Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN ĐỜI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN ĐỜI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

Đức Phật và cô gái điếm



Đức Phật và cô gái điếm

                                                               Nguyễn Thị  Miền                          
                           Đức Phật có trong lòng mỗi người

-     Này, bớt đi cho sư ông vài chục ngàn. Gớm, nhà mày lấy ông đắt vừa vừa thôi. Một trăm ba mươi nhé. Thôi được rồi đi. Thôi thì một trăm bốn mươi vậy. Mai chín giờ mang đến cho ông đấy. Gớm, nhà mày quá quắt lắm. Alô, được chưa, ông bỏ máy đây, đang có khách. Lắm mồm quá cái con này. Vâng, chào cô, tôi không dám. Này chị ơi, bây giờ lắm đứa nó ghê lắm nhé. Nó đổi ô tô xoành xoạch như thay áo thay váy ấy. Nay nó lên chùa nhờ lễ, mai nó lên chùa nhờ lễ. Kêu cho nó mỏi mồm mỏi miệng, nó bán được nhà, lãi vài trăm triệu thế mà chả thấy tăm hơi ỏ ê gì. Bây giờ bọn trẻ nó ghê gớm thế đấy cô ạ.
-     Ơ ông buồn cười thế. Con chả lên đây rồi là gì.
-     Vâng, chị lên. Bây giờ mới lên.
-     Thì con bận quá. Đây con biếu ông năm trăm ngàn. Bán cái nhà ấy con ăn thua gì, rẻ thối rẻ tha ra, bao nhiêu là công lênh chứ ông tưởng ... Bây giờ ông lại kêu tiếp cho con cái nhà này nhé. Con muốn bán nó tám trăm năm mươi triệu
-     Thế nhà bà mua bao nhiêu? bà trẻ ?
-     Thì... con mua sáu trăm năm ngoái. Nhưng vay lãi, chạy chọt nọ kia cũng thành hơn tám trăm rồi. ông có kêu cho con bán được cũng chả được bao nhiêu.
-     Thôi tôi lạy nhà chị. Lúc nào cũng chả bao nhiêu đâu với chả bao nhiêu đâu. Xe thì đổi liên tục. Không ông kêu cho thì có khối ra đấy.
-     Vâng, thì con biết thế con mới lên cửa ông.
-     Vâng. Nỏ mồm. Mời chị ghi tên ghi tuổi với cái nhà cần bán ở cuốn sổ này cho tôi ạ. Rồi tôi lại đi hầu bà ạ.
-     Sư ông ngoa quá. Nhớ đấy. Tám trăm năm mươi triệu. Con ghi đây rồi tối nay cầu luôn không được quên đâu đấy. Con lên đặt lễ đây.
Người đàn bà nhỏ bé xinh đẹp quay gót đi lên chùa. Sư ông quay ra đếm mấy chai rượu ngoại lẩm bẩm với mấy người còn lại:
-     Mấy chai rượu này là của ông X., ông N. biếu đấy. Gớm năm nào cũng rượu ngoại mấy trăm ngàn một chai. Nhưng bày nó đẹp. Năm nay ông sửa chùa. Ông tính hết hai tỷ. Một đám ngân hàng đã nói sẽ giúp bộ cửa năm trăm. Còn lại mỗi đệ tử cúng một cái cột. Nhà nghèo thì cột bé, nhà giàu thì cột to.
-     Cột to bao nhiêu mà cột bé bao nhiêu hở ông?
-     Cột to mười lăm triệu, cột bé mười hai triệu. Chùa là chùa của các vị chứ của ông đâu. Ông có sống mà ôm lấy chùa được à ? Xây chùa để đức cho con cho cháu, cho muôn đời dòng họ nhà mình chứ của gì ông.
-     Cái con vừa xong đấy, chả nhờ ông cúng bây giờ mua ô tô BMV loại sang đấy. Thôi tôi cứ kêu cầu cho các ông các bà làm ăn phát đạt rồi nhớ đến chùa là được rồi. Các sư khác mua xe ô tô cả, nhưng ông nhát quá, chả dám lái nên thôi đi đâu thì các đệ tử đưa đi là xong. Mua thì cũng mua được rồi đấy.  Lân ơi, Lân, Lân ơi.... ơi... làm việc với một đám những thằng ngu này nó chán thế đấy. Mai ông đuổi quách hết thôi. Mang nước lên đây.
 Chú tiểu Lân chỉ khoảng ngoài hai mươi, gương mặt buồn bã vội vàng chạy xuống bếp xách lên một phích nước. Trông chú vừa như một thằng bé con bảy tuổi, vừa như một ông già chín mươi với cái nhìn u uẩn và nhẫn nhục.
Gió thổi lồng lộng lùa qua cây nhãn cổ thụ. Tiếng chuông chùa bắt đầu ngân lên. Chú tiểu Lân lật đật cầm lấy cuốn kinh, trong bộ quần áo nâu sồng lụng thụng, trông chú như một hình nộm biết đi. Chú bắt đầu buổi tụng kinh của mình. Nắng đang tắt dần, hiu hắt ...
Công viên, người đàn bà không còn trẻ, son phấn đậm mặt  không giấu nổi vẻ mệt mỏi.
- Bao cao su à? vâng, chị cho thì em xin. Còn khách nó có đi không thì em không biết. Em có quyền ép chúng nó đâu. Những thằng khốn nạn có tiền ấy nó có cho em được dùng hay không dùng bao cao su đâu. Nhưng có thể... em sẽ dùng nó trong ngày Rằm. Hà, nhưng hôm nay thì em không đi khách. Hôm nay em đi đón con em đi chơi.
- Em có con rồi à?
- Vâng
Gương mặt ngời lên rạng rỡ, người đàn bà  mỉm cười tự hào:
- Con em đi học rồi, học giỏi lắm. Có giấy khen cơ đấy. Em đi thế này thôi nhưng về kèm con chặt lắm. Em sẽ không để nó hư... như em đâu. Chồng em ấy à? nó nghiện rồi sốc thuốc chết rồi. May con em không phải chứng kiến vì nó chết ở xa.
- Sao hôm nay em không đi khách? phải bận đón con à?
- Không. Đón con vì không đi khách. Hôm nay ngày Rằm.
- Sao ngày Rằm lại không đi khách. Sao lúc nãy em nói bao cao su để dùng trong ngày Rằm.
- Em sợ.
- Sợ?
- Chúng em là những người không ra gì. Ngày Rằm, Đức Phật không rời bỏ ai vì ngài rất độ lượng. Em không muốn mất Đức Phật của mình. Vì thế trong ngày Rằm em hiếm khi đi khách. Bọn đàn ông sẽ làm mất nốt Đức Phật của em. Nếu cố đi khách ngày Rằm, em sẽ mất hết những gì tốt đẹp còn lại. Nhưng... đôi khi không thể, thì em dùng bao cao su trong ngày này. Dứt khoát đấy, không thì thôi...  Em dài dòng quá rồi. Cảm ơn chị đã lo lắng cho sức khoẻ của bọn em. Chào chị nhé.
Người đàn bà thoăn thoắt bước đi và biến vào hàng cây sẫm tối. Ngày hôm nay, có bao nhiêu người đàn ông đi giải khuây phải về không thất vọng vì gái bán hoa còn lo giữ Đức Phật của mình? Tôi không tin có người đàn ông nào nghĩ mình cần phải giữ cái gì vào một ngày nào đó trong năm hay trong tháng. Họ lo giải đen cho vận hạn, có thể bằng thịt chó hoặc gái còn trinh.

