Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Tứ đại Hitokiri thời Mạc Mạt


Sonno-joi hay Tôn hoàng nhương di là phong trào chính trị
chống lại Mạc phủ  và sự xâm nhập của Tây phương
vào những năm 1850 - 1860. Ảnh: Wikipedia

Hitokiri (人斬り) bao gồm chữ “人 – NHÂN” và chữ “斬 – TRẢM”, hiểu theo nghĩa đen là sát nhân, kẻ chém người. Đây là danh xưng dành cho 4 sát thủ lừng danh vào thời Mạc Mạt (1853 - 1867), giai đoạn cuối cùng của thời kỳ Edo.

“Tứ đại Hitokiri thời Mạc Mạt” (tiếng Nhật: 幕末の四大人斬り – Bakumatsu no Yondai Hitokiri) bao gồm: Tanaka Shinbei, Kawakami Gensai, Okada Izo và Nakamura Hanjiro.

Trung thành tuyệt đối với Thiên hoàng, họ mang trong mình sứ mệnh lật đổ Mạc Phủ thông qua công lý là lưỡi kiếm, thực hiện lý tưởng Sonno-joi (Tôn kính Thiên hoàng, trục xuất bọn man di). Bấy giờ, họ đã thực hiện những vụ ám sát chấn động, lấy đi tính mạng nhiều nhân vật quan trọng.

Tanaka Shinbei (1832 - 1863)

Mùa đông năm 1832, Tanaka Shinbei (田中 新兵衛) ra đời tại vùng quê Satsuma, là con trai của một người lái đò. Bất chấp xuất thân thấp hèn, dựa vào tài năng võ thuật và kiếm thuật, ông đã trở thành một Samurai hoạt động dưới trướng Takechi Hanpeita - thủ lĩnh tổ chức cần vương Tosa Kinno-to.

Theo lệnh của Takechi, Tanaka Shinbei thường thực thi các nhiệm vụ "Trời phạt" (天誅 - Tenchu), ám sát những kẻ thân Mạc Phủ và thành phần ủng hộ phe cánh nước ngoài. 

Tanaka Shinbei được miêu tả là một kiếm sĩ lão luyện và trung thành tuyệt đối. Ông lấy mạng đối phương với những cú vung kiếm nhanh, dứt khoát và mang thủ cấp của nạn nhân treo lên để thị uy sức mạnh. 

Ảnh: mag.japaaan.com

Ông cũng được biết đến là sát thủ có nhiều nạn nhân nhất trong Tứ đại Hitokiri, những người ông sát hại nhiều vô kể. Trong đó có các chính trị gia như Shimada Sakon, Ukyo Omokuni và Honma Seiichiro. 

Bia tưởng niệm được dựng tại
địa điểm Honma Seiichiro bị ám sát ở Shijo Kawaramachi. Ảnh: Wikipedia


Vào ngày 5 tháng 7 năm 1863, Anegakoji Kintomo – một quý tộc triều đình đã bị một số người tấn công và sát hại tại Sarugatsuji, bên ngoài Cổng Sakuhei-mon ở Kyoto. Tại hiện trường, người ta tìm thấy một thanh kiếm được cho là của Tanaka Shinbei vì vậy ông đã bị quan chức Mạc phủ truy nã rồi bắt giữ để tra hỏi về vụ án.

Shinbei đã không khai một lời nào mà rút thanh kiếm ngắn ra và thực hiện nghi thức seppuku, kết thúc cuộc đời ở tuổi 31.

Kawakami Gensai (1834 - 1872)

Kawakami Gensai (河上 彦斎) được xem là người truyền cảm hứng để họa sĩ Watsuki Nobuhiro xây dựng nên nhân vật kiếm khách Himura Kenshin trong tác phẩm manga “Rurouni Kenshin”.

Năm 1834, ở Kumamoto, tỉnh Higo (nay là tỉnh Kumamoto), người con trai thứ hai của nhà Komori ra đời. Đó là Komori Genjiro, người sau này được thiên hạ biết đến với cái tên Kawakami Gensai - một Hitokiri lừng danh.

Lúc 16 tuổi, Kawakami Gensai được giao nhiệm vụ tại thị trấn dưới chân thành Kumamoto với công việc quét dọn. Tại đây ông đã trau dồi kiến thức văn chương, võ thuật rồi dần trở thành một chiến binh văn võ song toàn.

Gensai tiếp cận với khái niệm “kinno” (勤王, cần vương) khi gặp gỡ hai vị tiền bối Todoroki Buhei và Miyabe Teizo, về sau ông cũng gia nhập tổ chức Sonno-joi.

Vị Samurai từng có giai đoạn sống yên bình khi lập gia đình với Misawa Teiko vào năm 1861 và tham gia lực lượng an ninh tại Kyoto. Một năm sau đó, ông làm vệ sĩ riêng cho Sanjo Sanetomi và tham gia vào những cuộc chiến khốc liệt giữa tình hình chính trị rối ren. Năm 1864, Gensai mất đi người thầy đáng kính Miyabe Teizo, cũng từ đây mà ông trở thành một đại sát thủ.

