Hiển thị các bài đăng có nhãn Phù Sinh Lục Ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phù Sinh Lục Ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

6. Nhàn dưỡng sinh

 

Nhàn dưỡng sinh

(Nguyên bản phần đã thất truyền này của Thẩm Phục có tiêu đề là Đạo dưỡng sinh (Dưỡng sinh ký đạo), Túc bạn có nhầm thành Nhàn dưỡng sinh (Dưỡng sinh ký tiêu))

Từ sau khi Vân đi xa, lúc nào tôi cũng buồn bã không vui. Sáng xuân chiều thu, du sơn ngoạn thủy, mắt dõi lòng đau, chẳng buồn thì hận. Các bạn đọc nỗi sầu trắc trở của tôi, hẳn có thể thấy hết những nghịch cảnh mà tôi từng gặp phải vậy.

Tĩnh tâm nghĩ cách giải thoát, tôi đã định rời nhà ra đi một nơi thật xa, mà tìm Xích Tùng Tử ở ngoài cõi đời này. Nhưng sau có hai anh em Đạm An, Ấp Sơn khuyên giải, tôi bèn tạm ở đâu trong ngôi chùa khổ gần đó, duy lấy cuốn Nam Hoa kinh để tiêu khiển. Mới hay, Trang Chu khi vợ chết lại vỗ chậu mà hát, nhẽ đúng là vong tình thực chăng? Hay chỉ là không thể làm sao được, mà làm ra vẻ thông đạt như thế? Tôi đọc sách ấy, dần có điều sở ngộ. Đọc thiên Dưỡng sinh chủ mà ngộ ra kẻ sĩ có cái nhìn thông đạt, chẳng khi nào không an, chẳng cảnh nào không thuận, giữa chốn u minh có thể cùng tạo hóa là một, như vậy thì còn có gì là được mà có gì là mất, có ai là chết mà có ai là sống đây? Cho nên, cứ mặc kệ những gì mình nhận được, mà buồn vui sẽ chẳng có chỗ nào để bám víu vào được nữa. Lại đọc thiên Tiêu diêu du, mà ngộ ra cái yếu chỉ của đạo dưỡng sinh, chính là ở điều thư nhàn buông bỏ không cầu chấp, vui lòng với những gì mình có. Khi ấy mới thấy hối cho chuyện tình si của mình thuở trước, há chẳng phải như con nhộng tự kéo kén quấn mình ru? Ấy chính là điều khiến tôi viết ra thiên Nhàn dưỡng sinh này vậy. Hoặc cũng có chỗ thu lượm lời nói của các bậc tiền hiền mà mở rộng thêm ra, để quét sạch muôn nỗi phiền não, chỉ cốt sao có ích cho thân tâm, ấy cũng tức là yếu chỉ của Trang Chu vậy. Chỉ mong có thể bảo toan được cuộc sống, mà tận hưởng tuổi trời.

Tôi tuổi mới tứ tuần, mà dần đã thấy có dấu hiệu gia yếu, ấy cũng bởi trăm nỗi ưu sầu tàn phá, trải năm u uất, nào sự gì chẳng khiến mình suy tổn. Đạm An khuyên tôi môi ngày nên tĩnh tọa hít thở mấy lần, bắt chước như cách của Tô Tử Chiểm trong Dưỡng sinh tụng, tôi đều tuân thủ theo đúng như vậy mà làm, Phép điều hòa hơi thở, chẳng nệ khi nào, thẳng người ngồi ngay ngắn, chính như Tử Chiêm nói là giữ thân ngồi yên tựa như tượng gỗ. Cởi áo, lỏng đai, cốt sao thấy thoải mái, cuốn lưỡi trong miệng mấy lần, rồi nhẹ nhàng thở trọc khí ra, không để thành tiếng, sau đó mũi lại nhẹ nhàng hít khí vào. Hoặc mười lăm hay mười bốn bận, có nước miếng thì nuốt xuống. Đánh hai hàm răng vào nhau mấy lần, để lưỡi chạm lên vòm miệng, môi răng ngậm chặt hai mắt nhắm hờ sao cho vẫn nhìn thấy mờ mờ phía trước Rồi lại dần dần điều chỉnh hơi thở, không gấp, không mạnh đều đặn từ tốn. Hoặc đếm hơi thở ra, hoặc đếm hơi hít vào từ một đến mười, từ mười đến trăm. Chú tâm mà đếm, chớ có tán loạn, chính như Tử Chiêm nói là “yên lặng ngồi nghiêm cùng với hư không”. Khi tâm đã nương vào hơi thở rồi, tạp niệm không sinh, thì dừng lại không đếm nữa, để mặc theo tự nhiên thế, chính là chữ “Tùy” mà Tử Chiêm nói đến. Ngồi như vậy được càng lâu càng tốt, nếu muốn đứng dậy, phải từ từ vươn duỗi chân tay, chớ bất ngờ đứng lên. Nếu có thể chuyên cần thực hành, thì trong quang cảnh tĩnh lặng, sẽ thấy muôn vàn kỳ diệu, như lời Tử Chiêm nói là: “Định năng sinh tuệ, Tự nhiên minh ngộ”, tỷ như người mù mà bỗng nhiên mắt sáng, thậm chí có thể minh tâm kiến tính, chứ chẳng phải chỉ có dưỡng thân toàn sinh mà thôi đâu. Từng hơi, từng hơi thở ra hít vào, như còn như mất, thần khí nương nhau, ấy chính là chân khí vậy. Từng hơi, từng hơi đều quay về gốc, tự nhiên có thể giành lấy quyền tạo hóa của đất trời, là diệu đạo trường sinh bất tử vậy.

Người nói to, ta nói nhỏ. Người nhiều phiền muộn, ta ít ưu sầu. Người hay sợ hãi, ta không tức giận. Bình thản vô vi, thần khí tự đầy, đó chính là thứ thuốc trường sinh. Bài Thu thanh phú có câu: “Biết làm sao, nghĩ sức mình có chỗ không đủ, lo trí mình có chỗ không hay, nên nỗi má hồng mơn mởn hóa nên cây khô, tóc đen anh ánh thành ra bạc đốm.” ấy cũng là cái bệnh chung của bọn sĩ đại phu vậy. Lại nói: “Trăm lo cảm hoào tâm, muôn việc nhọc nào mình, trong lòng đã xung động, tất núng đến tinh thần.” Người ta thường vướng vào lắm lo lắm nghĩ, khiến vừa mạnh liền lão, vừa lão liền suy, như thế cũng nên biết phép trường sinh. Lụa múa quạt ca, chớp mắt thành ảo; lầu xanh má phấn, lập tức hóa không. Cầm đuốc thiêng mà rọi tình mê, xách gươm tuệ mà cắt ái dục, nhẽ không có cái đại dùng thì chẳng thể làm được. Song, tình tất có chỗ gửi gắm, chi bằng gửi tình mình vào cỏ cây, gửi tình mình vào thư họa, thì có khác gì so với mỹ nữ diễm trang đâu, mà lại bớt được biết bao phiền não.

Ông Phạm Văn Chính (Tức Phạm Trọng Yêm) có nói: “Bao nhiêu bậc hiền nhân thiên cổ, nào ai có thể tránh được chuyện sinh tử, nào ai có thể quản được việc về sau. Một thân mình từ chỗ Không mà đến, rồi lại trở về chỗ Không, hỏi ai là thân sơ? Ai hay chủ tế? Một khi đã chẳng làm sao được, thì cứ phóng tâm tiêu dao, mặc kệ lai oãng, cứ như cậu mà đoạn hẳn. Tâm khí dần thuận, thì ngũ tạng cũng hòa, thuốc thang hiệu quả, mà ăn uống cũng ngon. Ngay như người uốn an lạc, chợt có một việc lo, liền đã không thể ăn uống nổi, chứ huống chi là người bốn bệnh đã lâu? Đã lo thân phải chết, càng lo việc về sau, bèn thành ra sống trong lo sợ, thì sao có thể ăn uống cho nổi? Xin hãy rộng lòng mà ngừng nghỉ...” Đó chính là thứ mà ông gửi cho người anh thứ ba trong nhà. Tôi gần đây nhiều điều lo nghĩ, chính nên đọc một đoạn này.

Phóng Ông (Tức Lục Du (1125-1210), nhà chính trị, nhà văn thời Nam Tống) tấm lòng quảng đại, vì cùng một niềm phóng khoáng, nhàn dật như Uyên Minh, Lạc Thiên Nghiêu Phu, Tử Chiêm, nên đối với cái đạo dưỡng sinh, có thiên ngôn vạn ngữ, thực có thể gọi là một kẻ sĩ có đạo. Từ đây về sau, nhẽ nên tìm đọc thơ của Lục Phóng Ông, thì chính có thể chữa trị được căn bệnh cho tôi vậy.

Việc tắm rửa rất có ích. Gần đây, tôi có làm một cái bồn lớn, đựng nước thật đầy, ngâm tắm xong, thấy cực kỳ sảng khoái. Trong thơ Tô Đông Pha có câu: “Chậu sơn móng gỗ chứa hồ sông: Cáu bẩn nào đâu, tắm nhẹ không”, có thể nói tôi đã lĩnh hội được một vài vậy. Chữa khi có bệnh, chẳng bằng chữa ngay khi không bệnh, mà trị thân lại chẳng bằng trị tâm, để người chữa trị cho mình, càng chẳng bằng tự mình chữa cho mình trước. Thơ ông Lâm Giám Đường có câu: “Tự mình có bệnh, tự mình hay; Khởi niệm thì nên trị niệm ngay. Chỉ bởi tâm sinh tâm tạo bệnh; Tâm an nào có bệnh chi đâu?” Ấy là nói phương thuốc tự chữa cho mình, là để tâm vào hư tĩnh, hướng chí vào vi diệu, gửi lo vào vô dục, quay về với vô vi, thì có thể mạnh khỏe sống lâu, còn mãi cùng với đạo.

Sách Tiên kinh lấy tinh, khí, thần làm Nội tam bảo (ba báu vật bên trong), tai, mắt, miệng làm Ngoại tam bảo (ba báu vật bên ngoài), thường phải sao cho Nội tam bảo không bị dao động theo ngoại vật, mà Ngoại tam bảo không được dẫn dụ nội tâm nhiễu loạn. Trùng Dương (Tức Vương Trùng Dương, tổ sư phái Toàn Chân) tổ sư suốt mười hai giờ trong một ngày, đi đứng ngồi nằm, tất cả mọi cử động, đều phải giữ tâm tựa Thái Sơn, không chút dao động, giữ chắc bốn cửa: mắt, tai, mũi, miệng, không cho tà khí nội nhập, chân khí ngoại xuất, đó gọi là “Dưỡng thọ khẩn yếu”.

Ngoài không có việc nhọc thân, trong không có hoạn lo nghĩ, lấy điềm đạm vui vẻ làm cốt yếu, lấy tự đắc đã có làm công nghiệp, thì thân thể không mệt mỏi, tinh thần không tán loạn. Ích Châu lão nhân từng nói: Phàm muốn thân mình không bệnh, thì trước tiên cần phải chính tâm, khiến tam không cầu loạn, tâm không nghĩ cuồng, chẳng tham điều ham muốn, chẳng để bị mê hoặc, thì tâm thần tự nhiên an bình vậy. Tâm thần đã an bình, thì thể xác hình hài dẫu có bệnh, cũng chẳng khó chữa trị. Còn chỉ cần một tâm này động, tất sẽ mời trăm thứ bệnh đến, khi ấy dù có Biển Thước, Hoa Đà ở bên, thì cũng chịu bó tay vậy. Lâm Giám Đường tiên sinh có sáu bài thơ An tâm thi, thực là yếu quyết để trường sinh vậy. Thơ rằng:

Ta có linh đan một viên nhỏ;

Khá chữa quần mê khỏi bệnh khổ.

Thuốc này đã uống tất thân an;

Khiến được diên niên lại trường thọ.

*

An tâm tâm pháp có ai hay;

Diệu dược mô hình ấy chính bài.

Trị được tâm kia thời chẳng bệnh;

Chuyển mình vào cảnh thái như ngay.

*

Tạp niệm vì chưng nghiệp chướng nhiều;

Bời bời rối loạn biết làm sao?

Đuổi ma tự có lời vi diệu;

An Lạc, Nghiêu Phu lối dẫn cào.

*

Người có nhị tâm mới sinh niệm;

Niệm chẳng nhị tâm mới thực người.

Nhân tâm bất nhị thời không niệm;

Niệm dứt, Tam Thanh trước mắt rồi.

*

Đây đã dứt thời kia ắt dứt;

Ồn ào rối rít đều tỏ hết.

Mây tan muôn dặm thảy phong quang,

Vành mạnh giữa trời một vùng nguyệt.

*

Dưỡng khí hao nhiên bốn bể chơi;

Tâm liền nước biếc, nước liền trời.

Bên kia tự có anh chài hỏi;

Trong động, hoa đào mãi thắm tươi.

Thiền sư cùng trò chuyện với tôi về phép dưỡng sinh, nói: “Tầm như tấm gương sáng, chớ nên để cho bụi bám vậy, Lại như nước lắng, chớ nên để cho sóng gợn”. Câu ấy so với lời của Hối Am (Tức Chu Hy (1130-1200), triết gia, nhà lý học nổi tiếng đời Tống) nói rằng: “Kẻ học giả thường phải luôn nhắc nhở lòng mình, tỉnh táo không mê muội, như vầng nhật giữa bầu trời, khiến muôn tà ám đều tan hết”, thì cái yếu chỉ cũng giống nhau vậy. Lại nói: “Mắt chớ nhìn bừa, tại chợ nghe bừa, miệng chớ nói bừa, tâm chớ động bừa, tham sân si ái, thị phi ta người, tất thảy buông bỏ. Việc chưa xảy ra chớ nên đón sẵn, gặp việc đến rồi chớ nên rối loạn. Một khi việc đã không thể níu kéo được, thì cứ để nó tự đến, ứng theo tự nhiên, tin rằng tự hết, thì bao nhiêu phẫn hận sợ hãi, vui thích lo âu, đều được chính đính.” Ấy là cái cốt yếu để dưỡng tâm vậy.

