Hiển thị các bài đăng có nhãn Sơn Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sơn Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

HÒN CỔ TRON




HÒN CỔ TRON
Sơn Nam

Ông Từ Thông ra hòn Cổ Tron cất chòi mà nương náu không biết từ bao nhiêu niên kỷ rồi. Tóc của ông lốm đốm bạc, khi thì thả dài xuống khỏi lưng quần. Khi thì bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quít. Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi dư mặc đối với ông! Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng, bên mốy gốc săn đá cổ thụ, lá cành xơ xác vì những cơn gió triền miên của biển khơi. Khi trời nực thì có những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên chập chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mí nước... Hôm nào vui cho bằng hôm mười bốn, hôm rằm! Ông Tư Thông ra sau rầy, đào lên củ khoai môn to lớn, đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm thạch. ông chậm rãi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng rứt từ miến khoai, thảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mỗi con khoe một vẻ riêng. Tận dưới đáy biển, loại sò, loại ốc, loại nhúm đáng há miệng, le lưỡi bò chậm chạp trên nền đá tím nổi gân vàng, trên nền đá vàng nỗi gân trắng. Hoàng hôn tràn tới chính là lúc cảnh vật dưới nước ngời lên, bóng mây phản chiếu lấp lánh như gấm. Ðêm về, trăng mọc. Nơi thủy cung rộn rịp nào kém chốn trần gian! Từng đợt rong chìm lững lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá hướng. Và muôn vì sao trên dải Ngân hà sa xuống đậu lấm tấm khắp nhánh san hô trắng bạc.

Ở hòn Cổ Tron giữa vời vịnh Xiêm La này, ông Tư Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng hầu như quên rằnh mình có một đồng lại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia. Ðiều ấy, chúng ta không nên trách ai cả, chẳng qua là... hải giác thiên nhai. Không lẽ ông phải vượt bốn mươi cây số đường biển để tới công sở Lại Sơn, bên Hòn Rái mà trình diện. Chính quan chủ quận Châu thành Rạch Giá còn ngán đi kinh lý đến làng Lại Sơn! Từ dinh quận của ông đến công sở làng ít nhứt cũng là năm chục cây số đường hải đạo mênh mông sóng cồn. Mấy chiếc “ca nốt” oai hùng trong sông rạch chỉ là cái vỏ trứng vịt giữa biển. Nhà nước thuộc điạ nào chú ý đến việc cung cấp tàu đồng, tàu sắt để quan chủ quận đi cai trị dân! Không lẽ ông quận lại cưỡi ghe bầu hằng trăm cây số. Vả lại ghe bầu nào phải như chim trời mà bay thẳng một dường ngay. Ghe chạy theo đường gày. Ngoài biển khơi, đường gãy là đường gần nhất giữa hai điểm cách nhau; cái khoảng gần trăm cây số trên kia kéo dài gấp ba, gấp bốn.

Năm ấy, tháng ấy, ngày ấy... ông Tư Thông bỗng nghe chút gì băn khoăn, rạo rực trong lòng ông và ở ngoài đời. Từng đàn chim sắc đen ngòm như bầy quạ bay lượn quanh hòn Cổ Tron, rú lên, rít lên, lắm lúc như toan đáp xuống, đột nhiên đảo ngược, đi thẳng một mạch khuất trong mây khói.

- Bữa nay họ làm cái gì vậy cà?

Ông Tư Thông hối hả trèo lên chót đá mà ngóng. Hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc không có gì lạ. Duy có hướng Ðông: kìa, sừng sững dưới ánh nắng mai năm ba hòn đảo nhô lên, những hòn đảo mới lạ. Ông trố mắt liên tưởng đến phép duồi non lấp biển rất nhiệm mầu của tay Thợ Trời khéo léo. Không thể lầm lẫn được! Hồi nào đến giờ, ông rất sành sỏi về vị trí mấy hòn đảo nhỏ án ngữ chung quanh đây. Từ hòn đảo mới nổi ấy, một đốm trắng người, một chiếc “ca nốt” rồi hai chiếc, ba chiếc đang rẽ sóng chạy phăng lại nơi ông đang ở. “Tự năm bảy năm nay, mình chưa mất lòng một con sâu, một con kiến, không lẽ bây giờ có kẻ báo oán mình? Oán nào đã gây ra mà báo?”. Nghĩ vậy, ông trở xu61ng chân hòn sát mé biển, chờ đợi.

Chập sau, mấy chiếc “ca nốt” xáp gần bờ; họ đưa tay ngoắc ông.