Kawakami Gensai. Ảnh: Wikipedia


Gensai là chuyên gia rút kiếm từ tư thế thấp bằng một tay và giỏi chiêu thức Gyakukesagiri (chém từ sườn đối phương đến vai, theo đường chéo). Mặt khác, ông là người lịch sự, dịu dàng và có nước da trắng trẻo, vóc người nhỏ nhắn như một phụ nữ. Đây là lý do Gensai trở thành nguyên mẫu cho nhân vật Himura Kenshin.

Nhân vật lãng khách Kenshin được xây dựng
dựa trên Kawakami Gensai. Ảnh: Shueisha


Gensai được cho là chỉ lấy mạng một người duy nhất nhưng lại là nhân vật cực kỳ có ảnh hưởng, đó là Sakuma Shozan. Vụ ám sát xảy ra vào ngày 12 tháng 8 năm 1864, ngay giữa thanh thiên bạch nhật tại quận Sanjo-Kiyamachi của Kyoto, được tiến hành cùng với ba sát thủ khác.

Ngay sau vụ việc, tại chùa Tenryu-ji, Kawakami Gensai đã nói với những người đồng phạm của mình, "Đây là lần đầu tiên tôi thực sự cảm thấy mình đã giết ai đó; tóc trên đầu tôi dựng đứng vì ông ấy là người đàn ông vĩ đại nhất mọi thời đại."

Sau vụ ám sát, Gensai đã “rửa tay gác kiếm” và đầu quân cho Takasugi Shinsaku, tham gia cuộc chiến chống lại đợt thảo phạt Choshu của Mạc phủ. Tuy nhiên sau đó ông lại đầu hàng quân binh Kumamoto và bị bắt giam, mãi đến năm 1868, khi Minh Trị Duy tân thành công mới được thả ra.

Về sau vì liên quan đến việc chứa chấp một số cựu binh phản loạn mà ông phải sống trong cảnh ngục tù và cuối cùng bị xử trảm vào ngày 13 tháng 1 năm 1872.

Sakuma Shozan (1811 – 1864) là một trong những người
ủng hộ sớm nhất việc cải cách nước Nhật
và nổi tiếng với khẩu hiệu “Đạo đức phương Đông,
kỹ thuật phương Tây”. Ảnh: Wikipedia

Bức tranh “Genji Yume Monogatari” (1878) của Shinsai Toshimitsu, mô tả cảnh Kawakami Gensai và đồng đội ám sát Sakuma Shozan. Ảnh: Wikipedia

Okada Izo (1838 - 1865)

Những nhân vật như Udo Jin-e trong “Rurouni Kenshin”, Okada Nizou trong “Gintama” hay Capricorn Izo trong “Saint Seiya” đều được cho là dựa trên nguyên mẫu Okada Izo - một trong “Tứ đại Hitokiri”.

Okada Izo (岡田 以蔵) sinh vào ngày 14 tháng 2 năm 1838 tại làng Iwamura, Kami, tỉnh Tosa (nay là tỉnh Kochi), trong một gia đình Samurai.

Ngay từ khi còn nhỏ, Izo đã chăm chỉ tập luyện kiếm thuật và sau đó trở thành học trò của Takechi Hanpeita thuộc phái Nakanishi-ha Itto-ryu. Ban đầu tại quê nhà, Okada làm việc cho gia tộc Tosa nhưng từ năm 1860, ông trở thành một sát thủ theo lệnh của Takechi.

Cũng giống như Tanaka Shinbei,  Izo thực hiện những vụ ám sát dưới danh nghĩa “Trời phạt" (天誅 - Tenchu), khởi đầu với vụ ám sát Inoue Saichiro – một Samurai của miền Tosa. Ông trở thành một sát thủ mà bất kỳ ai nghe đến tên cũng đều kính sợ và được gọi bằng biệt danh “Hitokiri Izo”.

 Ảnh: mag.japaaan.com

Về sau, chán nản với thời cuộc, Izo rời khỏi lãnh địa và trốn đến Edo, không còn tham gia vào các vụ ám sát nữa. Nhưng rồi số phận khiến ông lại vướng vào vụ ám sát Yoshida Toyo, nhiếp chính của Tosa vào năm 1865. Sau khi Izo bị bắt giữ, đồng đội từng hoạt động với ông lo sợ rằng Izo sẽ để lộ thông tin nên đã lên kế hoạch đầu độc ông để bịt đầu mối, tuy nhiên Takechi đã phản đối kế hoạch này.

Vậy nhưng cuối cùng, Izo cũng không thoát khỏi số mệnh nghiệt ngã. Sau khi phải chịu đựng sự tra tấn dã man, ông đã nhận tội và bị chặt đầu thị chúng vào ngày 11 tháng 5 năm 1865, kết thúc cuộc đời ở tuổi 27.

