Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Thúy Hà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Thúy Hà. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2022

Phan Thúy Hà - từ xóm Trùa đến cây bút “phi hư cấu” nổi tiếng

 Phan Thúy Hà - từ xóm Trùa đến cây bút “phi hư cấu” nổi tiếng

Nguyễn Khắc Phê

Tôi chú ý đến Phan Thúy Hà, khi 3 cuốn truyện “phi hư cấu” của cô nổi đình đám trong giới truyền thông: Đừng kể tên tôi, Tôi là con gái của cha tôi, Gia đình đều do NXB Phụ nữ cấp phép, trong đó cuốn Đừng kể tên tôi đã tái bản lần thứ 4.

3 cuốn sách của Phan Thúy Hà: 'Đừng kể tên tôi', 'Tôi là con gái của cha tôi', 'Gia đình' - do NXB Phụ nữ ấn hành

ẢNH: N.K.P

Khi biết quê Phan Thúy Hà ở Hương Khê là nơi tôi đã qua lại nhiều lần trong những năm chiến đấu trên đường 12A, tôi đã “kết bạn” với cô qua Facebook. Hai “bác cháu” đã “trò chuyện” với nhau nhiều lần, mong có dịp gặp để hiểu thêm cuộc đời cây bút trẻ đồng hương.

Mấy năm qua, dư luận hầu như chỉ bàn đến 3 tác phẩm Đừng kể tên tôi, Tôi là con gái của cha tôi, Gia đình, nhưng Phan Thúy Hà còn cuốn thứ tư - Qua khỏi dốc là nhà (NXB Kim Đồng, 2018) cũng thuộc dòng “phi hư cấu” mà gần như là “Tự truyện”, lại bị “chìm” so với 3 cuốn kể trên, mặc dù có bạn đọc rành về văn chương cho rằng, cuốn này về một số mặt còn hay hơn 3 cuốn kia!

Có thể xem Qua khỏi dốc là nhà là “chân dung tự họa” không chỉ của bản thân và gia đình Phan Thúy Hà mà của cả một làng quê đúng là “vùng sâu vùng xa”, trong đó có xóm Trùa, xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê. Vào dịp ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn, hai bác cháu lần đầu gặp nhau. Như đã hẹn, Phan Thúy Hà mang đến tặng tôi cuốn Qua khỏi dốc là nhà.

Bìa cuốn sách Qua khỏi dốc là nhà (NXB Kim Đồng)

Ảnh: N.K.P

Tôi đã đọc cuốn sách suốt trên chuyến tàu vô Huế và ước chi tất cả các học sinh cấp 2 và cấp 3 được đọc tác phẩm này. Ở đây có vấn đề thị hiếu và tâm lý độc giả hiện nay do Qua khỏi dốc là nhà không thuộc dòng sách “ăn khách” trên thị trường - chỉ là chuyện những đứa trẻ cùng gia đình vật lộn với cuộc mưu sinh ở một vùng đất gian khó. Tác giả sinh năm 1979, bố đang học Đại học Tổng hợp Sử Hà Nội thì đi bộ đội, mẹ học Trường Sư phạm năm 1972 rồi trở thành cô giáo. Năm anh chị em lớn lên chủ yếu trong thời bao cấp thiếu thốn đủ thứ sau chiến tranh. Không có những sự kiện lớn, mâu thuẫn “địch - ta” hay những cuộc đấu gay cấn với các quan tham và tệ nạn xã hội; cuốn sách gồm toàn những chuyện rất bình thường, thậm chí là nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày. Chuyện khó khăn thời bao cấp thì cũng đã có không ít sách nói đến.

Chính là với một đề tài “chẳng có chi lạ” như vậy, Phan Thúy Hà đã chứng tỏ khả năng quan sát, lựa chọn chi tiết và thể hiện bằng một bút pháp riêng - giản dị, kiệm lời mà rất gợi cảm. Chuyện hai chị em tranh nhau ngủ với bà, nỗi đau khi người bạn phải bỏ học, tình cảnh mẹ con đi bán nón, bán chè suốt buổi không ai mua, chuyện nữ sinh “tuổi mới lớn” bỡ ngỡ trước dấu hiệu giới tính… Cả đến chuyện con chó mực nhà chị Vân cũng làm bạn đọc thổn thức: khi gia đình chị dời vô Nam sinh sống, nhà dỡ rồi, nó vẫn về nằm trên nền đất cũ, chỉ khi sinh con, nó mới đến “tạm trú” bên thềm nhà Phan Thúy Hà; sau đó mất tích, ai ngờ nó ra nằm trên mảnh ruộng cũ nhà chị Vân cho đến chết! Còn nhà Hà có con bê, do vô ý để nó bị cảm, bụng trướng mà tưởng nó ăn no, “suốt đêm bò mẹ rống lên cầu người cứu con mà không ai biết”; khi nó chết, Huân (em trai Phan Thúy Hà) “ôm bê khóc nức nở… Người ta đến nhà làm thịt con bê. Huân bỏ học, ngồi ở thềm cửa khóc bê hời hời…”.

Cuốn sách Qua khỏi dốc là nhà không chia chương hồi, thường là những đoạn văn ngắn, nhưng cũng có những “đoạn” nhiều tình tiết như trong một truyện ngắn. Hình như Phan Thúy Hà không mấy bận tâm đến thể loại, mà chủ yếu tìm cách diễn đạt tốt nhất cảm xúc của mình trước những cảnh đời, những số phận từng in dấu sâu đậm trong cuộc đời mình.

Nhà văn Phan Thúy Hà

Ảnh: NVCC

Tôi đọc cuốn sách khi mì tôm cứu trợ tràn ngập các tỉnh miền Trung, nên câu chuyện dân xóm Trùa lần đầu được ăn mì tôm như là truyện cổ tích và hấp dẫn như… khi chị em Phan Thúy Hà được ăn mì tôm. Nhà có mì tôm nhờ o Liên ở thị trấn mua về tặng bà. “Một gói mì tôm, bà và 5 đứa cháu chia nhau. Còn bốn gói bà vùi trong thóc khỏi chuột gặm… Một đêm… mở mắt thấy bà đang mở cánh cửa sập. Bà bảo nghe loạt xoạt, đoán có chuột mò mì tôm…”. Rồi đêm khác, nghe tiếng loạt xoạt, Hà thấy bà chui trong sập ra, bẻ nửa gói mì, còn nửa gói lại. “Bà thấy nhọc trong người…”. Thế là bà cháu nhen lửa để bà bồi dưỡng mì tôm. “Thìa cuối cùng, bà nhường cho mình. Ăn xong, hai bà cháu cười tươi. Bà lên giường ngủ ngon…”. Cô giáo ốm, “cả lớp góp tiền mua mì tôm tới thăm. Cô bảo lớp trưởng bóc hết ra mời các bạn. Mình đến lớp đem theo gói bột nêm bóc ra từ bao mì… Từng đứa xòe bàn tay ra chia đều liếm láp…”. Đọc chuyện thật mà như… bịa; thấy tội tội thương cảm một thời mà cũng ấm áp tình người một thời.

Ngày chiếc ti vi đầu tiên xuất hiện ở xóm Trùa cũng lắm “chuyện lạ” như thế. Phấn là “trưởng toán” trẻ con giỏi tìm cách đi xem nhờ ti vi nhà hàng xóm. Nhưng người xóm Trùa thời nghèo khó ấy luôn giữ nếp sống “đói cho sạch, rách cho thơm”, mà có lẽ nhà Phấn là tiêu biểu. Cha Phấn vác cày ra đồng, thấy một lá tre rụng, “cũng thả cày vào nhà lấy chổi vơ sạch. Uống một bát nước chè ở nhà Phấn cũng ngon hơn vì từng cái bát được đánh sạch bong… Phấn bảo vì mình nghèo nên phải sạch sẽ khỏi bị khinh… Mẹ của Phấn đi đâu ai mời cũng bảo ăn no ở nhà rồi. Bụng đói cồn cào, nhưng đi qua sân nhà người ta đang ăn cơm, mẹ Phấn cũng bẻ cái tăm ngậm miệng vờ như vừa ăn xong…”.

Phấn phải bỏ học từ nhỏ, trong lao động, Hà xem Phấn như “sư phụ”; mỗi khi đi chặt củi, “gánh củi hắn to, đẹp, nuột nà. Gánh củi mình xộc xệch, rườm rà. Làm xong trước, hắn đi chặt giúp mình… Mình mở đùm cơm ra, chia hắn một nửa. Hắn bảo mình ăn từ từ để cảm nhận cho hết cái ngon…”. Phấn còn “dạy” cho Hà muốn được các em nể trọng thì phải làm gương, bảo chúng quét nhà một lần không nghe thì mình quét, ba lần như thế, chúng phải hiểu... Vậy mà một ngày Phan Thúy Hà vô “đôộng” đi củi về, nghe tin Phấn nhảy giếng tự tử! “Tại sao mày chết?”, câu hỏi day dứt Hà mãi cho đến khi xóm Trùa nhiều nhà có ti vi, có điện “chẳng phải vừa xem vừa hồi hộp canh chừng bình ắc quy…”. Không dễ lý giải mọi điều trong cuộc sống, nhất là ở những vùng heo hút như xóm Trùa. Ví như nhà bác Chắt bỗng dưng bị vu “có thuốc độc” khi có đứa cháu ốm nặng “do ăn cơm nhà cậu Chắt”; thế là “một câu chuyện li kỳ rùng rợn được dựng lên… mỗi người lại thêm thắt tình tiết”; đến nỗi bác phải bỏ quê hương vô Nam. “Giờ phút ra đi, vác bao đồ lên vai, bác gục xuống bậc thềm nhà, khóc rống lên như một đứa trẻ”. Ở nơi xa quê, bác đột nhiên thành người mất trí!...

Dân xóm Trùa cũng có gia đình vô Nam, gặp điều kiện sinh sống dễ dàng, trở nên sung túc hơn. “Dốc quê nhà bây giờ cũng đã khác… Xe chở đất đi đắp đường…”. Cuộc sống khởi sắc, Phan Thúy Hà đậu một lúc 3 trường đại học, em trai được chọn Trường năng khiếu cấp Bộ ở Vinh…, nhưng tác phẩm của Phan Thúy Hà ghi lại nhiều câu chuyện xưa “khiến ta nghẹn giọng, vì nỗi buồn nặng như đất, mạnh mẽ và khô rốc ở trong đó” (Lời bình của nhà văn Lê Minh Hà) không chỉ để nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân quý cuộc sống đang không ngừng đổi mới mà còn lay động chốn sâu lắng hơn trong tâm hồn con người. Cuộc sống xô bồ, xu hướng chạy theo vật chất ngày một “lên ngôi” hiện nay rất dễ làm người ta xem nhẹ giá trị tinh thần, những tình cảm bà - cháu, mẹ - con, anh - em… cả tình thương, nỗi nhớ với con dốc, gốc cây, con chó, con bê từng chung sống với mình. Tất cả, đã được Phan Thúy Hà thể hiện một cách thật chân thực và cảm động. Con người hơn các loại sinh vật khác chính là ở đó! Và cuộc sống, tiện nghi giàu sang đến mấy cũng vẫn có cảnh đời bất hạnh, những lúc gặp chuyện đau buồn.

Vậy nên, đọc tác phẩm Phan Thúy Hà, nhà văn Lê Minh Hà bình luận: “Bạn sẽ được nhận vào mình một cảm giác rất đau và rất đẹp, là cảm thông được với con người”.

Còn Phan Thúy Hà đã viết trong những trang cuối tác phẩm Qua khỏi dốc là nhà:

“Người mua lại khu vườn nhà bác Chắt kêu xe tới xúc đất bán đi. Bác Chắt không trở lại. Bác không còn quê hương. Bác mất trí nhớ. Bác không biết buồn.

Một mình bước lặng giữa lối Động Am. Trưa hè tháng tư đàn bướm rợn ngợp trên những lối đi không dấu chân người… Những chiếc xe chở con dốc đi. Chở đi khúc tuổi thơ thân thương khó nhọc…”.

Từ xóm Trùa vùng núi Hương Khê xa xôi, từ tuổi thơ gian khó và giàu kỷ niệm như thế, Phan Thúy Hà đã trở thành cây bút được rất nhiều nhà văn tên tuổi cả ba miền nể trọng.

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Lớp lớp sự thật & nghệ thuật truyện “phi hư cấu” của Phan Thúy Hà

 

Lớp lớp sự thật & nghệ thuật truyện “phi hư cấu” của Phan Thúy Hà

Nguyễn Khắc Phê


Phan Thuý Hà là một tác giả mới nổi lên gần đây với bốn cuốn sách “phi hư cấu” đang được nhiều bạn tìm đọc – “Đừng kể tên tôi” đã in lần thứ 4, “Tôi là con gái của cha tôi” vừa tái bản và “Gia đình” mới xuất bản đầu năm 2020 nghe đâu đã bán gần hết; cuốn thứ tư “Qua khỏi dốc là nhà” do NXB Kim Đồng in năm 1918, gần như là tự truyện tuổi thơ của Phan Thuý Hà. Cả ba cuốn trước đều do NXB Phụ nữ cấp phép với gần 1000 trang in và không ghi thể loại. “Phi hư cấu” chỉ là thuật ngữ để các nhà phê bình xếp chung những cuốn sách chủ yếu tái hiện sự thật cuộc sống, không có sự “bịa đặt”, tưởng tượng (hư cấu) của người viết (nói vui một chút, cũng tương tự như gọi chung gà, vịt, ngan… là “gia cầm”!) chứ sách của Phan Thúy Hà không “đồng dạng” với hàng loạt cuốn được xếp vào “phi hư cấu” được dư luận chú ý những năm gần đây.