Người Việt Nam nọ lên tiếng:

- Ông già! Lại đây quan lớn hỏi.

Ông Tư Thông nhìn năm sáu người mặc võ phục trắng đứng gần thầy thông ngôn.

Mốy người mặc võ phục nói ríu rít. Ông đoán đó là “tiếng Tây”...

- Ông già! Ðây là Bu Lô Ða Ma?

Ông đáp:

- Dạ không biết. Nó là hòn Cổ Tron. Chung quanh đây là mười hòn nhỏ khác. Khônhg có nơi nào kêu là hòn Ða Ma...

- Vậy thì nó là hòn Nam Du. Trong bản đồ ghi rõ đường hoàng. Ông nói kỳ quá!

Ông Tư Thông lắc đầu:

- Dạ, lời thật khai ngay. Tôi không biết. Xung quanh đây là hòn Mẫu, hòn Dài, hòn Cổ Sơn, hòn Móng Tay.

Chập sau, thầy thông ngôn mới đồng ý:

- Ðúng vậy, Bu Lô Ða Ma hoặc hòn Nam Du là tên theo sách chữ nho, theo nhà binh. Hòn Cổ Tron là tên tục của nó. Nè ông lão! Quan lớn ra lịnh như vầy...

- Bẩm thầy, quan lớn là người của nước nào, tôi chưa rành.

- Ông giỡn sao chớ? Hay là ông ngủ mê? Cỡ này, nhà nước thuộc địa Tây đánh với nước Xiêm.

- Bẩm thầy, đánh ở đâu? Tôi chưa được am tường.

- Ðánh tại nước Cao Miên. Ðánh luôn tại Bu Lô Ða Ma tức là cái hòn Cổ Tron này.

Ông Tư Thông cau mày:

- Mô Phật. Cầu xin Phật Trời...

Thầy thông ngôn đắc ý:

- Không sao đâu! Hễ làm con dân thì phải gánh vác nghĩa vụ. Quan lớn muốn biết hổm rày có tàu bè lạ nào chạy tới đây do thám không?

- Dạ, không thấy.

- Hòn này bao nhiêu dân đinh?

- Bẩm thầy, có một mình tôi thôi. Còn mấy hòn gần đây, tôi không rành. Chắc là năm bảy người, toàn dân “An Nam” mình.

- Ðược, thôi bây giờ quan lớn muốn ông kiếm dùm trái cây, nước ngọt. Rồi quan lớn cho chút ít tiền... Thời buổi này ông nên xài phí. Việc sống chết bất thường lắm.

Có lẽ sợ ông Tư Thông trốn luôn trên chót hòn nên thầy thông ngôn đi theo sát bên ông, sẵn sàng giúp ông quảy mớ chuối, mớ mít. Trước lạ sau quen, ông Tư Thông hỏi dọ sơ qua về tình hình trong bờ:

- Trận giặc này không biết dân “An Nam” mình hao nhiều không thầy?

- Hỏi làm chi vậy? Ở đây yên thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hốc Môn, miệt Long Hưng... nhộn dữ lắm. Tây không muốn nói chuyện đó.

Một mối buồn len vào tâm não ông Tư Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề, lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc nhở ông món nợ gì đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được thì ít ra ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chi có tổ. Cá có hang. Ðôi mắt già của ông Tư Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây tang bay thấp là đà... Ông hổ thẹn, tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải.

Thầy thông ngôn nói ta khiến ông giựt mình:

- Quan lớn đi về. Ông muốn xin điều gì, vật gì không? Ổng tử tế lắm.

Ông Tư Thông chắp hai tay ra vể cung kính:

- Tôi muốn vô trong đất liền, miệt Rạch Giá hay Cà Mau gì cũng được để thăm bà con. Nhờ quan lớn cho giấy phép chớ thời buổi chiến chinh này... Tôi không có giấy thuế thân, hồi nào tới giờ.

Vị quan hải quân gật đầu. Thầy thông ngôn viết lia lịa rồi vị quan ký tên. Ông Tư Thông cầm miếng giấy thông hành hộ mạng nọ, vô cùng mừng rỡ:

- Chúc quan lớn đi bình yên. Mà... Quan lớn chạy “ca nô” về đâu?

Thầy thông ngôn nói:

- Về tàu lớn. Mấy chiếc tàu binh... của tôi sơn có vằn có vện. Ông không thấy sao? Họ sơn tàu lại cho giống cái hòn giữa biển. Hồi sáng tụi tôi bỏ ống dòm thấy rõ ràng ông đứng trên chót hòn này. Nhờ vậy mà ôn gkhỏi bị bắn. Ban sơ, quan lớn tưởng đâu hòn này là chiếc tàu binh của kẻ nghịch. Ông hiểu chớ?