Nakamura Hanjiro (1838 - 1877)

Nakamura Hanjiro (中村 半次郎), hay còn có tên gọi khác là Kirino Toshiaki (桐野 利秋), được biết đến là cánh tay phải của Takamori Saigo - người được tôn vinh là võ sĩ Samurai chân chính cuối cùng.

Hanjiro học kiếm thuật từ thuở thiếu thời, kiếm phái ông theo học là Ko-jigen-ryu, một nhánh của trường phái truyền thống Jigen-ryu. Có một giai thoại nổi tiếng rằng Hanjiro có thể vung được ba nhát kiếm chỉ trong khoảng thời gian một giọt nước mưa rơi từ mái nhà.

Vào những năm tuổi 20, Hanjiro làm việc ở Kyoto và tham gia vào Chiến tranh Boshin với tư cách là chỉ huy cấp cao của lực lượng Satsuma. Ông là sĩ quan cấp cao của Quân đội Hoàng gia mới và sau đó trở thành một vị tướng lữ đoàn trong những năm đầu của Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

Hanjiro Nakamura, người bên phải là Sato,
con gái của một người bán thuốc lá ở Osaka. Ảnh: Wikipedia

Nakamura được gọi là Hitokiri từ sau vụ ám sát Akamatsu Kozaburo. Người ta kể lại rằng Hanjiro đã từng tuyên bố: “Một khi đã quyết định chém, đừng tra kiếm vào vỏ cho đến khi thực hiện điều đó”. Và ông đã nhanh như cắt rút kiếm chém đứt lìa thân thể của Akamatsu, nạn nhân không kịp phản ứng gì dù trên tay đang cầm một khẩu súng. 

So với Tanaka Shinbei hay Okada Izo của Tứ đại Hitokiri thì Hanjiro không tham gia vào nhiều vụ ám sát, số nạn nhân chết dưới lưỡi kiếm của ông không nhiều, nhưng một khi ra tay hành động sẽ đều khiến đối thủ kinh hãi.

Ông nổi danh với kiếm thuật tốc độ cao, là sát thủ có mùi hương vì Hanjiro luôn mang theo chai nước hoa Pháp Eau de Cologne yêu thích. Chuyện kể rằng ngay cả lực lượng cảnh sát Shinsengumi của Mạc Phủ cũng không dám đối đầu Nakamura Hanjiro.

Là một Samurai phụng sự cho chính phủ Minh Trị, tuy nhiên khi Takamori Saigo vì bất đồng quan điểm với triều đình mà rời đi, ông cũng đi theo chủ nhân.  Hanjiro đã từ bỏ tất cả để sát cánh và chiến đấu cùng người thầy Saigo cho đến tận giây phút cuối cùng trong trận Shiroyama - trận chiến cuối cùng của cuộc nổi loạn Satsuma.

Hanjiro đã ngã xuống cùng với đồng đội, những người cùng chung lý tưởng vào ngày 24 tháng 9 năm 1877, sau khi bị bắn vào đầu.

Bức tranh mô tả cuộc đụng độ giữa quân triều đình và quân đội của Takamori Saigo. Tên của Kirino Toshiaki (tên khác của Hanjiro) được viết ở phía bên phải trung tâm. 

 

Nguồn

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

VÌ SAO NƯỚC NGA KHÔNG CÓ HỌA SỸ VĨ ĐẠI?

 VÌ SAO NƯỚC NGA KHÔNG CÓ HỌA SỸ VĨ ĐẠI?

Konstantin Savitsky, Đón tranh thánh (1878),
sơn dầu trên canvas, 141 x 228 cm, Bảo tàng Tretyakov