SỰ THẬT ĐƯỢC CHUYÊN CHỞ TRONG SÁCH PHAN THÚY HÀ LÀ GÌ?

Đã nói đến sách “phi hư cấu” thì đây là điều trước tiên cần quan tâm. Chúng ta đều biết, nhiều cuốn “Truyện ký”, “Ký sự” hay “Ghi chép” của các nhà văn đã xuất bản trước đây cũng là truyện “người thật việc thật” nhưng thủ pháp, mục đích và cả vị thế của tác giả khác xa Phan Thúy Hà. Ví như hai tập ký sự về Cồn Cỏ của nhà văn Nguyễn Khải và Hồ Phương, cũng có nhiều trang viết được hình thành từ lời kể của nhân vật nhưng đây là những con người anh hùng tiêu biểu cho một hòn đảo anh hùng và được miêu tả bởi những vị khách Trung ương, những nhà văn tên tuổi, nhằm cổ vũ, nêu gương tinh thần dũng cảm quên mình cứu nước. Tôi nhắc hai cuốn sách này vì cuốn sách đầu tay của tôi – tập ký sự “Vì sự sống con đường” (1968) viết về cuộc chiến đấu bảo đảm giao thông đoạn đường dưới chân đèo Mụ Giạ, lúc đó được xem là “Cồn Cỏ trên đất liền” – cũng là những tấm gương anh hùng, “máu có thể đổ nhưng đường không thể tắc”. Tôi không có uy danh như hai nhà văn Nguyễn Khải, Hồ Phương, nhưng lại có ưu thế là “người trong cuộc”; tuy vậy, do mục đích viết là nêu gương, cổ võ tinh thần chiến đấu, nên âm hưởng chính là ngợi ca, ít nói đến những mất mát đau thương. Bây giờ nhìn lại, những cuốn sách như thế là cần thiết, không chỉ có ích cho cuộc chiến đấu đang lúc gay go mà hình ảnh những chiến sĩ quên mình vì nghĩa lớn vẫn là tấm gương cho hậu thế noi theo vì cuộc sống luôn cần những con người có tinh thần cao cả, dám dấn thân vào nơi đầu sóng ngọn gió. Nhưng mặt khác, những cuốn sách như thế chưa thể hiện được toàn bộ sự thật cuộc chiến đấu cũng là sự thật lịch sử. “Nói có sách, mách có chứng”, chính là cuốn sách của tôi, mặc dù tác giả là “người trong cuộc”, nhưng đã “bỏ qua” không miêu tả đến tận cùng những tổn thất bi thương trong trận chiến khốc liệt nhất giai đoạn đó, khi tiểu đoàn pháo cao xạ mang tên Nguyễn Viết Xuân phải đối đầu với 200 lượt phản lực Mỹ tiến đánh hai chiếc cầu lớn nhất đường 12A tại trọng điểm Ca Tang ngày 16/4/1965 mà say sưa ca ngợi gương chính trị viên Đậu Trọng Vĩnh: “Anh người cao to, lại đứng ở chỗ cao nhưng mặc máy bay trút bom đạn xối xả xung quanh vẫn không cúi đầu, thỉnh thoảng lại hô lớn: “Noi gương Nguyễn Viết Xuân! Nhắm thẳng quân thù mà bắn!” và anh đã chiến đấu như anh Xuân. Một loạt rốc-két nổ gần công sự, mảnh đạn cắt đứt cánh tay phải của anh. Anh bị thương nặng rồi, máu chảy đầm đìa, nhưng anh vẫn đứng đấy, tay trái còn lại của anh vẫn lấy hướng địch bay để khẩu đội tiếp tục bắn!...”.

Sau này, một bạn văn là cựu chiến binh, đọc cuốn sách này, mặc dù rất xúc động trước sự hy sinh của các chiến sĩ giữ đường 12A, đã nói nhỏ với tôi: “Bị cắt đứt một cánh tay thì làm sao có thể đứng chỉ hướng địch bay? Không cần chi tiết này, anh Vĩnh và đồng đội của anh vẫn rất anh hùng rồi!”.

Nguyễn Khắc Phê trở lại cầu Ca Tang

Thú thật, tôi viết câu trên theo lời kể của một nữ công nhân nổi tiếng một thời vì đã lao lên chuyển đạn giúp bộ đội pháo trận đó và chính cô cũng nghe người khác nói lại! Như vậy, sự thật chỉ có một, nhưng qua “truyền khẩu” rồi thể hiện lên trang giấy, rất có thể biến thể (nói theo ngôn ngữ sân khấu là biến thành những lớp diễn khác nhau). Ở đây, xin được “mở ngoặc” nói thêm về cụm từ “Người trong cuộc” rất dễ ngộ nhận. Như tôi, từng tự hào là “người trong cuộc” đối với mặt trận giao thông ở Trường Sơn và Quảng Bình thời chống Mỹ, nhưng thực ra tôi chỉ biết một phạm vi nhỏ thôi. Vì thế, trận chiến có thể nói là thảm khốc suốt 4 giờ bên cầu Ca Tang hơn nửa thế kỷ trước, tôi chỉ viết theo lời kể lại và cũng chỉ một góc nhỏ. Cũng vì không tận mắt chứng kiến (và tất nhiên vì tránh chuyện bi thương lúc cuộc chiến đấu đang gây chết chóc hàng ngày!), trong cuốn sách của mình vừa nhắc đến, tôi đã “bỏ qua” không viết về sự kiện bi thảm tám Thanh niên Xung phong đại đội 757 Lệ Thủy bị bom trúng hầm bên đoạn đường gần La Trọng từ giữa năm 1965, nghĩa là trước rất xa các sự kiện tương tự ở “Hang Tám Cô” đường 20 cũng như ở Đồng Lộc và Truông Bồn, được giới truyền thông và hàng triệu người biết đến, hàng năm được tưởng niệm trân trọng, trong khi tám Thanh niên Xung phong Lệ Thủy hầu như không được ai nhắc đến, cũng như hàng vạn liệt sĩ trong nhiều, rất nhiều trận chiến khốc liệt khác! (Mãi cách đây mấy năm, tôi mới viết về sự hy sinh thầm lặng của tám Thanh niên Xung phong này trên một tờ báo…).

Có lẽ sẽ có bạn trách tôi lạc đề “dài dòng” về những chuyện hy sinh từ hơn nửa thế kỷ trước như thế. Xin thưa: Tháng 7 này với ngày 27/7 và Lễ “Xá tội vong nhân” thì nhắc đến những người đã khuất là phải đạo; và chính ba cuốn sách của Phan Thúy Hà chủ yếu cũng kể về những cái chết vô cùng đau thương; hơn nữa, những điều tôi “dài dòng” ở trên là bằng chứng, nhân chứng rằng sách Phan Thúy Hà là sự “bổ sung lịch sử” cần thiết như một nhà phê bình đã viết. Mặt khác, nó cũng chứng tỏ những cây bút thế hệ Phan Thúy Hà dám tìm cách viết khác những người đi trước (không như tôi, khi chưa bắt tay viết tập ký sự về đường 12A đã hăng hái thầm nhủ “sẽ viết một cuốn sách như ông Nguyễn Khải đã viết về Cồn Cỏ!”).

Quả là Phan Thúy Hà đã theo một phương cách có lẽ chưa có tiền lệ ở Việt Nam: tác giả ghi lại chân thực theo lời kể của người trong cuộc – thực sự là “người trong cuộc”. Vẫn là theo “lời kể”, nhưng cô không ngại vất vả và cả nguy hiểm, tìm đến những nhân chứng tự mình trải nghiệm, hoặc tận mắt chứng kiến. Do đó, trên những trang sách của cô, có rất nhiều chi tiết chân thực “không ai có thể hư cấu đến độ khốc liệt như vậy được” như nhà văn Trần Huy Quang đã nhận xét. Khác với nhiều cuốn sách “phi hư cấu” trước đây, Phan Thúy Hà không “bận tâm” đến diễn tiến các sự kiện lớn, không bình luận chuyện “thắng-thua” – nếu dùng thuật ngữ hậu hiện đại, tuy không thật chính xác lắm, thì cô không màng đến các “đại tự sự” – mà chỉ theo đuổi số phận từng con người, hầu hết là những con người trong “góc khuất” của lịch sử.

Trong ba cuốn sách vừa xuất bản, Phan Thúy Hà đã tìm gặp và ghi lại cho chúng ta biết ít nhất 100 người, 100 số phận khác nhau, đối cực nhau ở nhiều miền đất nước – đó là nói “tròn” cho… đẹp, chứ trong 65 bài viết được ghi lại, nhiều bài có đến vài, thậm chí 5-6 câu chuyện; có chuyện chỉ mươi dòng, nhưng cũng có chuyện dài mấy chục trang, như là một tiểu thuyết bị nén chặt. Không thể và không nên thuật lại cả trăm câu chuyện trong ba cuốn sách của Phan Thúy Hà, nhưng qua một vài trích dẫn các chi tiết – mà như có người đã viết “trong văn chương, chi tiết nhỏ làm nên tác phẩm lớn” – bạn đọc cũng có thể hình dung phần nào “cốt cách” những trang sách của Phan Thúy Hà.

Đây là một chi tiết trong chuyện “Những ngày ở A Lưới” (Sách “Đừng kể tên tôi”) do ông Lê Quốc Tuyển, đại đội 20, trung đoàn 9, sư đoàn 968 (hiện sống tại thị trấn Hương Khê - Hà Tĩnh), kể: “…Trung đoàn 9 mất sức chiến đấu, lệnh trên đem trung đoàn 8 đang ở ngoài Quảng Bình vào thay ở địa bàn Tây Huế. Nghe tin đó, ba thằng còn lại ở điểm cao yên tâm chờ đợi. Chờ bảy ngày rồi vẫn không thấy trung đoàn 8 vào… Tôi nói với đại đội trưởng, mấy người phải đưa liệt sĩ này ra… Địch phát hiện ra nã súng liên tục. Lại quay vào. Thấy ba người vẫn chưa đưa được liệt sĩ ra… Đầu ngoi lên là trúng đạn ngay lập tức… Tôi nằm sau liệt sĩ. Hai tay nắm chặt vào xác và dùng đầu ủi ra từng mi li mét…”. Như tôi được biết, chưa có sách báo nào tả cảnh lấy liệt sĩ gian nan và kỳ lạ như thế.

Cũng lại chuyện… chết chóc, lần này ở chiến trường Gia Lai, trích từ bài “Bàn tay này đã thu nhặt bao nhiêu xác lính?” trong cuốn sách vừa nhắc đến, theo lời kể của ông Nguyễn Doanh Văn (xin lược bớt phần địa chỉ cụ thể): “…Lưỡi rụt nên bác diễn đạt chậm. Đi lại cũng chậm chạp, Không gian di chuyển của bác là trong ngôi nhà… Nói làm gì. Nói cho ai nghe. Nói cho ai tin. Sự việc qua lâu rồi. Mà tôi cũng sắp gần đất xa trời rồi… Những câu này tôi nghe nhiều mấy hôm nay… Họ không muốn nói gì nữa. Bởi họ đã phải im lặng quá lâu rồi. Bởi vì họ từng nói. Nói từng lời đau đớn ruột gan. Nhưng người ta không tin… Cần chứng minh là giấy tờ. Giấy tờ? Tôi vứt hết đi rồi. Mang được cái xác về. Ai biết có ngày giấy tờ quan trọng hơn xác người… Bàn tay này đã thu nhặt bao nhiêu xác lính?... Ba năm, đếm làm sao hết người đã chết. Đơn vị phân công mỗi người phải mang ba hoặc năm bộ hài cốt tập kết về nghĩa trang sư đoàn… Đào bới lên. Bốc. Một cái dao găm. Và hai bàn tay. Róc hết phần thịt. Lấy xương đi… Chúng tôi được bồi dưỡng một hộp thịt hộp. Mở ra… Tôi nôn thốc nôn tháo… Nhìn đâu cũng thấy thịt đồng đội mình vừa róc ra… Năm 1976, tôi thân tàn ma dại trở về. Ba lần bà ấy sẩy thai. Lần thứ tư sinh đứa con không có miệng… Lần sinh thứ năm là đứa con thiếu một ngón tay, thiếu một ngón chân. Vậy đấy! Có gì hay đâu mà cô muốn nghe. Tôi không có thành tích gì để kể…”.

Tôi đã phải lược một số chi tiết dễ gây sốc cho bạn đọc mà phần trích vẫn dài. Vì đoạn trích không chỉ có chuyện chết chóc mà còn gửi gắm bao điều đáng suy ngẫm với người đang sống hôm nay, lại thể hiện rõ phong cách văn ghi chép của Phan Thúy Hà mà tôi sẽ phân tích ở phần sau. Có lẽ cũng cần nói thêm là 25 bài trong cuốn “Đừng kể tên tôi” không chỉ toàn kể chuyện chết chóc; ví như “Chuyện của bốn người” do ông Nguyễn Đình Lập kể là một… chuyện tình “tay tư” vui vẻ và rất cảm động, mặc dù lúc kể lại chuyện ngày xưa, họ cũng nói đến hơn mười cái chết xung quanh! Vắn tắt chuyện tình đặc biệt này một chút, tạo “không khí” để bạn đọc “giải lao”: Bà Tiến chờ ông Lập 12 năm, vừa lấy chồng thì ông Lập từ Tây Nguyên về; thế là bà Tiến sang khóc lóc bày tỏ “em muốn quay lại với anh có được không?”. Còn đây là lời ông Lập: “Tôi rối bời. Chồng của em cũng là bộ đội. Tôi là một đảng viên đạo đức sáng ngời suốt tám năm qua… Tôi tiếc đứt gan đứt ruột em có biết không? Tôi càng nói, Tiến càng khóc. – Thôi, giờ chỉ còn cách này cho đỡ tiếc em ạ. Em sinh con em, anh sinh con anh rồi sau này ta gả chồng gả vợ cho chúng nó. Ta không lấy được nhau thì các con của chúng ta lấy nhau…”. Người vợ mới của ông Lập là bà Mậu; bà cũng 6 năm đợi chồng. Chồng cũ của bà là thầy Liêu dạy văn cấp hai, hy sinh ở Kontum năm 1972… Câu chuyện tình dang dở mà thật đẹp – đẹp vì tình nghĩa thủy chung và anh hùng nữa, cho đến tận hôm nay. Khi Phan Thúy Hà hỏi ông Liên (chồng cô Tiến): – “Nếu chiến tranh lại xảy ra, bác có cho các con mình ra trận không?” – “Có chứ!” – “Nhưng bác đã trải qua những năm tháng như vậy. Nằm viện triền miên vì những bệnh nặng. Mỗi tháng chỉ dựa vào một triệu sáu tiền bệnh binh.” – “Phải chấp nhận. Giặc đến là đánh. Không đánh để mất nước à…”.