Vương Hoa Tử nói: “Trai, tức là Tề. (Chữ Tề (齊) - chỉnh tề, cũng được dùng làm chữ Trai (齋) nghĩa là chay, trai giới) Chỉnh tề tâm mình mà giữ sạch thân mình vậy, há lại chỉ là ăn chay mà thôi đâu! Nói chinh tề tâm mình, tức là nhạt tình chí, ít mưu cầu, nhẹ được mất, năng tỉnh tâm, xa tửu nhục. Nói giữ sạch thân mình, tức là không vào đường tà, không nhìn ác sắc, không nghe dâm thanh, không bị vật dụ. Vào phòng khép cửa, đốt hương tĩnh tọa, mới có thể nói là trai. Thực có thể như vậy, thì trong thân mình thần minh tự an, thắng giáng không chướng ngại, có thể trừ bệnh, có thể trường sinh.”

Căn buồng nơi tôi ở, bốn bên đều có cửa sổ, gió quá thì đóng gió hết thì mở. Căn buồng nơi tôi ở, trước có rèm, sau bình phong, sáng quá thì hạ rèm, để em hòa với ánh sáng bên trong quá tối thì cuốn rèm, để lấy thêm ánh sáng bên ngoài. Để trong thì tâm an, ngoài thì mắt an. Tâm mắt đều an, thì thân tất an vậy.

Thiền sư nói hai câu với tôi rằng: “Vị tử tiên học tử, Hữu sinh tức sát sinh” (Chưa chết học chết trước, Có sinh liền sát sinh). “Có sinh”, tức là nói những tà niệm mới nảy sinh ra, còn “sát sinh” tức là nói phải lập tức trừ bỏ nó đi ngay. Câu này, cũng công hiệu như câu “Vật công cật trợ” (Chớ quên chớ giúp)(Câu này trong thiên Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử, ý nói: giữ quên, nhưng cũng không cố giúp cho một việc gì, mà để nó thuận tự nhiên) của Mạnh tử nói.

Tôn Chân nhân (Tức Tôn Tư Mạc (550-691), người Kinh Triệu, là y sư, đạo sĩ nổi tiếng đời Đường) có bài Vệ sinh ca rằng:

Dưỡng sinh phải biết rằn ba nhẽ;

Đại nộ, đại dục, cùng đại túy.

Trong ba thứ ấy mắc một điều;

Phải phòng tổn hại chân nguyên khí.

Lại có bài rằng:

Người đời muốn biết Dưỡng sinh đạo;

Phải thường vui vẻ, ít giận cáu.

Chính tâm, thành ý, bớt lo buồn.

Thuận lẽ tu thân, bỏ phiền não.

Lại có bài rằng:

Say còn cố uống, nó cố ăn;

Thời có khi nào chẳng bệnh mang!

Ăn uống là cho mình khỏe mạnh;

Xin đừng quá độ ắt thân an.

Ông Sái Tây Sơn (Tức Sái Nguyên Định (1135-1198), tự Quý Thông, hiệu Tây Sơn, người Phúc Kiến, là nhà địa lý phong thủy, môn nhân của Chu Hy) lại có bài Vệ sinh ca rằng:

Nào phải nuốt ráng, uống tiên dược;

Lầm tưởng sống lâu sánh rùa hạc.

Ẩm thực ham mê, duy chỉ cần;

Chớ nên quá độ tất an lạc.

Ăn xong bước chậm trăm bước dư;

Hai tay xoa sườn cùng bụng, ngực.

Lại rằng:

No nằm, sau ngủ, đều vô ích;

Khát uống, đói ăn, nhớ giữ gìn.

Ăn chớ muốn to cùng muốn chóng,

Thà rằng ăn ít, đói thì thêm.

Nếu cho một bữa no căng bụng:

Tổn khí, thương tì, họa chuốc liền.

Lại rằng:

Uống rượu chớ nên sau túy lúy;

Say quá tổn thần, hại tâm trí.

Thèm rượu uống nước với châm trà;

Lưng, chân, từ đó thành trì trệ.

Lại rằng:

Đi, đứng, nghe nhìn, chớ lâu quá,

Ngũ lao thất thương thảo từ đó.

Tứ chi cũng muốn được luyện rèn;

Lề cửa thường xoay không mục rữa.

Lại rằng:

Đạo gia đã có thuật Trường sinh

Thứ nhất, khuyên ai bớt giận dữ.

Phàm mấy lời này, nếu có thể tuân theo mà làm, thì thành công tốt đến trong sớm tối, chớ cho đó là những lời hủ nho tầm thường nhàm chán.

Quét buồng sạch sẽ, mở cửa sổ phía nam, cho tám song thông sáng, chớ bày biện nhiều đồ ngoạn khí, làm rối mắt rối lòng. Chỉ để ghế dài phản rộng, mỗi thứ một cái, bút nghiên tề chỉnh, bên cạnh để cái kỷ nhỏ, treo một bức chữ, thi thoảng lại thay đổi. Trên kỷ để một, hai bộ sách đắc ý, một bản cổ thiếp, một cây cổ cầm. Trong tâm mục thường khiến chẳng nhiễm một hạt bụi trần. Buổi sáng ra vườn, trồng trọt rau quả, nhổ cỏ tưới hoa, ươm cây thảo dược. Xong việc về buồng, nhắm mắt định thần. Thường đọc những sách khoái ý, để di dưỡng tính tình; ngâm những câu thơ hay, mà sướng phát tâm ý. Lâm cổ thiếp, (Cổ thiếp: tức là bản mẫu các bức thư pháp của người xưa. Lâm cổ thiếp, tức là lâm tập (học viết theo) thư pháp trong cổ thiếp) vỗ cổ cầm, thấy mệt thì nghỉ. Bạn tri kỷ tụ tập chuyện trò, chớ nói đến chuyện thời sự, chớ nói đến chuyện quyền thế, chớ khen chê nhân vật, chớ tranh biện thị phi. Hoặc hẹn nhau nhàn dạo, không áo không giày, chẳng ép mình mệt nhọc theo điều lễ tiết. Uống ít chớ say, hứng trí thì thôi. Nếu quả được như thế, cũng thậm thích ý. Đem mà so với việc phải tra chân vào rọ, vươn cổ vào tròng, qua lại cửa khanh tướng, chịu cái lụy đeo ngọc cài trâm, há chẳng khác xa một trời một vực ru?

Thái cực quyền thực chẳng một môn quyền thuật nào có thể sánh được. Hai chữ “Thái cực” đã bao quát hoàn toàn ý nghĩa của môn quyền thuật này. Thái cực tức là một vòng tròn, Thái cực quyền tức là một môn quyền thuật do vô số vòng tròn nối nhau mà thành. Bất luận là một cái đưa tay, hay một cái đặt chân, đều không thể rời cái vòng tròn ấy. Rời khỏi vòng tròn ấy, thì là trái với nguyên lý của Thái cực quyền. Tứ chi toàn thân, không cử động thì thôi, nếu đã cử động thì đều không được thoát ly vòng tròn này, mọi chỗ đều thành vòng tròn, tùy hư hay thực. Trước khi luyện tập, đầu tiên cần phải tốn thần nạp khí, tĩnh tọa mấy khắc, đó chẳng phải là việc thủ khiếu giữ chặt thất khiếu) của Đạo gia đâu, mà chỉ là nên dứt hẳn mọi tư lự, sao cho muôn duyên đều tĩnh vậy. Lấy chậm rãi làm nguyên tắc, lấy việc không mảy may dụng lực làm yếu nghĩa, từ đầu đến cuối, liên miên không dứt. Tương truyền rằng, Trương Thông người Liêu Dương, đầu niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, phụng chiếu về kinh, trên đường đi đến núi Võ Đang thì bị ngăn lại, đêm nằm mộng thấy một dị nhân, trao truyền cho môn quyền thuật này. Mấy năm gần đây, tôi cũng theo luyện tập Thái cực quyền, quả thấy thân thể khỏe hơn, hàn thử không xâm, dùng đó mà giữ gìn sức khỏe, thực là chỉ có ích mà không có hại gì vậy.

Bớt nói nhiều, bớt thư từ, bớt giao du, bớt vọng tưởng, duy chỉ có cung kính dưỡng tâm là một giây một khắc cũng không thể bớt mà thôi. Ông Dương Liêm Phu (Tức Dương Duy Trinh (1296-1370) nhà văn, nhà thư họa nổi tiếng cuối Nguyên, đầu Minh) có bài Lộ phùng tam tấu từ (Lời ba cụ già gặp khi đi đường), viết rằng:

Thượng tẩu bước lại bảo:

Đạo lớn trời bao la.

Trung tẩu bước lại bảo:

Nóng lạnh bớt xông pha.

Hạ tẩu bước lại bảo:

Lẻ gối nửa đời qua.

 

Tôi từng thấy một bài trong Hậu Sơn thi, (Tức Hậu Sơn thị chủ - một tập thơ do Trần Sự Đạo đời Tổng biên tập chú giải) cũng có ý ấy, đó là bài thơ của từ Ứng Cừ.(Ứng Cừ (190-252): nhà văn học thời Tào Ngụy - Tam Quốc) Thơ thế này:

Xưa có người đi đường:

Trông thấy ba ông cụ.

Ai nấy trăm tuổi dư;

Cùng nhau làm cỏ lúa.

Bước lại hỏi ba cụ;

Làm sao được trường thọ?

Một cụ đáp lời rằng:

Hiền nội thô lại xấu.

Cụ thứ hai đáp rằng:

Liệu bụng, ăn vừa đủ.

Cụ thứ ba đáp rằng:

Tối nằm ngay ngắn ngủ.

Lời ba cụ đúng thay!

Khá noi, để trường cửu.

Cổ nhân có câu rằng: “Trông lên thì chẳng bằng ai, Trông xuống cũng chẳng có ai bằng mình”, đó cũng là một cách tìm vui tuyệt diệu vậy. So với người đói khát, thì được no là vui sướng, so với người rét mướt, thì được ấm là vui sướng, so với người vất vả, thì nhàn nhã là vui sướng, so với người bệnh tật, thì khỏe mạnh là vui sướng, so với người hoạn nạn, thì bình an là vui sướng, so với người tử vong, thì được sống là vui sướng. Bạch Lạc Thiên có câu thơ rằng:

Trên mẩu sừng sên giành giật mãi;

Chớp lòe lửa đá gửi thân này.

Giàu nghèo mặc kệ cứ hoan hỷ;

Chẳng thấy môi cười, ấy kẻ ngây.

Thơ của người đời gần đây cũng có câu rằng:

Đời người cõi thế là cơn mộng;

Trong mộng làm sao khổ vọng cầu?

Mộng ngắn mộng dài đều mộng cả;

Hốt nhiên tỉnh dậy mộng còn đâu?

Có thể nói cùng một vẻ khoáng đạt như Lạc Thiên vậy.

“Thế sự mênh mang, quang âm hữu hạn, xem ra sao phải vội vàng? Nhân sinh khó nhọc, so đoản luận trường, sao chẳng biết tươi khô có số, được mất khôn lường? Thấy đấy gió thu Kim Cốc, trăng tối Ô Giang, A Phòng cung lạnh, Đồng Tước đài hoang. Vinh hoa cây đọng móc, phú quý cỏ đeo sương. Một thân đượm thấu, muôn nỗi quên không. Khoe chỉ đó lầu rồng gác phượng, Nói gì đây lợi tỏa danh cương. Thanh nhàn yên tĩnh, hãy đem thơ rượu say cuồng. Hát một khúc: về thôi chửa muộn; Ca một điệu: hồ hải mênh mang. Đúng thời gặp cảnh, hái biếc tìm hồng. Hẹn mấy bạn tri âm thân thiết, ra ngoài nội bên sông, hoặc cầm kỳ tùy thích, hoặc thả chén xuôi dòng. Hoặc nói chuyện thiện căn nhân quả, hoặc luận điều kim cổ hưng vong. Cành hoa nọ ngắm nên gấm vóc; Tiếng chim kia nghe tựa cung thương. Mặc kệ ai nhân tình phản phục, thế thái viêm lương. Cứ du nhàn qua tuế nguyệt, thỏa tiêu sái với thời quang.” Những câu trên chẳng biết của người nào viết, mà tôi đọc lên chẳng khác nào chợt tỉnh cơn đại mộng, thế giới lửa nung bỗng được làn gió mát mà tan biến hết vậy.