- Này tôi hỏi thật, em có còn trinh không đấy
- Đương nhiên
- Này tôi hỏi thật, em còn trinh không đấy?
- Đương nhiên
Đoạn đối thoại giữa thày trò được tung lên mạng như lời thoại trong một chợ tình theo nghĩa đen, là có mua có bán.
-Này kiếm cho tao một con còn gin. Tao đang lo mất chức. Mười lăm à? Tốt. Nhớ là đồ thật chứ không phải vá víu gì đâu đấy. Bây giờ công nghệ cao, vá víu thì còn ăn thua gì nữa. Mười lăm có khi đã vá mấy lần rồi ấy chứ. Tuổi tác đâu có nói lên điều gì.

Đức Phật trên trời  đang chấm một ngón tay dịu dàng lên trán cô gái điếm. Người đang ban cho cô ấy chút hạnh phúc nhỏ nhoi hiếm muộn. Người đàn bà mỉm cười rạng rỡ dưới làn phấn son mệt mỏi.
Đức Phật trên trời với nụ cười bí ẩn hàm ngôn, Người khuất dần trong sương khói kêu cầu nhân gian ngày một dày lên, cuồn cuộn,
 Ngày 20/8/2006.


Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Chậu đào Tết của Tú Xương


Phạm Lưu Vũ
Tết năm Nhâm Dần (1902), Tú Xương được tặng một chậu đào thế nở hoa rất đẹp. Suốt mấy ngày tết, Tú chẳng đi đâu, chỉ nằm nhà uống rượu thưởng hoa. Đêm mồng năm tết say rượu nằm ngủ, bỗng mơ thấy chậu đào tự bỏ ra khỏi cửa. Sáng dậy thấy mất chậu đào thật. Vừa lúc ấy có ông cụ hàng xóm bên tả sang chơi, mới mang chuyện mất đào ra than thở, ông cụ hàng xóm nghe xong lẩm bẩm: “Lạ thật, lạ thật…” Tú vội hỏi: “Cụ bảo lạ cái gì kia?” Cụ hàng xóm bảo: “Đêm qua tôi cũng nằm mơ, thấy một cô gái rất đẹp đến gặp tôi, sụt sịt nhờ tôi sang an ủi anh. Hỏi an ủi chuyện gì, cô ta bảo phải chia tay anh, sợ anh buồn…” Tú Xương nghe nói lấy làm kì lạ, ngẫm nghĩ một lúc rồi cũng lẩm bẩm: “Phải rồi, phải rồi…” Đến lượt ông cụ hàng xóm hỏi lại: “Anh bảo phải rồi cái gì?” Tú trả lời: “Tại tôi mỗi lúc ngắm hoa, thấy hoa đẹp lại lo hoa rụng…” Nghĩ rồi quả nhiên cũng cảm thấy được an ủi phần nào, bèn vái ông cụ ba vái mà cám ơn.
Câu chuyện chỉ được biết đến đó. Song cả Tú lẫn ông cụ đều không ngờ tới một chuyện khác, rằng đêm trước, anh hàng xóm bên hữu cũng nằm mơ, thấy một cô gái rất đẹp đến mách anh ta rằng trong chậu đào bên nhà Tú Xương có giấu 5 lượng vàng. Thế là anh ta nhè lúc Tú Xương ngủ say mà lẻn sang bê trộm. Đem về nhà, anh ta bới tung cả chậu lên song chẳng tìm thấy vàng đâu cả. Khi nhìn đến cây đào thì hoa đã rụng tơi tả, bèn bẻ vụn làm củi đun, còn cái chậu thì đập bể để phi tang đem vứt ở góc vườn.

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Niềm vui quanh quẩn bên ta

Mùa xuân đến rồi đó!
.
Tất cả các ảnh đều chụp qua di động N81, January 11, 2013 .

Sáng nay phải đi cắt tóc, sửa râu theo lệnh của "các cấp chính quyền": 

- Trông như Fulro, đi cắt tóc, ngày mai 3 đám cưới, tôi chuẩn bị tiền lẻ cho ông đi taxi rồi đó...!

- Ừ thì chỉ thị, chủ trương, hưu đây không ngán!

Bố mẹ đi làm, các cháu thấy ông như bạn quý.

Ra quán, phải chờ, thấy các cháu ra chơi rét, ríu rít: Ông ơi sao râu ông trắng...! (các cháu đều là con học trò). Mà sao nhiều "mậm gừng" làm vậy- trong "Lục thanh đồng, tiên nữ" có những "ngũ vị gừng". Nhà Ông thì ước ao... mê đắm.

Chụp ảnh các cháu bằng chiếc máy di động Nokia81- 8G già nua.


Đăng ảnh lên cho vui trong niềm vui đón Tết, cắt tóc xong, Tuấn nói: Ông cho cháu thêm mười nghìn cùng giá mọi khi. Ờ ... giá lên rồi nhỉ!
.