Câu trả lời của ông già 81 tuổi mang đầy tật bệnh, gần như “vô danh” trong lịch sử cho chúng hiểu thêm vì sao Việt Nam đã chiến thắng…

NHỮNG TRANG SÁCH THỨC TỈNH CON NGƯỜI – NHÀ VĂN THÌ PHẢI VIẾT CHUYỆN “NHẠY CẢM”

Nghe đâu có người e ngại sách của Phan Thúy Hà toàn là chuyện “nhạy cảm”. Ô hay! Nhà văn thì phải viết chuyện “nhạy cảm” chứ! Còn viết những điều xơ cứng, sáo mòn hay tình yêu lăng nhăng thì chỉ tốn giấy và tốn công người đọc. “Tôi đứng về phe nước mắt” là một phát ngôn nổi tiếng của Dương Tường mà báo chí vừa nhắc. Nhưng không chỉ nhà văn - dịch giả Dương Tường nói thế. Maxim Gorky – bậc thầy của nền văn học Nga Xô viết – là nhà văn của “những người cùng khổ”, của lớp người “dưới đáy”. Phần lớn kiệt tác của nhân loại là những câu chuyện khổ đau của con giờ nơi trần thế. Ở Việt Nam, “Truyện Kiều” là một bằng chứng hiển nhiên.

Trở lại những cuốn sách của Phan Thúy Hà. Những câu chuyện bi thương không chỉ “bổ sung” các “góc khuất” của lịch sử, mà còn giúp bạn đọc hiểu lịch sử sâu sắc hơn, sinh động hơn, thấy rõ hơn cái giá của cuộc sống hòa bình hôm nay, trách nhiệm của người đang sống… Nói những điều này, có lẽ không thích hợp với cách lập ngôn của Phan Thúy Hà, nhưng về một mặt nào đó vẫn cần thiết…

Cuốn “Tôi là con gái của cha tôi” gồm 21 bài viết về thân phận của những người lính Việt Nam Cộng hòa và cuốn “Gia đình” gồm 19 bài viết những gia đình tan nát trong thảm kịch “Cải cách ruộng đất” còn “nhạy cảm” hơn nữa! Bản thân tác giả – một cô gái sinh năm 1979, sinh ra ở quê hương Xô Viết, có thân phụ là lính “Việt cộng” – có thể do “thấm nhuần” quan niệm tránh né những điều “nhạy cảm” của một số người, một số cơ quan mà cô có dịp giao tiếp, cũng trăn trở, vật vã, tự vấn nhiều lần khi bắt tay thực hiện cuốn “Tôi là con gái của cha tôi”. Trong bài “Đến Huế” ở cuốn sách vừa dẫn, Phan Thúy Hà viết: “Lý do nào thôi thúc tôi phải vậy. Không có lý do nào hết. Hoặc ý nghĩ của mình, tôi chưa đọc được ra bằng lời, chưa gõ ra được bằng chữ. Ý nghĩ mạnh mẽ đó đang đến điều khiển tôi…”. Thực ra, trước đó, cô đã “tham vấn” nhà văn Xuân Đài, nhà thơ Ngô Minh và “Tin nhắn trả lời: Bác có quen mấy người, nhưng không biết họ có chịu nghe con cháu Việt cộng không?...”. Lại có một người là giáo viên dạy văn cấp 3 từng mua cuốn “Đừng kể tên tôi” đã khuyến khích Hà nên viết tiếp cuốn thứ hai về những người lính phía bên kia. Phải! Muốn hiểu đúng cuộc chiến thì phải biết cả hai phía, như một bàn cờ chỉ sống động khi có cả hai bên. Nhưng vì một cách nghĩ đã thành nếp, đã quen thuộc với không ít người, trong chuyến vào Huế tháng 6/2018 như là một thử nghiệm, khi chưa có một địa chỉ cụ thể nào, cô đã vấp. Một người Huế mà qua “Facebook anh thể hiện là một người tận tâm với lịch sử, am hiểu và cởi mở” đã nhắn cho cô: “Việc bé muốn gặp những người lính cộng hòa là không tưởng. Họ bên nội bên ngoại tôi có sáu người đi lính. Họ không kể gì đâu! Nỗi đau họ nén lại và không bao giờ họ nói ra, nếu có nói, họ chỉ nói với đồng đội, chứ không bao giờ nói với người trẻ! Xin lỗi bé nhé!”. Và thực tế đã chứng nghiệm khi cô tìm đến một khu “gia binh” ngày xưa trong Thành Nội, vừa gặp bác trai chủ nhà, nghe ông thốt lộ: “Bác ba năm rưỡi ở Quảng Trị cháu ạ” và bác-cháu chỉ mới đối đáp hai câu: – “Sau đó bác có phải đi học tập?” – “Không, bác là hạ sĩ quan”... thì bà vợ đẩy cô ra khỏi cửa: “Thôi thôi, cô đi ra khỏi nhà tôi. Nhà tôi không phải là nơi nói chuyện chính trị…”. Bà còn làm căng nữa, nhưng bác trai tỏ ý thông cảm, nên rút cuộc, trước khi chia tay, sợ bị bác gái đuổi đi nữa, cô nói nhanh: “Bác ơi, bác có biết không, bác là tên giặc đầu tiên cháu được nhìn thấy ngoài đời. Từ trước tới nay, cháu chỉ biết qua phim, sách, báo… Hôm nay cháu đã nhìn thấy bác, gần sát bác thế này!”. Mắt mọng nước, cô đã ôm bác chào từ biệt. “Bác cũng ôm lại tôi. Trước sự sửng sốt của bác gái và cô con gái.”

Vẫn chưa hết phản ứng. Khi cô chở hai đứa con trên chiếc hon-đa thuê về khách sạn, “Con trai lớn ngồi sau xe tức giận đấm lưng mẹ. Sao mẹ lại như thế. Tại sao mẹ phải thế. Mẹ đừng nghĩ bọn con cần phải biết. Bọn con không cần. Dừng xe bên cầu Trường Tiền, mẹ và con giàn giụa nước mắt.” Cho dù vậy, bốn tháng sau cô lại vào Huế và gặp được một hoàn cảnh khác: trong gia đình, có người ở cả hai phía. Trong khi ông ngoại và hai cậu đi lính ngụy thì mẹ, một cậu và hai dì đi theo cách mạng. “Có lần ông ngoại ngồi trên máy bay kêu gọi chiêu hồi, cậu khi đó đang nằm dưới hầm chờ lệnh bắn máy bay”...

Thế là Phan Thúy Hà đã “chạm” được tầng vỉa “kho tàng” mà mình cảm thấy cần khai thác. Nhưng cô vẫn không thôi tự vấn: “Tại sao tôi mang vác vào mình công việc này. Một công việc chẳng cần thiết cho ai.” Cả nhân vật có người thân ở hai bên chiến tuyến cũng nghi ngại hỏi cô: – “Em định viết về đề tài đó thật à?” – “Vâng ạ” – “Mục đích em viết cuốn thứ hai này để làm gì?”. Tôi lúng túng trả lời: – “Vì em cảm thấy cuốn trước mình viết chưa xong…” – “Sao em cảm thấy chưa xong?... Em muốn biết thêm điều gì ở cuốn thứ hai? Cuốn sách em viết sẽ cần cho ai?” Những câu hỏi dồn dập khiến tôi ngợp. Tại sao tôi phải trả lời…”.

Mấy lần Hà đến Huế, tôi chưa quen biết cô, mặc dù là “đồng hương” (Hà quê Hương Khê, huyện giáp giới với Hương Sơn quê tôi); hơn nữa, thời chiến tranh, có khi tôi đã qua lại trước nhà cô nhiều lần, do đây là đoạn phía dưới của đường 12A. Tôi dẫn câu chuyện ở Huế hơi dài một chút vì nó cho chúng ta thấy một vấn đề xã hội hệ trọng đã bị “bao bọc” hàng mấy thập kỷ, coi như là êm thấm, hoặc là điều cho qua, nhưng thật ra cũng gần như một quả bom nổ chậm, khiến “con gái của cha tôi” – một lính Việt cộng – vẫn mãi đắn đo khi tiến đến tháo “ngòi nổ”. Cho tới khi sách ra đời và có dư luận, tôi tin là cô đã tìm được câu trả lời cho những trăn trở, thắc mắc, có lẽ không chỉ của tác giả. Phải! Chắc chắn là Hà đã tìm được câu trả lời sau những chặng đường dài đến nhiều vùng đất xa xôi, hẻo lánh mà cô chưa hề đặt chân tới. Cứ hình dung “thân gái dặm trường” đơn độc trên những lối mòn ngoắt ngoéo giữa các vùng đất hoang vu xa lạ ở Đồng Nai, Bình Phước, Bến Tre…, dù biết Hà đã về “đích” an toàn, tôi vẫn hồi hộp, thót tim… Bao nhiêu là cạm bẫy, rồi những kẻ nghiện ma túy, lêu lổng hám gái và cần tiền tiêu xài. Chỉ một cú ngã, hay một cái gạt tay là đủ “tiêu diệt” “con bé” đang liều thân “mang vác” sứ mệnh khổ ải có khác chi chúa Giê-su! Phải! Con gái của lính Việt cộng đất Xô Viết đã cho Hà bản lĩnh dám đương đầu và đi về “đích” bình yên trước sự hâm mộ của bao người.

Tôi bỗng nhớ Lỗ Tấn từng nói đại ý: “Người ta đi mãi thì thành đường.” Tôi hiểu “đường” ở đây cũng là “đạo” – đạo lý làm người. Hình như Hà không ưa nói những điều “đao to búa lớn”, cô bảo tôi: “Cháu chỉ đi thăm, xem đời sống họ thế nào và viết lại, chia sẻ với mọi người…”. Ừ, nghĩ tới một lớp người gần như bị quên lãng, nghe họ tâm sự rồi chia sẻ với mọi người cảnh đời của họ cũng là đạo lý “người trong một nước phải thương nhau cùng.” Chiến tranh đã qua gần nửa thế kỷ rồi! Biết bao nhiêu gia đình Việt-Mỹ đã trở thành “thông gia”, không ít con cháu các “Việt cộng” cỡ lớn đang học hành, mua nhà và có thể sẽ định cư nơi đất nước cờ hoa thì vì sao ta lại không thể trò chuyện thân ái, tìm hiểu cảnh đời của bao nhiêu đồng bào mình đang phải sống trong những hoàn cảnh “khác thường”?...

Không thể và có khi không cần trích dẫn nhiều những cảnh đời cơ cực của những con người thuộc lớp “dưới đáy” này. Chỉ trích vài dòng từ bài “Tiếng hát người thương binh” ghi lại lời kể một người lính cụt chân dẫn vợ con tìm đất sống ở Bình Tuy, Bà Rịa…:

“…Xuống ga Suối Kiết… Chú đi vào một chòi lá, xin người công nhân chỗ nấu cơm. Ăn một bữa no rồi chết. Chứ cách này sống sao nổi. Chú lấy hai lon gạo ra nấu hết… Bắt đầu ăn thì có người đi vào… Nhìn anh ta xơ xác. Chắc anh cũng đói. Thôi, trong hoàn cảnh mình cũng lạc loài, anh ngồi đây ăn miếng cơm cho vui. Anh ta bẻ cây làm đũa ngồi xuống đút cơm… Chú có nghề làm bánh mì. Hy vọng về thị trấn La Gi xin được một công việc… Vé xe giá 10 đồng… Tôi chỉ có 8 đồng. Họ không bán… Phải liều thôi… Đến giữa đường họ soát vé. Chú nói lời xin lỗi, xin họ thương cảm nhận 8 đồng… Họ nói những lời sỉ nhục và bắt phải xuống ngay. Chú nghĩ cuộc đời mình đến đây là tận cùng rồi. Chú kéo hai con lại sát cửa, ôm con vào lòng và nói với vợ, em lại gần đây với anh. Tôi xin các anh một lời cuối cùng… Thương giùm tôi. Đạp một cái, vợ chồng con cái rơi xuống là xong!... Đằng nào cũng phải chết!...”.

