Hiển thị các bài đăng có nhãn Thái bình Quảng ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thái bình Quảng ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

Giới thiệu "Thái Bình Quảng Ký"



Giới thiệu "Thái Bình Quảng Ký"

Thái Bình Quảng Ký là một tuyển tập các truyện ngắn do vua Tống Thái Tông đầu nhà Tống bên Trung Hoa ra lệnh cho các triều thần thu thập các tác phẩn hầu hết là truyện ngắn trên từ đời Lưỡng Hán, dưới xuống tận đời Ngũ Đại- Tống sơ rồi tuyển chọn những gì đặc sắc nhất đưa vào. Bộ này gồm tất cả trên 6,000 truyện in thành 500 quyển - riêng mục lục chiếm mười quyển - bao gồm trên ba trăm vạn chữ.
Sách được sắp đặt không chia theo thời gian mà theo từng thể loại như thần tiên, dị nhân, danh tướng, nghĩa hiệp, rồng, hổ, hồ ly, thảo mộc vân vân, tổng cộng tất cả 99 loại. Các câu chuyện này được lấy từ 437 các tập chuyện khác nhau mà một số lớn nay đã thất truyền, chỉ còn lại di tích trong bộ Thái Bình Quảng Ký này. Tập này được khởi công vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 3 đời Tống Thái tông (Công Nguyên 978) và hoàn thành vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 6 (CN 981) nhân vậy mới lấy tên là Thái Bình Quảng Ký.
Sang đến thê kỷ thứ 20, bộ truyện này bắt đầu được phổ biến rộng rãi hơn trong dân gian khi vào những năm 1920, Lỗ Tấn rút những truyện ngắn thời Đường Tống và biên soạn lại với nhan đề "Đường Tống Truyền Kỳ tập". Sau đó sang thập niên 30, Uông Tịch Cương tiếp tục công việc của Lỗ Tấn cho xuất bản bộ "Đường Nhân Tiểu thuyết" gồm 2 quyển cũng lấy từ trong Thái Bình Quảng Ký. Phải đợi đến thập niên 80, cả Đài Loan và Trung quốc mới đưa ra những bản in mới đầy đủ toàn bộ tập Thái Bình Quảng Ký với các chú thích đầy đủ để giúp cho độc giả hiểu được rõ. Thái Bình Quảng Ký nhờ đó được phổ cập rộng rãi hơn trong giới độc giả. Tuyển tập Thái Bình Quảng Ký chúng tôi dịch và dẫn giải lại đây được rút từ các truyện nằm trong ấn bản "Thái Bình Quảng Ký" do nhà xuất bản "Tề Lỗ Thư Xã" xuất bản vào năm 1984 tại Sơn Đông, Vương Nhữ Đào bình chú.
Lê Mạnh Hùng

Bốn câu chuyện từ Thái Bình Quảng Ký


Bốn câu chuyện từ Thái Bình Quảng Ký

 1. Đức Ngôn kính sư
Thời Đường có một học giả tên là Tiêu Đức Ngôn. Mỗi khi học Ngũ Thư, ông luôn rửa tay, mặc quần áo trang trọng, và sau đó ngồi với tư thế rất nghiêm trang. Vợ ông hỏi:
“Ông không mệt khi đọc như thế này à?” Ông nói: “Chúng ta phải thể hiện lòng kính trọng với những bậc thầy đi trước. Làm sao chúng ta có thể phàn nàn mệt mỏi được chứ?”

2. Sở Kim và Việt Thạch tiến cử nhau
Vào thời Đường, có hai nho sinh là Trương Sở Kim và Việt Thạch ở cùng một khu vực đã cùng thi tuyển hương cống tiến sỹ. Sau kỳ thi, viên quan địa phương đã quyết định chọn Sở Kim, không chọn Việt Thạch. Sở Kim biết được và đã đi gặp vị quan. Anh nói: “Dựa trên tuổi tác, Việt Thạch lớn tuổi hơn tôi; nếu dựa trên khả năng, Việt Thạch giỏi hơn tôi. Vì thế tôi kính mong ngài đừng chọn tôi.”
Việt Thạch nghe điều này và đã kiên quyết từ chối vị trí của Sở Kim. Vào lúc đó, viên quan địa phương đứng đầu là Lý Tích. Ông đã nghe điều hai nho sinh nói và đã ca ngợi họ: “Mong muốn của những nho sinh bình thường là được chọn, nhưng hai nho sinh này lại có thể nhường cho nhau.” Cuối cùng, ông quyết định chọn cả hai làm Tiến sỹ.

Chấp Dị dùng tiền của mình giúp đỡ người khác
Hùng Chấp Dị đang trên đường đến kinh thành để tham gia kỳ thi của triều đình. Mùa thu năm đó ông đến Đồng Quan, và trời đổ mưa hơn một tháng. Ông không thể đi tiếp và phải ở tại một nhà trọ. Một ngày kia ông nghe tiếng thở dài liên tục của người đàn ông phòng kế bên. Hùng Chấp Dị liền đi ra để xem có gì không ổn.
Người đó nói: “Tôi tên Phiền Trạch, từng làm huyện lệnh ở huyện Nghiêu Sơn. Tôi đang đến kinh thành để tham dự kỳ thi của triều đình. Khi đến đây, ngựa của tôi bị chết và tiền cũng tiêu hết sạch. Tôi không cách nào đến được kinh thành”.
Hùng Chấp Dị đã không ngần ngại đưa ngựa và tất cả tiền bạc của mình cho Phiền Trạch. Ông đã không tham dự kỳ thi vào năm đó, nhưng Phiền Trạch đã đến kịp thời, tham dự kỳ thi và được đậu.
Hùng Chấp Dị được ca ngợi rằng:
“Tham gia khoa cử, mong được cống hiến
Thấy người gặp nạn, dốc hết túi tiền
Quên mình giúp người, xứng đáng ngợi khen
Thiên địa vô tư, tất được đáp đền”.