Ông nhìn cháu bước này!

Niềm vui vẫn ở quanh ta dù là giản di. Mấy tháng trước ba cháu ở nhà, mình cũng được vui như vậy.

Ôi mùa đông buồn, ông cháu quẩn quanh bên cột điện.

Phố huyện ngày tháng Một - Nhâm Thìn (ảnh chụp ngày 29/12/2012,
khi bốn ông cháu nhà đi lễ đúc chuông Chùa; qua máy Canon)

Nai nịt, hùng dũng như Hiệp sĩ (con nhà Tuấn)



Sắp xếp bố cục để ông chụp


Ông chụp nữa cơ!

Bố nó qua nhà...
Con ở chơi với ông cơ!

Cháu có giấy đẹp này!


Bình lặng một miền quê.


Chỉ một khoảnh hè phố nhỏ, trẻ thơ có cả một cuộc chơi.






Bé Gái lúc nào cũng hiền dịu, nhịn nhường,
mười lăm năm sau mong cháu vẫn là như vậy.




Hai mươi năm nữa, các cháu có nhớ được vui như vầy...

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Am ni cô


AM NI CÔ


Mã Bảo Sơn



Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô.

Trong am ni cô có hai ni cô, ni cô già năm mươi tuổi là sư phụ, ni cô trẻ mười sáu tuổi là đệ tử. Hai thầy trò ngày nào cũng làm bài tụng kinh và tiếp nhận đồ lễ của vài khách hành hương. Họ sống những ngày dài trong tiếng chuông buổi sớm và tiếng mõ ban chiều.

Trước am là một dòng sông, bên bờ sông có một mái nhà tranh, trước nhà tranh là một vạt ruộng vườn mới vỡ hoang. Một cặp vợ chồng trẻ, mủa xuân gieo cấy, mùa thu gặt hái trên thửa ruộng mảnh vườn. Ngày tháng cứ vui vẽ trôi đi trong tiếng nói tiếng cười của đôi vợ chồng.

Ở nơi vắng vẻ nến sáng lửa xanh, ni cô trẻ làm bài thường bị tiếng nói cười vui vẻ bay trên cánh đồng gây xáo trộn tâm tư. Cô thầm nghĩ, cuộc sống chồng cày ruộng, vợ dệt cửi thật là hạnh phúc.

Ni cô trẻ thường ra sông kiếm nước, nên hay gập đôi vợ chồng trẻ cày cấy ở ruộng. Lâu dần họ quen nhau, ngày mưa ngày gió, anh nông dân trẻ còn giúp ni cô gánh nước lên chùa. Một hôm, ni cô trẻ lại ra bờ sông kiếm nước, đôi vợ chồng trẻ cũng đang nghỉ giải lao ở bờ sông. Thế là có một cuộc nói chuyện thú vị.

Anh nông dân hỏi:
- Hàng ngày chú tiểu làm gì trong chùa?

Ni cô đáp:
Làm bài, tu đạo, cầu kiếp sau ...

Anh nông dân lại hỏi:
- Cầu nhân duyên mỹ mãn phải không?

Ni cô lại trả lời:
- Người tu hành thanh tâm, ít ham muốn.

- Cầu quan to lộc đầy phải không?

-Tăng ni kiêng cấm, danh lợi mờ nhạt.

- Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chăng?

- Cửa Phật coi trọng yên tĩnh thanh thản...

Anh nông dân cả cười:
- Phải chăng chú tiểu còn cầu mong kiếp sau lại được làm chú tiểu?

Trong mắt ni cô trẻ càng mơ màng, mờ mịt. Cô nhìn am ni cô vắng vẻ dưới núi, thở dài thầm nghĩ: "Mình tu tâm dưỡng tính, nếu kiếp sau còn làm chú tiểu thì hôm nay còn cần cầu gì nữa?"

Ni cô trẻ khe khẽ lau giọt lệ trong vắt trên hai má, gánh nước về am. Trên bờ sông, cuộc đối thoại của hai vợ chồng vẫn còn tiếp tục, chỉ có điều tăng mùi vị trêu ghẹo.

Anh hỏi vợ:
- Nếu có kiếp sau thật, em cầu gì?

Chị đáp:
- Anh đoán xem ...

- Cầu quan to lộc đầy phải không?

Chị lắc đầu.
- Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chứ?

Chị vừa lắc đầu vừa xua tay. Anh "ồ" một tiếng:
- Anh hiểu rồi, chắc chắn là em cầu kiếp sau làm một ni cô trẻ thanh tịnh ...

Chị giơ nắm tay nhỏ đấm lên ngực anh, nói:
- Bậy nào, bậy nào, anh bậy quá ...

Anh chộp luôn tay chị, hỏi dồn:
- Vậy rốt cuộc em cầu gì nào?

Chị đỏ ửng mặt, đáp:
- Không cần quan to, chẳng cần giàu sang, chỉ cầu kiếp sau nhân duyên tốt lành, chỉ cầu kiếp sau lại làm vợ anh!

Cuộc đối thoại trên bờ sông và cuộc vui đùa của đôi vợ chồng bên bờ sông đã làm xao động trái tim xuân của ni cô trẻ, tới mức cô cứ bần thần háo hức, không còn lòng dạ nào ngồi yên làm bài, không còn chăm chỉ tu đạo. Ni cô già nhận thấy học trò của mình đã hết duyên nơi cửa Phật, liền đưa cô ra khỏi am.

Ni cô trẻ bơ vơ không nơi nương tựa, tạm dừng chân trong gia đình anh nông dân nhà tranh vách nứa bên sông.

Ni cô trẻ không còn là ni cô nữa, vợ chồng anh nông dân liền gọi cô là Tiểu Nê.

Cùng vợ chồng anh nông dân trẻ, Tiểu Nê mặt trời mọc ra đồng, mặt trời lặn về nghỉ, cơm nhạt, trà thô của nhà nông khiến Tiểu Nê càng khỏe càng đẹp ra, mái tóc xanh mượt mà dần dần mọc trên đầu khiến cô trở thành một người thật xinh đẹp.