Trình Minh Đạo tiên sinh (Tức Trình Hạo (1032-1085), triết gia, nhà giáo dục, nhà lý học nổi tiếng thời Tống) nói: “Ta bẩm sinh khí chất yếu ớt, nên rất chú ý dưỡng sinh. Đến ba mươi tuổi thì dần mạnh thịnh, bốn mươi, năm mươi mới dần vẹn toàn. Nay đã bảy mươi hai tuổi, mà cân cốt xem ra chưa giảm sút chút nào so với thuở thịnh thời. Người ta nếu đợi tới già mới dưỡng sinh, thì có khác chi đến lúc nghèo túng rồi mới tích lũy, dẫu có chăm chỉ thế nào cũng chẳng thể đủ. Miệng thì ít lời, tâm thì ít việc, bụng thì ít ăn, có ba cái ít này, có thể trường sinh đến cảnh thần tiên. Rượu nên bớt uống, giận nên mau qua, ham muốn nên hết sức áp chế, dựa vào ba cái nên này, thì bệnh tật tự khắc ít mắc. Bệnh tật có mười cách có thể phòng ngừa: Tĩnh tọa quan không thấy được Tứ đại(Tứ đại hay Thân tứ đại, từ ngữ Phật giáo, ý nói thân người do bốn yếu tố: Nước, Lửa, Gió, Đất hợp lại mà nên) đều từ hư giả mà hợp lại, ấy là một; Những phiền não hiện tiền, thì lấy cái chết mà tỉ dụ, ấy là hai; Thường lấy những người những việc chẳng được bằng mình mà khéo léo tự khoan giải, ấy là ba; Tạo vật khiến cuộc đời ta khó nhọc, khi mắc bệnh lại được chút nhàn, nhẽ nên vui mừng, ấy là bốn; Nghiệp xưa nay gặp, chẳng thể trốn tránh được, nên vui vẻ mà đón nhận, ấy là năm; Gia đình hòa thuận, không có tranh cãi to tiếng, ấy là sáu; Chúng sinh ai cũng có bệnh của mình, hãy thường quan sát mà chữa trị, ấy là bảy; Cẩn trọng phong hàn, giảm bớt ham muốn, ấy là tám; Ăn uống thà giảm bớt chứ không thêm nhiều, nhà ở cốt thư thái chớ nên miễn cưỡng, ấy là chín; Tìm những bạn bè cao minh, nói những chuyện vui vẻ lánh đời, ấy là mười.”

Thiệu Khang Tiết (Tức Thiệu Ung, tự Nghiêu Phu, hiệu An Lạc tiên sinh, là nhà Dịch học, nhà tư tưởng đời Tống. Sau khi ông mất được ban thụy là Khang Tiết, nên hậu nhân thường gọi là Thiệu Khang Tiết) ở trong An Lạc Oa, thường tự ngâm rằng:

Tuổi cao thân thể muốn ôn tồn;

Trong An Lạc Oa riêng vẻ xuân.

Co duỗi tứ chi tùy thích tớ

Nghỉ ngơi muôn việc thảy lìa tâm.

Đông hàn cạnh bếp chăn êm quấn;

Hạ nóng bên tre chiếu mát nằm.

Ngày đếm hoa rơi nghe tiếng sở;

Đêm mời trăng sáng dạo đàn cầm.

Khó tiêu phòng sẵn, đừng ăn quá;

Đủ ấm thời thôi, chớ mặc thêm.

Ai nói sơn ông lo việc vụng?

Cũng hay điều dưỡng lấy chân thân.

Cái đạo dưỡng sinh, chỉ ở bốn chữ Thanh Tịnh Minh Liễu, bên trong thì hiểu rõ thân tâm là không, bên ngoài thì hiểu rõ vạn vật là không, phá tan mọi vọng tưởng, không chấp trước vào một cái gì, thì chính là: Thanh tịnh minh liễu. Cái mầm độc của muôn bệnh, đều từ “say đắm” mà sinh ra: Say đắm thanh sắc, sinh ra bệnh hư khiếp; Say đắm lợi lộc, sinh ra bệnh tham lam; Say đắm công danh, sinh ra bệnh kiểu cách; Say đắm danh tiếng, sinh ra bệnh lập dị. Ôi chao! Say đắm là thứ mầm độc quá lắm vậy! Phan Thượng Mặc tiên sinh chỉ lấy một vị thuốc mà giải đi được, ấy là “lạnh nhạt” vậy. Mây trắng núi xanh, đá dừng nước chảy, hoa đón chim cười, tiều phu gọi khe núi đáp, muôn cảnh tự nhàn, chỉ có lòng người náo động.

Cuối năm tôi đến thăm Đạm An, thấy bụi bám đầy nhà, nhưng ông ấy vẫn thản nhiên như thường. Tôi than rằng: “Nhà cửa phải quét dọn sạch sẽ, cho phòng ốc rộng rãi, bụi bặm chẳng nhiễm mà ở. Trước nhà trồng xen các thứ cây hoa, để xem muôn vật sinh trưởng. Đêm khuya tĩnh tọa, có khi mở cửa để ánh trăng vào, cho đến tận sáng, sẽ thấy thiên địa vạn vật, thanh khí từ xa tới nơi, cho lòng này cùng giao hòa, không hề có chướng ngại vậy. Nay trong buồng để bẩn thỉu không dọn dẹp, dẫu chẳng cho là phiền lòng, nhưng cũng e là sẽ chẳng giúp được gì cho thần trí sảng khoái.”

Từ năm trước lại đây tôi tĩnh tọa ở nơi am vắng, rất nhanh trừ bỏ hết những thói quen cũ. Có khi hát rống rừng xa, có lúc ngâm dài hang vắng, lại khi bơi thuyền buông câu nơi lòng suối vụng hồ, khép tai mắt, quên tâm trí, lâu dài tựa cũng có sở đắc. Trần Bạch Sa nói: “Không lụy bởi ngoại vật, không lụy bởi tai mắt, không lụy bởi vội vã đảo điên. Diều bay cá nhảy, cơ ấy ở mình. Những ai biết được điều này có thể nói là giỏi học, mà nhẽ đó cũng là chân quyết để dưỡng thọ vậy.”

Bậc thánh hiền chẳng có lý gì mà không vui. Khổng Tử nói: “Lạc tại kỳ trung” (Niềm vui ở trong đó). Nhan Tử nói: “Bất cải kỳ lạc” (Không đổi sự vui thích). Mạnh Tử lấy “Không thẹn không tủi” làm vui. Sách Luận ngữ mở đầu đã nói đến chữ “Lạc”, sách Trung dung thì nói: “Chẳng người nào không có điều tự đắc”. Trình, Chu học tập tìm tòi cái lạc thú của Khổng, Nhan, đều là ý ấy. Cái vui của thánh hiền, tôi làm sao dám mong? Chỉ trộm muốn bắt chước theo cái vui “có một ông lão, râu trắng phất phơ, vợ con hân hoan, gà chó nhởn nhơ” của Bạch Phó (Tức Bạch Cư Dị (772-846), nhà thơ nổi tiếng đời Đường) mà thôi.

Mùa đông, mùa hạ đều nên dậy từ khi mặt trời vừa mọc, mùa hạ càng thích hợp. Khí sớm mai trong lành của trời đất, khiến tinh thần sảng khoái vô cùng, để mất nó thì thậm đáng tiếc. Tôi ở ngôi chùa trong núi, tháng hè cứ mặt trời mọc là dậy, hít thở lấy khí trong lành thơm mát của cỏ nước. Sen còn chúm chím chưa xòe cánh, trúc còn đọng sương mà nhỏ giọt, có thể nói là sướng khoái rất mực. Ngày dài giờ lâu, ngủ trưa mấy khắc, đốt hương buông mành, trải tấm chiếu đào, ngủ đủ thì dậy, thần khí khoan khoái, thực chẳng kém gì bậc chân nhân bên trời vậy.

Sướng tức là khổ, khổ tức là sướng, có một vài điều chưa đủ, đâu hay chẳng phải là phúc? Toàn gia việc việc đều như ý, một thân sự sự thảy tùy lòng, quang cảnh náo nhiệt cũng tức là cái dự triệu cho sự lạnh lùng. Thánh hiền cũng chẳng thể tránh khỏi ách nạn, tiên phật cũng chẳng thể miễn khỏi kiếp hỏa, ách nạn là để hun đúc cho thánh hiền, kiếp hỏa là để luyện rèn nên tiên phật.

Nhạn theo vừng nhật, trâu thở dưới trăng, mà khiến thế gian bận rộn; Ong lượm hương hoa, ruồi tìm hơi uế, cũng là sinh kế nhọc nhằn. Cõi đời hối hả, chỉ lợi cùng danh, trói buộc sớm trưa, tất tả nóng lạnh, thôi thúc tử sinh, đều là bị lầm lỡ bởi hai chữ danh lợi ấy. Lấy cái lửa danh mà đốt tâm, thì dịch của tâm khô cạn; lấy con ong lợi mà chích tâm, thì thần của tâm phải tổn hao. Nay muốn an tâm mà khỏi bệnh, nếu chẳng đem hai chữ danh lợi rửa cho sạch hết thì làm sao cho được?

Tôi đọc Nhàn tình phủ của Sài Tang ông, (Sài Tang ông: tức Đào Tiềm cũng gọi Đào Uyên Minh. Vì ông là người huyện Sài Tang, Tầm Dương, nên cũng gọi là Sài Tang ông. Nhàn tình phủ, Quy khứ lai từ, Ngũ liễu tiên sinh truyện là những áng văn nổi tiếng của ông) mà cảm thán vì nỗi chung tình, đọc Quy khứ lai từ mà cảm thán về nỗi vong tình, đọc Ngũ liễu tiên sinh truyện mà cảm thán về nỗi chẳng phải hữu tình cũng chẳng phải vô tình, chung tình đấy mà lại vong tình đấy, quả thực là vi diệu. Bạn tôi là Đạm Công rất mến mộ Sài Tang ông, sách chẳng cầu hiểu mà có thể hiểu, rượu chẳng hẹn say mà có thể say. Đạm Công từng nói với tôi rằng: “Thơ hà tất phải năm chữ, quan hà tất phải năm đấu, con hà tất phải năm giai, nhà hà tất phải năm liễu.” Có thể nói là nhàn dật vậy! Tôi trong khi ngủ mơ, có làm được câu liễn rằng: “Năm trăm năm đày xuống bụi hồng, khá thành chơi giỡn; Ba ngàn dặm mở toang biển biếc, ấy chính tiêu dao.” Tỉnh dậy thuật lại cho Trác Đường nghe, Trác Đường cho là phiêu dật đáng ngâm vịnh. Nhưng hỏi ai có thể thấu hiểu ý tứ này?

Lương công ở Chân Định mỗi khi nói chuyện với người khác, hay mỗi tối ở nhà, tất tìm chuyện vui cười mà chuyện trò với khách, rồi vểnh râu cười ngất, để cởi bỏ hết những mệt nhọc buồn bực uất kết trong ngày, ấy thực là có được yếu quyết dưỡng sinh vậy. Từng có người trong làng sống đã hơn trăm tuổi, tôi đến hỏi thăm xem có thuật gì, người ấy chỉ cười mà rằng: “Người làng quê chúng tôi, nào có biết gì, duy cả đời chỉ luôn vui vẻ, chưa từng hay phiền não bao giờ.” Điều ấy, há những kẻ ở trong trường danh lợi có thể làm được ư? Xưa, Vương hữu quân (Tức Vương Hi Chi (303-361), nhà thư pháp nổi danh đời Tấn) nói: “Ta rất mê trồng cây ăn quả, trong việc ấy có một niềm vui sướng rất mực. Cái cây ta trồng, nở một bông hoa, đậu một cái trái, để chơi đã thấy thích thú, được ăn lại càng ngọt ngào.” Hữu quân có thể nói là tự thấy niềm vui cho mình vậy. Phóng Ông nằm mộng thấy đến nơi tiên quán, làm câu thơ rằng: “Hiên dài nhìn xuống ao sen biếc; Gác nhỏ trông sang núi sắn xanh” mà coi đó là thắng cảnh tột bực vậy. Tôi ở nơi thiền phòng, rất sẵn cảnh thắng như vậy, có thể ngạo được cả với Phóng Ông.

Khi trước tôi ở Lưu Cầu, ngày thì đi dạo khắp các nơi đầm không, suối biếc, trúc rợp, tùng cao, tối thì khêu đèn ngồi đọc những thơ của Bạch Hương Sơn, Lục Phóng Ông. Đốt hương, pha trà, mời đôi ba người quân tử đến cùng ngồi trò chuyện đối ẩm với nhau, như thấy tâm hồn rộng mở, nhiều khi muốn bỏ mọi việc mà theo cùng rong chơi, thì cũng là một điều giúp cho thân tâm được vui sướng vậy.

Tôi từ năm bốn mươi nhăm tuổi về sau, chỉ mong tìm phép giúp tâm mình được an, để trong khoảnh một tấc vuông, hư vô trống rỗng, sáng láng rõ ràng, phàm những sự hỉ nộ ai lạc, lao khổ sợ hãi, quyết không để cho vào. Canh phòng tựa như nắm giữ một tòa thành, đem cửa thành nêm chặt, mà từng giờ từng khắc đều tăng cường phòng thủ, chỉ sợ mấy kẻ nói trên lẻn vào. Gần đây, dần thấy rất ít khi chúng lẻn vào cho được, mà chủ nhân ở trong thành ấy đã thấy có vẻ được thư thái an nhàn. Đạo dưỡng thân, một là thận trọng ham muốn, hai là thận trọng ăn uống, ba là thận trọng nóng giận, bốn là thận trọng nóng lạnh, năm là thận trọng nghĩ suy, sáu là thận trọng phiền nhọc. Chỉ cần có một trong mấy điều ấy, cũng đủ để gây bệnh tật rồi, làm sao có thể không luôn thường cẩn trọng cho được?