Lý Ước tận lực làm tròn lời hứa
Lý Ước là con trai của Khiên Công, làm chức quan Binh bộ viên ngoại. Ông có một trí tuệ rất xuất sắc. Một lần nọ ông ngồi thuyền chơi trên sông. Một thương nhân họ Hồ cũng đang đi cùng dòng với ông lúc đó.
Ông Hồ bị trở bệnh nặng và đã mời Lý Ước qua thuyền của mình. Ông đã phó thác hai cô con gái xinh đẹp cho Lý Ước. Ông cũng trao cho Lý Ước một viên minh châu và giao phó nhiều thứ cùng một lượng lớn tiền cho Lý Ước. Sau khi ông Hồ qua đời, Lý Ước đã giao hàng vạn quan tiền cho quan phủ. Ông cũng tìm những người chồng tốt cho hai cô con gái và sắp xếp hôn sự cho họ.
Lúc đó trước khi chết, ông Hồ đã nhờ Lý Ước đặt viên minh châu vào miệng của mình để mai táng. Không ai biết điều này. Sau này khi người nhà ông Hồ đến để thanh lý tài sản của ông, họ đã nhờ quan phủ mở quan tài và thấy rằng viên dạ minh châu vẫn còn ở đó. Việc Lý Ước đã giúp đỡ nhiều người như vậy, còn có rất nhiều việc mà người khác không biết.
Đức hạnh của Lý Ước được ca ngợi là:
“Nhận lời ủy thác, tận lực thi hành
Tìm chồng cho con, nghĩa trọng tài khinh
Làm tròn lời hứa, nêu cao đức hạnh
Đạo đức sáng ngời, hơn cả minh châu”.

Bạch Thủy tố nữ


Bạch Thủy tố nữ
Lê Mạnh Hùng dịch
Dẫn Nhập:
Truyện này phát xuất từ "Tục Sưu Thần Ký" tục truyền do Đào Tiềm đời Tấn soạn. Đào Tiềm, tự Uyên Minh là một danh gia đời Tấn nổi tiếng với những bài từ như bài "Quy Khứ lai Từ".Tuy nhiên ít người biết đến ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn khác. Truyện này tuy không được nổi tiếng như một truyện khác trong bộ, "Đào Hoa Nguyên Ký" nói đến hai chàng Lưu Thần Nguyễn Triệu đi vào Thiên Thai gặp tiên, nhưng có thể nói đây là một truyện đầu tiên thu thập cổ tích dân gian tạo thành. Thái Bình Quảng Ký sắp chuyện này vào "Nữ Tiên" loại.

Tạ Đoan, người Tấn An huyện Hầu Quan, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhờ hàng xóm láng giềng nuôi dưỡng. Đến năm mười bảy mười tám, cung cần tự thủ, không làm chuyện gì phi pháp. Mười tám, bắt đầu ra ở riêng, chưa có vợ. Trong làng ai cũng thương muốn kiếm vợ cho chàng, nhưng chưa kiếm được ai. Đoan thức khuya dậy sớm, cầy bừa tự lực bất kể ngày đêm. Một hôm, Đoan đi chơi huyện, kiếm được dưới chân huyện thành một con ốc lớn, to như một cái thùng gạo chứa được ba thăng. Đoan lấy làm lạ, coi như là vật quý bèn bắt mang về bỏ vào bồn nước nuôi dưỡng. Khoảng mười ngày sau, Tạ Đoan mỗi lần ra đồng về đều thấy trong nhà cơm canh bếp lửa có sẵn như có người đến làm cho vậy. Đoan tự nhủ chắc rằng hàng xóm thương hại đến làm giúp cho thành cũng không để ý gì.
Nhưng rồi ngày nào cũng vẫn thế, Đoan bèn chạy sang các nhà hàng xóm tạ ơn. Hàng xóm nhà nào cũng nói:
- Chúng tôi trước nay đâu có làm gì đâu.
Đoan cho rằng họ tử tế không muốn kể ơn nên cũng không gạn hỏi gì thêm. Nhưng rồi mọi chuyện cứ tiếp tục như vậy, chàng bèn đem tình thật ra hỏi. Hàng xóm bèn cười nói:
- Cậu đã tự lấy vợ, bí mật dấu ở nhà lại còn hỏi chúng tôi làm chi?
Sau một hôm Đoan ra khỏi nhà từ lúc gà gáy sáng, đến bình minh lén quay trở về. Đứng ngoài phên nhìn vào thấy một thiếu nữ từ trong bồn nước đi ra đến bếp nổi lửa. Đoan lập tức bước vào, đến bồn nước nhìn vào thì thấy con ốc chỉ còn vỏ. Đi vào bếp hỏi cô gái:
- Nàng từ đâu đến mà đến đây giúp ta nổi lửa?
Cô gái bối rối sợ hãi muốn chạy trở lại bồn nhưng bị chặn, bèn đứng lại trả lời:
- Ta là Bạch Thủy tố nữ ở trên thiên hán, thiên đế thương chàng mồ côi từ nhỏ mà biết cung cần tự thủ nên sai ta quyền tạm xuống giúp chàng coi sóc nhà cửa thổi cơm làm bếp. Trong vòng mười năm, khiến chàng giầu có lấy được vợ rồi sẽ trở về. Nay chàng vô cố đã nhìn được thấy ta; hình tích ta đã bị lộ, Ta không còn ở lại được nữa. Tuy nhiên ta đi rồi, cuộc sống của chàng cũng sẽ không khốn khó bao nhiêu. Hãy cố gắng cầy bừa, đánh cá hái lượm. Để lại cái vỏ ốc này hãy chứa thóc gạo thường không bị thiếu thốn.
Đoan năn nỉ giữ cô gái lại, nhưng cuối cùng cũng không được. Chốc lát trời bỗng nhiên mưa gió âm ầm, cô gái chỉ trong cân khắc không còn trông thấy nữa. Đoan lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế. Từ đó đời sống trong nhà lúc nào cũng no đủ tuy không đến nỗi đại phú. Thấy chàng như vậy có ngưòi trong làng gả con gái cho. Sau Đoan ra làm quan đến chức Trường Vân lệnh. Hiện nay đạo giáo nói đến Tố Nữ chính là cô gái đó.