Vậy mà anh vẫn sống. Trong tình cảnh “tận cùng”, con người vẫn biết xin lỗi, biết chia sẻ miếng cơm cuối cùng cho đồng bào lỡ bước, biết âu yếm vợ con trong lòng trước khi chết thì không thể chết. Người chủ lò bánh mì thoạt đầu kinh sợ trước thân hình như người… hủi của anh, nhưng đôi tay tài hoa làm thử những chiếc bánh mì tuyệt đẹp đã cứu cả nhà anh. Khi Hà gặp được anh thì vợ anh đã có mảnh vườn nhỏ, còn anh – sau thời gian kỳ công học đờn với một “cựu binh” sư đoàn 5 cũng cụt chân – hai người đem tiếng hát phục vụ đồng bào trên những chuyến xe, quanh khu chợ, nhà ga cho vơi nỗi nhọc nhằn vì cơm áo. “Cuộc sống cứ như thế này trôi đi là vui rồi. Chú không nghĩ gì hơn… Chú ráng làm thêm năm năm nữa là về quê với vợ…”. Sau bao nỗi trần ai, sau khi phải chôn một đứa con vì không có tiền chạy chữa, người “cựu binh” sư đoàn 23 thản nhiên nói với Hà như vậy.

Như vậy, những câu chuyện trong “Tôi là con gái của cha tôi” không chỉ có sự thua thiệt, nỗi thống khổ của một lớp người mà còn lấp lánh những đốm sáng. Đó là sự từ tâm, là bản lĩnh, là sức sống kỳ lạ của con người vượt lên bất hạnh. Hơn thế, còn có cả những tấm gương đáng gọi là anh hùng. Bạn không tin ư? Xin hãy đọc câu chuyện “Bà mẹ Cam Lộ”. Đó là mẹ của “lính ngụy” (một người là địa phương quân, một là lính dù) nhưng lại có người con đi tập kết, có chồng tham gia chống Pháp từ 1942, rồi làm xã đội trưởng, chính trị viên huyện Cam Lộ, hy sinh năm 1967. Mẹ là cơ sở nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho cách mạng, bất chấp bị bắt, tra tấn không biết bao lần!

“… Tôi sờ lên mười ngón tay mẹ không thể duỗi thẳng ra được nữa. Mười ngón tay mẹ co quắp suốt đời vì bị chích điện. Mảng da sau lưng mẹ chảy máu. Một bên mông bị lở loét lên giòi. Mẹ không khai… Mẹ thành người tàn tật suốt đời.”

Một lần, sau khi mẹ bị bắt, tra tấn dã man, người con là lính địa phương quân nhắn cho anh là lính dù Sài Gòn. Anh tức tốc bay ra, “tay cầm quả lựu đạn xông vào Ban Hai hét lên: Tại sao bắt mẹ tôi? Tại sao đánh mẹ tôi?... Anh em tôi đi lính cho ai?...”. Nhưng đến đầu năm 1971, anh bị mìn gãy xương sống tại chiến trường Campuchia. “Anh bị liệt. Chỉ còn một cánh tay phải cử động được… Ngày 1 tháng 5, vợ anh đưa anh từ Sài Gòn về… Một buổi trưa, chị đi cày về thấy chồng đã chết. Anh đã dùng cánh tay còn cử động được cầm cây dao kết thúc số phận mình. Cục sắt nguội là mẹ đổ gục bên anh…” .

Hết chữ để bình luận! Chỉ bổ sung chi tiết ngoài lề: Đọc sách của Phan Thúy Hà xong, tôi nhắn cho một bạn đồng hương (với cả tôi và Phan Thúy Hà) là cựu lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, nhờ anh nói với anh Phan Quang, khi biết anh sắp đến thăm vị nhà báo - nhà văn-dịch giả 91 tuổi vẫn in sách đều đều, trong đó có mấy cuốn cũng thuộc loại “phi hư cấu”, rằng: “Có cô gái vừa viết về bà mẹ “lính ngụy” thừa tiêu chuẩn phong anh hùng ở ngay quê anh đó! Không biết anh còn sức đọc không?”. Sách “phi hư cấu” của “lão làng” Phan Quang cũng nhiều chuyện nhân vật có thật, nhưng phần lớn là hình ảnh cao cả, tốt đẹp. Nói sự thật nhiều “lớp” là vì vậy. Sách Phan Thúy Hà dù phong phú mấy cũng vẫn chỉ mới là “một góc” sự thật. Ai chưa thỏa mãn, xin mời viết bổ sung những “góc” khác. Lại nói thêm chút nữa: Tôi nói đến “tiêu chuẩn” vì tôi đã trực tiếp làm hồ sơ cho hai anh hùng trong chiến tranh là Nguyễn Thị Kim Huế (Đại đội TNXP 759 anh hùng) và Võ Xuân Khuể (lái ca nô Phà sông Gianh). Nói ra điều này không phải để “khoe” mà để làm chứng rằng, không phải tôi viết theo cảm tính hay… quá ưu ái tác giả “đồng hương”!

Sợ bài dài quá, chứ trong “Tôi là con gái của cha tôi” còn một phụ nữ cũng rất… anh hùng, từ một phương diện khác. Chị là vợ “chú Châm” lính nhảy dù, bị thương vào chỗ kín bên sông Thạch Hãn 1973, hiện ở Bến Tre. “Trong một cái lán có hai con người sống chung với bốn con bò… Tôi không tin nổi những gì mình nhìn thấy đây là sự thật…”. Kỳ lạ hơn là chú nói “quen rồi”! Và mặc dù “cô chú chưa khi nào làm việc đó”, cô vẫn thủy chung chăm sóc chú. Nhưng cô đã khóc khi tiễn Hà…

Cũng không nên “bỏ qua” trường hợp ông Phạm Văn Nhân (bài “Tôi không mệt”) trải qua nhiều binh chủng, ngày 20/2/1975 khi được lệnh dẫn trung đội tiến chiếm một ngọn đồi ở Tây Nam Huế, sau khi lệnh cho đồng ngũ rút lui khỏi một bãi mìn thì mìn nổ khiến ông mất 1/3 cánh tay, 1/3 chân phải, bàn tay trái còn ba ngón. Vậy mà “từ năm 1995 đến nay, ông đã xuất bản 30 đầu sách về kỹ năng sống cho tuổi thanh thiếu niên, 9 cuốn tài liệu cho phong trào Hướng đạo”. Mặc dù vợ ông mất khi vừa qua tuổi bốn mươi, rồi con trai mất vì tai biến; ông phải nuôi hai cháu nội, nhưng ông nói: “Tôi sống thực tế, không mơ mộng, không ước gì, không giá như. Tôi vẫn lên mạng học tiếng Anh mỗi ngày… Tôi không mệt!”. Tác giả viết những dòng rất “vô tư”, nhưng tôi thì chỉ muốn thốt lên: Ôi chao! Là số phận và nghị lực một con người!

 

Vợ chồng chú Châm trong căn nhà giữa “cánh đồng hoang”. 

Tác giả cho biết, nay chú Châm đã mất! Lại phải thốt lên: Ôi chao là một kiếp người!


CHUYỆN “NHẠY CẢM” TRONG CUỐN “GIA ĐÌNH”

… Những câu chuyện trong cuốn “Gia đình” gọi là “nhạy cảm”, chẳng qua do… thói quen, chứ hàng chục cuốn tiểu thuyết có đề cập đến “Cải cách” đã xuất bản mấy chục năm qua còn có những cảnh “ác liệt” và bi thảm hơn nhiều. Nhưng cái khác của Phan Thúy Hà là cô ghi lại cảnh thật, người thật, có địa chỉ rõ ràng, làm bạn đọc dễ xúc động, thậm chí là phẫn uất trước những sự phi lý đến cùng cực. Một cây bút hình như chưa nhiều người biết là Lê Thanh Trường, trên Facebook gần đây thì nhận xét:

“… Chỉ có chi tiết diễn biến. Không có bức tranh phông nền của thời đại sục sôi cách mạng, chỉ có những thân người tả tơi. Rách nát, sợ hãi, đói khát, chết dúi, trốn chạy. Rất ít nước mắt. Không có căm thù. Những tình tiết cá nhân hóa tới nơi tới chốn, lại tập họp trong một cuốn sách mang cùng một giọng kể – không phải là giọng kể của tác giả, cũng không phải là giọng kể của nhân vật – giọng kể đó bật lên từ sự thật.”

Như câu chuyện số 16 do cô Cao Thị Thúy Hằng kể về người cha là ông Cao Xuân Khuê, cháu nội nhà văn - nhà văn hoá Cao Xuân Dục – người từng hết lòng giúp đỡ gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc khi gia đình cụ Phó bảng gặp khó khăn. Ông Khuê bị bắn khi mới 36 tuổi! Mà đau đớn và phi lý đến cùng cực vì ông đâu phải địa chủ, ác bá hay phản động. Ngược lại, ông tham gia Việt Minh từ 1944, đến năm 1949-1950 đã là cán bộ quân đội cấp tỉnh ở Nghệ An và Quảng Bình.

“Cha được minh oan, mẹ đi tìm cha… Người ta nói rằng khi lấp sơ sài lắm, có lẽ biển đã cuốn đi. Một buổi chiều năm 1974 có hai cha con… thấy giữa một bãi có nước sôi lên… Họ đào lên được một bộ xương… Mẹ đã nhận ra đó là hài cốt của cha. Nhờ vào hộp sọ và chiếc răng vàng. Hộp sọ có một lỗ đạn từ dưới cổ họng xuyên lên não. Mẹ nói rằng khi đó người ta cố tình không bắn vào người cha. Ba phát đạn không trúng. Một du kích đã đến sát mặt cha, ấn súng từ cổ xuyên thẳng lên não”.

Trong câu chuyện đau đớn này vẫn lấp lánh tình người. Có ba du kích không chịu bắn vào ông Khuê. Trong “Gia đình”, bên cạnh những nỗi cay đắng khôn cùng còn nhiều biểu hiện của lòng tốt, tình nhân ái. Về sự kiện “Cải cách”, lại hầu hết là chuyện ở Nghệ Tĩnh, có thể nói tôi cũng là “người trong cuộc”, nên xin trích dẫn ý kiến của một số bạn đọc khác, với cái nhìn khách quan, hẳn có lợi hơn. Bạn trẻ Hương Quỳnh ở TP. Hồ Chí Minh, đã viết trên Facebook của mình:

“Nhưng trong tăm tối lại vẫn có những lấp lánh, trong đau đớn vẫn có dịu mát, trong khi bị đày đoạ vào kiếp “con” thì tình người vẫn quằn quại tìm cách tồn tại. Phan Thuý Hà bảo rằng đó mới là những thôi thúc cô cầm bút, và với người đọc thì đó chính là những nâng đỡ để có thể đọc tiếp sau những chấn động từ sự thật. Ký ức những đứa trẻ ngày ấy vẫn ghi nhớ củ khoai luộc ném qua hàng rào, nắm cơm giấu trên kè vách. Lời dặn dò của người cha, người mẹ trong tột cùng đớn đau, mất mát vẫn ghi ơn người đã lén cởi trói, người đã bưng một chén nước, người bỏ chạy từ chối nói lời trái với lương tâm, vẫn đinh ninh ngày mai sự thật được soi tỏ, lẽ phải được minh định. Câu chuyện của những người già hôm nay cũng vậy, đã tự mình vươn dậy sau cuộc bể dâu, vẫn trưởng thành, vẫn thành đạt, vẫn yêu thương, họ không thốt một lời oán than, trách móc. Chấp nhận số phận gia đình mình là một phần của khúc quanh lịch sử lạc vào bóng tối, giọt nước mắt hôm nay chiêu tuyết cuộc đời. “Con người sinh ra để sống lương thiện, không phải để hận thù”, nhân vật kể câu chuyện số 3 nói vậy.”

Lại xin dẫn thêm một đoạn của anh Lê Thanh Trường, để thấy “Gia đình”, tuy là chuyện buồn “ngày xưa”, vẫn rất có ích cho cuộc đời hôm nay:

“… Mặc dù nhiều nạn nhân cho đến giờ phút này vẫn còn run rẩy, vẫn không dám kể lại cho con cháu những tai kiếp của gia đình, nhưng chính sự tồn tại của họ – có không ít thành đạt nữa – đã biểu thị cho sức sống tự nhiên và mầm mống tư cách mà họ được huân dưỡng trong quãng thiếu thời ngắn ngủi. Những cuộc đời mang nặng ký ức oan khiên và tình thương nhớ người thân đã mất, họ không biết mình là những biểu trưng có thể sờ chạm được của một khái niệm: văn hóa. Nhìn ở góc độ đó, cuốn sách dường như đã bênh vực không chỉ sự bền vững của các giá trị nhân tính và gia đình, mà còn là sự di truyền lạ lùng của văn hóa. Cái hột mầm đó chưa bao giờ bị đập nát, nó chỉ cần được giữ gìn và gieo lại trên đất đai thích hợp.

Ý tưởng đó khi đọc “Gia đình”, thực sự là niềm an ủi cho ngày hôm nay. Có biết bao nhiêu hột giống cần om giữ cho một ngày mai làm xanh lại đám tro tàn.”

Tôi mượn vài đoạn trích trên đây thay vì thêm một lời cảm ơn Phan Thúy Hà. Nói là “thêm” vì mấy ngày qua, một nhà văn từng viết tiểu thuyết lịch sử thành công và con trai một bộ trưởng danh tiếng thời cụ Hồ mới lập quốc, sau khi đọc sách của Hà, đã nói với tôi: “Cảm ơn Hà nhiều lắm!...”.

ĐÔI ĐIỀU VỀ NGHỆ THUẬT VIẾT TRUYỆN “PHI HƯ CẤU” CỦA PHAN THÚY HÀ

Với sách “phi hư cấu”, hình như nhiều người cho điều quan trọng nhất là có bao nhiêu sự thật và tác giả trung thành với sự thật như thế nào. Ba cuốn sách của Phan Thúy Hà được chú ý vì chất chứa lớp lớp sự thật; nhưng không chỉ có thế. Được biết, tác giả từng làm biên tập viên văn học ở một nhà xuất bản chục năm, nên hẳn đã cân nhắc, lựa chọn cách viết cẩn thận làm sao để có thể truyền tải một cách hữu hiệu nhất các nội dung của sách.