Người phụ nữ đã hoàn tục, thì có tính tình của người thường. Người phụ nữ có tính tình của người thường sẽ dễ dàng tạo ra những chuyện của con người bình thường. Mà chuyện của con người ta thì cứ na ná như nhau. Câu chuyện và chi tiết tầm thường đến mức không chịu nổi, xin miễn kể ra tỉ mỉ ở đây. Tóm lại như thế này: Có một hôm, ông mặt trời tỏa nắng rực rỡ xuống trái đất, con chi trên cây cũng hót líu lo vui tai. Chị chủ nhà đi chợ mua muối về, vừa bước vào trong ngôi nhà tranh đã kêu giãy nảy lên một tiếng, tiếp theo là tiếng khóc kéo dài. Tiếng khóc cứ bám riết lấy bước chân của người đàn bà như đang nổi cơn điên, loạng chà loạng choạng chạy ra bờ sông. Chị định nhảy xuống sông thì nước sông lại cạn. Chị lảo đà lảo đảo leo lên vách núi định nhảy xuống, song vách núi không cao, Sau đó, chị bỏ chạy vào am ni cô dưới chân núi.

Ở nơi vắng vẻ nến sáng lửa xanh, ni cô già sống những ngày hết sức tĩnh mịch, rất muốn biết người đàn bà đang đứng trước mặt mình có hy vọng gì đối với kiếp này và kiếp sau:
- Xin hỏi nữ thí chủ, chịu ở tạm thời hay ở lâu dài trong am nhỏ này?

Chị đáp:
- Ở lâu dài, xin thầy thu nhận con làm đệ tử, thưa thầy!

Ni cô già lại hỏi:
- Chị vào cửa Phật cầu quan to lộc đầy phải không?

Chị lắc đầu. Ni cô già lại hỏi:"Cầu vinh hoa phú quý chứ?" Chị vẫn lắc đầu.

- Vậy cầu kiếp sau có được nhân duyên mỹ mãn chăng?"

Lời ni cô già chưa dứt, thì nước mắt đau đớn của chị đã tuôn trào ...

Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô. Trong am có hai ni cô, một ni cô già một ni cô trẻ mới đến, ngày nào họ cũng làm bài, tụng kinh, cầu kiếp sau ...

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Côn đồ


 (Blog Tôi ơi đừng tuyệt vọng)

Âm dương- Tranh Tào Linh
Tay cảnh sát trực ban hỏi thằng Thuận.
- Sao mày đánh thằng ấy? Nó nhìn đểu mày à, hay nó chửi mày?
Thằng Thuận cúi mặt lí nhí.  Không anh ạ.
- Thế mày với nó có ân oán từ trước à.
Thằng Thuận ngẩng lên. Không anh ạ. Em chả biết nó là ai.
Tay trực ban lắc đầu đẩy tập giấy là cái bút về phía thằng Thuận. Thôi mày viết tường trình đi. Thanh niên chúng mày bây giờ côn đồ quá. Chả lý do gì cũng đâm người ta.
Thằng Thuận cắn môi nó cầm cái bút rồi ngồi lặng đi. Nó không biết phải viết thế nào…
Thuận xấu giai, người gầy nhẳng, lùn tịt, mắt cận lòi. Đầu to quá khổ. Nhìn nghiêng mặt nó hao hao giống con cá chép trong tranh đông hồ. Thuận có ba bằng đại học, thông thạo hai ngoại ngữ và là chuyên viên thương mại với mức lương cao nhất cơ quan tôi. Thuận hiền lành ít nói và đặc biệt chưa bao giờ văng tục. Đến cơ quan là nó chăm chú vào việc và hầu như không nói chuyện với ai.
Ngoài 30 tuổi Thuận vẫn chưa có người yêu. Chúng tôi đoán già đoán non về khả năng lệch lạc giới tính của nó nhưng chả ai có bằng chứng gì cụ thể. Thuận thì cóc quan tâm, nó vẫn đều đặn sáng 8 giờ đến cơ quan và 5 giờ chiều thì về nhà cắm đầu vào máy tính. Nó nghiên cứu về tôn giáo. Âm nhạc và triết học và kinh tế. Thú vui duy nhất của nó là uống cà phê vào sang thứ bảy ở quán Cường hói ngã tư Bà Triệu và sau đó sang hiệu sách “Trang” bên cạnh để lùng mua những quyển sách mới ra.
Sáng thứ bảy hôm đó thằng Thuận ngồi nhâm nhi cốc đen đá ngoài vỉa hè ở cái quán quen thuộc. Bàn bên cạnh có ba cậu thanh niên cũng ngồi uống và tán chuyện rôm rả. Câu chuyện của ba chàng trai đó cứ vô tình lọt vào tai thằng Thuận.
Chàng trai ngồi giữa cao to trắng trẻo, có khuôn mặt đẹp như tây với mái tóc nhuộm vàng sành điệu có vẻ là thủ lĩnh. Chàng đang lớn tiếng dạy bảo hai thanh niên còn lại về cách lậu vé metro ở London, cách qua mặt gác dan ở siêu thị và cách moi tiền ông bà bô. Có vẻ họ là những thanh niên đang du học về nước nghỉ hè. Câu chuyện cứ tiếp diễn rôm rả và đi đến đề tài quen thuộc của các thanh niên chưa vợ: GÁI. Câu chuyện ngày càng sôi nổi với đề tài là những cô gái mà các chàng trai này chinh phục được…
Chúng mày ngu lắm! Chàng trai ngồi giữa lên giọng kẻ cả, việc đéo gì mà phải mất tiền cho gái. Cao thủ là phải ăn bánh lại được tiền… đéo tin hả tao chứng minh ngay đây. Chàng trai này rút điện thoại ra bấm bấm nhắn tin. Mươi phút sau một cô gái tới. Nàng có khuôn mặt đẹp thánh thiện với cái váy trắng muốt. Cặp mắt ngây thơ của nàng khiến Thuận ngây người ra nhìn. Chàng trai ngồi giữa nói với cô gái. Anh chiêu đãi mấy ông bạn nhưng quên mang tiền, em thanh toán giúp anh nhé. Cô gái cười nhẹ: Anh chúa đãng trí, bao nhiêu lần rồi hả… nói rồi cô đi vào quầy thanh toán. Lúc quay ra cô đưa cho chàng trai một xấp tiền và bảo: Em phải đi có chút việc, anh cầm lấy nè. Chàng trai lơ đãng đút tiền vào túi và tiếp tục mạch chuyện về xe ô tô mới mua của chàng. Khi cô gái vừa đi khỏi, lập tức đề tài cũ được quay lại.
Chúng mày thấy chưa, có cần tao gọi thêm vài con khác đến thanh toán không, DM, cao thủ là ở chỗ đó… DM.
Em này  hôm qua tao vừa dòng đi nhà nghỉ thử chiêu kéo cắt nem chua… há há… em chả biết đ..éo gì về KamaSutra... há há… Chả bù cho con Hương con Thúy… há há… tao quay cả clip đây này… xem đi…
Thằng Thuận thấy tự nhiên đau buốt nửa đầu, cơn tức giận ập tới làm nó ù tai. Những câu chuyện tục tĩu của các chàng trai bàn bên lọt vào tai nó bập bõm… Tao vật nó ra… hố hố, tao cứ thế giã… nó đưa tao chục củ mua điện thoại… ông bô nó giầu lắm…
Mắt thằng Thuận  mờ đi, cơn tức giận ở đâu ập đến làm mặt nó méo xệch, nó nhìn sang bàn bên cạnh, rồi ngoắc tay gọi phục vụ. Bằng cái giọng lạc đi vì kìm nén, cố gắng lắm nó mới diễn tả cho cô phục vụ hiểu là nó cần một cốc trà nóng, rất nóng và một chai bia Hà nội không mở nắp.
Thằng Thuận đứng dậy, cầm chai bia và cốc trà nóng sang bàn bên cạnh, nó từ tốn bước đến trước chàng trai có mái tóc nhuộm vàng. Cả hội vẫn xúm đầu xem clip trên chiếc Iphone. Thằng Thuận đổ cốc trà nóng vào giữa hai chân chàng thanh niên làm chàng này nhảy bật lên vì nóng. Nhằm đúng khuôn mặt đẹp trai như cầu thủ Ý của chàng trai nọ, Thuận vung tay quật thẳng chai bia vào đó. Chai bia vỡ tan tành. Cái cổ chai vẫn còn trên tay thằng thuận với những mảnh thủy tinh lởm chởm. Nó quay sang hai thanh niên còn lại đang đứng ngây ra vì sợ… nó đâm xối xả, mắt nó mờ đi, đầu nó đau buốt… nó cứ đâm lia lịa cho đến khi bị ai đó ôm chặt từ phía sau…
Tay trực ban quay lại, liếc nhìn tờ giấy trắng tinh rồi lắc đầu nhìn thằng Thuận nói nhỏ: tao vừa nói chuyện với mẹ mày, hóa ra mày có những ba bằng đại học, đéo biết trường mày dạy cái gì ………………………. cho mày ăn học đúng là phí cơm. Đồ vô học.