° ° °

Chưa vô tới bờ chợ Rạch Giá là ông Tư Thông cảm thấy cuộc đời đảo ngược, từ địa vị hoàn toàn tự do đến chỗ mất tự do. Ông trung thành với đất nước nhưng có sao đất nước đối xử với ông quá bạc bão, ghẽ lạnh? Từ hòn Cổ Tron, ông quá giang tàu buôn Hải Nam đi một mạch tới hòn Tre, nhờ chiếc ghe câu kiều đưa vào chợ. Dè đâu tàu của sở “đoan” xét hỏi. Miếng giấy thông hành nọ bị hồ nghi là giả mạo vì không có đóng mộc, vì đương sự không có giấy “lão” chứng tỏ rằng tên họ của mình đúng như trong giấy phép. Tàu “đoan” chở ông về giao cho ông cò Tây, Giam giữ ông được hai ngày, ông cò phú nội vụ qua dinh quận. Ông quận vốn là người mộ đạo Phật nên cho phép ông Tư Thông được tự do đi dạo chợ. Ông Từ Thông bày tỏ lý do:

- Dầu muốn trở về hòn Cổ Tron, không dẽ gì kiếm được ghe xuống mà quá giang. Gió thổi Nồm rồi. Phải chờ mùa Bấc...

Dạo chợ mấy buổi, ông Tư Thông phát chán. Cầm mấy cắc bạc (của ông chủ quận cho) ông không biết nên mua sắm, ăn uống những gì. Rốt cuộc, ông mua tiền xu khoai môn mà ngồi ăn ngon lành nơi góc chợ. Còn dư, ông vào tiệm hàng xén mua nhang đèn cầy để về cúng bà Chúa Hòn mặc dầu ngoài hòn không có chùa miễu gì cả. Ông cũng thích chí sực nhớ lại mua vài cây kim, nửa cân đường cát trắng.

Nhiều lần quan chủ quận viết thư qua bót ông cò hỏi thăm nhưng không được sự giải quyết nào dứt khoát. Chẳng lẽ giam giữ ông Tư Thông mãi mãi? Nhìn vào bản đồ vịnhy Xiêm La, ông quận nảy sanh ý kiến:

- Hòn Cổ Tron tuy thuộc quận Châu Thành nhưng nằm gần phía làng Ðông Hưng, quận An Biên. Ngày năm tây tháng tới, ta đón thầy xã trưởng Ðông Hưng mà gởi ông đạo này.

Rừng của làng Ðông Hưng âm u quá, khó mà nhìn ra xa quá vài công đất để tìm lại chân trời; chạng vạng là un khói lên, không như hồi ở ngoài hòn Cổ Tron, hồi ông ngủ trần không cần mùng mền. Thầy xã trưởng giao trách nhiệm gìn giữ ông cho thầy hương quản. Thầy hương quản lại đổ gánh nặng ấy cho người em vợ là hương tuần Hay.

Người giam giữ và người bị giam giữ lần hồi cảm thông nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế. Ông Tư Thông đi cắm câu, kiếm “mồi” về nhậu.

- Ở đây vui quá phải không?

Ông Tư Thông gất gù:

- Không được vui lắm. Coi bộ bà con mình nghèo hơn ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có. Mình mẩy bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời... Chắc là tại giặc Xiêm.

Hương tuần Hay trả lời:

- Giặc đâu không thấy. Người ta đánh mà mình chịu cực mới đau thương cho chớ!

- Buồn quá, chú hương tuần à.

- Hơi đâu mà buồn. Xứ này chịu cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen, yên tịnh.

Ông Tư Thông thích chí:

- Thì ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi, tứ bề sóng gió nhưng mà cũng yên tịnh. Cớ sao? Vì chung quanh có hàng chục hòn khác án ngữ. Tôi là người chạy giặc, vô trong đất liền này thăm bà con... Nhưng mà cũng yên tịnh. Nhờ bà con thương tình.

Ngày tháng trôi qua đều đều. Hôm ấy không nhớ rõ hôm nào, thầy hương quản đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn biết được tin trận giặc Xiêm đã chấm dứt. Tây và Xiêm dường như thủ huề. Thầy tự ý ra lịnh trả tự do cho ông Tư Thông.