Bùi Kham





 Bùi Kham
 Dẫn nhập: 
Truyện này cũng rút ra từ "Tục Huyền Quái Lục"
Bùi Kham, Vương Kính Bá, Lương Phương hẹn với nhau kết làm phương ngoại chi hữu, cùng bỏ thế gian đi vào thâm sơn tu đạo. Năm Đại Nghiệp nhà Tùy, cả ba đi vào núi Bạch Lộc Sơn tu, cho rằng có thể chuyển hóa chì thành ra vàng bạc, tiên dược trường sơn có thể luyện thành, cưỡi mây theo gió, không có chuyện gì mà con người dụng công cầu học mà lại làm không được. Họ cứ chăm chỉ hái thuốc, chịu đói chịu rét, chân tay đến như mọc vẩy cứ thế đến khoảng mười năm.
Rồi Lương Phương chết. Kính Bá nói với Bùi Kham:
- Ta sở dĩ bỏ nhà bỏ nước ra đi. Tai không nghe đến tiếng nhạc, miệng không nếm thịt béo, mắt không nhìn tới sắc đẹp; rời bỏ nhà cao cửa rộng để đổi lấy căn nhà tranh; khinh hoan lạc mà yêu tịch mịch; đó chẳng qua là vì muốn cưỡi hạc bay trên mây, đi chơi ở Bồng Đảo? Giả như chuyện đó không thành thì cũng hy vọng được trường sinh, sống lâu cùng trời đất. Nay bể tiên không thấy bờ bến, trường sinh chưa đạt được, có khổ cực cần cù nơi núi mây chăng nữa cũng không tránh khỏi chết. Nay Kính Bá này chỉ muốn hạ sơn, cưỡi ngựa béo, mặc áo nhẹ, vui tiếng ca hay ngắm gái đẹp, đi chơi ở vùng Kinh Lạc, sau đó tìm cách kiếm công lập nghiệp làm sao vinh diệu nơi chốn nhân hòan. Đã không được vân du nơi chốn Tam Sơn, uống rượu ở Giao Trì áo ráng, cưỡi rồng, ca loan, vũ phượng làm bạn với tiên quan thì phải mặc áo tía, đeo đai vàng, hình treo trên gác Lăng Yên cùng với đám khanh đại phu đồng hàng mới được. Bác có cùng tôi quay về không? Chẳng lẽ lại để chết uổng nơi chốn thâm sơn sao?
Kham trả lời:
- Tôi nay đã tỉnh mộng rồi, không muốn trở lại bến mê nữa.
 Hôm sau Kính Bá trở về, Kham cố giữ lại mà không được.
Lúc đó là khoảng những năm đầu thời Trinh Quán đời Đường. Kính Bá nhân lấy danh tịch cũ, được phong làm Tả Vũ Vệ Kỵ Tào Tham quân rồi được đại tướng quân Triệu Quất gả con gái làm vợ. Sau vài năm, thăng Đại Lý Đình Bình, mặc áo đỏ. Được lệnh hoàng đế đi sứ Hoài Nam. Thuyền đi quá Cao Khâu. Sứ của hoàng đế một khi đi ra, thị vệ hò hét, các thuyền bè khác nào dám cử động. Lúc đó trời đang mưa phùn bỗng có một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đột nhiên vượt qua, trong thuyền có một lão nhân, quần áo lam lũ, đội chiếc nón rách không buồm chỉ dùng mái chèo mà thuyền đi như bay. Kính Bá tự cho rằng mình là chế sứ, uy động xa gần làm sao lão đánh cá kia dám đột ngột vượt qua, bèn ra nhìn. Thấy ngư phủ kia chính là Bùi Kham. Bèn ra lệnh đuổi theo, mời buộc thuyền lại thỉnh vào trong thuyền mình ngồi nói chuyện. 
Nhân nắm tay Kham nói:
- Huynh sống ở thâm sơn bao lâu, khí bỏ danh tiếng cùng hoạn lộ, thế mà không thành tựu để đến thế này sao? Ôi gió không thể buộc được, bóng không thể bắt được. Cổ nhân tiếc đêm dài vẫn thường đốt đuốc đi chơi. Huống tuổi trẻ mình lại có thể bỏ phí đi được sao? Kính Bá từ ngày rời núi ra đi mới có mấy năm nay đã làm đến chức Đình Uý Bình Sự. Hôm qua vừa phán việc hình ngục đó cũng là trời cho và cũng là số mệnh vậy. Những nghi án tại Hoài Nam, nay được gởi lên hữu ty, chúa thượng sai quan sáng suốt đến khảo sát, Kính Bá được cho đi trước nên mới có chuyến đi này. Tuy chưa có thể nói là được quan cao, nhưng so với các ông già nhà quê có thể nói là hơn nhiều. Huynh chịu lao khổ mà nay cũng vẫn như ngày trước. Thực kỳ lạ thay! Nay huynh có cần những gì cứ cho biết sẽ được cung cấp. 
Kham trả lời:
- Tôi vốn là con người thôn dã, chí ở vân hạc đâu có thể vì một con chuột hôi mà "oé" lên. Tôi chìm bác nổi, chim cá mỗi người một loại, hà tất phải khoe khoang phú quý nói chuyện huyền hư. Này thì những gì nhân thế thèm muốn, tôi để tặng bác. Bác việc gì phải tặng tôi. Tôi vẫn còn đánh bạn trong núi, thường vẫn bán thuốc ngoài Quảng Lăng. Tại đó tôi cũng có chốn nghỉ chân. Nhà tranh ở phía đông cầu, có một khu vườn anh đào nhỏ. Vườn ở phía bắc cửa đông tức là nhà tôi đó. Nếu bác công sự có chút nào rảnh xin tìm tôi nơi đó.
Nói xong từ biệt ra đi. Kính Bá đến Quảng Lăng. Sau mười ngày, việc công bắt đầu bớt, chợt nhớ đến những lời của Bùi Kham bèn đi tìm. Đến cửa Đông hỏi thăm quả được chỉ nhà Kham. Khi được dẫn vào nhà, đầu tiên thấy còn hoang lương, nhưng càng đi sâu càng đẹp. Đi được khoảng trăm bước đến một cánh cửa lớn, bên trong lâu các trùng điệp, hoa cỏ xanh tươi trông như tiên cảnh chứ không phải là nhân thế vậy. Cây cỏ tốt tươi, cảnh sắc hấp dẫn không thể tả nổi. Gió nhẹ thổi mùi thơm ngào ngạt khiến cho thần trí sảng khoái phiêu nhiên như khiến người ta có cảm giác biến thành thần tiên; làm quên đi thân phận quan chức của mình; coi tấm thân mình như một con chuột hôi; coi hoạn đồ như một bầy kiến. Hồi sau, nghe kiếm bội leng keng rồi có hai đứa thanh y bước ra nói:
- Bùi lang tới. 
Lát sau thấy một người, y quan tráng lệ, dung mạo uy nghi bước tới. Kính Bá tiến lên vái chào, nhìn kỹ lại thấy quả là Kham. Bùi nói:
- Kẻ sỹ hoạn ở dưới hạ giới, ăn những đồ trọc vị lâu ngày, lửa sầu lửa dục thiêu cháy trong tim, phải mang theo hoài thành ra hình hài mới lao khổ như vậy.
Rồi mời Vương vào nhà, ngồi chơi nơi trung đường. Nơi đây, cửa ngõ rường cột đều được trang sức bằng những đồ quý hiếm thấy, bình phong, màn trướng đều vẽ hình vân hạc. Lúc sau, có bốn đứa thanh y mang một cái mâm bằng bích ngọc tới, các đồ khí vật đều là của quý lạ, không phải là nơi trần thế có được, hương vị thơm ngát, mắt chưa từng thấy.
Đến lúc trời tối, Kham ra lệnh kéo chiếu lại gần nhau, thắp đèn cửu quang, ánh sáng chiếu lòa khắp nhà. Một đoàn nữ nhạc hai chục người, ai nấy đều là tuyệt đại giai nhân đứng bầy trước mặt. Bùi Kham nhìn đứa tiểu đồng bảo:
- Vương bình sự là bạn cũ của ta thời trong núi, nhưng lòng đạo không vững, bỏ ta xuống núi. Cách biệt đã gần mười năm, nay làm đình úy, tục tâm chắc đã thành nghe tiên nhạc chắc không thưởng thức, nên kiếm kỹ nữ dưới trần để làm vui. Nhưng đám con nhà ca kỹ không đáng được triệu, hãy tìm con gái nhà sỹ đại phu người nào có chồng rồi hãy mời tới. Nếu gần đây không có thì trong vòng năm ngàn dậm cũng có thể triệu mời.
Tiểu đồng dạ dạ rồi đi. Đám kỹ nhạc bắt đầu thử điệu các cây đàn tranh bằng bích ngọc. Điệu chưa đều thì tiểu đồng đã về tới, dẫn theo một người đàn bà từ sân phía tây đi lên đến bái lạy trước chiếu của Bùi. Bùi chỉ sang bên nói:
- Hãy tham bái bình sự.
Kính Bá vái chào lại, nhìn ra người đàn bà đó chính là vợ mình, Triệu thị. Kính Bá kinh hãi không dám nói. Vợ cũng sợ hãi chăm chú nhìn chồng không nghỉ. Bùi Kham ra lệnh cho Triệu thị ngồi ngay dưới thềm ngọc. Một ả thanh y mang một cây đàn tranh bằng đồi mồi đến trao cho Triệu thị; đây chính là ngón sở trường của Triệu rồi ra lệnh cùng đám tiên kỹ hòa tấu để tống tửu. Kính Bá ngồi trên, nhân lén lấy một trái táo mầu đỏ tươi ném cho Triệu. Triệu nhìn Kính Bá rồi lén cất vào trong đai áo. Những khúc nhạc mà bầy kỹ nữ tấu, Triệu không làm sao hòa được theo, Bùi bèn ra lệnh hãy theo Triệu mà đàn lâu lâu lại dừng lại để Triệu độc tấu. Tuy rằng khúc điệu không bằng tiên nhạc danh khúc, nhưng âm điệu uyển chuyển, tân chủ hai bên trong lúc tấu nhạc uống rượu đàm luận cực kỳ hoan hỷ. Trời gần sáng, Bùi triệu tiểu đồng nói:
- Hãy tiễn Triệu phu nhân về.
Rồi nói với Triệu:
- Nơi đây chính là Cửu Thiên Miếu đường, thường nhân không đến được. Ta trước với họ Vương này là bạn nơi thế ngoại; thương vì bị thế tục mê hoặc tự gieo mình vào chốn nước sôi lửa phỏng, lấy trí tự thiêu, lấy sáng tự tặc, trôi nổi trong bể khổ sinh tử mong đến bờ không được nên mời đến đây để làm cho cảnh tỉnh. Hôm nay gặp gỡ khó lòng gặp lại. Phu nhân cũng có túc mệnh mới có thể tạm du đến đây. Mây núi vạn trùng đi lại lao khổ. Xin đừng từ tạ.
Triệu bái lạy rồi đi. Bùi quay sang nói với Kính Bá:
- Bình sự công dừng xe tại đây một đêm không biết có khiến cho quận thú lo lắng không. Bác nên trở về quán dịch. Trước khi hồi triều, nếu có nhàn rỗi có thể tìm ta. Đường trần xa xôi đầy loại ưu sầu bức bách, xin nỗ lực tự ái.
Kính Bá bái tạ ra về. Năm ngày sau trở lại lẳng lặng tìm kiếm thấy chỗ hôm trước nào đâu có nhà cửa, chỉ là một khoảng đất hoang lương toàn là sưong mù cỏ dại. Kính Bá trù trướng quay về.
Đến lúc về đến kinh sư, sau khi nhập triều tấu sự song trở về nhà riêng, anh em Triệu thị giận dữ đến trách:
- Con gái dù có trở thành bỉ tiện, không đáng phụng sự quân tử, nhưng đã có hậu lễ, trên đã phụng sự tiên tổ, dưới đã sinh con kế thừa đâu có phải cẩu hợp mà thành. Thế mà sao lại dùng yêu thuật bắt đi đến ngoài vạn dậm để làm mua vui cho kẻ khác. Trái táo đỏ hãy còn đây, đủ để làm tin. Ngươi lấy gì để giải thích đây?
Kính Bá cuối cùng chen được vào trả lời:
- Vào lúc đó Kính Bá cũng tự không biết ra sao. Đó là vì Bùi đã thành đạo dùng thuật để lộng huyền hư vậy.
Vợ cũng nhớ những lời Bùi nói thành ra họ Triệu không còn trách cứ nữa.
Ôi! Thần tiên biến hóa như vậy hay sao? Mang cái ảo thuật ra để hý lộng người ta như vậy sao? Đó là điều mà con người trí tuệ thông thường không thể hiểu nổi. Tuy nhiên chim sẻ biến thành ễnh ương, chim trĩ biến thành sò, người hóa hổ, cỏ mục sinh đom đóm, bọ ngựa thành ve sầu. cá côn hoá chim bằng, vạn vật biến hóa, sách vở vẫn còn truyền lại, không thể lấy trí tuệ của mình mà lý giải, huống hồ những truyện ngoài tai nghe mắt thấy sao?
Lê Mạnh Hùng dịch