Tác giả Lê Minh Hà, trên Facebook của mình thì nhận xét văn của Phan Thúy Hà “Giản dị tận cùng…lặn vào trong ký ức cùng người kể, không tô vẽ, không nống lên, không bình luận. Rất hay, vì rất đau”.

Còn nhà phê bình Đặng Tiến đánh giá cao chỉ với một dòng vắn tắt: “Văn của chị ấy đã tẩy trắng các biện pháp tu từ, lối viết nơi chị đạt tới “độ không” …”

Bạn đọc đã thấy phần nào những điều đó thể hiện trên các đoạn trích dẫn ở trên. Tôi đồng tình với hai ý kiến vừa dẫn, nhưng có lẽ vẫn cần bổ sung. Chữ “giản dị” có lẽ chưa làm bật nổi phong cách của Phan Thúy Hà. Rất nhiều người có cách viết giản dị. Có lẽ chỉ riêng Hà đã chọn lối viết những câu vắn tắt, nhiều khi cụt lủn, sai ngữ pháp, nhưng lại gần đúng nhất với cách kể chuyện nhiều đứt gãy của nhân vật, đúng cả với tâm tư chán chường, đang muốn quên đi của người kể. Những đoạn văn như thế khiến bạn đọc phải tưởng tượng, hình dung tình cảnh nhân vật và những điều họ không tiện nói ra. Và như thế, nói theo thuật ngữ văn chương, bạn đọc đã trở thành “đồng tác giả”; tác phẩm trở nên phong phú hơn, nhiều tầng hơn. Nhìn ở góc độ tâm lý, tác giả đã tiết chế cảm xúc của mình; khi đó, cảm xúc ẩn sau những câu cụt, trần trụi sẽ bùng lên, đọng lại lâu trong trái tim người đọc.

Quả là nhiều câu văn của Phan Thúy Hà “đã tẩy trắng các biện pháp tu từ, lối viết nơi chị đạt tới “độ không”…”; nhưng không phải trang nào cũng thế. Tác giả không ngần ngại bộc lộ cảm xúc, như sau khi bị “đuổi” khỏi căn nhà trong khu “gia binh” Thành Nội Huế: “… Mẹ và con giàn giụa nước mắt.” Trong truyện “Những cây dừa lão” về cuộc đời vợ chồng “chú Châm”, phép “tu từ” của tác giả là đặt những cảnh tương phản cạnh nhau để làm nổi bật sự trớ trêu của số phận; sau khi tả cảnh hai người sống chung với bốn con bò, vợ chồng thì “chưa khi nào làm việc đó”, tác giả buông một câu: “Ngôi nhà của cô chú giữa cánh đồng nhìn từ xa thanh bình yên ả.” Tuy vậy, liền sau đó, cô viết: “…Qua không biết bao nhiêu là cây cầu, tôi mới dừng lại được. Tôi gục mặt xuống bàn tay. Tôi khóc nấc lên.”

Tác giả không ngại bộc lộ cảm xúc. Và nỗi xúc động lập tức truyền sang độc giả. Vì họ biết tác giả không “diễn” qua cách miêu tả không thể chân thực hơn.

Với một tác giả chưa có nhiều kinh nghiệm trong “trường văn trận bút” và có khi ban đầu Phan Thúy Hà không hề có ý định “làm văn” khi bắt tay viết bộ sách “phi hư cấu” này, nên không khó chỉ ra những điều chưa làm bạn đọc vừa ý. Chân thật là phẩm chất vượt trội trong sách của Phan Thúy Hà, nhưng đôi chỗ lại trở thành nhược điểm, khi tác giả thật thà kể lại những việc không cần thiết, không gắn mấy với số phận nhân vật, khiến bạn đọc cảm thấy dài dòng, như đoạn đầu truyện “Những cây dừa lão”. Truyện số 1 (“Người bên sông Ngàn Sâu” – tập “Đừng kể tên tôi”) dài đến 100 trang, cũng có không ít đoạn kể những điều mà nhiều cuốn sách khác đã nói đến. Có thể tác giả tôn trọng lời người kể và… tiếc, không đành bỏ bớt những dòng chữ mà phải công phu mới có được. Và cũng có thể với một ông già trên 80 tuổi đã qua “chinh chiến” như tôi thì cảm thấy không mới, không cần thiết, nhưng với tác giả, với lớp trẻ hôm nay vẫn hấp dẫn và quan trọng. Nói cho công bằng, hình như người viết nào cũng “phạm” cái “lỗi” này. Đến như lão nhà văn Tô Hoài thầy tôi, trong cuốn sách “phi hư cấu” kể chuyện làm cán bộ khu phố, cũng có không ít đoạn tẻ nhạt mà tôi gọi vui là cỡ như thầy, mới dám “độn” vào…

Ba cuốn sách “phi hư cấu” của Phan Thúy Hà có đặc điểm mà tôi tạm gọi là “dây chuyền” – người này mách tác giả nên tìm đến người nọ; rồi người đọc cuốn này cuốn khác, gọi cho tác giả: “Tôi cũng có chuyện muốn kể với cô…”. Đại thể như vậy. Đó là niềm vui không đo đếm được của tác giả. Nhưng cũng là trách nhiệm. Và từ đó, chúng ta hy vọng sẽ được đọc tiếp những cuốn sách khác đầy ắp sự thật có sức làm thức tỉnh lương tri con người của Phan Thúy Hà. Với các nhà văn, bộ ba sách “phi hư cấu” của cô gái vừa chạm tuổi bốn mươi bên sông Ngàn Sâu là lời nhắc nhở rằng cuộc sống phong phú và số phận chìm nổi của ngàn vạn con người sống thầm lặng khắp nơi trên đất nước đang trông chờ các cây bút giàu tâm huyết tìm đến…

N.K.P.

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

Văn học chấn thương

 


Văn học chấn thương

– Đọc “Gia đình” của Phan Thúy Hà

Nguyễn Lương Hải Khôi

--

“Văn nghệ chấn thương”

Năm 1978, anh sinh viên văn chương năm nhất ở Đại học Phúc Đán, Thượng Hải là Lư Tân Hoa (卢新华Lu Xinhua) viết truyện ngắn “Chấn thương” (“Thương ngân”伤痕“Shānghén”), kể về chấn thương tinh thần của nhân vật nữ Thiếu Hoa, một thành viên của Hồng Vệ binh, trong cơn say của cuộc cách mạng “không có gương mặt con người”, đã tuyên bố từ bỏ mẹ ruột chỉ vì bà bị kết tội “phản Đảng”. Tác phẩm này mở đầu cho dòng văn học nghệ thuật phản tỉnh những nỗi đau con người trong phong trào cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Từ đó, tên của tác phẩm, “chấn thương”, cũng trở thành tên gọi của dòng văn học đó, “văn học chấn thương” (“Thương ngân văn học” 伤痕文学 “Shānghén wénxué”). Trên thế giới, tác phẩm nổi tiếng nhất của dòng văn học chấn thương Trung Quốc có lẽ là tiểu thuyết “Phải sống” (活着 Huózhe) của Dư Hoa (余華 Yú Huá) năm 1993, được đạo diễn Trương Nghệ Mưu dựng thành phim, mô tả những thảm họa của các cuộc đại nhảy vọt và đại cách mạng văn hóa của Mao.

“Văn học chấn thương” là một hiện tượng phổ quát ở các nước hậu cộng sản, không chỉ ở Trung Quốc mà từ Nga, Đông Âu đến Việt Nam, sau khi cơn sóng thần đỏ rút đi, để lại một cõi hoang tàn nơi nhân thế và trong lòng người.

Riêng ở Việt Nam, văn học chấn thương có thể được chia làm ba giai đoạn: 1954 – 1975, 1975 – 1990, và từ 1990 trở đi.

Trong giai đoạn 1954 – 1975, ở miền Bắc, một số ngòi bút hiện thực đã tái hiện đời sống miền Bắc xã hội chủ nghĩa và thảm họa Cải cách ruộng đất 1953 – 1956. Tác phẩm mở đầu có thể là “Anh Cò lấm” của Trần Dần (bút danh Trần Bá Xá), đăng báo “Tổ quốc”, số 27, ngày 20 tháng 1 năm 1956. (Ba tháng sau, ngày 5 tháng 3 năm 1956, báo “Tổ quốc” đã phải đăng một bài tự phê bình, nói rằng cấp dưới “thiếu cảnh giác” đăng truyện ngắn “phản động” “nham hiểm” “thô bỉ” này mà không hỏi ý kiến Ban biên tập.)[1]. Kế đến là truyện “Sắp cưới” (1957) Vũ Bão. Tác phẩm kể về một đôi lứa yêu nhau, sắp cưới thì cải cách ruộng đất bùng nổ, gia đình cô gái bị quy địa chủ, chàng trai xa lánh cô. May thay, cuối cùng cách mạng sửa sai và họ trở lại với nhau. Cũng trong 1957, Hữu Mai xuất bản “Những ngày bão táp”, vẽ một bầu không khí u ám, oan ức, và những nỗ lực sửa sai của Cải cách ruộng đất. Tác phẩm được Phan Nhân, Trưởng ban Văn nghệ báo Nhân dân, đánh giá cao, vì nó cho “chúng ta thấy nhân dân bao giờ cũng sáng suốt và dũng cảm. Cho nên, mặc dù nói đến sai lầm, “Những ngày bão táp” không phải là một bức tranh màu xám.” (Báo Nhân dân, ngày 11 tháng 4 năm 1957).

Hai tác phẩm này, chúng ta chưa thực sự cảm nhận một chấn thương tinh thần ở tầm xã hội. “Anh Cò lấm” chủ yếu dùng giọng văn châm biếm. “Sắp cưới” kết thúc có hậu. Tuy nhiên, đến “Vào đời” (1963) của Hà Minh Tuân, thế giới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc hiện ra với những “chấn thương” thực sự. Nhân vật nữ tên Sen bị xã hội đẩy vào bước đường cùng, chồng cô là Hiếu mang chấn thương tinh thần vì cha mình bị sát hại trong cải cách ruộng đất, ghê tởm xã hội phong kiến trá hình, và đi vào con đường chống đối rồi bị tù tội.

Trong khi đó, ở miền Nam, “Giải khăn sô cho Huế” (1969 – 1970) của Nhã Ca ghi lại những nỗi kinh hoàng của người dân Huế khi thành phố bị tấn công vào Mậu Thân 1968, “Trại Đầm Đùn” (1970) của Trần Văn Thái ghi lại cảnh sống và chết của tù nhân trong một trại tù ở miền Bắc thập niên 1950. “Dựa lưng cõi chết” (1971) của Phan Nhật Nam cùng đề tài với “Giải khăn sô cho Huế”.

Sau 1975, ở hải ngoại, có một dòng văn “thuyền nhân”, như cách nói của GS. Nguyễn Ngọc Bích trong bài tham luận “Văn chương lưu đày của người Việt” tại Đại học George Mason năm 1985. Dòng văn học này phản ánh những ám ảnh vì bầu trời sụp đổ (“Tháng ba gãy súng”, Cao Xuân Huy), “người ta mê đi vì lo âu và sợ hãi” (“Thuyền”, Bùi Bích Hà), nỗi đau mất quê hương và tình yêu cuộc sống giúp họ vươn lên trong bối cảnh mới, vượt lên nghịch cảnh của cuộc lưu vong “bị xua đuổi như đàn ruồi” (“Ánh mắt”, Trương Anh Thụy), những ám ảnh về sống chết, mất còn (“Cũng đành”, Song Thao). Dòng văn chương lưu đày này lưu lại cho chúng ta sự bất lực của ngôn từ trước những chấn thương tinh thần khốc liệt. “Làm sao tả được cảnh những người phụ nữ Việt Nam nằm trần truồng trên sàn ghe như những con cá vừa được kéo lên, đang chờ mổ bụng, ướp đá? Làm sao tả được tâm trạng của người chồng bị trói chặt, nhìn người vợ mang thai bị hải tặc hiếp dâm trước mắt? Làm sao tả được tiếng kêu của em bé lên sáu, lên năm khi nhìn xác mẹ mình bị ném xuống biển sâu? Làm sao tả được cảnh người thoi thóp phải ăn thịt người vừa chết để kéo dài sự sống trên chiếc ghe chết máy lênh đênh nhiều tháng trời trên biển Đông? Không, những câu chuyện vượt biên bi thảm là những viên đá nghìn cân đè nặng lên số phận của đồng bào bất hạnh và sẽ muôn đời ở lại trong lòng biển” (“Sự im lặng của biển”, Trần Trung Đạo).