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Nguyên quán




Tôi đi trên lối mòn đống mả Đồng Bùi. Vệt cỏ ẹp xuống nát chết thành đường. Những vệt đi nhỏ ngoằn nghèo in bao dấu chân người đan dọc, ngang, chằng chịt khắp khu đống mả làng. Không biết bao nhiêu lần rồi, bước chân tôi đã đi ở vệt đường này. Nhắm mắt lại tôi cũng hình dung được chỗ tôi sắp bước đến. Tổ tiên tôi, cụ tôi, ông tôi, bà tôi, bố tôi, mẹ tôi, cô tôi, chú tôi, anh tôi, cháu tôi…nằm ở đó. Mộ Cụ Tổ Họ Phạm tôi, cạnh đó còn mờ mờ dấu gò bút, ao nghiên xưa, Những người thân của tôi khi rời cõi tạm này đều về yên nghỉ ở khu đống mả quê nhà. 

Quê, đấy là nguyên quán. Vâng, nguyên quán- cái gốc của mỗi một đời người, mỗi một số phận. Trời nắng quá. Nắng tháng Bẩy khiến nước bốc hơi kéo thành màng khói chắn xắt ngang tầm mắt. Ảo mờ như đúng với không gian đống mả. Tôi lần lượt thắp hương cho những người thân. Khói của nắng, khói của hương, khói của mồ hôi rịn nhẹp mắt tôi. Nguyên quán. Ôi cái gốc khốn khổ một đời.


Tôi lững thững rời bãi mả làng. Đến rìa làng tôi ngoái đầu nhìn lại một lượt. Những ngôi mộ nhấp nhô. Nguyên quán của tôi giờ gần gũi nhất là đây. Những con đường mòn ngoằn nghèo dọc ngang chằng chéo khắp đống mả. Ông cha tôi đã đi. Và tôi cũng đã mòn chân trên những con đường cỏ này. Bất chợt tôi nghĩ đến những bước chân con cái tôi sẽ lại tiếp tục đi trên con đường tôi đã bước. Không thể chọn. Tôi hình dung ra nơi tôi sẽ trở về một ngày nào đó không xa. Tôi đã 60 tuổi đời. Không nhiều lắm nhưng cũng đủ để dứt bỏ mọi thứ trên cõi tạm này một cách bình thản dù đó có thể là điều ép buộc.

Nguyên quán của tôi.







Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Con Công hay múa.

dây dợ lằng nhằng rối tung
Mấy ông cháu đọc đồng dao.

Con Công hay múa
Nó muá làm sao
Nó cụp cánh vào
Nó xòe cánh ra.

Phần múa phụ họa, các cháu yêu cầu:

Áo phải có dây xanh đỏ như TIVI cơ!
                
Ừ! sau này lớn đi mà tivi!

(Nghĩ bụng! Rõ đồ kệch cỡm, Ông không nói cháu.)

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Nói không với nhà.

(theo blog nuocdenchan)

nhà mướp
Ở xứ Tây ai làm nghề gì thì thì lấy danh từ nghề đó, cho thêm cái đuôi vào thành người hành nghề đó. Đơn giản vì họ không có cái của nợ nặng nề về đối nhân xử thế.

Ở xứ Đông chỉ những vị thành tài hoặc “có vẻ thành tài” trong những lĩnh vực hoặc rất truyền thống, hoặc được coi là danh giá, hoặc đáng thèm muốn, và phải có vẻ tự tại, thì mới được gọi là “nhà”.
          