Tạ Tiểu Nga Truyện


Tạ Tiểu Nga Truyện

Tiểu Nga họ Tạ, người quận Dự Chương, là con gái một thương gia buôn bán đường biển. Năm nàng lên tám tuổi thì người mẹ qua đời. Sau đấy, nàng được gả cho một hào khách tên là Đoàn Cư Trinh, tính bất khuất, ưa chuộng nhân nghĩa, và thường giao du đi lại với những bậc hiệp sĩ  tuấn kiệt. 
Thân phụ Tiểu Nga tích lũy được một sản nghiệp rất lớn, nhưng lại mai danh ẩn tích, sống lẫn lộn trong giới thương mại, thường đi buôn chung thuyền với người con rể họ Đoàn, vãng lai trên chốn giang hồ. 
Năm Tiểu Nga mười bốn tuổi, vừa tuổi cập kê, thì cả cha nàng lẫn chồng nàng đều bị bọn cường đạo sát hại. Bao nhiêu tiền bạc, lụa là đều bị chúng lấy sạch. Còn  mấy người anh em của Đoàn và các đồ đệ của cha nàng cùng vài người gia nhân bộc dịch mấy chục người, tất cả đều bị cướp ném xuống sông chết hết. Riêng Tiểu Nga bị thương ở bụng và chân bị gẫy, trôi dạt trên dòng nước, được một chủ thuyền khác vớt, sau một đêm thì sống lại, rồi lưu lãng đi ăn xin, luân lạc đến huyện Thượng Nguyên, ở đậu trong Diệu Quả Tự của ni cô Tĩnh Ngộ. 
Trước đấy, sau khi cha nàng chết ít lâu, Tiểu Nga nằm mơ thấy ông hiện về nói với nàng rằng :
- Người giết ta là  " Xa Trung Hầu, môn đông thảo ". 
Vài ngày sau Tiểu Nga lại thấy người chồng hiện về báo cho biết :
- Kẻ giết ta là " Hòa Trung Tẩu, nhất nhật phu ". 
Tiểu Nga không thể tự giải đáp nổi những mê ngữ trên, thường viết vào giấy, cầm đi khắp mọi nơi, tìm những người tài học uyên bác cắt nghĩa hộ. Nhưng suốt một năm trời, chẳng một ai có thể giải thích được cho nàng. 
Đến mùa xuân năm Nguyên Hòa thứ tám, ta từ quan ở Giang Tây, thuê thuyền đông hạ, đình lưu ở Kiến Nghiệp, lên du ngoạn Ngõa Quan Tự Các. Nơi đây, có vị sư là Tề Vật, trọng hiền, hiếu học, với ta vốn đi lại thân thiện, nhân thế mới bảo ta rằng :
- Có người góa phụ tên là Tiểu Nga, mỗi khi lên chùa, thường đưa cho tôi xem hai câu mê ngữ, có mười hai chữ, nhờ giải thích, nhưng tôi không luận ra được. 
Ta nghe nói thế, bèn yêu cầu nhà sư viết mấy câu mê ngữ ấy lên giấy, rồi ra dựa lan can, viết vào không trung, trầm tư mặc lự suy xét. Một lúc sau, thì tìm ra được ý tứ của những câu mê ngữ ấy. Ta bèn sai một tiểu tăng chạy gấp đi mời Tiểu Nga đến để hỏi cho rõ ngọn ngành. 
Tiểu Nga khóc lóc nghẹn ngào hồi lâu rồi mới nói :
- Cha thiếp và chồng thiếp bị đạo tặc sát hại, sau đó thì báo mộng cho thiếp biết bằng những câu mê ngữ  " Kẻ giết ta là Xa Trung Hầu, môn đông thảo " và " Kẻ giết ta là Hòa Trung Tẩu, nhất nhật phu", đến nay đã hơn một năm rồi  mà chưa có ai giải đáp được. 
Ta bèn trả lời nàng :
- Nếu quả như thế thì ta biết được ngay. Kẻ giết cha nàng là Thân Lan, còn kẻ giết chồng nàng là Thân Xuân. Bởi vì chữ chữ "Xa " bỏ đi một nét trên và một nét dưới là chữ "Thân ". Lại nhân chữ "Thân" thuộc "Hầu" cho nên mới đọc là "Xa Trung Hầu". Còn bên dưới chữ "Thảo " mà có chữ  "môn ", và bên trong chữ "môn " lại có chữ "đông " nữa, tức là chữ "lan ". Nhân thế mà đọc thành "Môn Đông Thảo". Ba chữ "Hoà Trung Tẩu 禾中走" có nghiã là "đi qua ruộng", thì rõ ràng là chữ "Thân " rồi. "Nhất nhật phu", là chỉ chữ "phu " có thêm chữ  "nhất " ở trên và chữ "nhật" ở dưới, tức là chữ "xuân" vậy. Thế là rõ ràng lắm rồi. 