Trương Đôn Phục tiên sinh từng nói: “Cổ nhân đọc Văn tuyển mà ngộ ra lẽ dưỡng sinh, đắc lực ở hai câu: ‘Đá giấu ngọc mà sáng núi; Nước gìn châu mà đẹp sông. Đó thực là câu chí ngôn vậy. Từng thấy nơi đài hoa huệ, lan, thược dược, tất có một giọt sương đọng, nếu như giọt sương ấy bị kiến sâu cắn mất, thì hoa sẽ héo vậy. Lại xem, cây măng khi mới mọc lên, mỗi sáng tất có mấy giọt sương đọng trên ngọn, đến khi mặt trời mọc thì sương mới thu lại mà về gốc, đến tối mới lại lên. Điền Gian (Tức Tiền Trừng Chi, tự Ẩm Quang, hiệu Điền Gian lão nhân - nhà văn học, chí sĩ yêu nước cuối đời Minh) có câu thơ rằng: Tối xem hạt móc đến đầu cây, chính là nghĩa như vậy. Nếu sáng sớm vào vườn, thấy trên cây măng không có sương móc đọng, thì cây ấy tất không thành trúc, nên bẻ vào làm món ăn thôi. Trên cây lúa cũng có đọng sương, chiều hiện mà sớm thu, nguyên khí của người ta cũng hệt như vậy. Cho nên, hai câu trên trong Văn tuyển, không thể không luôn luôn thể nghiệm xem xét. Có được yếu quyết đâu phải ở nhiều lời vậy.

Chỗ tôi ở, chật hẹp chỉ đủ để duỗi được chân, lạnh thì quây các thứ hoa mà lấy ấm, nóng thì đối gốc hòe lớn mà buông rèm, cái điều tự thích của mình ở giữa khoảng trời đất chỉ có vậy mà thôi. Thế nhưng, lùi một bước mà nghĩ, những cái tôi được trời ban tặng cũng nhiều lắm rồi, bởi thế mà tâm bình khí tĩnh, không có ham muốn gì, cũng không oán trách gì nữa. Đó là niềm vui sướng tự đắc những năm cuối đời của tôi vậy.

Phố Ông nói: “Cái tâm con người ta rất mực linh động, không thể để nó mệt nhọc quá, cũng không thể để nó nhàn dật quá, duy đọc sách là có thể dưỡng được. Người nhàn thích vô sự, cả ngày không đọc sách, thì ra vào sinh hoạt, thân tâm không có chỗ neo đậu, tai mắt không có chỗ dừng nghỉ, thế tất khiến cho tâm ý điên đảo, vọng tưởng sinh ra sân hận, phải ở vào nghịch cảnh thì không vui, mà được ở vào thuận cảnh cũng chẳng vui vậy. Cổ nhân có câu: “Quét nhà, đốt hương; đã đủ thanh phúc. Những người có phúc, thì giúp thêm cho cái việc đọc sách; Những người vô phúc, thì lại sinh ra những điều vọng tưởng.” Lời ấy mới đúng làm sao! Vả những việc không như ý trước nay, cứ lấy con mắt của những kẻ không đọc sách mà nhìn, thì những tao ngộ giống như tôi từng gặp phải, sẽ khó mà kham nổi vô cùng. Chẳng biết rằng người xưa còn có những việc không như ý gấp hàng trăm lần thế, chỉ là ta chẳng để tâm thể nghiệm mà thôi. Ngay như Đông Pha tiên sinh, đương khi thủ hiếu tang cha, mà văn chương vừa viết, lại bị kẻ gièm pha hủy báng, khiến phải khốn đốn bị biếm trích lăn lộn ở khoảng Triều Châu, Huệ Châu, gặp thời chân đất lội sông, ở bên chuồng trâu, thì tình cảnh khi ấy thế nào? Lại như Bạch Hương Sơn không có con trai nối dõi, Lục Phóng Ông phải nhịn đói, những chuyện ấy đều có ghi chép trong sách vở, mà họ chẳng phải vẫn là những người nổi danh ngàn năm đó ư? Thế mà đều gặp phải những chuyện như vậy! Thực sự bình tâm lại mà nhìn nhận, thì những chuyện chẳng như ý ở nhân gian, có thể tan sạch làu làu. Nếu như chẳng đọc sách, thì chỉ thấy những điều mình gặp phải khổ sở quá, mà cái tâm càng oán trách sân hận vô cùng, thiêu đốt không an, nỗi khổ lại ra thế nào nữa! Cho nên nói, đọc sách là việc di dưỡng đệ nhất vậy.

Đất Ngô Hạ, có Thành nam lão ốc (Ngôi nhà cũ ở phía nam thành) của Thạch Trác Đường tiên sinh, trong nhà có Ngũ Liễu viên, có cả thắng cảnh đá suối rất đẹp. Trong chốn thành thị mà có cái quan thưởng như nơi đồng nội, thực là chốn thắng địa để dưỡng thần. Có âm thanh của thiên nhiên, bổng trầm đứt nối, miên man mãi bên tại tôi. Thị thoảng lại vang lên tiếng đàn chim trong rừng ríu ra ríu rít, tiếng làn gió nhẹ lay động lá cây xào xào xạc xạc, hòa cùng tiếng dòng suối chảy róc ra róc rách, tôi thảnh thơi nằm ngửa trên thảm cỏ xanh rờn khả ái, mắt nhìn mãi lên bầu trời trong; vắt thẳm xanh, đó thực là một bức tranh tuyệt diệu. Đem so với Chuyết Chính viên, một đằng ồn ã, một đằng tĩnh lặng, đúng là hơn đứt rất xa.

Chúng ta nên ở trong sự chẳng khoái lạc, mà tìm lấy một cách để mình được khoái lạc. Trước tiên nên nhận rõ việc sinh ra khoái lạc với chẳng khoái lạc, cố nhiên là ở hoàn cảnh mà mình gặp phải thế nào, thế nhưng cái căn nguyên chủ yếu, lại là sinh ra và lớn lên tự ở tâm mình vậy. Cùng là một người, cùng ở một hoàn cảnh giống nhau, nhưng tên Giáp có thể chiến thắng nghịch cảnh, mà tên Ất lại bị nghịch cảnh chế phục. Kẻ có thể chiến thắng nghịch cảnh, nhìn kẻ bị nghịch cảnh chế phục, sẽ cảm thấy có khoái lạc. Cho nên không cần phải hâm mộ cái phúc của kẻ khác, mà oán hận cái mệnh của mình, nếu không thì có khác nào tuyết lạnh thêm sương, càng khiến cho toàn bộ cuộc đời mình bị hủy diệt vậy. Bất luận ở trong hoàn cảnh nào, chớ nên buồn bực, mà hãy nên từ trong buồn bực ấy, nảy sinh tinh thần hy vọng và khoái lạc. Tôi ngẫu nhiên cùng Trác Đường nói đến điều này, Trác Đường cũng cho là phải.

Nhà như thu tàn, thân như bóng xế, tình như khói thừa, tài như chớp lóe, tôi bất đắc dĩ mà rong chơi trong tranh, mà bỡn cợt trong thơ, đưa bút vẫy mực, để tự kêu lên niềm vui của mình, cũng giống như cây cỏ buồn tình, tự mình khoe hoa, con chim rảnh rỗi, tự mình khoe giọng. Vào tháng Tiểu xuân, (Tức tháng Mười âm lịch)một khoảnh ráng vừa tạnh, một ngọn núi vừa sáng, một tiếng chim vừa thanh, một nụ mai vừa nảy, mà một bài thơ, một bức tranh vừa làm xong. Cùng vui với mai, cùng được với chim, cùng đứng với núi, cùng ôm với ráng, tranh tuy vụng nhưng cũng vẫn thấy là khéo, thơ tuy đắng nhưng cũng tự cho là ngọt. Bốn vách đã nghiêng, một bầu đã rạn, mà chẳng gì có thể khiến cho niềm vui thích trong tâm hồn phải giảm sút vậy. Phố Ông soạn một câu đối, định đem treo ở thảo đường rằng: “Giàu sang nghèo hèn, rốt khó xứng ý, biết đủ mới là xứng ý; Sơn thủy hoa trúc, chẳng mãi chủ nhân, được nhàn ấy chính chủ nhân.” Lời lẽ tuy dân dã, nhưng lại rất chí lý. Những núi sông danh thắng, hoa trúc đẹp kỳ trong thiên hạ biết bao nhiêu mà kể, đại khái kẻ phú quý thì mệt nhọc vì danh lợi, kẻ nghèo hèn thì mệt nhọc vì cơ hàn, nhưng sau rốt ít ai lĩnh ngộ được điều ấy. Có thể biết đủ, có thể được nhàn, thì ấy là tự có được niềm vui của mình, ấy là khéo biết nắm lấy cuộc sống vậy.

Tâm không an định, thì trăm nỗi nhiễm xâm, ngàn lo nhiễu loạn, như gió thổi nước, khiến thường luôn nổi sóng, chẳng thể nào mà dưỡng thọ được. Đại khái việc thực hành tĩnh tọa, thì lúc mới đầu đều chẳng thể buông bỏ hết mọi vọng niệm ngay được, nên chuyên chú vào một niệm trước, rồi từ một niệm dần chuyển sang không còn bất cứ niệm nào nữa, như mặt nước tĩnh lặng không còn gợn sóng. Sau khi tĩnh lặng nhập định, sẽ thấy một ý vị điềm đạm vô hạn, nguyện được cùng chung với người đời. Dương Minh tiên sinh(Tức Vương Thủ Nhân (1472-1529), tự Bá An, hiệu Dương Minh, người Thiệu Hưng, Triết Giang là nhà tư tưởng, nhà văn học, triết học nổi danh đời Minh) nói: “Chỉ cần lương tri chân thiết, thì tuy theo việc cử nghiệp, cũng không làm lụy đến tâm mình. Ví như khi đọc sách, biết có cái tâm gượng nhớ suông là không phải, lập tức bỏ đi; có cái tâm dục tốc là không phải, lập tức bỏ đi; có cái tâm khoe nhiều tranh khéo là không phải, lập tức bỏ đi. Như vậy thì dẫu có đọc sách cũng chỉ là trọn ngày cùng thể nghiệm đối thoại với thánh hiền, là cái tâm thuần theo lẽ trời mà thôi. Bất kể đọc sách gì, cũng chỉ là điều nhiếp cái tâm này, làm sao có mệt nhọc gì cho được?” Xin chép lại lời này coi như là phép tắc để đọc sách.

Ông Thang Văn Chính(Tức Thang Bân (1627-1687) tự Khổng Bá, hiệu Kinh Nghiên, người Hà Nam, là nhà lý học, chính trị gia đời Thanh, làm quan đến Công bộ Thượng thư, khi mất được ban thụy là Văn Chính) khi làm Tuần phủ ở đất Ngô, hàng ngày chỉ ăn cơm rau, ngẫu nhiên có hôm con ông mua về một con gà, ông hay được bèn trách rằng: “Làm gì có kẻ sĩ nào không ăn cuộng rau mà có thể làm được đại sự đâu!” Rồi lập tức sai mang gà đi. Trong khi ấy, những kẻ ăn thịt (Ý nói những người làm quan lớn) ở đời, chỉ ra sức vơ vét hết những món mỡ màng, để tọng vào miệng, nuốt vào bụng mình, cho là phần của mình được hưởng như thế. Nào có biết rằng những thứ ngọt thơm béo ngậy ấy chính là thuốc độc làm hư nát ruột gan mình vậy.

Đại khái căn nguyên của muôn bệnh, tất đều do ăn uống không tiết chế mà ra. Kiệm là để dưỡng liêm, đạm là để quả dục, cái đạo an bần là ở đó, cái phép trừ bệnh cũng là ở đó. Tôi thích ăn tỏi, mà vốn không ăn những món thịt giết mổ, đồ ăn chỉ cốt ở tiết kiệm. Từ khi Vân nương qua đời, cái hộp hoa mai cũng không dùng lại bao giờ nữa, nhẽ cũng không bị Thang công mắng nhiếc chăng! Lưu hầu, Nghiệp hầu (Lưu hầu tức Trương Lương người thời Tần Hán theo giúp Lưu Bang lập nên nhà Hán, rồi đi ẩn. Nghiệp hầu tức Lý Bí người đời Đường, từng được Đường Huyền tông, Đường Túc tông trọng dụng, nhưng đều bị quyền thần oán ghét, hai lần ẩn cư ở Hành sơn) ẩn cư trong làng mây trắng; Lưu, Nguyễn, Đào, Lý ẩn cư ở chốn làng say; Tư Mã Trường Khanh ẩn trong làng ôn nhu; Hy Di tiên sinh ẩn trong làng thụy mộng, ấy thảy đều là cái cớ thác mà lánh đời vậy. Tôi cho, làng mây trắng thì gần như là mờ mịt, làng say, làng ôn nhu, thì nhẽ chẳng thể tránh bệnh mà sống lâu, chỉ có làng thụy mộng là hơn cả vậy. Vọng ngôn dừng hết, bèn làm nên cảnh tiêu dao; Yên ngủ mộng lành, liền bước tới làng êm ngọt. Tôi thường luôn dừng lại thật lâu, mà nhấm nháp mùi vị trong đó, nhưng chẳng theo đường Hàm Đan, mà mượn cái gối kê vàng của đạo sĩ (Điển tích Hoàng lương mộng theo truyện truyền kỳ Chẩm trung ký) vậy.