Nguyễn Đình Đăng tổng hợp, dịch và bình luận

Trong phần ghi chú cuối chương 2 của cuốn “50 bí mật của tay nghề ma thuật” (1948) Salvador Dalí viết:
"Các họa sỹ cổ điển đều đồng ý rằng các nghiên cứu về hình hoạ, bố cục, can hình v.v. cần được tiến hành vào những tháng mùa đông và rằng họa sỹ không nên vẽ màu trước mùa có ngày dài để chắc chắn có nhiều ánh sáng mặt trời nhất vào những tháng mùa xuân và mùa hè.
Kẻ thù tồi tệ nhất cho đôi mắt của bạn, như một họa sỹ biết tôn trọng chính mình, là thực vật dị lạ vùng nhiệt đới, thứ tuyệt đối và triệt để phản hội họa. Độ clorua quá cao trong hòa sắc của Gauguin phải đủ để chữa độ thừa acid của một họa sỹ trẻ trong toàn bộ phần đời còn lại của anh ta. Về vấn đề này, ý tưởng có một họa sỹ giỏi đến từ vùng nhiệt đới cũng sẽ ngớ ngẩn và nực cười như có một họa sỹ Thụy Điển giỏi vậy.
Người Nga, bất chấp toàn bộ lãnh thổ dàn trải mênh mông và khí chất nghệ sỹ xuất chúng của mình (xét về các văn sỹ và nhạc sỹ của họ), chưa bao giờ từng có nổi một họa sỹ vĩ đại. Họ không có một người như thế hiện nay, và không bao giờ có thể có một người như vậy, và lý do của hiện tượng lạ lùng này, bên cạnh những nguyên nhân tế nhị hơn, là tuyết. Không một xứ tuyết nào từng sản sinh ra các họa sỹ giỏi, bởi lẽ tuyết là kẻ thù lớn nhất và tệ hại nhất của võng mạc. Nó là sự phủ nhận siêu thẩm mỹ đối với toàn bộ văn hóa thị giác. Màu trắng của tuyết đơn giản là chói lòa, và chính vì lý do đó mà các màu sắc của các họa sỹ của họ nhuốm sắc tím, bị sung huyết do tích tụ aniline acid, rất độc cho mắt cũng như cho tinh thần. Đó là lý do vì sao các họa sỹ Nga là những người vẽ hòa sắc tệ nhất."
Châm chước lối hành văn cực đoan, có thể thấy nhận xét của Dalí không phải không có cơ sở. Chính các nhà phê bình mỹ thuật t.k. XIX của Nga cũng đồng quan điểm rằng hòa sắc không phải là thế mạnh của các họa sỹ Nga.
Trong bài bình luận về triển lãm năm 1878 của các họa sỹ lưu động, Vladimir Stasov (1824 – 1906), nhà bình luận uy tín nhất của Nga thời đó, khi viết về tranh của họa sỹ Konstantin Savitsky, đã nhận xét như sau:
"Nhiều người, ngay cả những người mê tác phẩm Nga độc đáo này và chiêm ngưỡng nó với toàn bộ tấm lòng, tuy vậy chắc vẫn phải than phiền cay đắng vể hòa sắc đục của nó. Cũng vậy, có lẽ cùng với nửa số khán giả còn lại, tôi cũng than vãn không kém những người kia về hòa sắc của ngài Savitsky, và sẽ sung sướng không thua bất kỳ ai, nếu như bức ‘Đón tranh thánh’ được vẽ bằng màu chất lượng tuyệt hảo của Turner hay của Ostade. Nhưng làm sao bây giờ, không có cái đó, đành bằng lòng với cái gì ta có vậy. Thêm vào đó, tôi thấy dường như ngài Savitsky bị cản trở một chút, bởi, thứ nhất, sự việc trong tranh ông diễn ra trong mùa thu Nga xám đục, u ám, không lâu trước khi rét mướt tràn tới, và thứ hai, bởi vì, nói chung, trường phái hội họa Nga không thành công trong hòa sắc. Ngoại lệ quá ư là hiếm hoi, và nếu chỉ có thêm tí bớt tí màu sắc thì sự khác nhau cũng chẳng có gì là ghê gớm.”
Alexandre Benois (1870 - 1960) [1], họa sỹ và sử gia nghệ thuật Nga, trong cuốn “Lịch sử hội hoạ Nga trong t.k. XIX” (1902), cũng có nhận xét tương tự về họa sỹ Alexandre Ivanov và bức tranh “Sự xuất hiện của Chúa Jesus trước dân chúng”:
"Mặc dù nền giáo dục hàn lâm tại nhà trường ở quê nhà luôn vênh vang với hệ thống giảng dạy bách khoa, người ta đã quên dạy Ivanov cách dùng màu, cách quan sát sự tinh tế trong mối quan hệ giữa chúng trong thiên nhiên, trong vô số sắc thái, và cách truyền đạt lại nó trong tranh. Ở đây, tại Rome, các bức bích họa của Michelangelo và Raphael, các bức phác thảo của Camuccini, Overbeck và Cornelius, cũng như lời khuyên của ba ông hoạ sỹ cuối này cũng chẳng hé lộ gì cho ông về màu sắc."