Từ 1991, ở trong nước, văn học chấn thương quay trở lại. Đầu tiên là “Ác mộng” (1991)[2] của Ngô Ngọc Bội với những chấn thương tinh thần của con cái khi mẹ đấu tố cha đến chết trong Cải cách ruộng đất. “Ba người khác” (viết xong 1992, xuất bản 2006) của Tô Hoài khắc họa sự bùng nổ của sự tàn ác và dâm dục của con người khi tham gia vào cuộc cách mạng ruộng đất kinh hoàng. “Chuyện làng Cuội” (1993) của Lê Lựu, tái hiện đời sống miền Bắc mấy chục năm, từ sau Cách mạng tháng 8 đến Cải cách ruộng đất, rồi chuyển sang cơ chế thị trường, xã hội chìm đắm trong thói quen làm theo chỉ thị và nghị quyết, ngay cả khi giết người, còn luật pháp tuy có đấy nhưng chỉ để trang trí. “Thời của thánh thần” (2008) của Hoàng Minh Tường khắc họa lịch sử Việt Nam hiện đại qua câu chuyện một gia đình, từ sau Cách mạng tháng 8, Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, tị nạn sau 1975, mỗi thành viên trong gia đình bị thời cuộc ném vào một số phận khác nhau.[3] “Cuồng phong” (2008) của Nguyễn Phan Hách tái hiện lịch sử theo mô hình chính thống của nhà nước, nhưng cũng có những phần khắc họa những bi thương mà cuộc cách mạng ruộng đất đem lại. “Dưới chín tầng trời” (2010) của Dương Hướng cho thấy một thời kỳ chìm đắm trong những tăm tối do cuộc cách mạng ý thức hệ mang lại, nhưng bất kỳ ai trong hoàn cảnh đó, dù hiểu hay không hiểu những quái gở của ý thức hệ, cũng không thể vượt qua. “Nước mắt một thời” (2009) của Nguyễn Khoa Đăng là cuộc đời đau đớn và tủi nhục của một gia đình trước những tàn ác của Cải cách ruộng đất. “Đội gạo lên chùa” (2011) của Nguyễn Xuân Khánh cũng tái hiện lịch sử Việt Nam hiện đại thông qua những mảnh đời ẩn trong một ngôi chùa làng, có đau đớn, mất mát nhưng được nằm che chở dưới tinh thần “Vô Úy” của Phật giáo. “Biết đâu địa ngục thiên đường” (2010) của Nguyễn Khắc Phê cũng tham vọng khái quát lịch sử thông qua những bi thảm, đau thương của những số phận nghiệt ngã, nhưng vẫn vững tin vào khả năng tự hàn gắn vết thương tinh thần của các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Nhắc lại vắn tắt lịch sử các tác phẩm văn học chấn thương nói chung, và văn học về đề tài Cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam thập niên 1950 nói riêng, chúng ta thấy phần lớn các tác phẩm có nói đến cuộc cách mạng ruộng đất này thì chỉ nói đến nó như là sân khấu làm nền cho đời sống của nhân vật. Những chấn thương tinh thần do Cải cách ruộng đất gây ra, dường như, mới chỉ được thể hiện tập trung ở hai tác phẩm là “Ác mộng” (1991) của Ngô Ngọc Bội và “Ba người khác” (viết xong 1992, xuất bản 2006) của Tô Hoài (và một phần trong “Vào đời” năm 1963 của Hà Minh Tuân). Cả hai tác phẩm này đều ra đời trong bối cảnh khối xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu vừa tan rã. Đến “Gia đình” (2020) của Phan Thúy Hà, một lần nữa, nó trở thành chủ đề trung tâm, với một bút pháp hoàn toàn mới mẻ.

Cách viết của “Gia đình”

Khái niệm trung tâm để chúng ta đọc tác phẩm “Gia đình” của Phan Thúy Hà là “chấn thương”. Nó là sự tiếp nối hai tác phẩm “Đừng kể tên tôi” (2017) và “Tôi là con gái của cha tôi” (2019). “Đừng kể tên tôi” là tiếng nói của những người lính miền Bắc, còn “Tôi là con gái của cha tôi” là tiếng nói của những người lính miền Nam, tất cả họ, dù bước vào cuộc chiến vì nghĩa vụ hay vì lý tưởng, đều là những số phận nhỏ bé, bị thời cuộc xé nát trong cuộc chiến Nam Bắc tàn khốc. Còn “Gia đình” là một mảnh của lịch sử cuộc Cách mạng ruộng đất của phong trào cộng sản ở miền Bắc Việt Nam thập niên 1950. Tất cả các nhân chứng trong sách “Gia đình” đều mang một chấn thương tinh thần không thể chữa lành.

Nhân chứng Trần Lệ:

Mười lăm tuổi, tôi là đứa trẻ sợ hãi. Đêm, bị nhốt trong chuồng trâu. Chân giẫm lên phân. Các thanh chắn chuồng trâu thưa, có thể chui ra ngoài nhưng tôi không dám. Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai tuổi tôi vẫn là ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một điều gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình. Cầm bút lên tôi lại run.

Nhân chứng Nguyễn Bút:

Hai chị dâu con bác kéo xác chị đi chôn. Chôn ở đâu, không ai nhớ nữa. Nỗi khiếp sợ khiến cho các chị không còn nhớ gì nữa. Các chị chỉ nhớ lúc đó không ai còn sức nên không kéo được đi xa, cũng không đào được sâu.

Nếu tôi ở lại, chị em dựa vào nhau. Hay tôi cũng chết giống như chị.

Chị Loan dằn vặt. Giá hôm đó giữ chị Liên ở lại, đừng để cho chị về thôn Cầu. Nếu lường trước được chuyện xảy ra thì cha mẹ tôi đã bỏ lại tất cả, đưa các con đi khỏi thôn Cầu ngay từ đầu. Nếu, thì, làm sao ra nông nỗi mười một cái chết đau thương như vậy trong nhà bác Cả, bác Hai và nhà tôi.

Văn học như là vi-lịch sử

Tác giả Phan Thúy Hà chia sẻ rằng trong Lời cuối sách của “Gia đình”, cũng giống như hai tác phẩm trước, các nhân vật đều là người thật, tên của nhân vật cũng là tên người thật, câu chuyện của họ trong tác phẩm là sự thật trong ký ức của họ. Như vậy, ở đây, tác giả không hư cấu mà chỉ viết lại lời kể từ điểm nhìn của nhân chứng. Chị cho biết, có câu chuyện trong tuyển tập này, tuy chỉ dài hai trang nhưng chị phải đi gặp tới bốn người, lắng nghe họ để ráp nối các sự kiện và dựng lại cho câu chuyện được đầy đủ. Như vậy, tác phẩm còn là một công trình khảo sát xã hội nữa. Không phải là khảo sát ở quy mô lớn, mà là khảo sát số phận những con người cụ thể.

Bằng cách này, Phan Thúy Hà làm cho nghệ thuật và khoa học của “vi lịch sử” gặp nhau. “Vi lịch sử” (micro history) là một nhánh mới của sử học gần đây. Sử học truyền thống phục dựng thời đại đã qua chủ yếu bằng cách khảo sát những nhân vật lớn, những anh hùng, những nhà tư tưởng, nhà kinh tế lớn, những trận đánh, những hiệp ước xoay chuyển thời đại… Vi lịch sử phục dựng diện mạo của thời đại đã qua bằng cách khảo sát những con người nhỏ bé, những số phận hoàn toàn vô nghĩa, những con người “không tên, không tuổi, không tiền” của những thời đại đã qua. Vi lịch sử chọn cách tiếp cận này vì đối với nó, những số phận nhỏ bé này, những con người bên lề này lại cung cấp những dữ liệu để sử gia nhìn thấy những phiên bản khác của thời đại cũ, những góc khuất của lịch sử mà những “nhân vật lớn” của sử học truyền thống không cho ta thấy được.[4]

“Gia đình” (cũng như “Đừng kể tên tôi” và “Tôi là con gái của cha tôi”) của Phan Thúy Hà cũng là một dạng thức nghiên cứu về chấn thương tinh thần của những con người nhỏ bé, đứng bên lề dòng thác khốc liệt của lịch sử, số phận bị quyết định bởi sự lựa chọn lịch sử của những “nhân vật lớn”. Nhưng qua đời sống tinh thần của họ, chúng ta nhìn thấy những đường nét, màu sắc và hình khối khác của bức tranh lịch sử, khác hoàn toàn với những đường nét, màu sắc và hình khối đứng ở trung tâm của bức tranh lịch sử “cỡ lớn” được khắc họa thông qua những nhân vật “lớn”, nhân vật “trung tâm” của thời đại, tức những chính trị gia, những tướng lĩnh quân sự. Thậm chí, những mảng màu trong bức tranh lịch sử được phục dựng từ những con người nhỏ bé này có thể trở thành điểm trung tâm của bức tranh đã qua, tùy theo điểm nhìn của người xem.

Viết văn như sắc thuốc: Lịch sử tự cất tiếng nói

Viết văn bằng cách kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học lịch sử (vi lịch sử), Phan Thúy Hà không phải là, hoặc không chỉ là “nhà văn”. Chị là một “tác giả”. Cách viết của chị khi xây dựng tác phẩm này giống như hái một nắm lá về sắc thuốc. Trong y học cổ truyền, sắc thuốc là cho lá thuốc vào nồi ấm đất, đun sôi để tạo ra nước cốt. Người ta không đun lửa quá to, chỉ đun lửa nhỏ, để nước sôi dần sao cho không bao giờ trào ra khi sôi. Người sắc thuốc không tự tay tạo ra thuốc, không tác động vào nguyên liệu bằng kỹ thuật tinh xảo. Họ chỉ tạo điều kiện để thuốc tự ra đời.

Nói như vậy không có nghĩa “Gia đình” không phải là một sáng tạo văn học của tác giả, ngược lại, đó là một sáng tạo độc đáo. Tác giả sử dụng giọng văn triệt tiêu mọi cảm xúc chủ quan của chính mình. Trong “Gia đình”, chúng ta không thấy hình ảnh tác giả hiện lên trong câu chuyện, dù đó là cảm xúc hay quan điểm của chị, mà chỉ có nhân vật người thật đang kể lại những chấn thương tinh thần của họ. Điều đó có nghĩa là, tác giả từ bỏ vai trò của “người sáng tạo” theo cách hiểu của văn học truyền thống, để trở thành một “nền tảng” (“platform”) nơi sự thật tự nó phơi bày, hay, trở thành một cửa ngõ để những mảnh đời sống tinh thần đang ẩn hiện đâu đó trong lòng xã hội được đi qua để hiện diện một cách trực quan và thuần khiết trước mắt cuộc đời. Cánh cửa mở ra, không phải để lôi kéo sự chú ý của người khác đến mình, mà chỉ để những gì đằng sau nó hiện ra trước ánh sáng.

Câu chuyện lịch sử diễn ra cách đây bảy thập niên, do đó, không được phản ánh như là nhận thức của tác giả, dù là nhận thức chủ quan hay khách quan, mà chỉ như là những dữ liệu khách quan, cụ thể là những dữ liệu khách quan về những chấn thương còn đọng lại trong tinh thần của những con người nhỏ bé bị cơn cuồng phong đỏ xé nát. Một mảnh nhỏ của lịch sử tự nó cất tiếng nói.

Nói cách khác, người sắc thuốc là người vụng về, tác giả không miêu tả tâm lý nhân vât, không sắp xếp câu chuyện bằng những kỹ thuật thời thượng, nhưng cái vụng về này là cái vụng về lớn của tài năng lớn, không để cái tôi của mình đúc khuôn hình ảnh của cuộc đời. Cách viết này không chỉ làm cho nhà văn không tự quyết định cách hiểu của độc giả thông qua thẩm quyền áp đặt của người viết, nó còn làm cho tác phẩm không phải là một thông điệp về giáo dục, đạo đức hay thẩm mỹ.

Ở “Gia đình”, tác phẩm không được tạo ra như một khách thể thẩm mỹ (aesthetic object) để người đọc, người xem thưởng thức như một đối tượng tự nó hàm chứa sẵn các thông điệp và giá trị, và do đó, nhiệm vụ của người đọc, người xem cũng không phải là khám phá được các giá trị và thông điệp đó, thông qua việc giải mã các kỹ thuật viết của tác giả. Người đọc không cần có nỗi lo mình không đủ tầm về kinh nghiệm hay tri thức để hiểu tác giả và tác phẩm. Bởi lẽ người đọc không có nhiệm vụ hiểu những thông điệp có sẵn, mà người đọc giống như cái trống, còn tác phẩm như bàn tay vỗ trống. Ý nghĩa và giá trị của tác phẩm thông qua một mảnh lịch sử diễn ra cách đây hơn bảy thập niên giống như âm thanh được tạo ra từ sự tương tác giữa cái trống và bàn bay. Ý nghĩa vốn không có sẵn trong tác phẩm. Mỗi người đọc tạo ra một hình ảnh về lịch sử của riêng mình.

Cách viết của “Gia đình”, do đó, làm cho giá trị của nó không dừng lại ở địa hạt văn chương, nói đúng hơn, nó không phải là văn chương theo cách hiểu truyền thống. Chúng tôi không biết tên để gọi thể loại của tác phẩm, chỉ biết rằng, đó là một tác phẩm để chúng ta nhận thức về lịch sử một cách khách quan.

Tòa án Cải cách ruộng đất

Các nhân chứng trong “Gia đình” phần lớn thuộc Nghệ Tĩnh, trừ nhân chứng cuối cùng ở Nam Định. Trong chiến tranh Việt Pháp, Nghệ Tĩnh là vùng Pháp không kiểm soát. Chính phủ Việt Minh kiểm soát phần lớn vùng này, nhưng khi Cải cách ruộng đất nổ ra, đây là nơi có nhiều người bị vu cáo và thanh trừng nhất.

Các nhân chứng trong những câu chuyện của Phan Thúy Hà thuộc nhiều nhóm khác nhau, có khi là nông dân, cũng nghèo khổ như người đấu tố mình, có khi là gia đình quý tộc thời trước, như con cháu Thượng thư Cao Xuân Dục, Bộ trưởng Đặng Văn Hướng… Họ ngay từ 1945 đã đi theo tiếng gọi của Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Có người kinh doanh, tích lũy được một hộp vàng, đem hiến tặng ngay cho chính phủ khi có lời kêu gọi “Tuần lễ vàng”. Gần đến ngày chiến thắng, một cơn sóng thần kinh hoàng ập đến, không phải từ phía Pháp mà từ chính đồng bào và chính quyền mình phục vụ.