Ông Tư Thông ngạc nhiên:

- Tôi bị giam hồi nào?

- Ông chủ quận biểu tôi giữ ông lại để làm tù binh, chờ mãn giặc mới thả ông về Cổ Tron.

- Về thì về, không sao đâu – ông lẩm bẩm.

Thầy hương quản hỏi:

- Hồi bị giam, ông có đồ đạc gì bị tịch thâu không? Tôi kêu nài giùm.

- Vài ốp nhang, đèn cầy, kim may quần áo, đường cát trắng... Nhưng mà thôi. Ở ngoải, dầu không có mấy thứ đó... Nhưng cũng như có.

Gặp dịp thuận tiện, thầy hương quản tìm ghe cho ông quá giang ra hòn Sơn Rái.

Ông ra đi, hơi buồn.

Dư luận trong xóm nổi lên bàn tán. Người cho rằng ông muốn truyền bá một thứ tôn giáo mới, thí dụ như “Ðạo Tịnh” bằng cớ là ông ưa nói hai tiếng yên tịnh. Kẻ khác hồ nghi rằng ông ở Côn Nôn thả bè vượt ngục trốn về.

- Nè cha nội sành sỏi lắm! Cây đèn “măng sông” của Chệt Kỵ hư “béc” đốt khôg chấy, vậy mà cha nội sửa lại được trong nhấp nháy...

Lại còn nhiều giả thuyết khác ác độc hơn, cho rằng ông thường lân la mấy nhà có đàn bà góa, gái tơ, vân vân...

Nhưng thời gian là vị trạng sư hùng biện nhứt thanh minh cho ông Tư Thông. Dư luận bất chánh bị đánh tan, lãng quên. Kỷ niệm lần lần trở nên trong sáng, tươi đẹp. Chiều chiều, khi ra bờ biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Tư Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong Thần tình cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu vì thiếu hồi thứ nhứt và không có hồi sau phân giải.

Hương Rừng Cà-Mau - Thay lời tựa.

 


Hương Rừng Cà-Mau
Sơn Nam

Thay lời tựa.

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên

Với câu chữ:

Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả,
Tới Cà Mau - Rạch Giá
Cất chòi, đốt lữa giữa rừng thiêng...

Muỗi, vắt nhiều như cỏ,
Chướng khí mù như sương.
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?
Chiều chiều nghe vượn hú,
Hoa lá rụng, buồn buồn

Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn,
Ðôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút...,
Hơi Vọng Cổ nương bờ tre bay vút
Ðiệu Hò... ơ theo nước chảy, chan hoà
năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thở
Phong sương mấy độ qua đường phố,
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê...

Sơn Nam
1- Hòn Cổ Tron
2- Ông già xay lúa
3- Cây Huê xà
4- Bác vật xà bông
5- Ðảng Cánh Buồm Ðen
6- Con Bảy đưa đò
7- Chiếc ghe "gho"
8- Cô Út về rừng
9- Miễu Bà Chúa Xứ
10- Mùa len trâu
11- Một cuộc biển dâu
12- Ðóng gông ông thầy Quít
13- Tình nghĩa giáo khoa Thư
14- Hát bội giữa rừng
15- Hương rừng
16- Bắt sấu rừng U Minh Hạ
17- Người mù giăng câu
18- Sông Gành Hào

HƯƠNG RỪNG CÀ MAU - SƠN NAM




HƯƠNG RỪNG CÀ MAU - SƠN NAM


“...Năm tháng đã đi qua
Day dứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thố
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê.”

(Sơn Nam - Hương rừng Cà Mau)

Không lâu nữa là tròn 9 năm ngày nhà văn Sơn Nam tạ thế, hóa thành hạt bụi bay về nơi quê cha đất tổ, bài viết này hy vọng được là nén nhang trầm cúi mình ghi nhớ một con người suốt đời đi tìm, góp nhặt những cái tinh túy của mảnh đất Nam bộ thương yêu.


____________

Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, chữ Sơn trong bút danh Sơn Nam là một họ phổ biến của người Khome, ông đã sử dụng chữ “Sơn” này để tưởng nhớ một người phụ nữ Khome đã từng cho ông bú mớm thuở nhỏ, chữ “Nam” có nghĩa là phương Nam, vùng đất Nam Bộ mà ông đã sinh ra, lớn lên và luôn đau đáu nhớ về dù có ở cách xa mấy đi nữa.