Đạo dưỡng sinh, chẳng gì lớn bằng ăn ngủ. Rễ rau tuy thô cứng, chỉ cần ăn thấy ngon ngọt thì còn hơn sơn hào hải vị. Ngủ cũng chẳng phải ở nằm nhiều, chỉ cần thực sự được ngưng thần đẹp mộng, thì khoảnh khắc cũng đủ dưỡng sinh vậy. Phóng Ông thường lấy ngủ ngon là sướng thích, mà việc ngủ cũng có bí quyết. Tôn Chân nhân nói: “Lòng có thể ngơi, thời mắt tự ngủ.” Sái Tây Sơn nói: “Trước ngủ tâm, sau ngủ mắt”, đó thực là diệu pháp mà chưa ai nói ra được vậy. Thiền sư bảo tôi điều hòa hít thở, có ba cách ngủ là: kiểu Bệnh long miên, thì nằm co gối; kiểu Hàn viên miên, thì tay ôm gối; kiểu Quy hạc miên, thì hai gối để kề sát nhau vậy. Tôi thuở thiếu thời thấy cha tôi sau khi ăn trưa đều nằm ngủ chốc lát, thì sau khi lên đèn có làm việc tinh thần vẫn phấn chấn. Dạo gần đây tôi cũng nghĩ sẽ học theo cách ấy, sau mỗi bữa trưa, lại ngả lưng một lúc trên chõng tre, đến tối quả nhiên thấy tinh thần sảng khoái, nên càng tin những điều mà cha tôi làm, nhất nhất đều có thể học theo được.

Tôi không làm tăng, mà vẫn có ý cảnh của tăng nhân. Từ sau khi Vân mất, hết thảy mùi vị trên đời đều thấy chán ngán, hết thảy duyên phận trên đời đều thấy buồn thương, làm sao trước nỗi đảo điên chẳng tự thấy vô cùng hối hận cho được! Gần đây, lại thường cùng sư già trò chuyện về lẽ Vô sinh, mà được hiểu thêm về lẽ luân hồi. Khấu đầu trước đấng Thế Tôn, sám hối những lỗi lầm khi trước, đem thơ hiến Phật, lấy họa cúng tăng. Tính họa nên tĩnh lặng, tính thơ nên cô độc, thì dẫu là thơ với họa, tất cũng ngộ được thiền cơ, mà tiến bước vào đường siêu thoát vậy.

 

 

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược

 

Phụ lục

Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược
(Lấy theo ghi chép trong Ký sự châu của Tiền Vịnh)

Năm Gia Khánh thứ 13,(Tức năm 1808) triều đình có chỉ sách phong cho Quốc vương nước Lưu Cầu, Chánh sứ là Thái sử Tề Côn,(Tề Côn (1770-1815), tự Trừng Tiêu, người Phúc Kiến, đậu tiến sĩ năm Gia Khánh thứ 6, làm Chánh sứ sang Lưu Cầu năm Gia Khánh thứ 13) Phó sứ là Thị ngự Phí Tích Chương(Phí Tích Chương, tự Hoản Tra, người Triết Giang, đậu cử nhân năm Càn Long thứ 49, làm quan đến Phủ doãn phủ Thuận Thiên). Có Thẩm Phục tự Tam Bạch, người Ngô Môn cũng cùng đi theo lo việc bút mực cho quan Thái sử. (Câu này có lẽ Tiền Vịnh đã đổi cách xưng hô trong câu văn gốc của Thẩm Phục từ ngôi thứ nhất (tôi) sang ngôi thứ ba. Vì bản thân Tiền Vịnh chưa từng theo sứ đoàn đến Lưu Cầu)

Ngày hăm tám tháng Hai, ra khỏi kinh sư. Đến ngày mồng hai tháng Năm nhuận, mới bắt đầu từ tỉnh thành Phúc Kiến lên thuyền khởi hành. Thuyền dài hơn tám trượng, rộng hơn hai trượng, thân thuyền trang trí màu vàng, trên cắm rất nhiều cờ xí. Hôm sau, hai sứ sách phong phụng phù tiết và chiếu thư đến, hộ tống có Phúc Châu Tả doanh phó tướng Ngô An Bang, đem theo hai trăm hai mươi quân binh biền, chia ra chèo hai chiếc thuyền, đều có đặt súng pháo. Sứ sách phong cùng các tòng khách cùng ngồi một thuyền, gọi là “Đầu thuyền”, các tay chèo cùng binh dịch trên dưới tất cả là hơn bốn trăm năm chục người, ai nấy đều có thẻ bài đeo bên hông để làm chứng.

Mỗi ngày, thuyền nương sóng triều mà đi được một, hai chục dặm. Đến ngày mười một, mới ra khỏi cửa Ngũ Hổ, nhằm hướng đông mà đi, dõi nhìn chỉ thấy một màu xanh ngắt không biết đâu là cùng. Nước biển một màu lục sẫm, dần xa dần thành màu lam. Ngày mười một (xét, có lẽ là ngày mười hai), thuyền qua Đạm Thủy. Giờ thìn ngày mười ba, đã thấy Điếu Ngư đài, hình trạng tựa như cái giá gác bút. Trên thuyền lễ vọng Hắc Thủy Câu từ xa, tôi bèn dập đầu cầu khấn Thiên hậu, bỗng thấy một con bạch yến lớn như chim âu, lượn vòng quanh cột buồm mà bay. Hôm ấy lập tức chuyển gió. Sáng sớm ngày mười bốn, thì thấp thoáng trông thấy núi Cô Mễ, bắt đầu vào địa giới Lưu Cầu. Giờ ngọ ngày mười lăm, xa trông thấy núi non một dải, như hình trạng con cầu long, tên xưa gọi là Lưu Cầu, là lấy theo hình trạng ấy vậy.

Còn cách độ ba, bốn chục dặm, trên thuyền bèn bắn ba phát pháo hiệu, khoảnh khắc thấy những thuyền nhỏ như đàn kiến, ước độ vài trăm cái, theo gió lướt sóng mà đến. Trước nhất có thuyền, đến đưa danh thiếp tặng lễ vật, trên thuyền có cờ, đề hai chữ Tiếp phong (đón sứ sách phong). Viên quan đứng đầu đoàn thuyền ra nghênh tiếp là một viên Tử cân đại phu, dẫn theo những thuyền nhỏ, đều được làm bằng một cây gỗ, dài chưa đầy một trượng, rộng độ hai thước, cứ hai thuyền kết lại với nhau làm một như con cá bơn. Người ta dùng các mái chèo ngắn, chia làm hai hàng, cùng kéo chiếc thuyền lớn bằng dây chão, trông hệt như râu tôm. Có một người đội mũ đỏ, cầm cờ, gõ chiêng, chính là một vị Tú tài quan xung làm Lĩnh đội áp bang vậy. Chưa bao lâu, lại có thuyền khua chiêng kéo tới, là đoàn tiếp sứ thứ hai của quan Pháp ti, cũng đưa thiếp thỉnh an. Đoàn tiếp quan thứ ba do quốc cữu dẫn đầu, đem theo quan thông sự cùng lên thuyền chào hỏi, sứ sách phong sai từ chối mà miễn đi.

Đến cửa khẩu, gọi là cảng Na Bá, phía nam có giăng như bình phong, phía bắc xây đê bằng đá dài như cầu vồng, để chặn nước triều lên xuống. Đầu đê có núi nhỏ, như con hổ nằm phục, dựng pháo đài ở trên. Thuyền sách phong sắp cập bến, thì đã nghe ba tiếng đại pháo vang rền, rồi tiếng chiêng trống, tiếng kèn đồng, cùng hàng vạn người đã sắp hàng tề chỉnh. Kịp tiến vào cảng, mới trông thấy nhạc đội bày ban, chia hai hàng tả hữu. Phía trước cắm hai lá cờ nền vàng mép đỏ, viết hai chữ Kim cổ (chiêng trống) lớn, phía sau có hai người thổi ống sáo, hai người thổi kèn, bốn người đánh trống bốn người đánh thanh la. Chỉ thấy trong tiếng nhạc du dương thi thoảng vang lên những tiếng cắc cắc thùng thùng lẫn vào. Hai bên bờ, những người ta kéo nhau ra xem, đông kể có tới hàng vạn, chẳng biết đâu là nam là nữ.

Thuyền sách phong thân nặng không thể vào sát bờ được, bèn để ngang những thuyền nhỏ, gác ván lên làm cầu phao từ bờ cho tới thuyền. Trên bờ có ba gian nhà, biển ngạch đề là Khước kim đình, Quốc vương ra đón sẵn ở đó, tự xưng là Thượng mỗ - Thế tôn nước Lưu Cầu, cũng dùng hốt màu đỏ. Vương đội mũ ô sa, hai cánh chuồn gấp khúc hướng lên trên, mặc áo long bào màu xanh đen, thắt đai vàng, đi hia đen, dung mạo gầy gò, tuổi chỉ mới hăm hai, quỳ đón ở trong đình. Chánh sứ bưng phù tiết, Phó sứ bưng chiếu thư, lại nghe ba tiếng pháo nổ, bèn lên bờ, phụng phù tiết cùng chiếu thư tới kiệu long đình. Hai vị Thiên sứ đều ngồi kiệu tám người khiêng. Đi đến giữa đường, lại có đình Nghênh Ân, Quốc vương cho bày nhang án, dẫn theo bá quan, hành lễ ba quỳ chín khấu đầu mà tiếp chiếu. Lễ xong, vương đi trước dẫn đường tới quán Thiên sứ. Chính sảnh có biển đề là Phu mệnh đường, đón chiếu sắc đưa vào để an vị ở chính giữa, Thiên sứ đứng hai bên tả hữu, Quốc vương lại dẫn bá quan hành lễ thỉnh thánh an, rồi sau đó mới theo lễ chủ khách tiếp Thiên sứ, mời ngồi dâng ba tuần trà, rồi từ biệt trở ra. Thiên sứ tiễn đến dưới sân, vương khiêm nhường bái tạ, rồi cũng ngồi kiệu tám người khiêng hồi cung.

Ngày mười sáu, đón Thiên hậu vào Thiên hậu cung. Thiên sứ ra khỏi sứ quán, các miếu cùng đốt hương đáp bái Quốc vương. Sứ giả trở về sứ quán, lên ngồi trên đại đường, quân võ biền hộ tống, dẫn thủy binh mặc giáp sắp hàng vào tham kiến, để tỏ uy xa vậy.

Chế độ trong quán Thiên sứ thảy đều mô phỏng lối Trung Hoa, phía trước dựng hai lá cờ, trên cờ có hai chữ Sách phong lớn. Bên cạch dựng đình kèn trống, mỗi ngày đều tấu nhạc ba lần vào các giờ thìn, ngọ, dậu, đứng sắp hàng ở đối diện cửa giữa. Thanh la, hiệu ốc, cũng như nhạc hôm ra đón thuyền sứ, nhạc tấu xong, thì ai nấy cùng giải tán. Phía ngoài hai cửa viên môn đông tây, đều rải cát trắng, sáng lóa như tuyết. Phía trong nghi môn, tức là nhà Phu Mệnh đường. Phía sau nhà ấy, có nhà thông đến tận lớp hậu đường thứ tư. Phía đông nhà, có lầu gọi là Trường Phong các, là chỗ Chánh sứ ở, còn phía tây nhà thì là nơi Phó sứ ở. Lên lầu đều có thể nhìn được ra rất xa. Hai bên giải vũ đông tây đều hai mươi gian, là chỗ ở của những người tùy tòng. Tường vây xung quanh sứ quán dày lắm, đều xây bằng đá tảng, đá nhiều hoa văn, lại có những lỗ nhỏ, trông hình tựa những cái đầu lâu. Trên tường trồng loại cỏ, lá như lá rau diếp, chẳng cần đất cũng mọc, mùa thu, đông vẫn xanh tốt.

Đến ngày sóc tháng Bảy, sắp sửa cử hành nghi lễ truy phong ngự tế. Lấy bốn viên tòng quan, một người bưng chiếu thư, một người bưng phù tiết, một người tuyên chiếu, một người bưng lụa (Lụa dùng làm lễ vật phúng điếu). Trước đó một ngày, quan thông sự trình nghi chế, sắp kiệu ngựa, mời các tòng quan đến miếu tiên vương tập dượt nghi lễ. Kiệu trông như cái lồng hạc, đan bằng nan tre, bên ngoài sơn đen, trong dán giấy trắng, trên đỉnh có cái vòng lớn, lấy một đòn gỗ mà khiêng, cao cách mặt chỉ tầm năm tấc. Mọi người đều theo cửa bên trái đi vào, khoanh gối mà ngồi. Cũng có sắp đủ gối dựa, ống nhổ, tẩu thuốc trong đó. Ngựa chỉ như con ngựa câu bé, cắt bờm như lừa, tính rất xấu, mỗi con ngựa phải cần một người dắt, yên đệm bàn đạp, cũng hơi khác với Trung Quốc, bước đi chậm chạp, như ngựa Tiểu Xuyên vậy.

Giờ tỵ, ra cửa Đông Viên, qua Thánh miếu, đi về phía đông nam chừng ba dặm, đến cầu An Lý, đường đi đều bằng phẳng. Qua cầu vài bước, tức chỗ gọi là Tiên vương miếu, có núi non bao bọc, miếu nằm ở giữa, bóng cây um tùm, lá tựa lá hồng mà sắc xanh sẫm, gọi là cây ba la mật (mít). Hai phía đông tây có cổng chào sơn đỏ, ở giữa là cửa tam quan, đỉnh bằng mà không có biển ngạch gì. Đi mười bậc thềm lên, thấy có tòa nhà ba gian, đặt ghế ngồi cho Quốc vương và Thiên sứ ở giữa. Lại vào tới hậu đường, thì tức là Tiên vương điện. Điện có năm gian, hai giải vũ hơn mười gian. Trước thần chủ để trong điện bày ba ngự án, án ở giữa là phụng tiết án, án bên trái là phụng chiếu án, án bên phải là phụng bạch án. Dưới mái hiên phía tây điện, đặt đài đọc quay ra hướng đông nam.

