Hiển thị các bài đăng có nhãn Liêu Trai Chí Dị quyển XV. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Liêu Trai Chí Dị quyển XV. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2022

MỤC LUC - Quyển XV

  MỤC LUC - Quyển XV

 Liêu Trai  Chí Dị

Tác giả : Bồ Tùng Linh
Dịch giả : Cao Tự Thanh


Quyển XV       MỤC LUC (từ truyện 240 đến 391)

340. Niệm Ương









                                                                                               Quyển XVI

340. Niệm Ương

 

340. Bịp Bợm (Niệm Ương)

 

Vương Tử Tốn người hương ta là Chư sinh ở huyện, nhân Hữu Toàn tiên sinh làm Hàn lâm trong kinh nên định tới thăm viếng. Bèn mang hành trang lên bắc, ra khỏi Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) được vài dặm, có một người cưỡi ngựa đen đi cùng đường, hỏi thăm vài câu qua loa, Vương cũng trả lời. Người ấy tự xưng là họ Trương, làm công sai ở huyện Thê Hà (tỉnh Sơn Đông) được cử đi công cán ở kinh đô, lời lẽ nhún nhường, thái độ ân cần, đi cùng nhau vài mươi dặm thì hẹn cùng trọ chung một chỗ. Vương đi trước thì y thúc ngựa bám theo, Vương đi sau thì y dừng lại chờ. Người đầy tớ của Vương sinh nghi, lớn tiếng xua đuổi không cho đi cùng, Trương thẹn giục ngựa đi. Xế chiều Vương nghỉ lại ở nhà trọ, tình cờ ra cửa thấy Trương đang uống rượu ở phòng ngoài. Đang ngạc nhiên thì Trương đã trông thấy Vương, vội đứng dậy chắp tay chào, khép nép như kẻ tôi tớ, dần dà hỏi hết chuyện nọ tới chuyện kia, Vương cũng trả lời qua loa chứ không ngờ vực gì, song người đầy tớ của Vương vẫn đề phòng suốt đêm. Mờ sáng Trương tới gọi Vương dậy cùng đi, người đầy tớ dằn giọng cự tuyệt, Trương bèn bỏ đi.


Ăn sáng đâu đấy xong Vương mới lên đường, đi được nửa ngày thấy trước mặt có một người cưỡi ngựa trắng tuổi chừng bốn mươi trở lại, áo mũ tươm tất, ngủ gà ngủ gật suýt ngã ngựa, lúc đi trước, lúc đi sau Vương suốt mười dặm. Vương lấy làm lạ hỏi "Đêm qua làm gì mà buồn ngủ dữ vậy?”. Người ấy nghe hỏi càng tỏ vẻ mỏi mệt đáp "Ta họ Hứa, người huyện Thanh Uyển (tỉnh Hà Bắc), có người anh họ bên ngoại là Cao Phồn làm Tri huyện Lâm Tri (tỉnh Sơn Đông). Anh ruột ta theo mở trường dạy học trong công thự, ta tới thăm cũng được cho chút ít tiền bạc. Đêm qua vào nhà trọ, lại lầm ngủ cùng phòng với bọn bịp bợm, sợ hãi không dám chợp mắt mới mỏi mệt tới như thế này". Vương hỏi thế nào là Bịp bợm, Hứa đáp “Ông ít ra ngoài, chưa biết chuyện nguy hiểm, chứ hiện nay có đám lưu manh lấy lời lẽ ngon ngọt dụ dỗ người đi đường, nương tựa nhau cùng đi cùng nghỉ rồi nhân lúc sơ hở lừa lấy tiền bạc. Trước người họ hàng của ta là họ Đoàn đã bị mất sạch cả tiền ăn đường, chúng ta đều phải cẩn thận". Vương tỏ ý tán đồng. Quan huyện Lâm Tri với Vương vẫn là chỗ quen biết, Vương từng tới công thự thăm, biết cả các môn khách, quả có người họ Hứa nên không ngờ vực gì nhân đó cùng chuyện trò, hỏi thăm cả anh ruột của Hứa. Hứa hẹn tối cùng trọ một chỗ, Vương theo lời.

341. Vũ Hiếu Liêm

 

341. Cử Nhân Võ (Vũ Hiếu Liêm)

 

Cử nhân võ họ Thạch khăn gói lên kinh xin bổ dụng. Tới huyện Đức Châu (tỉnh Sơn Đông) bị bạo bệnh, thổ huyết không dậy nổi, nằm bẹp trong thuyền, tên đầy tớ bèn ăn cắp hết tiền bỏ trốn. Thạch tức giận, bệnh càng nặng thêm, lại không còn tiền lo cơm cháo thuốc men, chủ thuyền năn nỉ xin Thạch lên bờ. Lúc ấy có một người đàn bà đi chơi ngắm trăng, tới bên bờ nghe biết chuyện bèn tình nguyện đem thuyền chở Thạch. Chủ thuyền mừng rỡ, đỡ Thạch qua thuyền người đàn bà. Thạch nhìn thấy người đàn bà khoảng hơn bốn mươi tuổi, ăn mặc đẹp đẽ, dáng vẻ sang trọng, rên rỉ cảm tạ. Người đàn bà đích thân xem bệnh cho Thạch rồi nói "Chàng vốn bị lao lực, nay thì hồn phách đã về cõi âm rồi”. Thạch nghe thế kêu gào khóc lóc, người đàn bà nói “Ta có thuốc hay có thể cải tử hồi sinh, nhưng nếu chàng khỏi bệnh thì đừng quên nhau”. Thạch khóc lóc thề thốt, người đàn bà bèn lấy một viên thuốc cho uống, được nửa ngày thì hơi đỡ. Người đàn bà cứ ngồi cạnh giường săn sóc, chu đáo còn hơn cả vợ đối với chồng, Thạch càng cảm động. Hơn tháng thì khỏi hẳn, Thạch đi bằng đầu gối tới trước mặt nàng tạ ơn, kính trọng như đối với mẹ ruột. Người đàn bà nói "Thiếp lẻ loi không nơi nương tựa, nếu chàng không chê là già xấu, xin được theo nâng khăn sửa túí". Năm ấy Thạch hơn ba mươi tuổi, vợ chết đã mấy năm, nghe thế vô càng mừng rỡ, bèn cùng nàng kết làm vợ chồng. Người đàn bà đưa tiền cho Thạch lên kinh lo công việc, hẹn khi nào trở lại sẽ cùng về.