Sơn Nam sinh năm 1926, tại huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Gía (nay là tỉnh Kiên Giang). Cuộc đời ông tham gia các hoạt động cách mạng cũng như các hoạt động văn hóa nghệ thuật rất nhiều. Kể từ 1954 trở đi, ông tham gia công tác ở các tờ báo lớn, bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giam ở nhà lao Phú Lợi. Sau khi ra tù, ông tiếp tục công việc viết báo và khảo cứu văn hóa ở Nam Bộ. Rất nhiều tác phẩm của ông xuất bản được đông đảo độc giả đón nhận, trong đó Hương rừng Cà Mau là tác phẩm nổi bật đã đưa tên tuổi của ông lên một vị thế quan trọng trong nền văn học nước nhà.

Năm 1962, tuyển tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của ông được xuất bản lần đầu tiên bởi nhà xuất bản Phù Sa,lần lượt sau đó là nhà xuất bản Lá Bối năm 1967, nhà xuất bản Trí Đăng năm 1972 và kể từ năm 1997, nhà xuất bản Trẻ đã thu mua toàn bộ bản quyền của ông. Từ 1977 đến nay, quyển sách Hương rừng Cà Mau luôn được xuất bản đều đều và là một trong những cuốn sách bán chạy với hơn 10.000 bản in. [1]

Trong một bài phỏng vấn, khi được hỏi về tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau đem lại thành công cho ông đã xuất bản trong một khoảng thời gian khá tế nhị ở Sài Gòn, Sơn Nam đã cho rằng “Đó cũng là cơ duyên của tôi. Bởi, nếu Hương rừng Cà Mau xuất bản khoảng năm 1972 thì chẳng những không có tiếng tăm gì, mà anh em trong chiến khu sẽ còn hiểu lầm là Sơn Nam tán dương cho chiêu bài "xây dựng nông thôn" của chế độ Sài Gòn! In vào năm 1962 nhưng Hương rừng Cà Mau được viết từ năm 1958 - 1959, giai đoạn mà anh em kháng chiến bị truy lùng, đàn áp. Nó đã gợi lên trong lòng người hào khí của thời khai hoang, mở đất, chống Pháp”.[2]


Hương rừng Cà Mau là tuyển tập gồm 64 truyện ngắn viết về vùng đất Nam Bộ [3]. Xuyên suốt cuốn sách là những mẩu chuyện về đời sống hằng ngày của người dân đã được Sơn Nam quan sát, góp nhặt lại thành cả kho tàng quý giá. Các truyện ngắn trong Hương rừng Cà Mau có thể được chia theo hai chủ để chính, đó là chủ đề về con người Nam Bộ trong quá trình chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt, trong chủ đề này gồm những truyện ngắn tiêu biểu như: Bắt sâu rừng U Minh Hạ, Cao khỉ U Minh, Cái tổ ong, Con sấu cuối cùng, Con heo khịt, Giấc mơ ngoài bãi tha ma, Hai con cá, Một cuộc bể dâu, Mùa len trâu, Ruộng Lò Bom, Sông Gành Hào, Tháng chạp chim về ... Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh điển hình của thiên nhiên Nam Bộ trong chủ đề này, đó là khung cảnh: “sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng” trong Bắt sấu rừng U Minh Hạ, là những con ma “ở truồng, bỏ tóc xõa, đứng trên ngọn cỏ mà múa” trong truyện ngắn Miễu Bà Chúa Xứ, hay chỉ đơn giản là khung cảnh đồng ruộng trong mùa nước nổi hiện lên như một cách xám xịt và mờ ảo trong Mùa len trâu, Một cuộc bể dâu...

Thiên nhiên khắc nghiệt là cũng một nguyên nhân làm nên tính cách, và lối ăn ở của con người Nam Bộ, chủ đề thứ hai trong Hương rừng Cà Mau đó là bức tranh đời sống của cư dân Nam Bộ, mối quan hệ giữa người với người, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa được Sơn Nam thể hiện qua những truyện ngắn tiêu biểu như: Anh hùng rơm, Ăn to xài lớn, Bà đầm Phô-xi-đông, Bà vợ thứ 10, Bác vật xà bông, Bốn cái ngu, Bức tranh con heo, Cái vali bí mật, Cậu Bảy Tiểu, Cây Huê Xà, Con Bảy đưa đò, Con Trích Ré, Đảng Ánh Buồm Đen, Một kiểu anh hùng, Ngôi mộ chôn đứng, Tình nghĩa giáo khoa thư... Họ là những con người có tính tình hiệp nghĩa, sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác mà không cần nhận lại ân nghĩa. Đó là ông Hai Tước - một bậc thầy ăn trộm - đã bày cách cho thằng Nậu tàng hình, ăn trộm giấy đất hương hỏa mà bà vợ thứ mười của ông đã ép thằng Nậu lấy. Đó cũng là ông Hai Kiểm chấp nhận lãnh đủ bốn cái ngu của đời trong câu nói: “ Ở đời có bốn cái ngu/ Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Không chỉ có những câu chuyện tình đẹp được đâm hoa kết trái, còn có những mối tình đơn phương từ một phía như câu chuyện của dì Bảy trong, Con Bảy đưa đò chỉ với ba chữ “một tấm lòng” mà dì đã dành cả thời tuổi xuân để chờ đợi người đàn ông lạ mặt quay lại.