Đến giờ thìn ngày hôm sau, Thiên sứ ra khỏi sứ quán, đến các miếu đốt hương. Trở về, thì Tam pháp ti cùng các ở đó chuẩn bị kiệu long đình, thái đình, cùng nghi trượng chiêng trống, tập hợp ở ngoài cửa sứ quán. Đợi đến khi mở cửa, thì tấu nhạc, vào chào hỏi xong xuôi, rồi rước long đình, thái đình vào. Chánh sứ bưng phù tiết, Phó sứ bưng chiếu thư, đều mặc triều phục, các tòng quan cũng mặc mãng phục ngũ phẩm. Các quan bản quốc cùng hướng về phía sứ giả cung kính tiếp đón phù tiết, chiếu thư, tiền, lụa cùng an vị vào trong kiệu, rồi đứng hai bên tả hữu. Dưới thềm nổi nhạc, quan dẫn lễ tuyên xướng, các quan bản quốc cùng quỳ, hành lễ chín lần khấu đầu. Rồi nổi pháo hiệu, các quan bản quốc đi dẫn đường, sắp đủ cả nghi trượng, đều lấy binh lính Trung Quốc làm việc ấy, số mặc đồng phục cưỡi ngựa, ước chừng hơn hai trăm người. Theo sau là đồ lỗ bộ, rồi kiệu thái đình đi trước, kiệu long đình đi sau. Các tòng quan, tá sứ đều che lọng đỏ, cưỡi ngựa theo sau long đình, hai vị Thiên sứ đều được ngồi kiệu bát cống. Bên đường, trai gái tụ tập đứng xem, kẻ đứng người ngồi, lớp lớp như vẩy cá, nhưng ai nấy trật tự im lặng, chỉ nghe thấy tiếng vó ngựa lộp cộp gõ xuống mặt đường mà thôi.

Đến cầu An Lý, Quốc vương mặc bào tía đội mũ sa đã đem bá quan quỳ đón ở bên trái đường. Long đình tạm dừng, Quốc vương cùng các quan bình thân đứng dậy, hai sứ xuống kiệu bước tới trước, chia ra đứng ở hai bên tả hữu long đình. Quan dẫn lễ xướng hô, Quốc vương cùng các hành lễ ba quỳ chín khấu đầu mà tiếp chiếu. Lễ xong, Quốc vương và các quan lại đi bộ trước dẫn đường. Đến cửa miếu, thì theo cửa cuốn phía đông đi vào, đứng dưới sảnh. Thiên sứ ra, xuống kiệu, các tòng quan cũng xuống ngựa, đỡ long đình theo cửa giữa mà vào. Đến giữa sân, viên quan bưng phù tiết trao phù tiết cho Chánh sứ, viên quan bưng chiếu trao chiếu thư cho Phó sứ, rồi cùng theo vào điện tiên vương, ai nấy phụng phù tiết, chiếu thư để lên ngự tọa đã được bày sẵn, rồi lui xuống đứng ở thềm phía đông, quay mặt về phía tây. Viên quan tuyên chiếu đứng ở dưới đài đọc chiếu, mặt quay về phía đông. Hai bên giải vũ cùng tấu nhạc, quan dẫn lễ đưa Quốc vương, từ thềm phía đông bước tới trước hương án, quy mặt về phía bắc. Người châm hương quỳ mà dâng hương lên cho Quốc vương. Quốc vương cũng quỳ, dâng hương ba lần, xong lại được dẫn xuống dưới thềm. Vương cùng các quan ai nấy vào đúng vị trí quỳ bái, hành lễ ba quỳ chín khấu đầu bái chiếu thư. Lễ xong, nhạc ngưng, lại lui xuống đứng ở giải vũ phía đông, trước chỗ thần vị Thế tử, quay mặt về hướng tây. Nhạc lại nổi lên, Thiên sứ bưng tiết, chiếu đứng ở chính giữa. Quan bưng chiếu từ thềm phía đông tiến lại nhận lấy chiếu thư, rồi lập tức nâng cao, rồi theo cửa giữa xuống thềm, có lọng vàng che, bước lên đài đọc chiếu. Quan tuyên chiếu cũng cùng đi theo đến dưới hương án trên đài. Nhạc ngưng. Quan dẫn lễ hô “Quỳ!”, Quốc vương cùng các quan đều quay về phía bắc mà quỳ, phủ phục dưới chỗ thần vị của Thế tử. Quan dẫn lễ hô “Mở đọc!”, quan tuyên chiếu bèn bước đến chính giữa hương án tuyên đọc to chiếu thư. Tuyên đọc xong, lại bưng chiếu xuống đài, che lọng vàng, theo cửa giữa đi vào, trao cho Phó sứ để yên lại trên ngự tọa. Quan dẫn lễ đưa Quốc vương và các quan ai nấy lại vào vị trí quỳ bái, hành lễ ba quỳ chín khấu đầu tạ ơn truy phong. Quan dẫn lễ hộ: “Thoái ban!”, Quốc vương mới vào trong miếu, mời sứ giả tạm nghỉ, thay áo, rồi dâng trà lên.

Xong lễ truy phong, Quốc vương thay áo bào đen, đai sừng, đến trước thần vị của tiên vương. Sứ giả lại chia ra đứng hai bên ngự án theo như nghi thức trước. Quan Pháp ty thỉnh chiếu thư, tế văn, để thờ cúng ở trong miếu. Thiên sứ bèn đến trước thần vị tiên vương, hành lễ một quỳ ba khấu đầu, Quốc vương và các quan đều phủ phục ở bên cạnh thần vị. Lễ xong, quan dẫn lễ xướng “Thoái ban!”, Quốc vương bèn bưng thần chủ tiên vương, theo thềm phía đông vào điện, cúng phụng xong, lại hành lễ tạ phong một quỳ ba khấu đầu với sứ giả, sứ giả cũng đáp bái lại.

Xong lễ ngự tế, Quốc vương lại thay triều phục, sứ giả cũng thay áo, rồi cùng đến tiền đường, hành lễ gặp mặt an tọa. Thiên sứ ngồi giữa quay mặt hướng nam, Quốc vương ngồi phía tây, quay mặt về hướng đông bắc. Không sắp nhạc đội, trà rượu đều đích thân dâng lên. Sứ giả từ tạ, quan Tử cân đại phu dâng mời thay. Thiên sứ dâng đáp lại, Quốc vương cũng đứng dậy từ tạ. Rồi ai nấy cùng vào bàn dự yến. Các tòng quan thì dự yến ở giải vũ phía tây. Rượu cùng món ăn đều do Tú tài quan quỳ mà dâng lên. Pháp ty quan thì đứng bên cạnh tiệc làm bồi yến. Yến tiệc xong xuôi, Quốc vương đi trước dẫn đường, lại đến trước ngự án, Chánh sứ phụng phù tiết trao cho quan bưng phù tiết đặt vào trong long đình. Sứ giả đi xuống dưới thềm, cùng bái chào từ biệt Quốc vương, các tòng quan cũng cùng Pháp ty quan bái biệt. Ra cửa miếu, Quốc vương và bá quan đã đi trước, đến dưới cầu An Lý, đợi long đình tới, thì cùng quỳ tiễn, Thiên sứ cũng xuống kiệu bái chào, rồi về sứ quán.

Tối ấy, Quốc vương sai quan đến thăm hỏi cảm tạ. Hôm sau, Thiên sứ cũng sai Tuần bổ quan vào vương phủ đáp tạ.

Đến ngày hai mươi sáu tháng Bảy, mới làm đại lễ sách phong. Cách một hôm, các tòng quan đến vương phủ để tập dượt lễ nghi trước, từ miếu tiên vương qua hai dãy núi nhỏ phía đông, đi trên lưng núi, đường cũng rất bằng phẳng. Dân chúng sống ở dưới núi, ruộng vườn như gấm, tre trúc um tùm. Đi được ba, bốn dặm, mới thấy một cổng chào cao, trên viết hai chữ Trung Sơn lớn. Qua hơn trăm bước, lại có một cổng chào, viết hai chữ Thủ Lễ. Chính giữa đường, xây một đài vuông bằng đá, trên trồng một khóm vạn tuế, để làm lai long (Thuật ngữ phong thủy, chỉ long mạch chầu vào). Tiếp đến, thấy muôn cây che rợp, tường lũy dựng dày, trên chỗ cao nhất cung điện nguy nga, đã đến nơi vương phủ Trung Sơn vậy.

Cửa phủ hướng tây, trên có địch lâu. (Địch lâu : lầu trên cổng thành, dùng làm đài quan sát giúp canh phòng giặc) Vào cửa, rẽ sang hướng nam, dần lên cao mấy bậc, có một cửa quay hướng bắc. Bên cạnh có một con suối, tạc một hình đầu rồng vào đá, để cho nước suối từ miệng rồng phun ra. Đó là mạch nước tốt lành của Trung Sơn, nên gọi tên là Thụy Tuyền. Phía trên có cửa, gọi tên là cửa Thụy Tuyền. Trên cửa có đài đồng hồ. Lại ngoặt sang phía đông đi vào cửa thứ ba, thấy sân phẳng rộng rãi, đặt ba cửa xếp thành hàng, hướng nam, thế rất hùng tráng. Vào cửa, tức là vương điện, có một đường đi thông ở giữa rất rộng, lát bằng những phiến đá vuông sắc tía lớn. Lại đi vào, là chính điện năm gian, thềm rộng hơn một trượng, ước cao độ năm thước, vây quanh bằng lan can đá trắng, chia làm ba lối bậc lên xuống, hai bên chỗ bậc lên xuống ở giữa dựng một đôi thạch trụ có hình rồng quấn quanh. Trong điện không có bảo tọa, mà có một đài, chỉ cao tầm một thước, gọi là đài Lâm Chính, có lan can sơn son vậy quanh, cũng trải đệm bông, tựa như cư thất của thứ dân. Phía sau đặt một bình phong vàng, phía trên là Ngự Thư lâu, phàm những biển ngạch của các đời hoàng đế Trung Quốc ban tặng đều treo ở đó. Hai bên đông tây là hai dãy buồng tiện điện (Tiện điện: cung điện riêng dành cho người có việc tư chầu vua) với hành lang, mỗi bên có ba gian, dùng làm nơi cho Thiên sứ yến ẩm, cũng đem những biển ngạch mà sứ sách phong xưa nay tặng, treo ở hai bên. Mở cửa sổ phía sau ra xem, có thể ngắm được biển, cột son kèo vẽ, đơn giản mà màu mè. Trên thềm, lại đặt ba ngự án. Đầu phía đông, quay về hướng tây đặt đài Khai Độc, cao hơn một trượng. Trên đường thông đạo, chỉ đặt chiếu cỏ bốn bên cạp điều làm chỗ quỳ bái cho Quốc vương mà thôi.

Ngày hôm sau, sứ giả theo các quan văn võ cùng tùy tòng đến phủ, cũng như nghi thức truy phong lần trước. Vương làm lễ chín khấu đầu xong, yến hội Thiên sứ ở tiện điện phía tây, còn tòng quan và tân khách thì ăn yến ở tiện điện phía đông, dâng trà, dâng rượu cũng như nghi thức trước, chỉ có số người đến xem là đông hơn nhiều, vì có thêm quyến thuộc của quan viên văn võ nước ấy dựng lán rạp ở hai bên đường. Lại có những kẻ dắt già đỡ trẻ, kể tới hàng mấy vạn người, thực là một đại cảnh quan vậy.

Hôm sau, vương lại thay áo mũ, như kiểu áo mũ của quan Hoàng môn đời Hán, ngồi kiệu rồng, trong đặt chỗ ngồi sơn son vẽ vàng, dùng bốn đòn cáng, trước sau là mười sáu người khiêng. Kiệu ấy ' cao ngang mái hiên, nghi trượng thì dùng bốn đôi cờ vuông lớn làm tiền đạo, kế đến là sáu đôi trường đao, sáu đôi trường thương. Lại có hơn chục đôi các thứ như phủ việt, (Phủ việt: rìu và búa lớn, hai loại vũ khí thời cổ) họa kích, giáo nanh sói, đều cán dài hơn trượng. Lại có một cái lọng đỏ, viền rủ ba lớp, cùng hai đội nhạc chiêng trống xen vào giữa. Gần ngay bên kiệu, thì đôi quạt lông gà cán dài, một quạt lông công, một đôi quạt tròn, một cái quạt tán, hai đôi lò xách tay. Theo phù cùng kiệu Quốc vương, đều là các Tử kim đại phu và Đô thông sự quan đi bộ theo sau. Lại có bọn đồng tử hơn chục tên, ăn vận như phường hát, tên nào tên nấy cùng cầm phất trần, quạt tròn, cùng đi phù giá. Vương đến sứ quán bái tạ, cũng như lần trước. Dọc đường đi, điểm xuyết từng đoạn lại có trang trí, hoặc đan dậu thấp mà bày chậu hoa, hoặc xếp giả sơn mà trồng tùng bách, đặt tượng hươu, hạc, cắt giấy làm hoa, mắt trông chẳng xuể.

Lệ cũ, hàng tháng mỗi khi đến ngày năm thì Quốc vương lại sai quan tới thỉnh an, đến ngày mười thì tự mình tới thăm. Sứ giả từ tạ mấy lần, bèn mỗi khi gặp ngày mười thì sai Quốc tướng tới thăm. Nghi thức là: sứ giả đặt ngai ở sảnh đường, Quốc tướng, Tam pháp ty hành lễ, sứ giả ra khỏi chỗ đứng bên cạnh chắp tay. Tử kim đại phu thì đứng nghiêm, còn lại đều ngồi ngay ngắn, cho họ khấu xong thì lui. Các tòng quan khi gặp gỡ thì chỉ cùng vái một vái dài mà thôi.

