… Một khúc uốn quanh của sông Sài Gòn ôm trọn “bán đảo” Thủ Thiêm, nơi mà theo quy hoạch sẽ là một thành phố mới. Chỉ mong Thủ Thiêm nhanh chóng vượt qua những tháng ngày nóng bỏng đau đớn để thực hiện được giấc mơ tương lai mà bao làng xóm lâu đời bao con người cần lao đã phải đánh đổi số phận vì nó.
Khu vực cảng lâu đời như Ba Son, Tân Cảng, Khánh Hội ven sông Sài Gòn… đã di dời vì không còn phù hợp trong một thành phố ngày càng mở rộng. Nhưng thay vì ven sông là công viên, cây xanh, bến du thuyền hay đơn giản chỉ là thảm cỏ vườn hoa quán cà phê… để người dân có thể thoải mái đến đây nghỉ ngơi và ngắm nhìn dòng sông con kinh ngày hai lần nước lớn nước ròng, để hít thở ngọn gió trong lành mang theo hơi biển, để những dòng sông vẫn gắn bó với đường phố như trăm năm nay… Thì ở đó các dự án nhà cao tầng cứ mọc lên dày đặc, che bờ sông, chắn gió biển, chặn tầm nhìn xa của thành phố. Cứ như thế liệu có lúc nào đó những khối bê tông kính thép sừng sững hai bên bờ sẽ biến sông Sài Gòn thành một dòng kênh cô đơn, không còn phố không còn đường làm bè bạn?
Là một thành phố gần biển và đang phát triển ra phía biển, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé… cần được coi là “mặt tiền của thành phố”. Mặt tiền khang trang, đẹp đẽ, hiện đại, tốt thôi. Nhưng mặt tiền còn là để nhận dạng ngôi nhà, nhận diện chủ nhân… Đừng để “bản sắc Sài Gòn” biến thành hàng rào bê tông cứng đờ, vô hồn, xa lạ với dòng sông mềm mại và luôn tràn đầy gió biển, xa lạ với những con phố thân thiện luôn tràn đầy sức sống.
Sài Gòn 20.11.2018

Hoa bồ công anh (dandelion)



Hoa bồ công anh là biểu tượng của từ điển Larousse. Biểu tượng này vẽ một nữ thần, tay phải đặt lên ngực, đang thổi vào một đóa bồ công anh (tiếng Pháp là pissenlit) cầm ở tay trái để các cánh hoa bay theo gió tỏa khắp địa cầu (hình tròn bao quanh nữ thần và chữ L là Larousse). Bên ngoài hình tròn có dòng chữ: Je sème à tout vent (Tôi gieo rắc tứ phương), hàm ý truyền bá kiến thức một cách vô tư.


hoa bồ công anh (dandelion) ...!

không hương, không sắc ...
mong manh, bé nhỏ 
gửi theo gió từng mảnh đời mình ...
cho đến khi tàn lụi.!
(HS. Thanh Bình)



Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

Đối tọa thanh đàm


Đối tọa thanh đàm thế sự ,
Nhàn khán thiển thủy hành chu 
Dịch thơ : 

Bên nhau ta nói chuyện đời 
Rỗi xem sông cạn , thuyền trôi nhọc nhằn 








Ấm Đối tọa thanh đàm



  Trà Đối tọa thanh đàm



Bát  Đối tọa thanh đàm





Điếu Đối tọa thanh đàm





Nậm Đối tọa thanh đàm













Thứ Hai, 28 tháng 1, 2019

BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN








BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN.



Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.

Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.

Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.

Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.

Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".

Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản.

Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.

Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."

Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn ra Ðà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài như Ðàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc. Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Ðà Lạt.

Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."

Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.

Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.

Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà Ðỗ Ngọc Yến, Trần Ðại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.

Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.

Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.

Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.

Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .

Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.

Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.

Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ... Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .

Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.

Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.

Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.

Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.

Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?

Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.

Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.

Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.

Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ... "ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!

Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình. Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.

Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."

Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy, méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?

Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.

Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám, để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.

Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.


Trịnh Cung