Thạch lên kinh được lục dụng, được bổ làm quan võ ở tỉnh, đem tiền còn thừa mua ngựa nghẽo dù lọng rất oai vệ. Vì nghĩ người đàn bà đã luống tuổi không xứng đôi, nên lấy trăm đồng vàng tới hỏi con gái họ Vương làm thiếp. Nhưng vẫn ngại ngùng, sợ người đàn bà biết được nên tránh Đức Châu, theo đường vòng tới nơi làm quan, hơn một năm cũng không báo tin. Có người em họ của Thạch tình cờ tới Đức Châu, ở cạnh nhà người đàn bà, nàng biết bèn hỏi thăm tin Thạch, người ấy cứ sự thật nói rõ. Người đàn bà tức giận mắng lớn rồi kể lại mọi việc, người ấy cũng lấy làm bất bình thay, bèn an ủi rằng "Có lẽ vì anh bận bịu việc công chưa rảnh để đi đón được, xin chị cứ gởi thư, ta sẽ chuyển cho". Người đàn bà theo lời, người kia cầm thư về đưa cho Thạch, Thạch cứ làm ngơ. Lại hơn một năm nữa, người đàn bà tự tới, Thạch tìm cớ để nàng ở ngoài quán trọ. Người đàn bà tới công thự nhờ người tiếp khách nói lại tên họ, Thạch ra lệnh ngăn không cho vào. Một hôm Thạch đang ăn tiệc thì có tiếng mắng chửi ầm lên, vừa đặt chén rượu xuống lắng nghe thì người đàn bà đã vén rèm bước vào. Thạch hoảng sợ, mặt xám như tro, người đàn bà chỉ Thạch mắng "Đồ bạc tình vui vẻ quá nhỉ? Thử nghĩ xem phú quý này ở đâu mà có vậy? Ta đối xử với ngươi không tệ, muốn cưới hầu thiếp mà bàn với ta thì đã làm sao?". Thạch nhũn chân mất vía không trả lời được, hồi lâu quỳ xuống tự thú, tìm lời ngon ngọt xin bỏ qua, nàng mới hơi nguôi.

342. Diêm Vương

 

342. Diêm Vương (Diêm Vương)

 

Lý Cửu Thường người huyện Lâm Câu (tỉnh Sơn Đông) mang bầu rượu đi ngoài đồng, thấy một cơn lốc ào ào cuốn tới, bèn kính cẩn rót rượu xuống đất mời. Sau có việc đi xa, thấy ven đường có một tòa phủ đệ rộng lớn, điện gác nguy nga tráng lệ, trong có một người hầu bước ra mời Lý vào. Lý từ chối, người hầu lại càng mời mọc ân cần, Lý nói "Chúng ta chưa gặp nhau lần nào, chắc anh lầm rồi". Người hầu nói không phải lầm, lại nói đúng cả tên họ Lý. Lý hỏi đây là nhà ai, người hầu đáp cứ vào thì sẽ biết. Vào trong đi ngang một cổng vòm, thấy một người đàn bà bị đóng đinh vào tay chân căng ra trên cánh cửa, Lý tới gần nhìn thì ra là chị dâu mình, vô cùng hoảng sợ. Lý có người chị dâu bị cái mụn nhọt lớn lở ra trên cánh tay, nằm bệnh hơn một năm chưa khỏi, vẫn nghĩ thầm không biết vì sao lại tới nỗi thế. Đến lúc ấy lại ngờ chị dâu làm điều ác, run sợ đi chậm lại, người hầu giục đi mau vào trong.


Tới trước điện, thấy trên có một người đội mão mặc áo như bậc vương giả, thần thái oai nghi mạnh mẽ. Lý quỳ rạp xuống không dám ngẩng đầu. Vương sai người đỡ dậy ôn tồn nói "Đừng sợ. Vì trước đây ta có quấy quả ông chén rượu nên muốn gặp một lần để cám ơn thôi không có chuyện gì đâu. Lý mới bắt đầu yên tâm, nhưng vẫn không biết lý do, Vương lại nói "Ngươi không nhớ chén rượu rót trên đồng sao?". Lý sực nghĩ ra, biết là thần, dập đầu nói “Vừa thấy người chị dâu chịu hình phạt nặng nề như vậy, vì tình cốt nhục nghĩ thấy đau lòng, xin đại vương thương xót tha cho!". Vương nói "Người này rất ghen tuông độc ác, chịu hình phạt như vậy là phải. Ba năm trước người thiếp của anh ngươi sinh nở, thị ngầm lấy kim đâm vào dạ con, người thiếp đến nay vẫn thường đau đớn, thử hỏi còn tính người không?". Lý cố khẩn cầu Vương nói "Thôi vì nể mặt ông nên ta tha cho, khi ông trở về nên khuyên thị bỏ thói ác cũ đi". Lý tạ ơn lui ra, đi ngang cổng vòm thì thấy trên cánh cửa không còn có người nữa.


Lý về nhà, tới thăm chị dâu, thấy đang nằm trên giường, máu mủ đầy chiếu, lúc ấy người thiếp vừa làm chuyện trái ý nên chị ta đang mắng chửi. Lý khuyên "Chị đừng nên thế nữa, hôm nay bị đau đớn bệnh tật đều là vì ngày thường tàn nhẫn đố kỵ mà ra đấy". Người chị dâu tức giận nói "Chú mà muốn làm đàn ông giỏi thì đã có thím nó ở nhà rất hiền lành, chồng muốn ngủ nhà nào ăn nhà nào cũng được không dám nói một tiếng, đủ cho chú nắm quyền làm chồng rồi, đừng thay cả anh chú mà trị gái già này?". Lý khẽ cười nói "Chị đừng nóng, ta mà nói thẳng ra thì sợ là có khóc lóc ăn năn cũng không kịp kia". Người chị dâu nói "Ta không ăn cắp một sợi chỉ nào của Tây Vương mẫu, cũng chưa từng chớp mắt trước bàn thờ Ngọc Hoàng, lòng dạ thanh thản, việc gì phải khóc lóc ăn năn chứ? ". Lý nói khẽ ‘Mũi kim đâm vào dạ con kia đáng tội gì?". Người chị dâu chợt biến sắc, hỏi tại sao nói thế. Lý kể lại mọi việc, người chị dâu run lẩy bẩy, nước mắt vòng quanh sợ sệt rên rỉ "Ta không dám thế nữa!". Còn đang kêu khóc thì chợt thấy hết đau. Từ đó trở đi chị ta bỏ nết cũ, sau được khen là hiền thực. Người thiếp về sau lại sinh nở, lúc dạ con lộ ra, vết kim hãy còn.


Dị Sử thị nói: Có kẻ nói trên đời không ít kẻ ghen tuông độc ác như người đàn bà nọ, chỉ hận là âm phủ để lọt lưới nhiều quá. Ta cho rằng không phải thế, vì cõi âm chưa chắc đã không có hình phạt nào nặng hơn việc đóng đinh lên cánh cửa, chẳng qua vì không có ai biết kể lại mà thôi.

 

343. Bố Khách

 

343. Người Buôn Vải (Bố Khách)

 

Mỗ ở huyện Trường Thanh (tỉnh Sơn Đông) làm nghề buôn vải, tới huyện Thái An (tỉnh Sơn Đông) nghe nói có người thầy bói xem số Tử vi rất giỏi, bèn tìm tới hỏi chuyện hay dở. Người thầy xem số nói "Vận hạn rất xấu, ông nên về nhà mau đi”. Mỗ sợ, thu xếp hàng hóa tiền bạc vội vàng về nhà. Trên đường gặp một người mặc áo ngắn dáng như công sai, cùng nhau trò chuyện rất hợp ý. Mấy lần vào hàng quán Mỗ đều mời cùng ăn uống, người áo ngắn rất cảm ơn. Mỗ hỏi đi công cán tới đâu, người ấy đáp là tới huyện Trường Thanh để bắt người. Mỗ hỏi bắt ai, người áo ngắn rút tờ công văn đưa ra bảo xem. Mỗ thấy tên mình đầu tiên, hoảng sợ nói "Ta làm gì mà bị bắt?”. Người áo ngắn đáp "Ta không phải là người sống mà là công sai trong bốn ty âm phủ tỉnh Sơn Đông, đóng trong núi Tung Lý (ở huyện Thái An). Chắc là tuổi thọ của ông hết rồi đấy". Mỗ rơi nước mắt xin cứu, quỷ nói "Không được đâu, có điều số người có tên trong công văn thì nhiều, muốn bắt đủ hết cũng phải có thời giờ, ông cứ về nhà mau sắp xếp hậu sự cho xong đi rồi ta sẽ tới gọi, như thế là để đền đáp lòng ông tử tế với ta vậy".