Tiểu Nga nghe ta giải thích xong, kính cẩn vái ta hai vái, rồi xúc động khóc rống lên, viết bốn chữ "Thân Lan, Thân Xuân", cất vào trong bụng, thề tìm cho được hai tên hung thủ ấy để giết, trả thù cho cha cho chồng nàng. 
Rồi đó, nàng hỏi tính danh, quan chức của ta, nước mắt đẫm đìa, từ giã ra đi. 
Từ đấy, Tiểu Nga cải dạng nam trang, ở thuê làm mướn, lăn lộn trong chốn giang hồ. 
Hơn một năm sau, nàng đến quận Tầm Dương. Thấy trước cửa trúc của một ngôi nhà dán giấy cần mướn người làm công. Nàng bèn đến gõ cửa xin làm. Hỏi đến gia chủ, té ra là Thân Lan. Hắn đưa nàng về nhà. 
Tiểu Nga trong lòng đầy phẫn hận căm tức, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra thuận tòng, nên trong đám gia nhân nô bộc, nàng được Thân Lan rất mực yêu quý. Kim ngân, gấm đoạn xuất nhập, đều uỷ thác ở tay nàng. Hơn hai năm trời thấm thoắt trôi qua, chẳng một ai trong nhà Thân Lan biết nàng là gái giả trai. Những kim ngân châu báu, lụa là gấm vóc, y vật khí cụ của gia đình Tiểu Nga bị cướp đoạt trước kia, nay đều chất chứa trong nhà Thân Lan cả. Mỗi khi nàng cầm đến cựu vật, lòng không khỏi đau xót, nhỏ lệ khóc thầm. 
Thân Lan với Thân Xuân là hai anh em đồng tộc. Nhà của Thân Xuân ở Độc Thụ Phố, phía bắc sông Trường Giang. Bọn chúng qua lại với nhau rất  là mật thiết, thường rủ nhau ra đi đánh cướp vài ba tháng mới về nhà một lần, mang theo kim ngân vải vóc cướp được. Mỗi lần ra đi như thế, chúng đều giao việc nhà cho Tiểu Nga và vợ Thân Lan là Lan thị trông nom. Rượu thịt áo cơm, nàng được chúng cung cấp rất là hậu hỹ đầy đủ.
Một hôm, Tiểu Nga thấy Thân Xuân sách một con cá chép đến nhà Thân Lan để đánh chén, nàng nhủ thầm trong bụng :"Sự nhận xét và phán đoán của Lý tiên sinh rất thâm sâu, lại rất phù hợp với lời trong mộng. Đây đúng là ý trời khải thị cho ông biết để mình thực hiện nguyện vọng báo thù tuyết hận. 
Tối hôm ấy, Thân Lan và Thân Xuân cùng bọn cướp tụ họp mở đại yến, ăn uống say sưa. Đến khi bọn cướp vừa rời khỏi tiệc rượu ra về, Thân Xuân đã say mèm, vào ngủ trong nội thất, còn Thân Lan nằm ngủ ngoài đình viện, Tiểu Nga bèn rón rén đến khoá cửa nội thất, nhốt Thân Xuân lại, rồi trở  ra rút đao chém đứt đầu Thân Lan. Sau đấy, nàng mói hô hoán gọi lân cư lối xóm đến. 
Thân Lan đã chết, Thân Xuân bị bắt, những hoá vật của bọn chúng cướp bóc được bị tịch thâu, số lượng lên đến hàng ngàn. Khi mới đến, Tiểu Nga đã âm thầm ghi nhớ danh tánh mấy chục tên đồng đảng của bọn chúng, nay đều bị đem ra pháp trường hành quyết. 
Bấy giờ, quan thái thú Tầm Dương là Trương Công, rất khâm phục tiết tháo và hành vi của Tiểu Nga nên lập biển ghi sự tích của nàng để biểu dương, nhân thế mà thoát tội chết. 
Việc đó xẩy ra vào mùa hạ tháng mười hai năm Nguyên Hòa, đời vua Đường Hiến Tông. 