Nghe lời kể các nhân chứng, chúng ta cảm nhận được một cảm xúc rõ ràng dù không nói nên lời: Họ không hiểu vì sao chính những người nông dân vốn hiền lành, chất phác, nhiều người từng được họ cứu giúp lúc hoạn nạn, bỗng đột nhiên trở nên tàn ác, man rợ như quỷ dữ, khi họ xuất hiện trong các tòa án Cải cách ruộng đất và cả sau đó nữa.

Ký ức lịch sử của những con người nhỏ bé trong “Gia đình” cung cấp cho chúng ta ngày nay một bức tranh chung về những tòa án trong Cải cách ruộng đất thập niên 1950 ở miền Bắc. Đó không phải là một tòa án theo cách kiểu của văn minh nhân loại. Đó là một không gian xã hội nơi con người bị không còn bất kỳ ràng buộc nào về đạo đức và luật pháp. Các giá trị của đạo đức và pháp quyền mà nhân loại xây dựng từ khi bắt đầu bước vào văn minh đã hoàn toàn bị xóa bỏ, chỉ trong một khoảnh khắc, con người quay trở lại kỷ nguyên hoang dã.

Nhân chứng Trần Lệ:

“Trống ba hồi chín tiếng. “Lôi cổ tên địa chủ Trần Khiên ra đây”. “Ngẩng mặt lên trời”. Đêm đấu tố bắt đầu.

Trời đã gần về sáng. Không còn ai hăng hái. Không ai lên đấu nữa. Đội hỏi: Giờ theo bà con nên xử thế nào? “Một cái mọ tro cho xong”. Tôi giật thót, quay xuống nhìn người vừa nói câu đó. Một người ở cùng làng. Anh ta có hận thù gì nhà tôi đâu. “Một cái mọ tro” có nghĩa là “một viên đạn”. Anh muốn cha tôi bị xử bắn.

…

Cha đứng dưới mái chuồng lợn. Một sợi dây thừng nối từ chỗ trói tay buộc vào gốc cây. Hai cánh tay trói sát sườn. Bàn tay vẫn cử động được. Chị em tôi ra với cha. Tôi bưng bát cơm mời cha. Bàn tay cha giơ ra đón. Sợi dây trói giật mạnh. Bát cơm rơi xuống. Người dân quân đứng trong bụi cây cầm sợi dây hả hê đứng nhìn. Bát không vỡ. Cơm đổ ra.

…

Cha ngồi xuống, nhặt từng hạt cơm vào miệng. Hôm sau. Trống ba hồi chín tiếng. Mẹ và bảy đứa con ra đứng bên đường. Đợi cha đi qua. Nhìn theo. Cha quay lại nhìn các con. Cha muốn nói điều gì. Trống ba hồi chín tiếng.

Ba năm sau tôi cùng mẹ lên nghĩa địa trại giam đưa cha về. Tôi chạm tay vào hộp sọ.Tôi bê lên. Tôi gọi thầm.”

Nhân chứng Phan Thị Tứ:

Một cái dây tròng vào cổ. Xác cha tôi bị kéo đi từ trường cơ bản xuống Bến Nại. Đoạn đường đá lởm chởm. Đá chọc vào da thịt. Da thịt găm vào mỏm đá sắc. Con mương dài là lối trâu đi ra đồng. Xác cha nằm đó. Giữa lối trâu đi. Xác ông Long cũng nằm đó, úp mặt, trong con mương. Ông Long bị bắn vào buổi sáng. Hai người làng Châu Hạ. Chị tôi điên dại khi nghe kể lại. Chị lên cơn đau tim. Chị ra đi khi tuổi đời còn trẻ.

Chúng ta hãy thử giải mã cơ chế làm cho những nông dân chất phác hiền lành bỗng chốc thành ác quỷ trong cuộc cách mạng đó.

Như một mẫu số chung, thập niên 1970, ở châu Âu, có một nghệ sỹ khác, Marina Abramovic, cũng sinh ra và lớn lên trong khối cộng sản chủ nghĩa giữa thế kỷ 20 (Nam Tư), thực hiện một tác phẩm nghệ thuật thuộc thể loại “nghệ thuật trình diễn” (performance art), “Rhythm 0” (tạm dịch là “Nhịp điệu số 0”) năm 1976 ở Naples, Italia, nhưng cũng cho chúng ta thấy cùng một thông điệp với cuốn sách “Gia đình” của Phan Thúy Hà. Diễn biến của các phiên Tòa trong Cải cách ruộng đất, trong hồi ức của các nạn nhân, giống như diễn biến của nhân cách con người trong tác phẩm nghệ thuật trình diễn “Rhythm 0” mà Marina Abramovic đã làm cho lộ ra.

Marina mời khán giả tham gia vào tác phẩm, và giống như “Gia đình” của Phan Thúy Hà, khán giả vừa tham gia tạo nên tác phẩm, vừa trở thành một phần của tác phẩm. Nghệ sỹ Marina cung cấp 72 đồ vật như cành hoa hồng có gai, dây xích, dao, kéo, súng đã nạp đạn, búa, rìu… cho công chúng và đặt ra một cam kết: Họ có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn trên cơ thể cô mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ quy định pháp lý hay đạo đức nào.

Theo nhà phê bình nghệ thuật Thomas McEvilley, người quan sát buổi trình diễn, “ban đầu nó diễn ra khá là bình thường”, nhưng “đến giờ thứ ba, tất cả quần áo của cô đã bị cắt khỏi người bằng dao cạo. Đến giờ thứ tư, những lưỡi dao tương tự bắt đầu khám phá làn da của cô. Cổ họng của cô đã bị rạch để ai đó có thể hút máu. Nhiều vụ tấn công tình dục […] khác nhau đã được thực hiện trên cơ thể cô ấy… Khi một khán giả chọn khẩu súng đã nạp đạn chĩa vào đầu Marina và đưa ngón tay của cô ấy xoay quanh cò súng, một cuộc ẩu đả nổ ra giữa các phe khán giả.”

Đương thời, tác phẩm gây chấn động cho công chúng nghệ thuật phương Tây, bao gồm cho cả chính người tham gia vào tác phẩm, vì nó phơi bày một sự thực trong tinh thần và cách tổ chức xã hội người. Trong một không gian xã hội khi không còn tinh thần luật pháp và đạo đức, khi người ta vẫn được an toàn khi làm điều ác, những người lương thiện nhất cũng trở thành ác quỷ.

Dưới đây là một vài hình ảnh của tác phẩm “Nhịp điệu số 0” của Marina Abramović. Ảnh: Guggenheim Museum.

Những dụng cụ Marina Abramović đặt ra trong phòng trình diễn.

Những tác động êm ái ban đầu của khán giả lên người cô Marina: người ta đặt hoa hồng lên tay cô, gắn những bức ảnh lên người cô.

Nhưng khi người ta thực sự thấy an toàn khi làm điều ác: Cô bị lột áo và tấn công tình dục.

 

“Nhịp điệu số 0” của Marina, tương tự như “Gia đình” của Phan Thúy Hà, không có ý định “tố cáo” một điều gì. Nó không nhắm đến một câu chuyện chính trị nào. Nó vượt xa tất cả những thông điệp ngắn hạn và bó hẹp đó.

“Nhịp điệu số 0” chỉ dùng một thí nghiệm tinh thần để giúp con người nhìn thấy một cách trực quan sự nguy hiểm của con người khi bước vào cách tổ chức xã hội thả lỏng phần “con” của họ. Ở “Gia đình” của Phan Thúy Hà, ký ức của các “sử gia dân đen” cũng cho chúng ta thấy một sự thực tương tự. Trong tòa án Cải cách ruộng đất, “phạm nhân” càng cam chịu và nhận tội, các quan tòa bần cố nông càng say máu và tàn ác.

Tuy nhiên, khi “phạm nhân” phản kháng, có khi họ bị trả thù nặng nề hơn, nhưng cũng có khi sự phản kháng ấy làm đám đông chùn bước. Truyện số 8: Nguyễn Ngọc Lập:

Tôi nghe kể rằng mẹ tôi tinh thần vững vàng lắm khi bị đưa ra đấu tố. Họ bắt mẹ cúi đầu mẹ không cúi đầu. Bắt mẹ xưng con với ông bà nông dân mẹ không xưng con. Họ nói gì mẹ cũng im lặng. Tới khuya, dân quân giải mẹ về. Về tới nhà, mẹ đứng ở thềm chửi đổng. Dân quân quay vào. Chúng nó có đánh đập mẹ không? Tôi gặng hỏi. Đừng nhắc chuyện này nữa con. Hay ho gì. Thế mẹ có ghét đứa nào trong làng không? Mẹ không ghét đứa nào. Tha cho chúng nó đi con.

Con người khi được trao quyền lực trong bối cảnh không có sự cân bằng và kiểm soát của đạo đức và quyền lực, họ bất ngờ trở nên tàn bạo, như quay về giai đoạn phi lý tính của tuổi thiếu niên. Khi trở lại cuộc sống bình thường, một số họ không hiểu nổi con người mình trong bầu không khí “đặc thù” khi đó. Trong “Gia đình”, có những bần cố nông quay trở lại hối hận và đau khổ vì tội ác của mình, gặp lại gia đình nạn nhân để tạ lỗi. Nhân chứng Phan Thị Tứ:

Hai ông cốt cán bị đưa ra nhà tù ngoài huyện Thanh Chương. Sáu tháng sau được về, người cốt cán họ hàng mang một cơi trầu xuống gặp mẹ tôi. Ông khóc. Bác tha tội cho con. Con sợ bị bắn như ông Hỏa. Con khai ông là chủ mưu. Ông đã thuật lại cho chúng tôi biết buổi chiều mưa lụt ngày hôm đó.

Địa ngục vô gian

“Địa ngục vô gian” là một cách nói Phật giáo, chỉ cảnh khổ đau kéo dài như vô tận, cái này tiếp nối cái kia, không có khoảng dừng. “Nhịp điệu số 0” của Marina Abramović chỉ kéo dài 6 giờ. Còn Cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam không phải là một thảm họa bùng lên một thời gian ngắn rồi mất.

Dù Đảng Lao động (Cộng sản) Việt Nam tuyên bố sửa sai, thực chất họ chỉ dừng các chiến dịch đấu tố. Những nhà văn Nhân văn Giai phẩm, hay những trí thức độc lập như Nguyễn Mạnh Tường, lên tiếng phê phán sự tối tăm và vô nhân đạo của Cải cách ruộng đất đều bị trừng phạt, trả thù tàn nhẫn.

Não trạng vận hành cuộc Cải cách ruộng đất đó còn nguyên trong hệ thống xã hội qua nhiều năm và tiếp tục gieo rắc tai họa. Các chiến dịch đấu tố không còn, nhưng tinh thần của nó còn tiếp tục đưa người ta vào cõi chết. Có nhiều câu chuyện về những cái chết sau Cải cách ruộng đất trong bối cảnh tinh thần đáng sợ đó.

Nhân chứng Đoàn Thị Mỹ:

Tháng mười một trời rét căm căm, một buổi trưa bà tôi run rẩy trong chiếc váy đụp ôm chiếc vò. Ngang qua chuồng bò bà dừng lại. Bà khụy xuống, máu bên sườn chảy ra, miếng cơm tuột khỏi tay bà. Thằng Kỷ, con một cố nông, ngồi trên cây bưởi chờ bà đi qua. Nó biết giờ này bà ghé vào mái chuồng bò. Viên gạch ném trúng vào sườn. Anh chị chạy ra dìu bà về.

(…)

Sáng hôm anh tôi chạy sang lay tôi dậy. Mị ơi bà chết rồi.

Bà chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà thấy hai chiếc xương sườn bị gãy.

Nhân chứng Ngô Việt:

Ê con địa chủ, con địa chủ. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này. Tôi chui vào cũi bếp. Tôi ngồi co ro trong cũi bếp. Chúng bỏ về từ lâu rồi, không còn tiếng nháo nhác xung quanh, tôi vẫn không dám bò ra. Hôm sau, tôi chạy không nổi nữa, một thằng tóm được. Nó lấy một quả khế chấm vào phân trâu bắt tôi ăn. Tôi ngậm miệng, một đứa giữ đầu, một đứa banh miệng tôi ra, nhét miếng khế chấm phân trâu vào. Thằng con địa chủ, không ăn tao đánh chết. Tôi nhai. Vờ như đã nuốt. Đợi chúng bỏ đi. Anh trai tôi biết hết những chuyện này. Từ mai em ở nhà anh dạy (…)

Chuẩn bị đi B tôi nhận được thư cha. Trường Đại học Sư phạm Vinh gửi giấy đi học. Tôi cầm lá thư cha viết mà nước mắt rơi. Đi B hay về nhà đi học. Qua phút yếu lòng tôi lấy tinh thần. Quanh tôi là anh em đồng đội. Đứa trẻ sống trong sợ hãi. Tuổi thiếu niên không thoát ra được nỗi mặc cảm là con địa chủ tù tội. Vào chiến trường tôi thành người mạnh mẽ. Mặt trận chỉ có sống và chết. Mặt trận không có thành phần. Hết chiến tranh, trở về cuộc sống đời thường, tâm tư đứa con địa chủ làm khổ tôi. Trong lòng tôi luôn có nỗi buồn. Người ta vui nhưng tôi không sao vui được. Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết là sợ gì. Nghe một chuyện gì đó người ta chưa sợ tôi đã sợ rồi.