Không bao lâu cùng tới bờ sông, thấy cầu gãy nát, người qua lại rất vất vả, quỷ nói “Ông sắp chết rồi, không mang được đồng nào theo đâu, xin lập tức dựng lại cầu giúp đỡ người đi đường, tuy là tốn kém nhiều nhưng cũng có thể có lợi chút ít cho ông". Mỗ cho là phải, khi về tới nhà nói với vợ con sắp đặt đầy đủ vật liệu nhân công, ngày đêm dựng lại cầu, nhưng khá lâu vẫn không thấy quỷ tới, lấy làm ngờ vực. Một hôm chợt quỷ tới, nói "Ta đã đem việc ông dựng cầu trình lên với Thành hoàng, chuyển đạt xuống âm ty rồi. Âm ty nói chỉ một việc lành như thế thôi cũng đáng được thêm tuổi thọ, nay tên ông trong tờ công văn kia đã được xóa rồi, xin kính báo ông rõ". Mỗ mừng rỡ cảm tạ. Sau lại đi buôn qua Thái Sơn, nhớ tới ơn quỷ, bèn sắm sửa lễ vật, đốt vàng, cúng tế rót rượu khấn khứa. Trở ra khỏi núi thì thấy người áo ngắn vội vã đi tới, nói "Suýt nữa ông hại ta rồi, đang lúc họp bàn việc với quan trên, may mà y không nghe, nếu không thì làm sao?". Rồi tiễn Mỗ đi một đoạn đường, nói "Từ nay về sau đừng tới đây nữa, nếu có chuyện gì gấp cần cho biết thì ta sẽ tới thăm", rồi chia tay.

 

344. Nông Nhân

 

344. Người Làm Ruộng (Nông Nhân)

 

Có người làm ruộng bừa cỏ ở dưới núi, vợ lấy vò đất nung mang cơm cho, ăn xong đặt vò trên bờ ruộng, đến chiều tối nhìn lại thì cơm còn thừa trong vò đã hết sạch. Cứ thế mấy ngày liền, y ngờ vực bèn rình xem. Thấy có con chồn tới thò đầu vào vò ăn vụng, y rón rén vác bừa tới ra sức đập mạnh, con hồ sợ chạy. Nhưng cái vò dính chặt vào đầu, nó quýnh quá không rút ra được, lăn luôn xuống đất, cái vò vỡ nát, nó rút đầu ra nhìn thấy người làm ruộng càng hoảng sợ, băng qua núi chạy mất. Mấy năm sau, phía nam núi có người con gái nhà giàu bị hồ ám, cầu đảo trấn yểm mãi không hết. Hồ nói với cô gái rằng "Thứ bùa chú vẽ trên giấy thì làm gì được ta?”. Cô gái hỏi “Ngươi giỏi phép thuật thì may ra được gần gũi nhau lâu dài, nhưng không biết bình sinh có sợ cái gì không?". Hồ đáp "Ta chẳng sợ gì cả nhưng mấy năm trước ăn vụng cơm ở phía bắc núi, bị một người đội nón rộng cầm một món binh khí cong cong đánh cho suýt chết, đến nay còn sợ".


Cô gái nói lại với cha, người cha muốn tìm người ấy, nhưng không biết tên họ quê quán nên không sao tìm được. Gặp lúc người đầy tớ có việc tới thôn núi, tình cờ kể lại, cạnh đường có một người nói "Chuyện này rất khớp với việc ta gặp năm trước, không ngờ con hồ ấy đến nay lại biết phép thuật tác quái à?” Người đầy tớ lấy làm lạ về báo, cha cô gái mừng rỡ, lập tức sai mang ngựa qua đón người làm ruộng về, kính cẩn cầu khẩn. Người làm ruộng cười nói “Chuyện năm trước ta gặp thì đúng như thế, nhưng chưa chắc đúng là con hồ này, vả lại nó đã biết biến hóa để tác quái thì có sợ gì một người làm ruộng?”. Người cha cô gái cứ ép, y bèn ăn mặc như trước, bước vào phòng cô gái chống bừa quát! Ta tìm ngươi lâu nay mà không được, ngươi lại trốn ở đây à? Hôm nay thì phải giết không tha!". Nói xong thì nghe trong phòng có tiếng hồ kêu lên, người làm ruộng lại càng làm ra vẻ dữ tợn, hồ bèn năn nỉ xin tha mạng. Người làm ruộng quát "Vậy thì cút mau, tha cho ngươi đấy” Cô gái thấy hồ ôm đầu chạy mau, từ đó không bị nó quấy nhiễu nữa.

 

345. Trường Trị Nữ Tử

 

345. Cô Gái Ở Trường Trị (Trường Trị Nữ Tử)

 

Trần Hoan Lạc người đất Trường Trị huyện Lộ (tỉnh Sơn Đông) có đứa con gái rất thông minh xinh đẹp. Có người đạo sĩ khất thực liếc nhìn rồi bỏ đi, từ đó hàng ngày cứ cầm bát xin ăn ở chợ gần đó. Chợt thấy một người mù từ nhà Trần bước ra, đạo sĩ rảo chân theo hỏi đi đâu, người mù đáp vào bói cho nhà họ Trần. Đạo sĩ nói "Nghe nói nhà ấy có một con gái, người anh em họ ngoại của ta muốn nhờ mai mối dạm hỏi, nhưng chưa biết tuổi cô ta". Người mù nói cho biết, đạo sĩ bèn chào rồi đi. Vài hôm sau, cô gái đang ngồi thêu trong phòng, chợt thấy hai chân tê rần, dần dần tê lên tới đùi, rồi tới lưng, trong chớp mắt ngã gục xuống ngất đi. Hơn một khắc thì tỉnh lại, vội vàng đứng lên, định tìm mẹ để kể, nhưng ra tới cửa thì thấy chung quanh mênh mông sóng nước đen ngòm, chỉ có một con đường thẳng như sợi dây, hoảng sợ quay lại thì thấy nhà cửa phòng ốc đã chìm vào trong sóng nước. Lại nhìn lại trên đường thì vắng ngắt không người, chỉ có một mình đạo sĩ đang thong thả bước phía trước, nàng vội đuổi theo, thấy là người cùng xứ bèn kể lại mọi việc. Đi được vài dặm thì thấy nhà cửa làng xóm, nhìn lại thì là nhà mình, nàng hoảng sợ nói "Lặn lội vất vả như thế mà vẫn ở trong làng mình, sao lại mê man tới thế này chứ?”.