Sau khi trả được thù cha thù chồng, Tiểu Nga trở về quê nhà, gặp lại họ hàng thân thích. Những gia đình hào môn phú quý ở trong làng tranh nhau đến cầu hôn, nhưng nàng kiên tâm từ chối, quyết  không lấy chồng nữa. Rồi đó cắt tóc, ăn mặc quần áo thô sơ đơn giản, tìm đến núi Ngưu Đầu Sơn, bái một vị ni cô cao tuổi và tinh thông giới luật làm sư phụ. 
Nàng dốc chí một lòng khắc khổ tu hành, tân khổ lao tác, không quản tuyết sương mệt nhọc. 
Đến tháng tư năm Nguyên Hoà thứ mười ba, nàng được tiếp thụ "cụ giới" ở Tứ Châu, tại Khai Nguyên Tự, và lấy pháp hiệu là Tiểu Nga để khỏi quên nguồn gốc. . 
Cũng vào mùa hè năm ấy, ta bắt đầu trở về Trường An, đường qua Tứ Thuỷ, ghé vào thăm vị Đại Đức Ni Cô ở chùa Thiện Nghĩa, thấy mấy chục ni cô mới được thụ giới, đầu trọc bóng, khoác áo cà sa, dung mạo trang trọng, cử chỉ đoan chính, tề chỉnh thành hàng ở hai bên tả hữu của vị Đại Đức Ni Cô. Một cô trong số đó hỏi với thầy rằng :
-Thưa thầy, chẳng hay vị đại quan kia có phải là Lý phán quan Nhị Thập Tam Lang ở Hồng Châu đó chăng?
Đại Đức Ni Cô đáp :
-Đúng đấy !
Người ni cô ấy lại nói :
-Giúp con báo cừu tuyết hận, tẩy sạch nỗi oan cho cha và chồng con, chính là nhờ ơn đức của Lý phán quan đấy. 
Rồi đó, nhìn ta mà khóc rống lên. Ta chưa kịp nhận ra nàng là ai, mới hỏi nàng vì sao mà khóc, thì nàng thưa :
-Thiếp tên là Tiểu Nga, khi trước từng là góa phụ ăn mày, lúc đó may nhờ có tướng công mới tìm được danh tánh của hai tên đạo tặc, tướng công không nhận ra thiếp sao ?
Ta đáp :
- Thoạt đầu thì không nhớ ra, nay thì nhận ra rồi !
Tiểu Nga vừa khóc vừa thuật lại cho ta nghe những nỗi gian khổ, cực nhọc mà nàng đã trải qua, để cuối cùng hoàn thành chí nguyện, báo được thù cho cha cho chồng. 
Nàng nói tiếp :
- Thiếp mong có dịp sẽ trả ơn tướng quân !
Việc nàng Tiểu Nga nếm đủ mùi cay đắng gian lao để báo thù cha, thù chồng, đâu phải là việc làm uổng công vô ích sao ?
Ta hồ ! Ta có thể tìm ra được tính danh của hai tên đạo tặc, giúp Tiểu Nga rửa mối oan cừu Thần đạo thật linh thay, hiển nhiên rõ ràng lắm vậy !
Tiểu Nga là người tướng mạo đôn hậu, nói năng thâm thúy, lại thông minh mẫn tuệ, khổ tâm tu hành, dốc lòng đi tìm Chân Như, tự nguyện gia nhập Phật giáo, không lụa là gấm vóc, không cao lương mỹ vị, chỉ nói những điều hợp với giới luật mà thôi. 
Sau đó mấy ngày, Tiểu Nga từ biệt ta, trở về Ngưu Đầu Sơn, dùng thuyền qua sông Hoài Thuỷ, mạn du các vùng đất miền nam. Và từ đấy, ta không gặp lại nàng nữa. 
Bậc quân tử nói rằng :" Quyết chí báo thù cho cha, cho chồng, đó là tiết. Lăn lộn trong giới làm thuê làm mướn, mà không ai biết là gái, thế là trinh. Người đàn bà giữ được toàn vẹn cả trinh lẫn tiết mới thực đáng là người thục nữ. Việc làm của nàng Tiểu Nga, há chẳng đủ cảnh tỉnh những kẻ vô đạo đức, vi phạm luân thường, nêu gương tiết tháo cho những người đàn bà trung trinh hiếu thuận ở đời du ?
Ta sở dĩ cặn kẽ thuật lại câu truyện trên đây, giải thích những câu mê ngữ cho phù hợp với những lời thác trong mộng của quỷ thần, đó cũng là phù hợp với nhân tâm vậy. 
Biết việc tốt, thấy điều hay mà không ghi chép lại thì không hợp với nghĩa của sách "Xuân Thu ", cho nên ta mới viết lại truyện này để biểu dương nàng Tiểu Nga là thế.  