Alexander Ivanov, Sự xuất hiện của Chúa Jesus trước dân chúng (1837 – 1857)
sơn dầu trên canvas, 540 x 750 cm, Bảo tàng Tretyakov
Về họa sỹ Ilya Repin, trong cuốn “Trường phái hội hoạ Nga” (1904), Benois viết:
"Các bức tranh chân dung là thể loại khá nhất của Repin. Nhưng sự thô thiển đã đổ bóng đen khó chịu lên chúng. Repin là một tài năng thuần túy bề ngoài, trong khi đó ông lại cố hết sức bình sinh truyền đạt ‘đặc tính’ cho các khuôn mặt trong chân dung. Hậu quả là các chân dung của ông vô vị về màu sắc và bố cục, được phác hoạ và tạo hình tạm bợ, được vẽ ẩu và không đẹp, hơn nữa, trên phương diện đặc tính thì đầy những nhấn mạnh thô thiển và khó chịu. Về mặt này, chúng thua xa các chân dung thông minh của Ge và thậm chí thua cả các chân dung chính xác của Kramskoi."
Cũng trong cuốn “Trường phái hội hoạ Nga”, Benois đã chỉ ra các nguyên nhân vì sao hội họa của người Nga thua kém văn học và âm nhạc của họ:
1 - Xuất thân
"Môi trường đen tối, từ đó các họa sỹ ưu tú nhất của chúng ta xuất thân (Kripensky và Tropinin là con nông nô, Varnek là con thợ mộc, cha của Alexander Ivanov là con bị bỏ rơi lớn lên trong cô nhi viện v.v.) đã in dấu ấn lên toàn bộ cuộc đời họ, và Họa viện cũng không đủ sức xóa đi dấu ấn đó, bất chấp tiếng Pháp, các bài học khiêu vũ, và đủ thứ khoa học. Dòng chảy cuộc sống bên ngoài hầu như không chui qua nổi bốn bức tường Họa viện. Sự ngu tối ti tiện ở nhà, việc cải huấn nghiêm khắc qua thực hành và nền giáo dục theo khuôn phép ở trường đã không thể tạo ra những người có khả năng bắt tay với những họa sỹ-nhà sáng tạo đầy tinh thần cao thượng mang trong mình toàn bộ sự kiều diễm của văn hóa t.k. XVIII cùng cơn tuyệt vọng hướng tới sự hồi sinh về tinh thần đang xâm chiếm toàn bộ nhân loại ốm yếu sau cuộc cách mạng Pháp. Trong số những người được Họa viện đào tạo, chỉ có những họa sỹ như Bruni và Bryullov, nhờ xuất thân ngoại quốc, đứng cao hơn các đồng môn thuần Nga trên bình diện văn hóa, là có thể cho một cái gì đó tuyệt vời và bạo dạn hơn. Alexander Ivanov - người vĩ đại nhất trong toàn bộ thế hệ các họa sỹ Nga đầy tài năng đó - chỉ thoát khỏi ảnh hưởng môi trường của mình sau nhiều năm dài sống ở nước ngoài, nhưng tiếc thay đã quá muộn, khi đã cận kề cái chết."
2 - Tư tưởng và nhận thức của chính các nghệ sỹ
"Quan điểm của những người thông minh và có học nhất của chúng ta là bằng chứng tốt nhất cho thấy nghệ thuật thâm nhập cuộc sống chúng ta ít đến mức nào. Bắt đầu từ Pushkin, quỵ lụy van xin "thiên tài" Bryullov, cho tới Lev Tolstoi viết ra khảo luận buồn thảm về nghệ thuật mà ông không hiểu bản chất, tất tật không trừ một ai, thậm chí cả Gogol và Dostoevsky, cũng chỉ có những khái niệm tối tăm, lộn xộn nhất về hội họa, điêu khắc và kiến trúc.
Mà nói chi các nhà văn, chính các họa sỹ của chúng ta cũng ít yêu thích nghệ thuật, nó không đi vào đời sống của họ, và bản thân họ không cảm thấy nhu cầu tinh thần trong nó. Còn gì chán hơn hoàn cảnh trong đó các bậc thầy vĩ đại nhất của chúng ta đang sống, còn gì bực mình hơn những lời lẽ thốt ra từ miệng họ mà ta buộc phải nghe, và trước hết, còn gì lạ lùng hơn cái tiên đề mà họ tin tưởng không lay chuyển, rằng nghệ thuật tạo hình nói chung về bản chất thấp hơn văn học nhiều?"

Ilya Repin, Chân dung nữ nam tước Varvara Ivanovna Ikskul von Hildenbandt, 1889,
sơn dầu trên canvas, 196 x 71 cm