Rồi mừng rỡ vào nhà, cha mẹ vẫn chưa về, lại trở về phòng mình, thì đôi giày thêu dở còn trên giường, thấy mệt mỏi bèn lên giường ngồi nghỉ. Đạo sĩ chụp lấy cô gái đè xuống, nàng muốn kêu nhưng không thành tiếng, đạo sĩ rút dao sắc mổ bụng móc lấy quả tim cô gái. Cô gái thấy hồn phách phiêu diêu đứng ra ngoài xác nhìn quanh thì nhà cửa đều đổi khác, chỉ có gò núi trùng điệp. Nhìn lại đạo sĩ thì y đang cầm quả tim của mình chấm lên một pho tượng gỗ, lại chỉ vào pho tượng đọc thần chú mấy lần, nàng biết rằng pho tượng ấy chính là mình. Đạo sĩ dặn "Từ nay trở đi phải nghe lệnh ta, không được sai trái", rồi mang pho tượng đi. Họ Trần mất con gái, cả nhà hoảng hốt đi tìm, tới núi Ngưu Đầu mới nghe người ở đó đồn rằng dưới núi có xác một cô gái bị móc mất quả tim. Trần vội chạy mau tới xem thì đúng là con gái mình, khóc lóc lên kêu với quan huyện. Quan huyện bắt bớ tra xét dân quanh núi mấy lần cũng không được chút manh mối nào, bèn tập trung những người bị nghi ngờ để tra hỏi lại.


Đạo sĩ đi được vài dặm, ngồi nghỉ dưới một gốc dương liễu cạnh đường, chợt nói với cô gái “Bây giờ sai ngươi đi làm việc lần đầu, là tới huyện đường dò xét việc hỏi cung lại những người bị nghi ngờ. Tới đó thì phải núp trên gác, nếu thấy quan huyện dùng ấn thì phải chạy ngay, nhớ không được quên. Hẹn cho ngươi giờ Thìn đi giờ Ngọ về, chậm một khắc thì ta đâm một mũi kim vào tim ngươi cho biết mùi đau đớn, chậm hai khắc thì đâm hai mũi, tới mũi thứ ba thì hồn phách ngươi cũng tan mất luôn đấy". Cô gái nghe thế run cầm cập, kế phấp phới theo gió bay đi. Trong chớp mắt đã tới hành lang huyện đường, theo đúng lời dặn lên núp trên gác. Lúc ấy những người quanh núi Ngưu Đầu đang quỳ la liệt dưới thềm, chưa tra hỏi gì thì có công văn đưa lên đóng ấn, cô gái chưa kịp chạy thì ấn đã rút ra khỏi hộp. Cô gái lập tức thấy thân hình nặng nề yếu ớt, không kìm được rùng mình một tiếng soạt như tờ giấy. Mọi người đều ngạc nhiên ngẩng nhìn. Quan huyện ra lệnh nhấc chiếc ấn lên lần nữa, lại có tiếng kêu như trước, nhấc tới lần thứ ba thì cô gái rơi xuống đất vang lên thành tiếng, mọi người đều nghe rõ. Quan huyện đứng dậy khấn "Oan hồn cứ bẩm rõ việc oan khuất ta sẽ làm sáng tỏ cho". Cô gái cất tiếng ho bước lên, thuật rõ việc đạo sĩ giết mình bắt hồn sai khiến ra sao, sai mình tới đây dò xét thế nào.


Quan huyện sai người đuổi mau theo, tới chỗ cây dương liễu quả thấy đạo sĩ đang ở đó, bèn bắt giải về, hỏi cung một lần y đã cúi đầu nhận tội, những người bị nghi ngờ đều được thả về. Quan huyện hỏi cô gái đã được làm sáng tỏ cái chết oan khuất rồi, định sẽ đi đâu, cô gái đáp "Xin theo đại nhân". Quan huyện nói "Công thự chỗ ta đây không có nơi nào ngươi ở được, thôi cứ tạm thời về lại nhà ngươi đi". Hồi lâu cô gái nói "Công thự là nhà ta, thôi ta vào đây". Quan huyện lại hỏi thì không nghe gì nữa, vào nhà trong thì phu nhân vừa sinh con gái.

 

346. Thổ Ngẫu

346. Tượng Đất (Thổ Ngẫu)

 

Họ Mã ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) lấy vợ họ Vương, vợ chồng rất đầm ấm. Mã chết sớm, mẹ Vương thị muốn con lấy chồng khác, Vương thị thề không tái giá, mẹ chồng thương còn trẻ cũng khuyên lấy chồng khác, Vương thị không nghe. Người mẹ nói "Ý con rất hay, nhưng tuổi còn quá trẻ, lại chưa có con, mẹ thấy ban đầu thủ tiết rồi ngày sau có chuyện không hay thì rất xấu hổ, chi bằng cứ lấy chồng khác như người ta”. Vương thị nghiêm sắc mặt thề thủ tiết đến chết, mẹ bèn để cho tùy ý. Vương thị nắn đất làm thành pho tượng chồng, mỗi bữa đều dọn cơm đưa lên như lúc còn sống. Một đêm Vương thị sắp đi ngủ, chợt thấy pho tượng đất từ trên bàn thờ bước xuống, còn đang hoảng hốt thì pho tượng vươn ra cao như người thật, đúng là chồng mình. Vương thị sợ hãi kêu mẹ, hồn Mã ngăn lại nói “Đừng kêu, ta cảm vì tình nàng tha thiết, gia đình có được người trung trinh nên ông cha mấy đời đều được vinh dự. Cha ta lúc bình sinh có làm chuyện thất đức, không được có con nối dõi nên ta phải chết sớm. Âm phủ thương nàng thủ tiết vất vả nên cho ta về để cùng nàng sinh một đứa con nối dõi". Vương thị cũng khóc ròng, lại ăn ở với nhau như lúc Mã còn sống, trời sáng thì Mã xuống giường đi. Cứ thế hơn một tháng, thấy trong bụng máy động, hồn Mã khóc nói “Kỳ hạn đã hết, từ nay xin vĩnh biệt", từ đó đi biệt luôn. Vương thị ban đầu không nói cho ai biết, đến khi bụng to dần không giấu được nữa mới lén nói với mẹ, mẹ nghi là dối trá nhưng rình xem không thấy nàng đi lại với ai, rất ngờ vực nhưng không rõ vì sao.


Được mười tháng quả nhiên Vương thị sinh được một đứa con trai, kể cho mọi người nghe, ai cũng cười không tin, nàng cũng không buồn thanh minh. Có kẻ hào lý trong làng vốn có hiềm khích với nhà Mã, bèn lên báo huyện, quan huyện bắt Vương thị lên hỏi, hàng xóm cũng không ai khai gì khác. Quan huyện nói “Nghe nói con của ma thì không có bóng, nếu có bóng thì là chuyện bịa đặt". Bèn sai bế đứa nhỏ ra dưới mặt trời, thấy bóng mờ mờ như làn khói nhẹ, lại cắt ngón tay nó lấy máu bôi lên pho tượng thì lập tức thấm vào không thấy dấu vết gì nữa. Lấy máu người khác bôi lên thì chùi đi được, vì thế tin lời Vương thị. Đứa nhỏ lớn lên được vài tuổi thì mặt mũi cử chỉ đều giống hệt Mã, nên không ai nghi ngờ gì nữa.