Chú thích:
 Dự Chương    
Là tên một quận được thiết lập vào cuối đời nhà Tần, có thuyết cho rằng Hán Cao Tổ chia quận Lư Giang lấy phía nam bộ đặt ra Quận Dự Chương.  
Sau năm Nguyên Thú nhị niên, tức năm 121 trước CN đời Hán Vũ Đế, hạt cảnh tương với tỉnh Giang Tây.  
Đến đòi Đường gọi là Hồng Châu, ngày nay thuộc thị trấn Nam Xương tỉnh Giang Tây.  

Thượng Nguyên    
Tên một huyện đời Đường, nay thuộc thị trấn Nam Kinh tỉnh Giang Tô. 

Nguyên Hòa    
Nguyên Hòa là niên hiệu của vua Hiến Tông Lý Thuần nhà Đường (từ năm 806 CN đến năm 820 CN) 

Đường Hiến Tông   
Đường Hiến Tông tên là Lý Thuần, con trưởng của Thuận Tông, mẹ họ Vương, sinh năm 778. Năm Đường Thuận Tông Vĩnh Trinh nguyên niên, tức năm 805, Thuận Tông thoái vị, Lý Thuận được hoạn quan ủng hộ đưa lên kế vị, năm sau cải nguyên là Nguyên Hoà, đến năm 820 thì bị hoạn quan sát hại, chung niên 43 tuổi, thụy hiệu là Chiêu Văn Chương Võ Đại Thánh Hoàng Đế, miếu hiệu là Hiến Tông, táng tại Cảnh Lang. 

Tầm Dương    
Tầm Dương là tên một quận đời Đường, nay thuộc thị trấn Cửu Giang tỉnh Giang Tây. Thời Tùy đặt tên là Bồn Thành, sang đến nhà Đường mới cải là Tầm Dương. Nhà thơ Bạch Cư Di từng lại dấu chân của mình ở địa danh này, qua bài thơ nổi tiếng “Tỳ Bà Hành 琵琶 ", mở đầu bằng câu: “Tầm Dương Giang đầu dạ tống khách”. Sau này, Tống Giang cũng  ngồi tại quán rượu, ngắm mưa rơi trên sông Tầm Dương, say rồi đề phản thi mà bị bắt. 

Cụ  giới    
Theo Phật giáo, người Phật tử  qua những nghi thức, được sư phụ truyền thụ những giới điều của nhà Phật gọi là " thụ giới ". Giới  có nghĩa là răn cấm, phòng bị. Giới có Ngũ Giới ( ), Bát giới ( ), Thập giới (十戒), Cụ Túc giới  (具足戒) khác biệt nhau, vì thế nghi thức thụ giới cũng không giống nhau, mỗi loại một khác.  
Cụ giới là cách gọi tắt của Cụ Túc Giới, cũng còn gọi là Đại Giới. Điều gì cho là hoàn toàn đầy đủ thì gọi là Cụ Túc 具足 .  

Phán quan    
Là một chức quan đời Đường, dưới quyền Tiết Độ Sứ.  
Đời Đường, Phán Quan là một trong tứ đẳng quan (Trưởng quan, Thông Phán Quan, Phán Quan, Chủ Điển), người ta thường gọi Phán quan viên quan phụ trách phán xét, xử lý những văn án trong cơ quan.  
Những viên chức  ở cơ quan trung ương, và các Chủ Bạ, Lục Sự Tham Quân đều thuộc loại Phán Quan.  
Đến trung kỳ nhà Đường trở về sau, chức Tiết Độ Quan Sát, hay quan viên đặc phái từ trung ương đi ra ngoài, đều có viên Phán Quan phụ tá giúp việc, và để sai khiển. 

Chân Như   
Dụng ngữ nhà Phật. Phật giáo cho rằng Chân Như là một loại bản thể tinh thần của thần bí, không thể dùng ngôn ngữ để biểu thị được, chỉ có thể " ngộ " mới hiểu được, và chỉ có Chân Như mới là sự thật duy nhất , vĩnh hằng và bất biến. 

Ngưu Đầu Sơn   
Ngưu Đầu Sơn là tên mấy ngọn núi, ở ba nơi khác nhau 
- Một ở phía đông Ngưu Lan Sơn, thuộc bắc Thuận Nghĩa thành phố Bắc Kinh ngày nay.  
-Một ở phía đông nam Gia Ngư tỉnh Hồ Bắc ngày nay.  
-Một ở Ngũ Hà tỉnh An Huy ngày nay.