To nhất thì có nhà vua.
Rồi có nhà văn, nhà thơ, nhà báo, hay nhà giáo, nhà thuốc, nhà họa sĩ, mà cũng có nhà buôn… nhà nông, không thấy nhà “công”.
Cũng gọi nhà nhạc sĩ, nhưng lại không gọi nhà hát, nhà guitar, nhà piano, nhà sáo, nhà bầu, nhà tì bà…
Không thấy gọi nhà bộ đội, nhà công an…
Không gọi nhà lái xe, nhà trông xe, nhà bán bia, nhà thiến gà thiến lợn…
Vợ chồng gọi nhau cho oai: nhà ơi.
   
¨¨¨¨
Chuyện cũ, có cô gái xinh đẹp đứng bên đường vẫy xe. Liền đó chiếc xe tải long xòng xọc đỗ lại ngay. Anh lái xe hồ hởi xuống mời cô gái lên cabine.
Cô cảm ơn rối rít, đoạn quay lại bụi cây gọi : “nhà ơi, xe đến”.
Anh lái bỏ ngay cô gái, trèo lại lên cabine.
- “Xin lỗi, xe này chở người, không chở nhà”.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

CUA RANG MUỐI

Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:

- Cua rang muối thật đó mẹ.
Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém:
- Còn răng đâu mà ăn?! 

 

  ST tặng con gái yêu.

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

(Sài Gòn) Chiện nhỏ!!!

Chợ Bến thành xưa
Những ai đã từng sống ở Sài Gòn chắc cũng từng quen thuộc với câu cửa miệng "chiện nhỏ" (phát âm đúng theo dzọng Sài Gòn là "chiện" chứ ko phải là "chuyện")

Đây là một bộ sưu tầm những chiện lặt vặt về người Sài Gòn, cách cư xử của người Sài Gòn. Những bác nào ko phải người Sài gòn thì đọc để hiểu thêm về người Sài gòn nhá (đề nghị ko flame vùng miền gì cả nhá)
Đoc để thấy cuộc sống vẫn còn nhiều đều tốt đẹp

Chuyện 1.
Đó là một con hẻm khá rộng rãi ở giữa nhưng hai đầu thì nhỏ xíu, chỉ chạy lọt chiếc xe máy, nối hai trục đường chính ở quận 3. Trong hẻm nhà cửa san sát, nhà mới xây cao 3~4 tầng cũng nhiều mà nhà cũ, mái tole gác gỗ cũng sin sít, nhiều nhà dùng phía trước để buôn bán nhỏ, bán đồ ăn hoặc tạp hóa, nhiều nhà mở tiệm gội đầu hoặc đặt biển công ty mà chẳng có nhân viên. Dân cư trong hẻm hầu hết đều biết nhau, cũng có một vài người mới dọn tới hoặc thuê nhà trong hẻm nhưng họ nhanh chóng làm quen với cư dân hẻm.
Bà chủ nhà trọ của tôi được gọi là cư dân lâu đời nhất của hẻm, hơn 60 năm. Bà là người cất nhà đầu tiên trên đất này. Bà kể, lúc bà vô Sài Gòn năm 16 tuổi, cả nhà bà đi trên một cái ghe. Lúc đó hẻm này, từ đầu đến cuối, là một con rạch rộng và sâu, bơi chừng vài chục sải mới sang bờ, tuy thông với nhiều rạch khác nhưng nước ở rạch này lại trong veo, đáy toàn cát. Bờ bên này, chỗ nhà trọ tôi ở, là một cái bến thuyền tấp nập suốt ngày đêm. Cha của bà đã dựng cái chòi đầu tiên trên bến, đúng chính chỗ căn nhà bây giờ, lúc đó ban đêm gió từ những con rạch thổi lồng lộng đến nỗi muốn cuốn bay mọi thứ.
Có nhiều sông rạch, nhiều đầm lác, nhiều rừng dừa nước đã biến mất, nhường chỗ cho phố xá và những con hẻm đầy nhà, đầy người, ở Sài Gòn.

Chuyện 2.
Ở một showroom sang trọng của một hãng xe hơi nổi tiếng mà giá của một chiếc xe nằm ngoài khả năng đếm của nhiều người, vào một buổi trưa trời nắng gắt bên ngoài nhưng bên trong vách kính thì mát lạnh. Anh nhân viên bán hàng mặc đồ vest với cà vạt và dày da bóng lộn đang ngồi xem tivi.
Có một cụ ông đi bộ ngoài đường mở cửa vào showroom. Trông ông có vẻ không được khá giả lắm, tuy cũng vận áo sơ mi ngắn tay cũ và một chiếc quần khaki ngả màu. Ông cụ bước vào, đảo mắt nhìn một lượt rồi chắp tay sau lưng đi đến những chiếc xe trưng bày và bắt đầu xem xét. Anh nhân viên bán hàng bật dậy đi theo cụ, anh đi nhẹ nhàng và tỏ vẻ lịch sự. Anh gọi cụ là ngoại. Ngoại ơi, ngoại à. Mỗi lần cụ dừng lại ở một chi tiết anh lại đề nghị được cho cụ xem rõ hơn, anh mở cửa trước, cửa sau, mở nắp capo để cho cụ xem. Khi cụ tỏ ý thắc mắc thì anh lại nhẹ nhàng giải thích với cụ, cụ già cứ gật gù lắng nghe nhưng có vẻ không hiểu mấy.
Đi chán cũng mỏi, anh bán hàng mời cụ già lại chỗ sofa có cái bàn kiếng sạch bóng và mời cụ dùng café, loại café đá pha sẵn thôi. Mãi sau cụ già nói với anh: qua thấy chỗ bán xe hơi này sang trọng quá, lại có máy lạnh nên qua vô xem chơi, chứ xe này cả dòng họ qua gom tiền lại cũng mua không nổi. Anh nhân viên vẫn rất lịch sự: dạ con biết, sẵn ngoại vô chơi thì con giới thiệu luôn để ngoại coi xe, đâu phải ai vô coi xe cũng mua đâu ngoại. Anh cười, coi bộ hiền khô.

