MỤC LUC - Quyển XIII
Liêu Trai Chí Dị
Tác giả : Bồ Tùng LinhDịch giả : Cao Tự Thanh
Quyển XIII MỤC LUC (từ truyện 234 đến 278)
MỤC LUC - Quyển XIII
Liêu Trai Chí Dị
Tác giả : Bồ Tùng Linh 
Tem Liêu trai chí dị, phát hành năm 2001, Trần Toàn Thắng vẽ
Lúc còn nhỏ có lần ta lên tỉnh chơi đúng vào dịp tiết Lập xuân. Theo lệ cũ thì trước đó một hôm, các nhà buôn bán trên phố đều kết kiệu hoa trỗi đàn sáo đưa đám rước tới tỉnh đường, gọi là "diễn xuân". Ta cùng bạn bè kéo nhau đi xem, hôm ấy người đông nghẹt, trên sảnh đường có bốn ông quan mặc áo đỏ ngồi đối diện nhau theo hướng đông tây. Lúc ấy ta còn là trẻ con, chẳng biết là những quan gì, chỉ nghe tiếng cười nói ồn ào, trống chiêng ầm ĩ. Chợt có một người dắt đứa trẻ con xỏa tóc, vác hòm lên thềm, như muốn thưa bẩm. Đang khi ồn ào ầm ĩ, cũng chẳng nghe là thưa gởi những gì, chỉ thấy trên thềm cười rộ. Kế có người lính hầu bước ra lớn tiếng sai diễn trò, người ấy vâng lệnh bắt đầu, hỏi diễn trò gì. Các quan nói với nhau vài câu, rồi người lính hầu lớn tiếng hỏi giỏi trò gì, người ấy đáp giỏi trò đánh tráo vật sống. Người lính hầu vào bẩm quan một lúc, lại trở ra sai diễn trò hái đào. Người diễn trò vâng dạ, cởi áo phủ lên cái hòm, làm ra bộ oán thán nói "Bậc quan trưởng thật chẳng nghĩ cho, băng chưa tan trời còn lạnh, lấy đâu ra đào? Không hái thì sợ quan giận, làm thế nào được?". Đứa con nói "Cha đã hứa, sao lại chối từ”. Người diễn trò ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói "Ta nghĩ kỹ rồi, đầu mùa xuân tuyết chưa tan, tìm đâu ra đào ở cõi trần. Chỉ vườn của Tây Vương mẫu bốn mùa cây cỏ đều xanh tươi, may ra thì có, phải lên trời ăn trộm thôi”. Đứa con nói "Ô, trời mà lên được à?”, đáp "Có cách đây". Bèn mở hòm lấy ra một cuộn dây dài vài mươi trượng thắt thòng lọng một đầu rồi ném lên không, sợi dây lơ lửng trên không rủ xuống như mắc vào vật gì vậy.
Một cô gái tới làng, tuổi chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm, khoác một túi thuốc đi bán. Có người hỏi xin chữa bệnh, cô gái không biết kê đơn, bảo đến tối hỏi thần, rồi chiều tối dọn dẹp sạch sẽ một gian phòng nhỏ, vào trong đóng chặt cửa lại. Mọi người xúm xít quanh cửa sổ lắng tai nghe ngóng, chỉ thì thào nóỉ chuyện, không dám ho hắng.
Đảo cổ Đông Hải (thuộc tỉnh Sơn Đông) có cây hoa nại đông ngũ sắc, thường nở hoa cả bốn mùa, song trong đảo không có ai ở, ít người lui tới. Trương sinh người huyện Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông) tính hiếu kỳ, thích du ngoạn, nghe nóí cảnh ở đó đẹp bèn mang rượu thịt, tự chèo thuyền ra đảo chơi. Tới nơi thì gặp lúc hoa đang nở rộ, mùi hương lan khắp mấy dặm, thấy cây nại đông to hơn chục người ôm, cứ qua lại ngắm nghía mãi, lấy làm thích thú. Rồi mở bầu rót rượn, tiếc là không có ai cùng đi chơi. Chợt trong đám hoa có một cô gái đẹp hiện ra, áo hồng mắt sáng, xinh đẹp không ai sánh được, nhìn Trương cười nói "Thiếp tự cho rằng hứng thú của mình không tầm thường, không ngờ đã có kẻ đồng điệu tới trước". Trương ngạc nhiên hỏi là ai, nàng đáp "Thiếp là con hát ở huyện Giao (tỉnh Sơn Đông), vừa theo Hải Công tử tới đây. Ông ta thích cảnh đẹp đi khắp nơi, thiếp mỏi chân nên nghỉ lại ở đây". Trương đang buồn về nỗi quạnh hiu, gặp được người đẹp rất vui, gọi tới cùng ngồi uống rượu.