 

347. Lê Thị

 

347. Họ Lê (Lê Thị)

 

Tạ Trung Điều ở huyện Long Môn (tỉnh Hà Nam), tính tình không đứng đắn. Hơn ba mươi tuổi thì vợ chết, để lại một trai một gái, sớm tối kêu khóc, chăm sóc rất vất vả. Tạ định cưới vợ kế, nhưng ngẩng lên cúi xuống chưa chọn được ai, nên tạm thuê một bà vú chăm sóc cho hai con. Một hôm Tạ đang đi qua núi chợt thấy một người đàn bà đi phía sau, đứng lại chờ nhìn, thì ra là một cô gái đẹp tuổi chừng hơn hai mươi, trong bụng thích lắm. Bèn đùa hỏi "Nương tử đi một mình mà không sợ à?". Cô gái không đáp, Tạ lại nói “Chân nương tử nhỏ, đi đường núi vất vả quá”, cô gái cũng không đếm xỉa. Tạ nhìn quanh không có ai, bèn đi sát lại gần sờ mó, cô gái giận dữ nói “Ngươi là cường bạo ở đâu mà chặn đường xúc phạm ta?”. Tạ nắm tay kéo đi xềnh xệch không cho dừng lại nghỉ, đôi hài của cô gái nhỏ nên cứ vấp ngã dúi dụi, cùng cực quá không biết làm sao bèn nói "Nếu muốn ta dịu ngọt ưng thuận sao lại làm thế? Chậm chậm lại đi, ta sẽ theo mà". Tạ theo lời, rồi vui thú với cô gái.


Cô gái hỏi tên họ quê quán, Tạ nói thật cả, rồi hỏi lại, cô gái đáp "Thiếp họ Lê, không may góa chồng sớm, mẹ chồng lại chết, lẻ loi một mình, nên thường về bên nhà mẹ". Tạ nói "Ta cũng không có vợ, có theo nhau được không?". Cô gái hỏi “Chàng có con cái gì không?”. Tạ đáp "Không giấu gì nàng, nếu nói chuyện bạn chăn gối thì ta đây không thiếu, chỉ vì trai kêu gái khóc nên họ ngần ngại". Cô gái do dự nói “Đó quả là chuyện khó lắm, mà xem quần áo giày nón của chàng thì gia tư cũng chỉ loàng xoàng, nếu thiếp lo lắng thì cũng được nhưng làm mẹ kế khó trăm chiều, e không khỏi bị lời ra tiếng vào". Tạ nói "Xin đừng ngại chuyện đó, ta không nói ra thì người khác có lý do gì mà dây vào?". Cô gái có vẻ ưng thuận, nhưng lại nghĩ ngợi nói "Đã gần gũi thế này thì còn gì mà không theo? Nhưng còn có ông bác dữ, vẫn thường muốn gả bán thiếp lấy nhiều tiền, sợ không ở được với nhau lâu dài, thì sẽ ra sao?". Tạ cũng e ngại, bảo nàng trốn đi. Cô gái nói "Thiếp đã nghĩ kỹ rồi, chỉ sợ người nhà chàng để lộ ra thì bất tiện lắm”. Tạ nói “Đó là chuyện vặt, trong nhà chỉ có một bà già, cho bà ta nghỉ là được". Cô gái mừng, bèn cùng về nhà Tạ. Tạ để cô gái đợi ở ngoài, vào nhà trước cho bà già nghỉ về rồi quét dọn nhà cửa ra đón. Cô gái cũng tháo vát, chăm sóc hai đứa con Tạ không nề vất vả.


Tạ được cô gái, yêu mến lạ thường, cả ngày cứ đóng cửa nhìn nàng, không tiếp khách khứa nào cả. Được hơn tháng có việc công phải đi vắng, trở về thì thấy cổng ngõ mở toang. Tìm cô gái, vào tới cửa trong thì cửa đóng chặt, gọi không thấy ai lên tiếng, bèn trổ mái nhà mà vào, chẳng thấy bóng người nào. Vào tới phòng ngủ thì chợt có một con sói lớn tung cửa vọt ra, sợ hãi suýt ngất. Lúc hoàn hồn vào tìm không thấy hai con đâu, mà máu me đầy đất, chỉ còn có cái đầu, quay ra đuổi theo con sói thì không biết đã chạy đâu rồi.


Dị Sử thị nói: Kẻ sĩ mà vô hạnh thì báo ứng lạ lắm. Kẻ lấy vợ lần sau còn đều là dắt sói vào nhà, huống chi lại muốn tìm vợ hiền nơi người đàn bà đi trốn chung đụng ngoài đồng sao?

 

348. Liễu Thị Tử

 

348. Đứa Con Họ Liễu (Liễu Thị Tử)

 

Liễu Tây Xuyên người huyện Mục Châu (tỉnh Sơn Đông) làm quản gia cho Nội sử họ Pháp. Năm hơn bốn mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai, yêu thương rất mực, mặc cho muốn làm gì thì làm, chỉ sợ nó phật ý. Lúc đứa con lớn lên thì rong chơi đàng điếm, ăn tiêu hết sạch cả tiền bạc Liễu dành dụm được. Không bao lâu đứa con mắc bệnh, Liễu vốn có một con ngựa hay, đứa con nói "Ngựa béo ăn ngon lắm, giết cho ta ăn thì có thể khỏi bệnh”. Liễu bàn định giết một con ngựa thường để thay, đứa con nghe được, lập tức giận dữ chửi ầm lên, bệnh lại càng nặng. Liễu sợ, giết con ngựa hay làm thịt đưa tới, đứa con mới vui vẻ. Nhưng cũng chỉ ăn có một miếng rồi bỏ, bệnh vẫn không hết, kế chết. Liễu vô cùng đau đớn, khóc lóc rất thê thảm. Ba bốn năm sau, có mấy người làng đi dâng hương ở núi Thái Sơn, lên lưng chừng núi thấy một người cưỡi con ngựa như của Liễu phóng nhanh tới, lấy làm lạ vì rất giống con Liễu, khi tới gần nhìn ra quả đúng.


Y xuống ngựa vái chào, thăm hỏi trò chuyện. Người làng đều sợ, cũng không dám nói việc y đã chết, chỉ hỏi làm gì ở đây. Y đáp cũng chẳng có việc gì, dạo chơi đây đó thôi, kế lại hỏi tên chủ nhà họ trọ, mọi người đều nói rõ. Y chắp tay nói "Gặp lúc có chút việc, không rảnh nói chuyện, ngày mai sẽ xin tới thăm", rồi lên ngựa đi. Mọi người về tới nơi trọ, cũng cho rằng chưa chắc y đã tới nhưng sáng hôm sau chờ thì quả nhiên y tới thật, buộc ngựa ở cột chuồng ngựa, rảo bước vào trò chuyện rất vui vẻ. Mọi người nói "Tôn đại nhân rất nhớ mong, sao không về thăm hỏi một chuyến?". Y ngạc nhiên hỏi mọi người muốn nói tới ai, mọi người đáp là Liễu. Y sa sầm mặt, hồi lâu mới nói "Nếu ông ta nhớ mong, thì xin về nói giùm là ngày bảy tháng tư ta chờ ở đây", nói xong từ biệt.