Chuyện 3.
Một góc ngã tư giao lộ giữa hay con đường thuộc loại đông nhất nhì Sài Gòn, nơi thường xuyên bị kẹt xe, nhất là vào giờ cao điểm. Bên cảnh sát giao thông phân công hai anh sĩ quan đến trực ở ngã tư này để giải quyết nạn ùn tắc và xử phạt mấy phương tiên chạy ẩu, nhất là mấy chiếc xe hơi rẽ trái sai luật.
Hai anh sĩ quan này có lẽ thuộc loại vất vả nhất trong ngành vì thời gian của hai anh hầu hết đều phải đứng ngoài nắng ngoài mưa để phân luồng và điều chỉnh đèn tín hiệu, chỉ cần hai anh vắng bóng một lúc là cái ngã tư lại nùi nùi một mớ xe cộ.
Chỗ hai anh đứng có một cái tủ điện chìm, lúc nào cũng có nước uống. Sáng thì café, nắng lên thì trà đá, chiều thì có nước đá chanh… Mỗi khi uống hết nước thì anh sĩ quan trẻ hơn băng qua đường đem trả những cái ly cho một quán cóc gần đó. Quán cóc vỉa hè nhưng lúc nào cũng có khách ngồi.
Lát sau bà chủ quán lại bưng qua một món thức uống mới, đúng lúc tôi đứng gần đó. Anh sĩ quan lớn tuổi hơn quay qua nói, hình như cốt để cho tôi nghe: bà này bả cho tụi tôi uống nước miễn phí cả tháng nay, nói hoài mà hông chịu cầm tiền, mơi không uống nữa nghen bà. Bà già cười lớn, ha hả, mấy chú làm việc cực khổ, tui đãi miếng nước, chuyện nhỏ xíu mà, mấy chú uống cho tui dzui.

Chuyện 4.
Dạo này Sài Gòn trời nắng gắt, đi ngoài đường hay thấy mấy thùng ghi “trà đá miễn phí”, ai muốn uống thì uống, dân xe ôm, xích lô là khoái dữ lắm, ghé uống ừng ực rồi cứ vậy đi, không cần phải cảm ơn.
Một lần ông xe ôm chở tôi xin phép tấp vô lê uống ly trà đá, tôi mới biết là có trà đá miễn phí. Đó là thùng trà đá miễn phí tôi thấy đầu tiên, nó ở gần bệnh viện 115, mặc dù nó không có bảng ghi “miễn phí”, chỉ thấy một thùng trà đá để ngoài đường, ai qua lại nếu biết cứ tự động rót mà uống. Uống hết có người ra châm trà, châm nước, bỏ đá vô.
Tôi hỏi ông xe ôm, trà đá miễn phí kiểu vầy có nhiều không chú. Ổng nói cũng nhiều, tùy mình biết chỗ mà ghé uống, trời nắng vầy có ly trà đã cũng đã lắm chú. Tui không phải nghèo đến mức cần phải uống trà đá miễn phí, tui uống bị thấy khoái vậy thôi.

Chuyện 5.
“Bây giờ cầm tờ báo lên là rầu, hết muốn coi báo” - Câu này của một đại gia Sài Gòn. Đại gia này có lẽ đã về hưu, con cái đã thành đạt lấy vợ lấy chồng ở riêng hết. Đại gia này thường hay ngồi ở quán café cóc của bà già ở mẩu chuyện số 3. Sáng nào cũng có mặt, dù nắng hay mưa.
Sáng nào đại gia cũng mua báo, chắc chắn là có Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Công An, Pháp Luật… thỉnh thoảng mua tờ tạp chí hoặc nguyệt san. Đại gia chỉ mua báo của hai người, một con bé và một thằng bé quen, bữa đứa này bữa sau đứa kia. Hai đứa trẻ bán báo không bao giờ cạnh tranh nhau quyết liệt hoặc tỏ ra giành mối, chúng vui vẻ cùng phục vụ một vị khách hàng. Đại gia mua rất nhiều nhật báo nhưng lúc ra về chỉ đi tay không.
Sau này, khi có dịp ngồi ở quán café cóc đó suốt một buổi sáng tôi mới biết. Nếu hôm đó đại gia mua báo của thằng bé, sau khi đọc xong ông sẽ gấp tờ báo lại như cũ và đem cho con bé đi bán tiếp và ngược lại, nếu mua của con bé thì ông sẽ đem cho thằng bé để nó đi bán cho người khác, tiền thì ông vẫn trả đủ.

Chuyện 6.
“Cho nhiêu cũng được” – Câu này ai ở Sài Gòn chắc là biết, chắc thỉnh thoảng có nghe, nhất là khi đi taxi, xe ôm, xích lô… nếu là khách đi quen rồi hoặc quãng đường gần quá khó trả giá thì bác tài sẽ nói vậy: chú (cô) cho nhiêu cũng được. Nói vậy chứ ai đành lòng cho ít, ví như đúng ra bảy ngàn thì khách sẽ đưa mười ngàn cho chẵn tiền.
Đó cũng không hẳn vì ít tiền quá mà nói vậy, cũng có khi nhiều thứ giá trị hơn người bán cũng nói: cho nhiêu cũng được. ví dụ như chuyện có cô giáo nọ dạy văn ở một trường cấp hai, cô nổi tiếng là thương học trò như con. Mỗi buổi sáng cô hay đi chợ ở gần nhà để tiện việc cơm nước. Trong chợ có rất nhiều người biết cô là cô giáo, và họ thường gọi luôn là “cô giáo”. Nhiều khi cô giáo cũng khó xử với các bà, các chị trong chợ, họ cứ bỏ vô giỏ cô khi thì con cá, khi thì bó rau, khi thì ký thịt… khi cô đòi trả tiền thì họ không chịu lấy hoặc nói: cô giáo cho nhiêu cũng được.
Cho nhiêu cũng được