3 - Xã hội
"Nhưng dù sao tất cả bọn họ vẫn thừa thế nào đó: tự đáy lòng chúng ta không chấp nhận họ, chúng ta cũng không hề có ý định tự thay đổi mình theo họ, chúng ta coi họ như trò tiêu khiển thoảng qua, như một thứ minh hoạ, chưa chắc đã cần thiết, cho những cuốn sách chúng ta thích đọc trong tủ sách."
*
Theo tôi, sở dĩ hội họa Nga không phát triển được đến tầm của hội họa châu Âu có lẽ cũng còn do hệ thống hàn lâm cứng nhắc của họa viện Saint Petersburg, một hệ thống được rập khuôn từ sự bảo thủ trì trệ của họa viện Paris t.k. XVIII, nhưng lại thiếu những người thầy như Jacques-Louis David hay Jean-Auguste-Dominique Ingres. Hơn nữa, và đây mới là nguyên nhân chính, chủ nghĩa hàn lâm của Nga, tuy nói là tôn thờ cổ điển, nhưng thực chất chỉ sao chép phong cách hàn lâm Pháp. Phương pháp hội họa sơn dầu của trường phái hội họa Nga thực chất là phương pháp vẽ trực tiếp. Những vẻ đẹp sống động, tao nhã, tự nhiên toát ra từ các dessin cùa Leonardo da Vinci, Michelangelo, Albrecht Dürer, những hòa sắc quang học kỳ ảo của phương pháp vẽ sơn dầu nhiều lớp trong tranh của Van Eyck, Titian, Rubens, Rembrandt, Vermeer, v.v., nếu không nói là hoàn toàn không có chút ảnh hưởng nào lên hội họa Nga, thì cũng chỉ ảnh hưởng rất ít. Thay vào đó là những dessin hàn lâm thiếu sinh khí, những bố cục dàn dựng kiểu nhà hát, những chân dung quý tộc, vua chúa kiểu salon thời thượng, với những hòa sắc khi thì mệt mỏi buồn bã, lúc thì sặc sỡ thái quá. Tiếc thay, như Benois đã nhận xét, “uy danh của thẩm mỹ họa viện không tạo khả năng suy nghĩ sâu hơn về thực chất của nghệ thuật, về bản chất đích thực và truyền cảm của nó.”
8/2/2018
_____________
[1] Alexandre Benois xuất thân từ gia tộc gồm toàn nghệ sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ, kiến trúc sư, tinh hoa của xã hội Nga t.k. XIX. Cha Alexandre Benois là kiến trúc sư Nikolai Benois. Mẹ ông cũng xuất thân từ gia đình kiến trúc sư. Hai người anh của ông, một người là họa sỹ màu nước, người kia là kiến trúc sư, đều dạy tại hoạ viện Saint Petersburg. Alexandre Benois từng vào học tại Hoạ viện Saint Petersburg, nhưng ngay lập tức chán ghét hệ thống hàn lâm giáo điều của hoạ viện Nga và đã thôi học sau 4 tháng. Ông học luật và tốt nghiệp khoa luật Đại học Saint Petersburg năm 1894. Sau đó ông vừa là họa sỹ vừa là sử gia kiêm lý thuyết gia về nghệ thuật ở Nga. Ông sáng lập ra tổ hợp Thế giới nghệ thuật và xuất bản tạp chí cùng tên, đóng vai trò lớn trong việc phổ biến nghệ thuật tới công chúng. Các họa sỹ Nga như Repin, Vasnetsov, Serov, Nesterov, Levitan, Korovin, Bakst, Lansere v.v. đều tham gia tạp chí này.
Thân bolshevik, sau cách mạng tháng 10, Benois được chính quyền Xô Viết bổ nhiệm làm giám đốc Bảo tàng tranh tại Hermitage, và đã xuất bản vựng tập đầu tiên của nó. Chính nhờ các nỗ lực của Benois trong giai đoạn này mà bộ sưu tập tại hai bảo tàng Hermitage và Bảo tàng Nga được gìn giữ tương đối vẹn toàn cho đời sau. Sau khi nhìn thấy sự thực của những gì xảy ra dưới chính quyền Soviet, và đặc biệt bất bình vụ nhà nước Liên Xô bán các tác phẩm hội hoạ của Hermitage cho tư bản phương Tây để lấy ngoại tệ, Benois đã rời nước Nga sang Paris năm 1926 và từ đó không bao giờ quay về Nga nữa.
Trong hai cuốn sách "Lịch sử hội hoạ Nga t.k. XIX" (1902) và "Trường phái hội hoạ Nga" (1904) Alexandre Benois đã đưa ra những phân tích rõ ràng, sâu sắc, chính xác và chi tiết đối với hội họa Nga. Tuy nhiên các lý tưởng nghệ thuật thuần túy của Benois vô cùng xa lạ với quan điểm chính thống của chính quyền Soviet. Vì thế sách của ông không được phổ biến dưới thời cộng sản Liên Xô và chỉ được tái bản sau khi hệ thống này sụp đổ.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Tranh của hoạ sĩ Lưu Đán Trạch về các thi nhân Trung Hoa


Lưu Đán Trạch là một bậc thầy hội họa người Trung Quốc, nổi tiếng với phong cách vẽ nhân vật lịch sử, cổ điển.
Ông nguyên tên là Lưu Hồn, sinh năm 1931, mất năm 2011, nguyên quán Ôn Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Từ nhỏ đã nổi danh thần đồng, năm 10 tuổi từng tổ chức triển lãm tranh riêng, sở trường về tranh nhân vật và tranh hoa điểu, đồng thời cũng là một cây đại thụ trong giới liên hoàn họa. Tranh của ông là sự dung hợp của các lối vẽ công bút, tuyến miêu và bát mặc.

Tranh của hoạ sĩ Lưu Đán Trạch về các thi nhân Trung Hoa bất hủ.


Khuất Nguyên (340 TCN - 278 TCN)

CHI TIẾT DANH SĨ | KHUẤT NGUYÊN

Giữa thời Chiến Quốc loạn thế, nơi các chư hầu tranh hùng, Khuất Nguyên đứng giữa triều Sở như một tiếng nói cô độc nhưng kiên định. Ông lấy chí hướng thanh liêm làm gốc, dùng thi ca làm vũ khí, viết nên những áng văn chất chứa trung nghĩa và nỗi bi phẫn của bậc sĩ phu

Từng được Sở Hoài Vương trọng dụng, ông dốc lòng phụng sự quốc gia, nhưng bởi kiên quyết phản đối liên minh với Tần mà bị xa lánh, đẩy dần ra khỏi triều chính. Khi Dĩnh Đô thất thủ, nước Sở suy vong, bi kịch thời đại dồn nén đến cực điểm. Giữa tuyệt vọng và phẫn uất, Khuất Nguyên chọn cách kết thúc đời mình nơi dòng Mịch La, để lại một biểu tượng bất diệt của trung liệt và thanh danh ngàn thu.