Mọi người về kể lại cho Liễu, Liễu khóc lớn, đúng hẹn tìm tới, đem mọi việc nói với chủ trọ. Chủ trọ nói "Hôm trước ta thấy công tử thần thái rất lạnh nhạt, chắc không có ý tốt, theo ta thấy thì không nên gặp". Liễu rơi lệ không nghe, chủ trọ nói "Ta không cản ông đâu, nhưng thần quỷ không thường, chỉ sợ gặp chuyện không hay. Nếu ông quyết muốn gặp, thì xin cứ núp trong tủ chờ công tử tới xem thái độ ra sao đã, có thể gặp hãy ra gặp". Liễu theo lời kế quả nhiên đứa con Liễu tới, hỏi họ Liễu tới chưa, chủ trọ đáp không có, y nổi giận chửi "Đồ súc sinh già, sao lại không tới?" Chủ trọ ngạc nhiên hỏi "Sao lại chửi cha như thế?". Y đáp "Y mà là cha gì của ta? Buổi đầu kết bạn với nhau nơi đất khách, không ngờ y ôm lòng gian ác, mang hết tiền bạc của ta trốn mất, nay ta chỉ mong bắt được y mới cam tâm, chứ cha con gì?". Nói xong bước ra nói "Tha cho y đấy". Liễu núp trong tủ nghe thấy rõ ràng, sợ toát mồ hôi không dám thở mạnh, đến khi chủ trọ gọi mới dám bước ra, len lét trở về.


Dị Sử thị nói: Lấy được nhiều vàng như thế có sung sướng gì? Khó mà trả cho được vậy. Tiêu pha phung phí bằng hết mà chết rồi vẫn không quên mối thù, oán hận người ta tới như thế cũng quá lắm?

 

349. Thượng Tiên

 

349. Bậc Thượng Tiên (Thượng Tiên)

 

Tháng ba năm Quý hợi, ta cùng Cao Quý Văn tới huyện Tắc Hạ (tỉnh Sơn Đông), cùng ở nhà trọ. Quý Văn chợt bị bệnh, gặp lúc Cao Chấn Mỹ cũng theo tiên sinh Niệm Đông tới quận, bàn việc chữa trị. Nghe ông Ai Lân nói nhà Lương thị ở phía nam huyện thành có hồ tiên giỏi chữa bệnh, bèn cùng nhau tới đó. Lương thị là đàn bà, tuổi khoảng bốn mươi, phong thái tự nhiên phảng phất như hồ. Vào nhà, tới phòng trong treo rèm gấm đỏ, vén rèm xem thấy trên vách có treo tranh Quan âm, lại có hai ba bức tranh vẽ người giục ngựa vung mâu, quân lính chạy theo. Phía dưới vách phía bắc có bàn, đầu bàn đặt cái đôn nhỏ cao không quá một thước lót nệm gấm. Lương thị nói "Tiên tới thì ngồi ở đó". Mọi người thắp hương vái lạy, Lương thị gõ ba tiếng khánh, miệng lẩm nhẩm như nói gì đó.


Khấn xong đưa khách vào chỗ ngồi, đứng ngoài rèm chải tóc tô môi, trò chuyện với khách toàn nói những phép thiêng của tiên. Hồi lâu mặt trời xế bóng, mọi người lo đường xa về không kịp, lại nhờ khấn mời lần nữa. Lương thị lại gõ khánh khấn khứa, rồi quay người đứng lên nói “Thượng tiên rất thích trò chuyện ban đêm, chứ lúc khác khó gặp lắm. Đêm trước có người học trò chờ thi mang rượu thịt tới uống với thượng tiên, thượng tiên cũng đưa rượu ngon ra mời khách, đọc thơ bàn văn cười nói vui vẻ, lúc chia tay thì trời đã gần sáng". Chưa dứt lời thì trong phòng có tiếng rì rào khẽ vang lên như tiếng dơi bay. Còn đang nghe ngóng thì trên bàn ầm một tiếng như có tảng đá lớn rơi xuống. Lương thị quay người nói “Làm người ta sợ chết được!", thì nghe trên bàn có tiếng cười rộ vui vẻ, như là một ông già khỏe mạnh.


Lương thị đặt chiếc quạt gần cái đôn, trên cái đôn lại có tiếng nói lớn "Có duyên làm sao?”, rồi lớn tiếng mời ngồi, lại như chắp tay làm lễ. Kế hỏi khách có chuyện gì muốn dạy bảo, Cao Chấn Mỹ nói ý của tiên sinh Niệm Đông, hỏi có gặp Bồ Tát không? Tiên đáp “Nam Hải ta quá quen đường, làm sao không gặp?”. Lại hỏi Diêm Vương có thay đổi người không, đáp “Cũng như ở cõi trần thôi". Hỏi Diêm Vương họ gì, đáp “Họ Tào”. Kế xin thuốc chữa bệnh cho Quý Văn, tiên nói “Trở về cứ đêm mang trà nước ra cúng, ta sẽ tới chỗ Quan âm hái thuốc tặng tho, bệnh gì mà không khỏi”. Mọi người ai cũng hỏi chuyện này chuyện nọ, đều được trả lời rành mạch dứt khoát, bèn chào ra về. Qua đêm thì Quý Văn hơi đỡ, ta lại cùng Chấn Mỹ sắp xếp về trước, nên không rảnh ghé viếng thượng tiên được nữa.

 

350. Hầu Tĩnh Sơn

 

350. Hầu Tĩnh Sơn (Hầu Tĩnh Sơn)

 

Thiếu tễ họ Cao tức tiên sinh Niệm Đông nói trong niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh (1628-1643) có con khỉ thành tiên, hiệu là Tĩnh Sơn, tới ở nhà một ông già ở huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc). Mỗi khi cùng người ta bàn văn chương, luận số mệnh thì hào hứng không biết mỏi, đặt bánh trái trên bàn thì ăn uống vung vãi, nhưng không ai trông thấy hình dáng ra sao. Lúc ấy ông nội của tiên sinh bệnh nặng, có người gởi thư nói ông Tĩnh Sơn là kẻ hàng trăm năm mới có một người, không thể không gặp gỡ ông nội tiên sinh bèn sai đầy tớ mang ngựa đón ông già tới. Ông già tới đã mấy ngày mà tiên chưa tới, bèn thắp hương khấn vái. Chợt nghe trên nóc nhà có tiếng khen lớn "Thì ra là nhà người tốt?". Mọi người ngạc nhiên ngoảnh nhìn, kế chỗ chái nhà lại có tiếng nói, ông già đứng dậy nói "Đại tiên tới rồi?" Mọi người theo ông già để đầu trần ra cửa đón, lại nghe có tiếng chắp tay chào hỏi. Khi đã vào phòng thì cười to nói lớn, trò chuyện hào sảng. Lúc ấy anh em Thiếu tễ còn là Chư sinh, vừa đi thi về. Tiên nói "Bài làm của hai ông cũng hay, nhưng chưa hiểu hết kinh sách, phải cố gắng hơn nữa, bước đường công danh không còn xa đâu. Hai ông kính cẩn hỏi về bệnh của ông nội, tiên đáp “Sống chết là chuyện lớn, khó biết rõ lắm”, vì thế đều biết là không hay. Không bao lâu sau, quả nhiên ông nội của tiên sinh qua đời.