Chuyện 7.
Ông là thương binh, thương binh của chế độ cũ, ông bị thương gần ngày Sài Gòn giải phóng. Sau giải phóng ông làm nhiều nghề để sinh sống và để nuôi ba đứa con ăn học. Một lần nọ ông làm công việc bảo vệ ở một nhà hàng vào buổi tối, đó là một nhà hàng lớn và có rất nhiều nhân viên và thực chất công việc của ông là chuyên đắt xe cho khách đến ăn nhậu mà thôi. Chủ nhà hàng là một người đàn ông khá giả và cư xử rất được.
Một hôm có chuyện. Đêm khuya khi nhà hàng chuẩn bị đóng của và người chủ cũng chuẩn bị ra về thì có một nhóm người hung dữ cầm mã tấu xông vào nhà hàng truy sát người chủ. Người đàn ông tuy khá cao to và nhanh nhẹn nhưng khó có thể chống cự với bốn năm tên sát thủ chuyên nghiệp, tất cả mọi người bỏ chạy tán loạn. Ông thấy vậy không được nên đứng ra bảo vệ chủ mình, vừa đỡ đòn vừa dìu anh này bỏ chạy. Nhờ sự giúp sức của ông, nạn nhân đã thoát thân tuy cũng bị thương nhẹ, còn ông thì bị hai nhát chém nặng mà một nhát sau này đã làm ông không thể cử động cánh tay phải.
Người chủ mang ơn ông lắm dù ông nhiều lần nói “chú ơi, tôi làm công cho chú thì phải bảo vệ chú thôi, ơn nghĩa gì mà chú cứ nói hoài”. Và mặc dù ông đã nhiều lần từ chối nhưng người chủ nhà hàng vẫn mua cho ông một căn nhà nhỏ, chu cấp hằng tháng đủ nuôi cả gia đình ông và cho tiền ba đứa con ông ăn học.
Chuyện xảy ra đã lâu rồi. Hôm qua tôi ngồi trong ngân hàng, ngồi kế bên cậu con trai lớn của ông và được nghe câu chuyện này. Cậu nói: chú đó sắp đi Mỹ rồi nên bữa nay chú kêu con ra ngân hàng mở tài khoản để mai mốt chú chuyển tiền về.

Chuyện 8.
Chuyện này nghe một bạn sinh viên kể. Bạn nói trước nhà bạn nghèo lắm, mẹ bạn bán vé số ở Quận Tám và bạn cũng đi bán phụ mẹ. Nếu bạn học buổi sáng thì sẽ phụ mẹ bán buổi chiều và ngược lại, nhà chỉ có hai mẹ con.

Có một chú thợ hồ ở gần nhà, nói là gần nhà chứ thực ra là ở một cái chòi trong xóm hẻm sâu sát bờ kinh, chú này mỗi khi nhậu thường hay mua vé số của hai mẹ con cậu. Chú này mua không nhiều, mỗi lần chỉ mua hai vé, nhưng điều đáng nhớ là sau khi trả tiền hai vé thì chú sẽ cho lại cậu một vé, và lúc nào cũng căn dặn: nhớ giữ lại hen mầy, phải thì cùng đổi đời.
Và cậu đổi đời thiệt, một lần cặp vé số định mệnh đã trúng giải độc đắc. Người vợ của chú thợ hồ khi biết chồng mình trúng số độc đắc đã nổi lòng tham và muốn đòi lại tờ vé số mà chú đã cho cậu buổi chiều trước đó. Nhưng chú thợ hồ đã kiên quyết không đòi lại, chú còn dùng tiền trúng số đã cả xóm một bữa nhậu linh đình.
Có vốn, mẹ cậu không bán vé số nữa mà chuyển ra mở quán ăn sáng và cuộc sống của hai mẹ con đã khá hơn trước rất nhiều. Chỉ riêng chú thợ hồ thì vẫn ]làm thợ hồ, bây giờ chú mua vé số của người khác nhưng tật cũ vẫn không bỏ, mua hai vé và cho lại người bán một vé. Chú luôn dặn: nhớ giữ lại hen mầy, phải thì cùng đổi đời.

Chuyện 9.
Tôi đã xin ông chụp tấm hình này năm ngoái
Ông chạy xe ôm ở Quận 10 nhưng nhà ông thì ở tận ngã tư An Sương, vợ ông thì bán vé số nên ông thường đậu xe kế bên bà. Hai người mang cơm theo ăn buổi sáng và buổi trưa, buổi chiều thì trả vé về sớm rồi cùng ăn ở nhà.
Quê ông bà ở Cần Giuộc. Bữa nọ thấy có người trông dáng như ở quê lên, tới ghé cho ông bà hai con gà, một buồng chuối và một giỏ đệm đầy cá trê phi, con nào con nấy mập ú, vàng óng. Tôi tò mò hỏi: bà con dưới quê gửi lên hả chú? Ông cười, nói đúng ở quê gửi lên nhưng mà hông phải của bà con, thằng đó nó chiếm đất của tui đó chớ.
Nhà ông có nhiều anh em, cha ông có chia cho ông ba công ruộng ở quê. Ruộng đất phèn nên một năm chỉ trồng được một vụ mà lại có mùa trúng mùa thất nên ông bỏ đó lên Sài Gòn chạy xe ôm. Ruộng bỏ hoang lại nằm xa xóm nên không ai coi. Một lần ông về quê và phát hiện ruộng của mình có người chiếm mất. Đó là một gia đình nghèo, hai vợ chồng và bốn đứa con nheo nhóc, trước họ sống theo ghe nhưng cái ghe nát quá nên cả gia đình dắt nhau lên bờ kiếm đất hoang lập nghiệp, cũng bị đuổi cùng đường mới tới đây.
Mới đầu ông cũng làm căng, thưa lên xã rồi nhờ bà con tới đòi kịch liệt lắm, nhưng do đất nhà từ xưa không có giấy tờ, lúc chia cũng không lập di chúc nên khó nói lý. Rồi ông phát hiện bà vợ mình bị tiểu đường nặng nên thời gian của ông chủ yếu ở bên bà, ông không thiết đòi đất nữa. Một lần về quê đám giỗ ông đã ký giấy cho gia đình nghèo nọ ba công đất luôn.
Ông nói, mình cũng nghèo mà thấy tụi nó còn nghèo hơn. Mình già rồi, sống nay chết mai, thôi coi như làm phước cho tụi nó. Cũng được cái là vợ chồng nó cũng biết điều, nhận tía má luôn, đem lên cho đồ hoài, ăn hổng hết.