Với Sơn Nam, thiên nhiên trong văn của ông không đơn thuần chỉ là phương tiện để miêu tả cái đẹp, cái tài trí của người cầm bút và con người Nam Bộ. Thiên nhiên ở Nam Bộ không chỉ đẹp về hoa thơm, cỏ lạ một cách nhẹ nhàng mà nó lại như một cô gái bí hiểm, thông minh và sắc sảo, “cô gái Nam Bộ” này sẵn sàng nuốt chửng những người bội bạc, quên lời thề ân nghĩa với mình một chút không thương tiếc bằng rất nhiều cách khác nhau.

Dưới góc nhìn sinh thái, Mác đã từng khẳng định: “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền khắng khít với giới tự nhiên vì con người là bộ phận của tự nhiên” [4]. Con người và thiên nhiên luôn tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình tồn tại . Điều đó cũng tương tự như việc con người Nam Bộ một mặt phải chiến đấu, chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt, một mặt lại phải ra sức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ chính nguồn sống của mình. Người ta chinh phục là để hòa hợp, là để sinh tồn và là để bảo vệ những nhành cây, ngọn cỏ, từng con chim, con trâu xung quanh mình.


Trong truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Sơn Nam cho thấy con người đã phải nỗ lực vươn lên chống chọi với thiên nhiên hung tợn, đánh đổi cả mạng sống của mình trên con đường khai hoang lập địa. Số người bị sấu bắt nhiều không biết bao nhiêu mà kể xiết. Đau đớn nhất là trong Con sấu cuối cùng, cô dâu trong ngày vu quy lại bị sấu bắt, thân thể dần chìm xuống lòng sông bởi con ác thú. Mảnh đất hùm tha sấu bắt này độc địa như vậy, ấy mà con người ta lại thương, không nỡ rời bỏ nó, nói như chú Tư Lập trong Hương rừng: “Hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến ở thì vui, ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại không được”

Trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, ông không chỉ nói về chuyện con người ta xui rủi làm mồi cho sấu, cho hùm beo vì đơn thuần sấu hay hùm beo cũng chi là những loài động vật ăn thịt dữ tợn, đó là bản năng của chúng, mặc dù viết nhiều về việc con người ta đã bỏ mạng vì thú dữ nhưng ông có nói “Tuy thích ăn thịt người, loài sấu vẫn tìm cá làm nguồn thức ăn chính”. Thiên nhiên tuy khắc nghiệt nhưng vẫn rất hiền hòa, vẫn không quên ban thưởng cho những con người xứng đáng. “Nếu trúng mùa dưa thì 1 lời 10, họ tha hồ ăn xài hết tháng giêng, cờ bạc, đờn ca vọng cổ lai rai cho đến tháng 3 sa mưa”. Cuộc sống thoải mái cho phép người Nam Bộ có quyền tận hưởng thành quả của mình sau những tháng ngày lao động mệt mỏi, họ ngồi lại bên nhau, cùng nhâm nhi vài ba ly rượu đế, thưởng thức những con cá lóc nướng trui đang nằm trên lá chuối tươi mởn hay con cá sặc rằn to bằng cả bàn tay, xòa tươm mỡ. Xong xuôi rồi con người ta lại kể cho nhau nghe về chuyện đời xưa. Vùng đất màu mỡ như thế, nhưng không phải tất cả mọi người đều có ý thức trách nhiệm bảo vệ những gì mẹ thiên nhiên ban tặng.

Một trong đặc điểm trong các tác phẩm nói về sinh thái, đó là ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của con người cũng được nhà văn lồng ghép một cách khéo léo qua các truyện ngắn trong tuyển tập Hương rừng Cà Mau.