Trước có người nuôi khỉ làm trò, tới diễn trong thôn, con khỉ bứt đứt dây xích chạy, không đuổi bắt được. Con khỉ vào trong núi, mấy mươi năm sau người ta còn nhìn thấy, đi lại rất nhanh, thấy người là chạy. Sau lại dần dần vào thôn ăn vụng bánh trái, không ai bắt được. Một hôm nó bị người trong thôn rình được, đuổi theo ra tới ngoài đồng bắn chết. Nhưng hồn con khỉ vẫn không biết là mình đã chết, chỉ thấy thân thể nhẹ nhàng như chiếc lá, trong chớp mắt đi được hàng trăm dặm, bèn tới nương tựa ông già ở Hà Gian, nói "Nếu ngươi phụng thờ ta, ta sẽ giúp cho ngươi giàu có", rồi lấy tên hiệu là Tĩnh Sơn.


Ở Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam) có con khỉ, cổ đeo xích vàng, thường lui tới nhà các bậc sĩ đại phu, ai nhìn thấy nó ắt có chuyện may mắn vui vẻ. Cho trái cây nó cũng ăn, mà không rõ từ đâu tới cũng không rõ đi đâu. Có ông già hơn chín mươi tuổi nói lúc nhỏ còn thấy trên chiếc xích có tấm bài ghi chữ là của phiên vương nhà Minh cũ, nghĩ chắc cũng là tiên vậy.

 

351. Quách Sinh

 

351. Quách Sinh (Quách Sinh)

 

Quách sinh là người Đông Sơn trong huyện. Lúc nhỏ ham học, nhưng trong thôn núi không có thầy giỏi, đến năm hơn hai mươi tuổi mà viết chữ còn sai. Trước đó trong nhà bị hồ quấy phá, thức ăn vật dùng thường bị mất, rất là cực khổ. Một đêm đọc sách để sách trên bàn, bị hồ đổ mực vào đen ngòm cả không sao đọc được nữa, vì là chọn những bài văn hay chép lại để học nên mất tới sáu bảy chục bài, vô cùng căm tức nhưng không biết làm sao. Lại có hơn hai mươi bài văn làm được cất để đợi hỏi thêm bậc danh sĩ, sáng ra thấy vứt tung tóe trên bàn, mực bôi lem luốc hết cả, giận lắm. Gặp lúc Vương sinh có chuyện đi ngang, vốn chơi thân với Quách, tới nhà thăm, thấy sách vở bị bôi mực bèn hỏi. Quách kể lễ nỗi khổ, lại đem nhữmg đoạn còn sót ra đưa cho Vương xem. Vương nói đùa là so những chỗ bị bôi xóa với những chỗ còn sót thì như có ý phẩm bình hay dở. Lại xem lại những đoạn bị bôi đen thì đều là tạp nhạp nên bỏ, ngạc nhiên nói "Dường như hồ có ý, là không những đừng lo sợ, mà nên lập tức nhận nó làm thầy đấy".


Được vài tháng, Quách xem lại bài làm cũ thấy những đoạn bị bôi xóa đúng là dở. Bèn làm hai bài khác đặt ở bàn để chờ xem sao, sáng ra thấy đều bị bôi xóa. Hơn một năm sau thì bài làm không bị bôi xóa gì nữa, mà thấy có vết mực đậm khuyên điểm rất to tỏ ý khen ngợi. Quách lấy làm lạ, mang tới cho Vương xem. Vương mừng rỡ nói “Hồ đúng là thầy của ông, có thể đi thi rồi đấy". Năm ấy quả nhiên Quách được vào trường huyện, vì thế rất cảm ơn hồ, thường đặt xôi gà ở bàn cho hồ ăn. Mỗi khi tìm mua được bài làm của những người thi đỗ mà không chọn lựa được đều nhờ hồ quyết định, nhờ thế thi hương thi hội đều đỗ cao, thi đình đỗ Phó bảng. Lúc bấy giờ có bản thảo của các ông Diệp, Mục văn chương phong nhã đẹp đẽ, người ta đua nhau truyền tụng, Quách cũng có một bản sao, rất là trân trọng, chợt bị trút cả nghiên mực vào, đen ngòm gần như không còn chữ nào. Lại nghĩ đầu đề làm một bài văn, lấy làm đắc ý, cũng bị bôi xóa cả nên từ đó dần dần không tin hồ nữa. Không bao lâu triều đình sửa định văn thể, ông Diệp bị hạ ngục, mới lại hơi phục hồ có tài biết trước. Nhưng vì mỗi lần làm được một bài văn thì nghĩ ngợi vất vả, mà cứ bị bôi xóa, lại thấy mình mấy lần đỗ cao, ý khí kiêu căng, vì vậy càng ngờ hồ làm càn. Bèn đem những bài văn được khuyên điểm trước kia ra thử, hồ lại bôi xóa sạch. Quách cười nói "Đúng là làm càn, chứ chẳng lẽ trước thì hay mà nay lại dở à?", rồi không đặt xôi gà cho hồ ăn nữa.


Quách cất sách đọc trong hòm, thấy khóa vẫn như cũ nhưng mở ra xem thì thấy trên bìa bị bôi bốn vết mực to bằng ngón tay, chương một bị bôi năm vết, chương hai bị bôi năm vết, sau nữa thì không có gì. Từ đó không thấy hồ tới nữa. Về sau Quách thi một lần được hạng tư, hai lần được hạng năm mới biết đó là điềm báo trước, là hồ ngụ ý qua vết mực vậy.


Dị Sử thị nói: Tự mãn thì chuốc lấy tổn thất, khiêm cung thì được ích lợi thêm, đó là đạo trời. Vừa hơi có danh đã tự cho rằng mình đúng, học theo lối văn của họ Diệp, đã sai mà không chịu sửa đổi, thì không thể không thất bại được. Tự mãn thì có hại là như thế chăng!

 

352. Thiệu Sĩ Mai

 

352. Thiệu Sĩ Mai (Thiệu Sĩ Mai)


Tiến sĩ họ Thiệu tên Sĩ Mai là người huyện Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông), lúc đầu làm Giáo thụ phủ Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông). Có hai người Tú tài già sai người hầu đưa danh thiếp xin gặp, Thiệu thấy tên họ rất quen, nghĩ ngợi hồi lâu sực nhớ ra kiếp trước của mình, bèn hỏi người hầu có phải hai viên Tú tài ở thôn nọ thôn nọ không, lại hỏi tới phong thái thường ngày của họ, nhất nhất đều đúng. Đến lúc hai người vào gặp, cầm tay trò chuyện thân mật như quen nhau từ lâu. Thiệu hỏi Cao Đông Hải gần đây ra sao, hai người đáp đã chết đói trong ngục hơn hai mươi năm rồì, nay còn một con trai làm dân đen ở làng, nhưng sao Thiệu biết? Thiệu cười nói "Đó là người họ hàng của ta".


Trước kia Cao Đông Hải là kẻ du thủ du thực nhưng tính tình hào sảng, trọng nghĩa khinh tài. Có người thiếu thuế phải bán con gái, Cao dốc túi ra đóng thay. Tới chơi bời ở một kỹ viện, trong kỹ viện che giấu một tên cướp, quan lùng bắt rất gấp, tên cười bèn chạy tới ẩn núp ở nhà Cao. Quan biết được bắt Cao, tra tấn nặng nề, Cao vẫn không khai, kế chết trong ngục. Ngày Cao chết là ngày Thiệu chào đời. Sau Thiệu tới thôn ấy, chu cấp cho vợ con của Cao, xa gần nghe thấy đều cho là chuyện lạ. Chuyện này là quan Thiếu tễ họ Cao kể lại, Thiệu là bạn đồng niên với Công tử Cao Dục Lương.


Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)

Bạn đồng niên với ta[301] là Thiệu Sĩ Mai ở huyện Tế Ninh, tự Dịch Huy, đỗ Cử nhân năm Tân mão đời Thuận Trị (1651), đỗ Tiến sĩ năm Kỷ hợi (1659), nhớ được kiếp trước mình là Cao Đông Hải người huyện Thê Hà (tỉnh Sơn Đông). Vợ ông là Mỗ thị, lúc chết nói rằng "Phải làm vợ chồng với nhau ba kiếp, kiếp sau thiếp sẽ thác sinh vào nhà họ Đổng huyện Quán Đào (tỉnh Sơn Đông), ở ngôi nhà thứ ba chỗ ngoặt cạnh bờ sông Lâm Hà. Sau khi ông bãi quan về, lúc tới ở chùa Tiêu Tự đọc kinh Phật nên tìm thiếp ở đó". Sau Thiệu làm Giáo thụ phủ Đăng Châu, có lần được lệnh kiêm giữ chức Huấn đạo huyện Thê Hà bị khuyết, lúc rảnh rỗi tới hỏi chỗ ở cũ của Cao Đông Hải, tìm được một người cháu nội, bèn mua nhà của ruộng đất cho. Kế được thăng làm Tri huyện Ngô Giang (tỉnh Giang Tô), cáo bệnh về nghỉ, khách khứa đầy nhà.

Có người bạn đồng niên làm Tri huyện Quán Đào, Thiệu tìm tới thăm hỏi, ra ở chùa Tiêu Tự, trong chùa có một bộ kinh Phật, lúc rảnh rỗi giở ra xem. Chợt nhớ lời vợ, bèn theo bờ sông tìm, quả có họ Đổng ở nhà thứ ba chỗ ngoặt cạnh bờ sông. Trong nhà có người con gái chưa gả chồng, Thiệu kể chuyện cũ rồi xin cưới cô ta. Hơn mười năm sau, Đổng thị lại mắc bệnh, trước khi chết lại dặn Thiệu rằng "Lần này thiếp sẽ thác sinh vào nhà họ Vương ở huyện Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc), trước cổng nhà có hai cây liễu. Vài năm nữa chàng tới tìm thiếp ở đó thì sẽ được tái hợp, sinh được hai con trai", Thiệu theo lời quả đúng. Năm Kỷ mùi đời Khang Hy (1679) Thiệu ở kinh thường nhiều lần kể cho ta và bạn đồng niên là Thị ngư họ Phó, Đồng Thần Y, Phan Lại bộ, Trần Phục Dương nghe.


Phụ: Truyện Thiệu Sĩ Mai Của Tiên Sinh Lục Thú Sơn (Lục Thú Sơn Tiên Sinh Thiệu Sĩ Mai truyện)

Thiệu Sĩ Mai tự Dịch Huy là người châu Tế Ninh tỉnh Sơn Đông. Kiếp trước tên Cao Tiểu Hòe, vốn là người Cao gia trang ở huyện Thê Hà, được sung chức Lý chính trong làng, lo việc chung giữ phép công, không lấy của dân một đồng. Lúc bệnh chết, thấy hai người áo xanh dáng như công sai tới bảo nhắm chặt mắt lại rồi cắp lấy mang đi rất mau, chỉ nghe bên tai gió thổi vù vù. Giây lát tới một gian phòng, hai người áo xanh bỏ đi mất, mở mắt nhìn thấy hai bà mụ đang đỡ đẻ trong màn, thì đã thác sinh vào nhà họ Thiệu rồi. Miệng không nói được nhưng trong bụng nghĩ thầm "Theo như trước mắt nhìn thấy thì nhà cửa vật dùng đều khác hẳn, nhưng chẳng lẽ cả chân tay da tóc cũng chẳng phải là ta như cũ sao?". Đến năm hai ba tuổi biết nói rồi, cứ nói muốn tới Cao gia trang Cao gia trang thôi. Cha mẹ lấy làm lạ quát "Con nói bậy! Cao gia trang ở đâu?".


Đến khi lớn đi học xa nhà, đem chuyện nói với thầy, thầy nói “Chuyện tiền thân ấy nên giữ kín là hơn", từ đó không nói với ai nữa. Năm Kỷ hợi đời Thuận Trị Thiệu đỗ Tiến sĩ, nhận chức Giáo thụ phủ Đăng Châu, gặp lúc vâng lệnh kiêm giữ chức Huấn đạo huyện Thê Hà, trên đường đi ghé ngang Cao gia trang thì nhà cửa xóm làng vẫn còn như cũ, nhân họp người ở đó lại, hỏi rằng “ở đây từng có một người là Cao Tiểu Hòe phải không?". Mọi người đáp "Có, nhưng chết đã lâu rồi". Lại hỏi tới ngày tháng chết thì hoàn toàn khớp với ngày Thiệu sinh, bèn thuật lại mọi chuyện. Tìm tới con trai Cao, thì một đã chết, một đi vắng, chỉ có một con gái đã lấy chồng ở cách đó hơn một dặm. Gọi tới hỏi chuyện, nói những việc lúc con gái còn nhỏ đều đúng cả. Lại hỏi thăm các bậc cố lão trong làng, chỉ có một người còn sống, tóc bạc phơ phơ, đã hơn chín mươi tuổi rồi. Gặp nhau nói chuyện cũ, thân mật như quen biết đã lâu.


Sĩ Mai nhân đó sực hiểu cả mọi việc, mối ngờ vực suốt nửa đời từ đó tiêu tan, nhân vịnh thơ rằng "Hai kiếp mở toang đường sống chết, Một thân biết hết việc xưa nay". Bèn bỏ tiền mua ruộng vườn cho con cái họ Cao. Về sau Thiệu được thăng làm Tri huyện Ngô Giang, nhân sĩ trong huyện rất truyền tụng chuyện của ông, buổi đầu ta[302] cũng chưa tin. Gặp lúc Cống sinh Đăng Châu Lý Viết Bạch, em ruột bạn đồng niên của ta là Viết Quế đi ngang ghé thăm, ta ngẫu nhiên nhắc tới. Viết Bạch nói "Chẳng lẽ là quan Giáo thụ phủ Đăng Châu ta là Tiên sinh Thiệu Dịch Huy sao? Chuyện đó có thật đấy, ta còn nhớ rõ mà". Nhân kể chuyện lúc Thiệu ở Đăng Châu, thường kể chuyện cho người đồng liêu là Lý Phủ, Phủ kể lại cho Viết Bạch, nhiều lần đều như vậy. Ta bèn sắp xếp lại lời ấy, viết thành tiểu truyện. Cao Tiểu Hòe chỉ là một người Lý chính mà thôi, nhưng làm điều lành nên vẫn chết được yên lành, tái sinh nổi tiếng, huống là người khác sao? Ngày cuối tháng 5 năm Khang Hy thứ 7 (1668), Vân Gian Dã Sử Lục Minh Kha soạn.

 ----

[301] Ta: tức Vương Sĩ Trinh, tác giả Trì bắc ngẫu đàm.

[302] Ta: tức Lục Thứ Sơn tự xưng.