Từ những vần thơ đau đáu đến cái kết bi tráng giữa dòng nước lạnh, Khuất Nguyên không chỉ là một con người, mà là tiếng vọng của khí tiết và lý tưởng không bao giờ bị dập tắt.

Liệu Sứ Quân có sẵn sàng lắng nghe tiếng thơ từ dòng Mịch La, nơi một linh hồn trung nghĩa vẫn còn ngân vang giữa Vong Xuyên vạn cổ?


Thái Văn Cơ (177-249) 

Thái Văn Cơ – Cai WenJi – 蔡文姬

Thái Văn Cơ, tên thật là Thái Diễm hay còn đọc là Sái Diễm, tự Chiêu Cơ, là một trong những nữ văn nhân đầu tiên và là nữ thi nhân duy nhất trong những văn sĩ trứ danh thời Kiến An của Trung Quốc. Bà quê ở Trần Lưu, tỉnh Hà Nam, Việt Châu.

Bà là con gái của đại thi hào Thái Ung, một nhà sử học nổi tiếng tài hoa và cực kỳ uyên bác. Thái Văn Cơ học theo cha nên từ nhỏ đã giỏi văn thơ và thông thạo âm luật.

Năm 16 tuổi, bà lấy chồng là Vệ Trọng Đạo, một danh sĩ khá nổi thuộc một tộc lớn ở Hà Đông, nhưng chẳng được bao lâu thì chồng bà qua đời. Nhà chồng cho là bà khắc mệnh, lại chưa có con nên đuổi về nhà mẹ đẻ.

Tới thời loạn lạc Hưng Bình, bà bị quân Đổng Trác bắt đi, rồi sau biến cố Lý Thôi, Quách Dĩ chiếm cung đình, bà lưu lạc sang đất Hung Nô và bị nạp làm thiếp của Tả Hiền Vương. Bà sống ở đó 12 năm và có 2 người con.

Sau này, Tào Tháo vì là bạn thân với cha của bà nên thương thay số phận bà, mà đem vàng bạc châu báu sang chuộc bà về lại. Giai thoại Thái Văn Cơ dứt ruột từ con mà trở về quê tổ được gọi là “Văn Cơ quy Hán” là một giai thoại nổi tiếng được lưu truyền đến ngày nay.

Bà được Tào Tháo mai mối cho tái giá với người cùng quận là Đổng Tự, nhưng sau đó, Đổng Tự làm quan bị tội, bị khép tội chết, Thái Văn Cơ đã đích thân đi tìm Tào Tháo xin cầu tình. Nhờ tài hùng biện của mình, bà đã khiến Tào Tháo đặc xá cho Đổng Tự.

Vì mang ơn Tào Tháo, nên bà đã giúp ghi lại một phần mười số sách mà cha bà đã sưu tầm rồi trao lại cho bà, số đó sấp sỉ 400 thiên sách đều do tự tay bà nhớ lại và chép, không một chút sai lầm.


Tào Tháo (155-220)

Tào Tháo là nhà chính trị, nhà quân sự và còn là một nhà thơ nổi tiếng cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đã đặt cơ sở cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc. Ông được con trai truy tôn là Thái Tổ Vũ Hoàng đế (太祖武皇帝).


Đào Uyên Minh (365-427)

Đào Uyên Minh (Đào Tiềm), biểu tự Nguyên Lượng, hiệu Uyên Minh, lại có biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh, là một trong những nhà thơ lớn của Trung Quốc thời nhà Tấn và Lưu Tống.


Vương Duy (699-761)

Vương Duy được biết đến với biệt danh Thi Phật. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, nhà thư pháp, họa sĩ với nét họa tài hoa. Có cái tài xuất chúng cùng với tín tâm tròn đầy nơi đất Phật, ông là nhà thơ duy nhất phác họa được cảnh giới tư tưởng Phật gia trong họa, và thổi hồn thiện trong từng ý thơ.
Tác phẩm của ông được đánh giá là: “Xem thơ mà nhìn họa, xem họa mà nghe thanh”, nghĩa là đọc thơ mà như chiêm ngưỡng một bức họa, ngắm họa mà như nghe thanh nhạc.
Vương Duy (701 – 761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) là ba người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã. Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng.

Đỗ Phủ (712-770)
Đỗ Phủ là một nhà thơ và quan người Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ông và Lý Bạch được đánh giá là hai nhà thơ vĩ đại nhất của nhà Đường. Trong suốt cuộc đời, hoài bão lớn nhất của ông là có được một chức quan để giúp nước, nhưng ông không thể thực hiện được điều này.