Ví như câu chuyện Hai con cá kể về ông lão Từ Thông làm nghề đánh cá, một đêm nọ ông đi câu tại mũi Hà Bá, vô tình gặp ma. Con ma đó ông gọi là ông chủ hang, đó là một ông cụ chừng hơn 60 tuổi đến giải cứu cho hai con cá chét mà ông lão Từ Thông vừa câu được. Ông chủ hang tức giận hỏi ông Từ Thông: “Lần này là lần thứ mấy rồi?”, “Tuổi trời còn dài. Sao lão chưa bỏ thói hư tật xấu?”, “Thử hỏi nếu có người đem lưỡi câu móc vô miệng lão rồi giựt lên, rồi lụi cây vào bụng mà nướng...lão vui không?”. Nói xong ông tạt rượu vào bếp lủa đang cháy, theo thứ ánh sáng diệu kì tỏa ra từ bếp lửa rồi biến mất cùng hai con cá. Chuyện sẽ không có gì để bàn cãi khi lão Từ Thông không vào khu vực linh thiêng của Hoàng tử Nhựt để đánh bắt.[5] Việc vô ý thức này đã được Sơn Nam miêu tả lại bằng những yếu tố kì ảo, hoang đường, ông đã truyền tải những vấn đề thuộc về bảo tồn sinh thái và cả nhân sinh quan vào trong những truyện ngắn của mình. Hay là trong câu chuyện Con trích ré, vì muốn trả thù cho con chim yêu quý đã bị ông phó tham biện vặn cổ chết, bé Kiều đã quyết làm một việc mà cha nó sợ nhất, nó muốn cha nó phải khóc cũng như nó đã khóc vì mất con chim Trích, nó không ngần ngại mà nhảy xuống hồ nước để trốn cha nó, đến khi ông tổng Báu tìm thấy thì bé Kiều đã không còn nữa.

Những con vật nhỏ bé được nhà văn nâng niu từng chút một. Quan điểm “Thiên nhiên trừng phạt con người bằng cách biến mất” cũng được thể hiện trong các truyện ngắn Cao khỉ U Minh, con rắn Ri Voi...

Chuyện Cao khỉ ở rừng U Minh bắt đầu từ việc ông cai Thoại đến U Minh đánh cọp. Cọp chết rất nhiều, số còn sống sót thì chạy trốn về phía núi Tà Lơn bên Cao Miên, vùng U Minh không còn cọp nữa, loài khỉ sinh sôi nảy nở nhiều nghiễm nhiên làm chúa sơn lâm. Ấy vậy rồi người ta bắt đầu đi săn khỉ “ thợ săn đem khỉ về, đập đầu, lột da, mổ bụng, lóc thịt để lấy xương làm thuốc”. Khỉ nhiều là vậy, nhưng đó lại là chuyện của thời xưa, thời nay, khỉ đã hết, “những người thợ săn khỉ trở thành thợ nói chuyện đời xưa , giữa ban ngày mà đốt đèn sáp trong nhà”.

Đỉnh điểm là trong truyện ngắn Tháng chạp chim về. Sơn Nam đã lột tả được cái tàn ác của loài người trước thiên nhiên qua lời của ông Tư. Ông Tư ngậm ngùi kể lại chuyện Rạch Gía, Hà Tiên nổi danh là nơi tập họp của nhiều sân chim, nào là sân Cái Nước, sân Thầy Qươn, sân Thứ Nhứt... Chim bay về sinh sôi, nảy nở, ấy vậy mà người ta giết chúng, bẻ cổ từng con. “Hai chục người phải đối phó với chín mười ngàn chim bồ nông. Họ lanh lẹ lắm, tả xung hữu đột như Triệu Tử Long, Đương Dương Trường Bản, tay trái họ nắm cần cổ chim, tay mặt nắm đầu chim. Họ vặn lọi lại, chim chết không kịp ngáp. Giết rồi quăng xuống tại chỗ. Phải lanh tay lắm mới giết kịp. Để chậm trễ thì chừng mặt trời mọc, bầy chim lớn từ Biển Hồ sẽ chứng kiến cảnh tượng đẫm máu này. Chúng sẵn sàng đáp xuống chiến đấu một mất một còn với loài người để giải thoát cho đàn con”. Lông chim thì bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến, họ mua về cốt yếu chỉ dùng để kết thành những cái quạt. Mỡ chim thì làm dầu, thịt chim ăn không hết thì người ta thảy cho quạ, cho diều. Đến nay, số lượng chim giảm hẳn, chỉ có một vài con chim như con “chim già sói” nhớ sân cũ hằng năm vẫn bay về.