Xét, Lưu Cầu quốc truyện, từ đời Thiên Tôn thị thời Hán đến nay, đều là họ Thượng, tận tới đầu niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, mới theo lịch chính sóc của Trung Quốc. Nước ấy vốn có ba vương Nam, Bắc, Trung, đến đầu bản triều mới gộp lại là một. Đất ấy thảy đều là núi mà không có ngọn cao, cũng không có thành quách. Địa giới nước ấy rộng chừng vài trăm dặm, chia làm ba phủ. Chỗ Quốc vương ở gọi là Thủ Lý phủ, cũng có tên là Thủ Lễ phủ, các đại thần giữ việc nước phần đa ở đó. Thứ đến là Cửu Mễ phủ, khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc (nhà Minh) có dời người Trung Hoa đến đó, dạy cho họ biết văn học, có hai mươi tư họ, nối đời ở đó, nắm việc văn tự giấy tờ, cũng tựa như Hàn lâm viện của Trung Quốc vậy. Thứ ba là Na Bá phủ, các nhà buôn bán đều ở đó. Những nhà sĩ hoạn trong nước đều là nối đời làm quan, nối đời ăn lộc, tuy theo chế độ nhà Đường, lấy thơ chọn kẻ sĩ, nhưng ứng khảo đều là con em nhà mũ áo vậy.

Tiền tiêu dụng của nước ấy đúc gọi là tiền Khoan Vĩnh, bạc một lạng có thể đổi được một ngàn sáu trăm đồng tiền. Hình phạt không có trảm (chém), giảo (treo cổ), già hiệu (gông và bêu tội trạng). Có người phạm tội thì đưa đến Tam pháp ty xem xét trừng trị. Nhẹ thì đánh roi, nếu tội nặng thì cho một chiếc thuyền độc mộc nhỏ, đuổi ra ngoài biển, đi đâu tùy ý, rồi chiếu sung quân. Nặng hơn nữa, thì mổ bụng mà ném xuống biển.

Dân chúng ở đó đều ăn khoai lang, một năm ba vụ, mỗi gánh giá không quá một trăm đồng. Cũng trồng kê, mạch, lúa, đậu, nhưng người ở đó không dám ăn no, chỉ dành để khi cần đãi khách mà thôi. Dân chúng phần lớn mặc áo vải thô, không chuộng việc tằm tang.

Nước ấy sở thuộc gồm có ba mươi sáu đảo, hoặc xa hoặc gần nhưng đều cách trùng dương. Các thứ chim thú cũng giống như Trung Quốc, duy loài có vảy thì quá nửa là cá biển, có thứ tôm lớn như cái thăng cái đấu, cua lớn như cái nón lá. Cá thì hoặc màu lam hoặc màu hồng, chẳng thể biết hết tên được, mùi vị rất tanh, mà họ cũng không phân biệt ngon dở gì cả. Rượu thì có rượu nóng, có rượu ngọt, cũng có cả rượu trắng hơi đặc như tương, do đàn bà con gái trong nước nhai cơm rồi ủ thành, có vị ngọt, chỉ có chút hơi men vậy.

Người cả nước ấy tầm vóc đều không có ai cao lớn, dân an vật thịnh, chưa từng nghe có chuyện trộm đạo bao giờ. Chợ không có hàng quán, cũng không có quán trà, quán rượu. Nhà cửa phần đa bốn mặt đều có mái đổ nước, và không rộng lớn cho lắm, cũng không có cái nào để thông ba gian, chung quanh bưng ván. Trong buồng đều lát ván gỗ, sàn cao hơn mặt đất độ hai thước, trên mặt sàn trải chiếu nệm cạp vải, gọi là Đạp cước miên. Nam nữ đều ngồi trên mặt sàn. Cửa lớn cửa sổ đều soi hai rãnh, để lắp cửa đẩy ngang mà đóng mở, vì thế cột phần lớn là cột vuông, chất gỗ như gỗ hoàng dương, được mài đánh rất bóng. Trước sân cũng có giả sơn, phần lớn đục chạm tinh xảo, mặt đất thì đổ cát trắng, màu hoa sắc lá soi bóng thanh u. Hoặc ken trúc làm dậu, nhà ở ẩn bóng dưới tán lá xanh um tùm trong đó. Người đi lại trên đường rất ít, cả ngày đều tĩnh mịch, cũng không nghe thấy chuyện đánh nhau cãi cọ, chỉ thỉnh thoảng nghe thấy tiếng đàn hát mà thôi.

Phía tây sứ quán có khu chợ của đàn bà, tất cả những đồ khí dụng, thực phẩm, vải vóc, áo cũ, giày mới, đều được những người đàn bà đội trên đầu mang đến, rồi ngồi xuống đất mà bán, những người đàn bà ấy đều gọi nhau là “ái di” (dì yêu). Chỉ có đàn ông mới dùng vai gánh, còn đàn bà thì dùng đầu đội. Bất luận là lúa, gạo, dầu rượu, bao túi, giỏ rương, dẫu nặng hàng trăm cân cũng đều đội trên đầu cả, trước nay chưa thấy có ai bị rơi đổ bao giờ.

Tục ở đó, có thày thuốc, nhưng không có thầy bói toán, chiêm tinh xem tướng. Có sư, mà không có đạo sĩ, cũng không có ni cô.

Có ngôi chùa tên là Lạc Thiện ở phía sau sứ quán, rào tre nhà thấp, không sơn vẽ gì, hành lang quanh co, bóng cây che rợp. Ngoài sân đào một hồ nhỏ, cá vàng bơi lội. Chùa không có tiếng chuông khánh, càng thêm vẻ u tịch. Chùa Định Hải, ở trong đê Trường Hồng của Na Bá, phía bắc nhìn ra bể lớn, trông mênh mang không biết đâu là cùng. Tại đó cũng có Thánh miếu, ở cách phía đông sứ quán chừng nửa dặm, hình thức cũng giống như Trung Quốc, nhưng điện đình thấp nhỏ, sai các ông Tú tài luân phiên nhau trông giữ.

Chế độ mũ áo, con trai từ mười sáu tuổi thì cạo chỏm tóc chính giữa đầu, để lại tóc mai bốn xung quanh, buộc thành một búi, cài cây trâm hoa mai độ ba tấc. Vương cùng Quốc tướng, Pháp ty quan thì dùng trâm bằng vàng ròng, Tử cân đại phu thì dùng trâm cuống vàng, mũi bạc, còn các quan khác đều dùng trâm bạc, thứ dân thì dùng trâm đồng. Kiểu mũ thì dài, tròn, đỉnh bằng (bình đính) như mũ tăng ni, mà trước sau có hoa văn gấp khúc màu đen. Những người có chức sắc thì dùng khăn lụa hồng, đại phu thì khăn lụa vàng, từ Tử kim quan trở lên thì đều dùng khăn lụa tía. Quốc tướng, quốc cữu thì dùng khăn gấm tía. Thứ dân thì đội khăn lá sen màu xanh sẫm, chức dịch thì dùng khăn lụa xanh. Áo mặc giống kiểu áo đạo sĩ, cổ áo dài, tay áo rộng tới một thước bốn năm tấc, màu sắc thì chuộng xanh, đỏ. Thường phục thì tùy màu sắc. Thắt lưng to bản, ước rộng tới bốn tấc. Từ Quốc tướng cho tới thứ dân đều đi dép cỏ, gọi là Tát bá, hình thức như hài cỏ của Trung Quốc, khoảng giữa đế lắp một quay ngang, rồi cắm một chốt cao chừng nửa thốn nối với quai ấy, khi đi thì xỏ bàn chân vào quai, rồi kẹp chốt vào khe ngón chân cái (Đây tức một loại dép xỏ ngón). Vì thế, đầu tất chân phải, chân trái đều để một chẽ riêng ngón cái, không dùng lẫn được. Tất rất ngắn, chỉ đến mắt cá chân thôi, phải dùng dây buộc, nam nữ đều như thế.

Con gái ở đó không bó chân, không cạo mặt, không xỏ lỗ tai, tóc không buộc, mà dùng dầu sáp trát lên, rồi kéo hết lên giữa đỉnh đầu, trông như bông hoa mẫu đơn, tức chính như người ta vẫn nói là mẫu đơn đầu vậy, sắc bóng như sơn. Trâm dài bảy tấc, to như ngón tay út, làm thành hình bát giác. Cuống trâm như cái thìa canh, cắm nghiêng về phía trước, chất vàng bạc cũng tùy hạng người mà có phân biệt, theo như phẩm cấp của chồng vậy. Vợ dân thường thì dùng trâm sừng hoặc đồi mồi. Áo cũng như đàn ông, nhưng dài chấm đất, không thắt đai, không có nút, lấy cái vạt áo trong bỏ vào trong cạp quần, rồi tay phải giữ vạt áo ngoài mà đi. Những người chưa lấy chồng thì buộc cái khăn tay ra ngoài để mà phân biệt. Tay áo có cái rộng tới hơn hai thước. Đàn bà tuổi quá ba mươi, thì trên mu bàn tay xăm thành một đốm đen, tuổi càng cao, đốm xăm càng nhiều, tới già thì bàn tay đen hết cả, chuyện này không thể hiểu ra làm sao.

Việc giao tế với nhau, khi khách đến, thì cởi tát bá để ở cửa, vào nhà ngồi bệt xuống sàn. Chủ nhân ra, ai nấy cùng cúi mình gật đầu làm lễ chào nhau. Tiểu đồng cầm bình trà trông như quả đào, rót một nửa chén trà, chủ nhân nâng lên mà mời khách. Khách nhận lấy, rồi nâng lên cao ngang trán, sau đó mới uống, để tỏ ý tôn kính. Các thứ khác cũng tương tự thế. Người ở đó cũng hút thuốc, mỗi người trước chỗ ngồi đều đặt một ống điếu, một hỏa lò, một ống nhổ, gọi chung cả bộ đồ ấy là đả ba cổ bằng. Ấy là vì thuốc thì họ gọi là đả ba cổ, còn khay đèn thì gọi là bằng vậy. Ống điếu dài chỉ độ một thước, thuốc hút rất cay. Sau khi ngồi đối diện với nhau, họ hoặc chuyện trò, hoặc đánh cờ, mệt thì nghiêng mình xuống mà nằm.

Mỗi khi yến hội, họ đều rất tiết kiệm, đồ ăn không quá bốn món, dùng một mâm sơn đen chia ô ra mà đựng. Rượu thì chỉ một chén nhỏ, để trong mâm nhỏ sơn son, cũng chuyền nhau mà uống. Rượu say rồi thì ngồi nằm hát hò làm vui. Cơm thì nói là Ốc mãn, cháo thì nói là Ốc cai, ăn thì nói là Tam tiểu lý, cá thì nói là Du, thịt thì nói là Hí, vịt nói là Áp phi lạp, trứng nói là Khoa giáp, mèo nói Mạt nha, dầu nói là Ám đạm, gạo nói là Liệu, đi nói là Nhất quýnh, hôm Sơ, ngày mai nói là A tước, đi chơi nói là A hi tì, cầm lại nói là Mạc cấp liệu, tốt nói là Thu lạt sa, không chịu, không được, không thích đều nói là Một ba yết, không hiểu thì nói là Tất các lãng. Một nói là Để kỷ, hai nói là Đả kỷ, ba nói là Mễ kỷ, bốn nói là Hựu kỷ, năm nói là Nhất kỷ kỷ, sáu nói là Vinh kỷ, bảy nói là Nại nại kỷ, tám nói là Nha kỷ, chín nói là Cốc cốc nô kỷ, mười nói là Đà kỷ. Duy có trà vẫn nói là Trà, giá áo vẫn nói là Giá áo, áo nói là Khâm sách. Mì thì nói là Sách miến, cũng lại nói là Mộc cát lợi quả. (Chỗ này tác giả ghi phiên âm tiếng nói của người Lưu Cầu, có thể thấy trong đó nhiều từ tương tự trong tiếng Nhật hiện đại vẫn dùng. Ví dụ: Cháo, tiếng Nhật hiện vẫn đọc là Okayu...) Ba thứ này đại khái xuất xứ từ Trung Quốc, cho nên vẫn gọi theo tên như cũ. Các giống cây hoa cỏ rất nhiều, chẳng thể nào kể lại hết được. Cách gọi tên các vật khác, tựa như đều có âm mà không có chữ vậy.

Nước Lưu Cầu cũng có diễn kịch. Thiên sứ sang, thì dựng một sân khấu ở trước tiện điện, cao ngang thềm, rộng chừng ba trượng. Phía sau sân khấu có một gốc tùng lớn, cành vươn ra tận ngoài hiên, có kết lụa nhưng không có đèn, những người ca múa không phải là con hát, mà đều là con em những nhà áo mũ trong nước đảm đương, tuổi đều mười sáu, mười bảy, không có người già. Lúc mở màn, không có trống chiêng gì, chỉ nghe sau sân khấu liên tục gõ phách tre, rồi liền thấy một lão nhân đội khăn lá sen, khoác chiếc áo choàng màu vàng sậm, tựa như áo choàng lông hạc, thắt lưng đai xanh, tay cầm gậy song, râu trắng phất phơ, dẫn theo tám tên nam tử, đầu tóc búi cao, mình mặc áo hoa trắng nền đỏ, lưng thắt đai đen, ai nấy trên tay cầm một cành hoa đi quanh sân khấu mà múa, như bộ dạng dâng hoa. Lại có đồng tử rung trống mà chạy quanh xuyên qua trong đó. Tiếng hát thì từ sau sân khấu vọng ra. Họ không thổi sênh thổi sáo, chỉ dùng đàn dây hòa theo. Kịch bắt đầu, chỉ chia ra các màn, và nói mà thôi. Đó là câu chuyện kể về họ Thiên Tôn mở mang đất Lưu Cầu, mà ca múa thái bình, gọi tên là Tam chúc vũ.