Nhân chứng Võ Thị Thấy

Cơn đói và cơn rét. Cha không bước nổi. Cha thả gánh nứa vào một nhà bên đường xin hơ lửa. Chủ nhà cho ngồi bếp. Giọng cha run cầm cập, cho tôi xin một bát cơm.

Nhà người ta ăn cơm rồi nhưng vẫn nấu một niêu cơm cho riêng cha. Thảm thương cho cha tôi, vào đúng ngôi nhà dân quân đang họp. Một dân quân đi vào bếp phát hiện ra cha tôi.

– Thằng địa chủ sao cho vào đây?

Người chủ nhà tốt bụng nhưng nỗi sợ hãi lớn hơn. Niêu cơm trên bếp vừa sôi. Họ châm cho cha một bó đuốc. Bảo cha đi ra khỏi đây ngay.

Sáng hôm sau người ra đồng thấy một xác chết bên cầu Ngả Hai. Phủ trên thân xác là quần đùi áo mỏng. Bàn tay buông ra bó đuốc cháy dở.

(…)

Ông (chồng của người kể chuyện) đột nhiên đổ bệnh. Người ta gọi là bệnh nói nhảm. Nửa đêm ông ngồi dậy và nói một mình. Các con không hiểu ông nói gì.

Chỉ mình tôi hiểu những điều ông nói ra. Chỉ mình tôi hiểu là ông không nói nhảm.

Số phận của trẻ em

Bản thân các nhân chứng kể chuyện cho Phan Thúy Hà phần lớn vẫn đang ở tuổi thiếu niên hoặc nhỏ hơn, khi Cải cách ruộng đất nổ ra bảy thập niên trước. Trong “Gia đình”, hình ảnh đọng lại sâu nhất trong lòng người đọc có lẽ là trẻ em. Chúng chứng kiến cha mẹ bị giết, bị chết, bị đày đọa, chứng kiến anh chị hay em mình chết đói, và bản thân chúng chết vì đói. Chúng không có khả năng chống đỡ trước cơn sóng thần đỏ của người lớn, cũng không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Nhân chứng Nguyễn Công Hà:

Tôi đi vào sân. Sao nhiều vôi bột quanh sân thế này. Anh Kha đi ra. Anh khóc nấc lên. Cháu Uyển mất rồi. Cháu Uyển đi mót, uống nước ruộng, bị dịch tả. Cháu Uyển, con gái đầu của anh Trạm. Anh Kha khóc vì bất lực. Anh Trạm đã bị xử bắn. Sau bốn năm ở tù, vào đợt cải cách cuối cùng. Chị dâu đã chết. Trên cánh đồng. Trong tay chị là cái que chọt rau má. Thằng bé út vẫn bám trên lưng mẹ như một con nhái.

Mẹ chết ngày hôm nay. Ngày hôm sau cha bị đưa ra pháp trường lãnh án tử hình. Chúng tôi đã không cưu mang được các con của anh chị.

Đối với trẻ em, cái chết của con chó thân thiết với tuổi thơ cũng là một chấn thương tinh thần không khác cái chết của người thân ruột thịt.

Em gái tôi ôm con He vỗ về. Trên mình nó có một vết chém, máu đã khô. Nhoài ra khỏi tay em gái, He lại nhay nhay gấu quần tôi. Tôi hiểu ý, đi theo nó.

Trưa nay, khi cha mẹ tôi bị trói đi con He đã đi theo. Giờ nó về dẫn tôi đi thăm cha mẹ. Tôi theo nó đến trước một ngôi nhà, đứng từ xa nhìn vào. Trong ánh sáng lờ mờ chập tối, tôi thấy cha đang bị cùm trước sân. Tôi ngồi xuống, xoa đầu con He an ủi. Làm gì được bây giờ. Phải về thôi.

Con He tình nghĩa. Cha tôi bị nhốt ở đâu nó cũng lần mò tới được. Nó đã bị đánh chết, vì là con chó địa chủ. Nó rên ư ử lết về và chết bên cạnh anh em tôi.

Nhân chứng Ngô Việt

Tay mẹ ôm em, tay mẹ dắt tôi. Chân tôi bước lẩy bẩy. Bà nội lưng chưa còng gánh gồng. Cả nhà đến ở một nơi khác. Ở nơi đó có người đứng canh ngoài ngõ. Mẹ và bà nội bị bắt đi đâu tôi không biết. Vài ngày về nhà. Vài ngày sau lại bị bắt đi. Em tôi đói. Tôi cũng đói. Em lả dần và chết bên cạnh tôi. Tôi chín tuổi và em tôi bốn tuổi. Tôi không còn mường tượng được khuôn mặt em. Tôi chỉ nhớ buổi tối tôi ngồi bên em, em là đứa trẻ đã chết. Tôi ngồi nhìn và không biết phải làm gì với em.

(…)

Giữa đêm tôi thức dậy. Mẹ nằm trên chõng đã buông xuôi. Mái tóc bung xõa xuống đất. Không còn cái chiếu nào để đắp cho mẹ. Mẹ nằm yên tĩnh chờ đêm mai anh trai tôi mới đến được. Anh đến mang theo một chiếc chiếu. Anh cuốn mẹ lại trong chiếu. Bó bằng hai đoạn dây tre. Chôn ở đâu, chỗ nào cũng bị cấm. Anh họ tôi nói, ruộng mình đâu thì chôn ở đó. Đám tang giữa đêm. Bốn người đưa. Người đi đầu cầm đuốc. Anh trai và anh họ khiêng mẹ. Một người vác cuốc đi sau. Những cái bóng lướt đi. Không một tiếng thầm thì. Đuốc cháy leo lét. Tôi ngồi nhìn theo. Sao tôi không đi cùng. Vì không ai bảo tôi đi. Tôi chưa tự biết phải làm gì.

(…)

Bà nội tôi không trụ được nữa. Bà cũng đi luôn với mẹ và em. Chưa đến ba tháng, từ buổi trưa tôi sốt cao đang nằm trên giường. Những đêm vùi người thân xuống đất. Ký ức đi theo suốt một đời.

Có khi thảm cảnh làm những đứa trẻ trở nên già trước tuổi, rắn rỏi và mạnh mẽ.

Nhân chứng Hoàng Quỳnh:

Ở trường tôi tổ chức một cuộc họp học sinh toàn trường để học sinh tố cáo tội ác của giai cấp địa chủ. Tôi mụ mẫm ngồi nghe. Cố thu mình nhưng có đứa thấy, yêu cầu tôi đứng dậy vạch các tội ác cha mẹ tôi.

Tôi không biết tội gì để vạch. Họ bắt tôi phải nhắc lại câu mà những kẻ trước đã nói.

(…)

Mắt nhắm thiêm thiếp mẹ vẫn cầu nguyện. “Trời cho tôi sống với con tôi, trời bắt tôi chết con tôi sống với ai bây giờ”. Buổi tối tôi đặt vào lòng bàn tay mẹ củ khoai. Mẹ ăn đi nhé. Sáng tinh mơ tôi vác cuốc ra đồng. Đến giữa buổi sáng tôi đã cuốc xong đám ruộng, phấn khởi đi về nhà khoe với mẹ. Mẹ nằm im lìm, củ khoai luộc tối qua vẫn nằm trên bụng mẹ. Chân tay mẹ đã lạnh ngắt. Tôi bình thản lạ lùng. Mẹ đã cực khổ tận cùng rồi. Chỉ có chết mới giải thoát.

Cải cách ruộng đất trong bối cảnh tư pháp cộng sản chủ nghĩa

Về những “sai lầm” của Cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam đã viết:

“Tư tưởng thành phần chủ nghĩa trong cải cách ruộng đất có tư tưởng nông dân, đặt bần cố nông lên trên tất cả, thậm chí đặt bần cố nông lên trên Đảng… Tư tưởng tả khuynh trong cải cách ruộng đất đã chớm nở lúc đầu; nó đã đưa đến chỗ học tập kinh nghiệm nước bạn một cách máy móc và không chịu điều tra nghiên cứu đầy đủ tình hình xã hội ta để định chủ trương chính sách cụ thể cho thích hợp. (…) Tác phong độc đoán chuyên quyền, do đó mà trở nên phổ biến, không đi theo đường lối quần chúng, mà thực tế đã trấn áp quần chúng, nhẹ tuyên truyền giáo dục, buộc quần chúng làm những điều trái với ý muốn, với lương tâm của họ, có khi trái với chân lý và chính nghĩa. (Đề cương báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10, tháng 10-1956, Văn kiện Đảng toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H.2002, tập 17, tr. 430-431)

Ở Việt Nam, những lời “tự phê bình” này cho đến nay vẫn được sử dụng để đánh giá về các “sai lầm” của Cải cách ruộng đất. Luôn phê phán cách nhìn “duy tâm”, đề cao “duy vật”, nhưng những văn kiện như thế này lại rất “duy tâm” ở chỗ nó chỉ nhấn mạnh đến sai lầm về mặt tư tưởng và tâm lý, lấy “tinh thần” để giải thích cho “vật chất”.

Nó “quên mất” rằng tư tưởng “tả khuynh” này là hậu quả tất yếu của cách tổ chức xã hội và chính trị theo khuôn mẫu cộng sản chủ nghĩa. Chúng ta hãy điểm lại lược sử cách tổ chức nền tư pháp theo mô hình cộng sản của Mao Trạch Đông mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức từ 1950, trong đó, quan trọng nhất là Sắc lệnh 150 SL 12/4/1953 của ông, cho phép cơ quan hành chính địa phương thành lập “tòa án nhân dân đặc biệt” ở những vùng phát động cải cách ruộng đất. Tòa án này chỉ có tính chất tạm thời, sau khi xong nhiệm vụ sẽ giải tán (Điều 2). Về quan tòa, sắc lệnh quy định “một nửa số thẩm phán do Nông hội hoặc Hội nghị đại biểu nông dân ở huyện hay liên huyện cử ra. Khi đến xã nào xử thì lấy thêm đại biểu nông dân ở xã đó, nhưng số đại biểu lấy vào không được quá 1/3 tổng số thẩm phán.”

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết kế hệ thống tư pháp cộng sản theo mô hình của Mao Trạch Đông trước đó mấy năm, tòa án được thành lập tạm thời, trong thời gian ngắn, thẩm phán do bần cố nông chiếm đa số áp đảo, dù mù chữ hoàn toàn hay “biết đọc chữ” thì không có bất kỳ một tri thức và kinh nghiệm tư pháp nào. Họ có quyền tuyên án tử hình, tước đoạt mạng sống người khác mà không cần chịu trách nhiệm gì đối với quyết định của mình. Tòa án chỉ tạm thời nên tuyên án xong thì tòa án giải thể.

Những “tư tưởng tả khuynh”, “tác phong độc đoán chuyên quyền”, “đặt bần cố nông lên trên tất cả” thực ra thời nào cũng có, ở đâu cũng có. Những yếu tố tinh thần này chỉ có thể gây ra thảm họa, khi và chỉ khi, nó được cung cấp một công cụ chính trị xã hội mạnh nhất: Tòa án. Cách thiết kế “tòa án” trong các Sắc lệnh 156-SL, 158-SL năm 1950 và Sắc lệnh 150 SL 12/4/1953 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không cần phải tranh luận gì, cũng thấy trước là sẽ gây hậu quả thảm khốc.

Đó là chưa kể, những hậu quả này đã được các trí thức ngành tư pháp chỉ ra từ 1948. Việc thiết kế cách tổ chức Cải cách ruộng đất thập niên 1950 ở Việt Nam không phải chỉ để “đem lại ruộng đất cho dân cày”. Nó rõ ràng hướng đến mục đích chính trị ở tầm chiến lược dài hạn và xa hơn rất nhiều mục đích “người cày có ruộng”, của các nhà lãnh đạo phong trào cộng sản ở giai đoạn đó. Tuy nhiên, vấn đề này xin không bàn ở đây.

Các nhà sử học ngày nay có thể hiểu hệ thống tòa án Cải cách ruộng đất ở thập niên 1950s được thiết kế như thế nào, nhưng họ không có dữ liệu để hiểu tác động xã hội của nó trong thực tế. “Gia đình” của Phan Thúy Hà không chỉ là văn học mà còn một công trình ghi chép xã hội học lịch sử, chỉ nhắm đến mục đích ghi chép thuần túy về lịch sử tinh thần và không áp đặt bất kỳ cách hiểu nào về quá khứ. Chính điều này làm cho tác phẩm có thể giúp các nhà nghiên cứu ngày nay nắm bắt một cách khách quan ký ức của những nhân chứng đã nếm trải hệ thống tòa án Cải cách ruộng đất, từ đó hiểu tác động thực tế của hệ thống đó đối với lịch sử.

Chú thích

[1] Có thể xem truyện ngắn “Anh Cò lấm” của Trần Dần và bài báo tự kiểm điểm của báo Tổ quốc năm 1956 trên Tạp chí Talawas.

[2] “Ác mộng” bị thu hồi sau khi xuất bản, và cho đến nay chưa được tái bản.

[3] Tác phẩm “Thời của thánh thần” bị thu hồi. Sau đó được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Hoa (bản tiếng Hoa ở Trung Quốc chưa kịp phát hành thì cũng bị cấm).

[4] Một trong những tác phẩm sử học tiên phong của vi lịch sử (micro history) là “Phô mai và côn trùng” (“The Cheese and the Worms”) của Carlo Ginzburg năm 1976. Tác giả nghiên cứu cuộc đời của một người làm phô mai tên là Menocchio (1532–1599), sống ở một ngôi làng hẻo láng và không biết chữ. Tác phẩm khảo sát niềm tin tôn giáo và tưởng tượng của người nông dân làm phô mai về vũ trụ, phác thảo diện mạo của văn hóa đại chúng ở châu Âu đương thời.