Ở những truyện ngắn này, Sơn Nam không hề sử dụng những từ ngữ kêu gọi con người bảo vệ môi trường hay có trách nhiệm với thiên nhiên, thế nhưng thái độ phê phán và quan điểm của ông thể hiện rất rõ ràng. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật của dòng văn học nói về những vấn đề sinh thái trong những năm 60-70 của thế kỷ 20 [6]. Trong Hương rừng Cà Mau, nhân tố trung tâm của tác phẩm không phải là con người, cũng không phải là thiên nhiên mà chính là sự hòa hợp của con người với thiên nhiên. Sơn Nam đã sử dụng hình ảnh con người để làm bật lên sự quan trọng của thiên nhiên Nam Bộ, ngược lại ông cũng đã sử dụng sự khắc nghiệt của thiên nhiên để tô vẽ cho hình ảnh của con người Nam Bộ.


Với phong cách ngôn ngữ chân chất và giản dị, đúng với phong cách của con người Nam Bộ. Sơn Nam đã kể về chuyện bẫy chim, bắt cá, nuôi ong... một cách khá nhiều kinh nghiệm và thú vị. Sơn Nam đã từng nói: “Tôi sinh ra ở vùng đất U Minh, nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Gía qua Sóc Trăng, Bạc Liêu, và đến tận Cà Mau. Tôi bắt đầu sự nghiệp viết lách vào năm 1955 trên văn đàn Sài Gòn, để từ đó có Mùa Len Trâu, Hương rừng Cà Mau được viết ra từ những kí ức quê nhà không bao giờ phai nhạt.”

Trong Hương rừng Cà Mau là cả một bầu trời thương nhớ mà Sơn Nam đã dành cho vùng đất Nam Bộ, con người và thiên nhiên Nam Bộ tuy qua nhiều thế hệ, qua nhiều ảnh hưởng của xã hội nhưng vẫn giữ được những bản chất đặc trưng riêng biệt của mình. Thời đại hiện đại hóa công nghiệp hóa ngày nay, Nam Bộ đã khoác lên mình một bộ cánh mới mẻ và hiện đại hơn, sẽ còn lại rất ít những người biết đến cây huê xà, biết đến cảnh tượng sấu ngụp lặn trong những đầm lầy, hay cảnh tượng len hàng trăm con trâu từ cánh đồng này sang cánh đồng khác. Nhờ có Hương rừng Cà Mau, mà chúng ta có thể biết nhiều hơn, hiểu nhiều hơn về văn hóa, lối sống, tập tục, thiên nhiên của Nam Bộ. Năm 2003, đạo diễn Nguyễn Võ Minh Nghiêm đã khởi quay bộ phim điện ảnh Mùa Len Trâu dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Sơn Nam, bộ phim truyền hình cùng tên Cây huê xà của đạo diễn Xuân Cường cũng được phát sóng. Điều đó cho thấy tầm ảnh hưởng quan trọng của Sơn Nam không chỉ trên văn đàn học thuật mà còn ở cả bộ môn nghệ thuật thứ bảy. Tuy đã ra đi nhưng những giá trị văn học nghệ thuật Sơn Nam mang lại cho nước nhà vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người, đúng như điều ông đã từng khẳng định: “ không có người miền Nam mà chỉ có người Việt Nam”.

Tú Quỳnh



[1] Xem thêm tiểu sử nhà văn Sơn Nam tại :


[2] Xem thêm bài viết Những điều ít biết về nhà văn Sơn Nam của Phan Hoàng đăng trên thanhnien.vn ngày 15/8/2008


[3] Theo tập truyện Hương rừng Cà Mau tái bản lần thứ 7 của nhà xuất bản Trẻ in năm 2016.


[4] Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong bài viết “Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa con người với tự nhiên - cơ sở quan trọng của việc giáo dục môi trường ở Việt Nam hiện nay” của Đỗ Thị Hiện tại http://daihocxanh.hoasen.edu.vn/ ngày 23/4/2012


[5] Nguyên bản là Sơn Nam viết theo lời lão Từ Thông là Hoàng Tử Cảnh, nhưng sau đó ông có đính chính lại là Hoàng tử Nhựt, con trai của vua Gia Long, anh em của hoàng tử Cảnh đã chết yểu tại đảo Phú Quốc.


[6] Xem thêm bài viết : “Văn học sinh thái và lý luận phê bình sinh thái” tại http://www.dovanhieu.net/ ngày 30/ 8/2015