Lại nghe tiếng phách trúc vang lên, người diễn đóng làm bốn đồng nữ đi ra, mái tóc cài hoa Kim phượng, trên trán buộc cái khăn lụa tía, mặc áo choàng đỏ, dài quét đất, ngoài quấn một tấm đỡ che lưng bằng sa xanh sẫm dát vàng, ai nấy cầm trên tay hai cái quạt giấy, nối nhau thành hàng mà ra, ca múa xong thì lui, đó gọi là múa quạt.

Cuối cùng diễn một đoạn truyền kỳ, tên là: Thiên duyên kỳ ngộ, con cái vui vầy. Đầu tiên có vai kép, đóng làm một tiểu phu, áo xanh mũ đen, tên gọi là Minh Ngải Tử. Tiếp đến có một vai đào ra, đẹp lắm, đầu tóc chải búi cao, tóc phía sau còn buông xuống vai, mình khoác một áo choàng dài quét đất bằng lụa trắng in hoa năm màu, bên trong có áo ngắn màu đỏ, trên vai quấn một dải lụa đỏ phất phơ, đóng làm tiên nữ, từ trên cây tùng bước xuống giữa sân khấu, lập tức cởi dải lụa đỏ đem treo lên cành cây, tựa như làm ra vẻ xuống tắm. Minh Ngải Tử bèn lấy trộm dải lụa ấy giấu đi. Tiên nữ bị mất dải lụa, sợ hãi không thể bay về trời được, cùng Minh Ngải Tử hỏi thăm chuyện trò hồi lâu, bèn thành vợ chồng. Hai người sinh được một con gái tên là Chân Hạc, tuổi vừa lên chín, lại có một con trai tên là Tư Quy, năm tuổi. Cả hai đều do bọn trẻ con bảy, tám tuổi đóng, môi đỏ răng trắng, ăn vận giống lắm. Bấy giờ, tiên nữ ru cho hai con ngủ ngoan trên giường xong, bỗng nhiên tìm thấy dải lụa, bèn dần dà lên trên ngọn tùng. Chuẩn bị bay về trời, nàng tiên nhìn xuống con trai, con gái, diễn ra vẻ thương khóc. Hai đứa con chợt giật mình tỉnh dậy, cùng kêu gọi dưới cây. Tiên nữ đã lên đến đỉnh ngọn tùng, bỗng có đám mây trắng từ trên sà xuống, để làm khuất lối diễn viên đi. Đám mây ấy làm bằng bông trắng. Minh Ngải Tử cũng truy tìm đến dưới cây tùng cùng con trai, con gái trông gốc cây mà khóc lớn. Bỗng có một vị Đại phu đi ra hỏi chuyện Minh Ngải Tử, quay về tâu lại cho Quốc vương biết. Vương bèn vời cha con họ đến ban cho tước lộc, và nhận đứa con gái vào cung nuôi dưỡng. Ấy là câu chuyện từ hồi mới mở nước, cây tùng phía sau sân khấu được trồng chuyên chỉ để diễn cho tích này. Cây ấy cao lắm, phải đến hàng trăm năm tuổi vậy.

Lại nghe tiếng phách tre vang lên lần nữa, có bốn đào nhỏ đóng làm bốn người con gái, trang phục cũng như tiên nữ nhưng không có dải lụa, đầu đội cái nón năm sắc, đàn hát chậm rãi mà đi lên. Múa một lúc, thì ai nấy bỏ nón, lên xuống đi quanh rồi vào, gọi là múa nón.

Lại diễn một đoạn truyền kỳ, tên là Tôi chúa quên mình cứu nạn rửa hờn. Một vai kép, hai bên trán bôi son, vẻ mặt trẻ nhỏ nhưng tóc bạc phơ, đội nón gió bằng gấm đoạn dát vàng, mình mặc áo gấm đoạn màu đồng hun, bên ngoài có bối tâm màu thanh thiên có hình rồng vây vàng, lưng đeo bảo đao, tay cầm mũ đâu mâu gắn quạt, tự xưng là Án ty, tên là Bát Trọng Lại. Án ty, dường như là cách gọi chư hầu của nước ấy vậy. Trên đường đi, gặp Ngọc Thôn Án ty, có phu nhân rất xinh đẹp, Bát Trọng Lại bèn giết Ngọc Thôn mà cướp vợ. Người vợ không chịu theo, tuẫn tiết mà chết. Người con trai của họ trốn tránh đến nhà ông chủ lớn Bình An. Bát Trọng Lại muốn đi lùng bắt mà giết đi cho khỏi di hại. Con trai một gia nhân của Ngọc Thôn tên là Quy Thọ, mới từ biệt mẹ đến nhà ông chủ Bình An, gặp cậu chủ của mình, xin lấy thân mình đóng giả cậu chủ, để mọi người đem ra dâng cho Bát Trọng Lại mà chết thay. Cậu chủ không nghe, tựa như chuyện thay giam đổi chết trong Nhất phủng tuyết (Tên vở kịch do Lý Ngọc - người cuối Minh, đầu Thanh soạn. Trong đó, có kể người đầy tớ nhà họ Mạc là Mạc Thành thay chủ chịu chết) vậy. Rồi đó, cậu chủ mới bằng lòng. Ông chủ Bình An có người gia tướng, tên gọi Cát Do, vờ trói Quy Thọ giả làm con Ngọc Thôn, đem nộp cho Bát Trọng Lại. Bát Trọng Lại bèn lệnh cho giam lại, bắt chịu đủ cực hình rồi định giết chết. Cát Do giả hàng xin vào dưới trướng. Lại có đại thần của Ngọc Thôn tên là Ba Bình khởi nghĩa, cùng hợp binh với ông chủ Bình An, tôn con trai của Ngọc Thôn lên làm Tiểu án ty báo thù cho cha, phá cửa quan mà tiến vào, giết Bát Trọng Lại dưới trướng, cứu được Quy Thọ ra, và lại lập con trai Ngọc Thôn làm Án ty. Đây là câu chuyện vào cuối thời Minh, khi nước ấy chia làm ba vương nam, bắc, trung vậy. Tiểu án ty do một thiếu niên tuấn tú, tuổi chừng mười hai, mười ba đóng, ăn vận như Tiểu Thanh trong màn kịch Thủy đấu, (Tức một màn trong vở Bạch xà truyện) chỉ không mặc váy. Phàm có những cảnh chiến đấu, đều không diễn ngoài sân khấu, mà vào trong hậu trường chỉ làm ra tiếng trống phách quát hét mà thôi.

Lại thấy tiếng phách tre vang lên, thấy có bốn tên nam tử đầu đội khăn hồng, mình mặc áo hoa, lưng thắt đai rộng, đùi quấn lụa xanh, tay giữ trống bồng, vỗ kêu long bong. Lại có bốn đứa nhỏ, ăn vận cũng như thế, nhưng tay cầm đoạn tre ngắn, gõ kêu lách cách, nhún nhảy khắp sân khấu, vừa gõ vừa nhảy, gọi là múa trống bồng.

Lại diễn một đoạn truyền kỳ, tên gọi: Dâm nữ thành ma, nghĩa sĩ toàn thân. Một kép trẻ ra sân khấu, tuổi chừng mười lăm, mười sáu, đóng làm một hậu duệ người Hán ở Cửu Mễ phủ, tên là Đào Tùng Thụy, đầu đội nón lá nhỏ, kiểu cách như ruột nón che nắng ở Trung Quốc, mà lớn chừng cái nồi gang nhỏ, mặc áo lụa trắng, tay cầm gậy ngắn, đến Thủ Lễ phủ thăm người thân. Trời tối, anh ta lạc đường, trông thấy dưới núi có ánh đèn, bèn đến đó xin nghỉ trọ. Tiếp theo có một đào, đóng vai một thôn nữ đi ra, giữ Tùng Thụy ở nghỉ lại nhà mình, tự nói rằng mẹ đã mất, cha đang đi vắng, chỉ có một mình ở trông nhà, rồi muốn hầu chăn gối. Tùng Thụy lấy điều nam nữ thụ thụ bất thân ra mà răn. Người con gái ấy vẫn không nghe, cứ gượng bức, Tùng Thụy phải thoát thân trốn chạy. Người con gái thẹn quá hóa giận, định đuổi theo mà giết, khiến Tùng Thụy phải trốn vào chùa Vạn Thọ. Trong chùa có lão tăng tên là Phổ Đức, đem giấu Tùng Thụy vào trong cái chuông, lại có một cái chuông nữa giống hệt như thế. Người con gái đuổi theo, không thấy tung tích đâu, bèn ngửa mặt lên trời khóc lớn, phát cuồng mà đi. Tùng Thụy ra khỏi chuông, thì cô ta lại đến, chui vào trong chuông, bỗng nhiên hóa ra bộ dạng ma quỷ, trên đầu mọc hai cái sừng, vẻ mặt vô cùng dữ tợn, tay cầm hai lưỡi búa, thế sắp động võ đến nơi. Phổ Đức bèn chắp tay niệm chú, con ma bèn bị cơn gió cuốn biến đi, Tùng Thụy được toàn thân trở về. Đó là câu chuyện đời gần đây ở nước này vậy.

Bỗng thấy đóng làm hai con sư tử một lớn một nhỏ, nhảy nhót xung quanh rồi hạ màn. Ca múa từ đó dừng hẳn, tức cũng như kịch Trung Quốc nói là đoàn viên hoàn mãn vậy.

Lưu Cầu cũng có kĩ nữ, gọi là Hồng y nhân, chỗ họ ở gọi là Hồng y quán. Lệ trước đây, mỗi khi có Thiên sứ đến nước ấy sách phong, vẫn cho phép các kĩ nữ vào sứ quán mà hầu hạ. Từ năm Gia Khánh thứ 5, khi ông Điện soạn Triệu Giới Sơn đến Lưu Cầu sách phong, mới truyền dụ không cho phép kĩ nữ vào sứ quán, liền lấy đó làm định lệ. Các quan từ Quốc tướng trở xuống đều có kĩ nữ ưng ý của mình, tiền son phấn chu cấp cho họ hàng tháng, chẳng qua chỉ bốn, năm, sáu lạng bạc mà thôi.

Nếu Thiên sứ đến Hồng y quán, thì sẽ không cho phép người trong nước vào quán nữa, vì e rằng sẽ phát sinh sự đoan vậy. Người Trung Hoa mỗi khi đến Hồng y quán, nếu ưng ý ai thì thanh giá người ấy sẽ tăng gấp mười, sau khi định tình hợp ý, tất sẽ tặng cho người ấy một cây trâm bạc, để cài đầu mà lấy làm vinh hạnh. Vì rằng, dân chúng thủy chỉ đều dùng trâm sừng, duy những kĩ nữ được người Trung Hoa tặng thưởng mới cho phép được cài trâm bạc. Hình thức cây trâm tựa như cánh hoa sen mà cuống dài, mỗi cây nặng năm lạng. Ăn mặc của Hồng y nhân thì muôn hình muôn vẻ, không có nhất định thế nào. Có người mặc áo nền trắng hoa xanh, hơi để lộ sắc yếm đỏ phía trong. Có người mặc áo năm sắc in hoa, thắt lưng khăn vải sa chun màu tía. Có người mặc áo nền xanh hoa trắng năm màu, thắt lưng đại vải tơ đỏ có hoa văn. Tất cả đều nhạt thoa son phấn, đầy đặn tự nhiên, khiến ai cũng phải tiêu hồn. Họ cũng rất giỏi ca múa, hoặc chơi đàn tam huyền, hoặc chơi đàn cổ sắt, hoặc ngồi mà hát, hoặc đứng mà múa.

Phàm đã là Hồng y nhân thì thảy đều không có con. Từ năm tám, chín tuổi đã bán mình vào quán, được dạy cho biết hát. Sau khi tiếp khách rồi, họ tích lũy tiền của chuộc mình ra, rồi mua lấy một đứa hầu đẹp, tự mở quán của mình. Khi tuổi tác đã cao rồi, thì ai nấy đều có chỗ giao du cũ, vì thế không có cái lệ hoàn lương bao giờ.

Phòng ở của họ đều hướng nam, phía trước để trống một sàn để làm hiện và hành lang, ba sàn phía sau làm buồng ngủ, ba mặt đều bưng ván, phía trên đóng trần, phía dưới trải đệm cước đạp miên, sạch sẽ mềm mại, hệt như bước lên cái giường lớn. Trong nhà cũng có rương giỏ, giá áo, thư họa, bầy biện đồ đồng cổ, bình sứ, hồ rượu, chén, bát, đồ uống trà, uống rượu... Dưới hiên cũng đào hồ nhỏ, nuôi mấy con cá chép vàng, trồng chuối và vạn tuế dưới tường. Có một loại hoa gọi là hoa dâm bụt, lá tựa như lá dâu mà hoa như hoa thục quỳ, nhiều cánh, đủ cả năm màu, có cả thứ màu đỏ sẫm.

Ở đây, đàn ông thì dùng quạt tròn, đàn bà thì dùng quạt bán nguyệt. Tối ngủ thì lấy chiếu lớn trải ra trong buồng, phía trên buông màn rộng, lại có đủ các đồ chăn, gối. Cũng có đèn đuốc, hình thức tựa như cái đèn lồng mà cao, ngoài dán giấy trắng, trong đốt bằng dầu, phía trên có một thanh gỗ ngang, có thể cầm theo, cũng có thể tùy chỗ mà để tùy nơi mà cắm. Nến thì đều là sáp nguyên, có thể đốt suốt đêm. Những chuyện ăn uống sinh hoạt khác đều không khác gì Trung Quốc vậy.