Lý Bach (701-762) 

Lý Bạch, biểu tự Thái Bạch, là một nhà thơ người Trung Quốc, được đánh giá là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất và quan trọng nhất của thời nhà Đường, thậm chí là của cả nền thơ Trung Quốc. Đường Văn Tông ngự phong tán dương thơ Lý Bạch, kiếm vũ Bùi Mân và thảo thư Trương Húc là "Tam Tuyệt"

Lưu Vũ Tích (772-842)

Lưu Vũ Tích là nhà văn, nhà thơ người Trung Quốc. Ông sinh tại Lạc Dương, Hà Nam, nguyên quán tổ tiên ở Trung Sơn. Lưu Vũ Tích năm mười chín tuổi học ở Trương An, ông đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, sau lại đỗ khoa Bác học hoành từ. Tác phẩm để lại có 40 quyển. Ông là một nhà tư tưởng duy vật thô phác nổi tiếng đời Đường, ông viết ba thiên "Thiên luận" trình bày sâu sắc thêm tư tưởng vô thần, có ý nghĩ rất tiến bộ đối với đương thời. Ngoài ra ông còn đề xướng quan điểm pháp trị đối với chủ nghĩa đặc quyền của xã hội phong kiến. Sống lưu lạc nhiều năm nơi đất khách, nhất là khi hoài bão lớn, tuổi còn trẻ, ông sinh ra căm phẫn xã hội bất công. Vì vậy mà ông viết khá nhiều thơ phúng thích, nổi tiếng nhất là bài thất ngôn tứ tuyệt "Đùa tặng các bậc quân tử xem hoa". Bất chấp bao lần bị đả kích về chính trị, ông vẫn kiên trì, ngoan cường xem kinh kẻ thù của mình. Ông còn làm khá nhiều bài thơ bộc lộ nỗi phẫn uất trong lòng, hoặc mượn cớ vịnh sử để tỏ chí bất khuất, hoặc lấy cớ vịnh vật để chửi nền chính trị thối nát. Từng sống lấu ở vùng sông Sở núi Ba, ông đã yêu mến học tập ca dao địa phương. Điều này đem lại cho thơ ca ông một phong vị mới. Thành tựu thơ ca của Ông có nhiều mặt. Thơ cận thể nổi bật ở âm điu du dương. Thơ hoài cổ của ông cũng rất được truyền tụng. Thơ ông trong trẻo, hùng hồn, tiết tấu khá hài hoà. Đương thời ông sánh ngang với Bạch Cư Dị.

Từ lâu tôi đã thích bài thơ này của ông.

 Ẩm tửu khán mẫu đơn
Kim nhật hoa tiền ẩm,
Cam tâm tuý sổ bôi.
Đãn sầu hoa hữu ngữ,
Bất vị lão nhân khai.



Lý Hạ (790-816)

Lý Hạ là một nhà thơ sống vào thời Trung Đường. Ông có tên tự là Trường Cát, còn có các biệt hiệu Thi Quỷ và Quỷ Tài. Lý Hạ bị cấm tham gia khoa cử vì phạm vào tội húy kỵ. Ông qua đời khi tuổi còn rất trẻ và được miêu tả là có ngoại hình ốm yếu. (đọc thêm)


Lý Thanh Chiếu (1084-1155)

Lý Thanh Chiếu, hiệu Dị An cư sĩ, là nữ tác gia chuyên sáng tác từ nổi tiếng thời nhà Tống, cùng Tân Khí Tật xưng gọi 「Tế Nam nhị An; 濟南二安」. Với lối dùng hoa mỹ, bà đứng đầu trường phái "Uyển ước từ" biểu thị sự hoa lệ và giàu sự gợi hình trong khi sáng tác. 


Tân Khí Tật (1140-1207)

Tân Khí Tật, nguyên tự Thản Phu, sau đổi là Ấu An, hiệu Giá Hiên cư sĩ, là quan thời Nam Tống, và là nhà làm từ nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc.

DANH SĨ TÂN KHÍ TẬT
⚔️
"Không hận cố nhân ta không gặp, hận cố nhân không thấy ta điên cuồng!"
🌟
Tân Khí Tật – tự Ấu An, hiệu Giá Hiên Cư Sĩ, một bậc hào kiệt đất Sơn Đông. Sinh trong thời loạn, ông theo Cảnh Kinh khởi nghĩa, ngựa sắt cờ bay, dâng biểu quy Tống, mang hoài bão khôi phục giang sơn.
🔥
Ở Vong Xuyên, Tân Khí Tật vẫn giữ uy phong năm nào: Vầng trán nghiêm nghị, khí cốt thanh cao, ánh mắt như xuyên thấu thành trì nơi phương Bắc
✨
Giờ đây, đứng trên nơi cao của Vong Xuyên, Giá Hiên để mặc gió cuốn đi nỗi lòng, nhìn trời đất bao la mà tâm đã nhẹ hơn kiếp trước.
🔥
Sứ Quân, liệu người có muốn cùng Giá Hiên leo lên tầng cao, nghe tiếng núi sông kể lại chí lớn của một đời anh hùng?


Tô Đông Pha (1037-1101)

Tô Thức, tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơ thời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.