Đinh Tiền Khê là người huyện Chư Thành (tỉnh Sơn Đông), gia tư giàu có, hào hiệp trọng nghĩa, hâm mộ những kẻ du hiệp thời cổ, bị quan tư nã bắt. Đinh bỏ trốn, tới đất An Khâu gặp mưa, vào trú ở một nhà nọ, nhưng mưa suốt cả ngày không ngớt. Có một thiếu niên bước ra mời ăn cơm, cơm nước rất tử tế. Kế trời tối, Đinh nghỉ đêm luôn lại đó, thiếu niên cũng đem rơm cỏ cho ngựa đầy đủ. Đinh hỏi tên họ, thiếu niên đáp "Chủ nhân họ Dương, ta là cháu trong nhà. Chủ nhân ưa giao du, có việc đi vắng rồi, trong nhà chỉ có nương tử, nhà nghèo không tiếp đãi được chu đáo, xin khách tha lỗi". Hỏi tới nghề nghiệp chủ nhân, thì được biết chẳng buôn bán làm lụng gì, chỉ hàng ngày đánh bạc, kiếm ăn cò con.
Dương Thiên Nhất kể có lần thấy hai con chuột ra kiếm ăn một con bị rắn nuốt mất. Con kia trợn mắt như hạt tiêu đứng nhìn, có vẻ rất căm giận. Rắn ăn no rồi, ngoằn ngoèo bò vào hang, vừa lọt vào hơn một nửa thì chuột lao tới cắn vào đuôi. Rắn tức giận lui ra, chuột lanh lẹn chạy trốn, rắn đuổi không kịp bèn quay lại, bò vào hang thì chuột lại tới cắn vào đuôi như trước. Rắn vào thì theo cắn, rắn ra thì bỏ chạy, cứ thế hồi lâu, rắn trở ra mửa con chuột chết ra trên mặt dất. Chuột tới ngửi ngửi, kêu chít chít như khóc thương rồi tha đi. Bạn ta là Trương Lịch Hữu có làm bài Nghĩa thử hành (Bài hành Con chuột có nghĩa) về chuyện này.
Huyện Tín Dương (tỉnh Sơn Đông) có ông Mỗ ở thôn Thái Điếm. Thôn cách huyện thành năm sáu dặm, cha con ông ta dựng quán cạnh đường cho người buôn bán qua lại nghỉ trọ, có bốn người phu xe chở hàng vẫn vào trọ ở đó. Một hôm trời rất tối bốn người cùng về tới thì quán trọ đã đầy khách. Bốn người không biết làm sao, cứ nài nỉ xin cho trọ lại. ông Mỗ ngẫm nghĩ tìm được một chỗ, nhưng ngần ngại sợ không hợp với khách. Bốn người lại nói chỉ cần có chỗ ngả lưng là đủ chứ không dám chọn lựa khen chê gì cả. Lúc ấy con dâu của ông Mỗ vừa chết, xác còn đặt trong nhà bên kia đường, con trai đi mua quan tài chưa về, ông thấy trong nhà còn rộng bèn dắt khách qua đó nghỉ.
Tiên sinh Tống Thúc Ngọc người huyện Lai Dương (tỉnh Sơn Đông) làm quan ở kinh, phủ đệ ở một chỗ rất hoang vắng. Một đêm, hai người tỳ nữ cùng mẹ tiên sinh là Thái phu nhân ngủ ở trong phòng, chợt nghe sau viện có tiếng phùn phụt như thợ may phun nước lên vải để cắt áo vậy. Thái phu nhân bảo một người tỳ nữ dậy xem, người tỳ nữ núp sau cửa sổ nhìn ra thì thấy một bà già người thấp lưng gù, tóc bạc phất phơ, đội một cái mũ chụp cao chừng hai thước, đi vòng quanh nhà, co ro như con hạc, vừa đi vừa phun, mãi vẫn không hết nước trong mồm. Người tỳ nữ kinh ngạc trỡ vào bẩm, Thái phu nhân cũng ngạc nhiên dậy xem, hai người tỳ nữ đỡ ra cạnh cửa sổ cùng nhìn.
Tôn Thái Bạch từng kể ông cố của ông đọc sách trong chùa Liễu Câu ở Nam Sơn, có lần tháng tư về nhà, hơn chục ngày mới trở lại. Mở cửa vào thì thấy bụi bặm đầy bàn, tơ nhện ngập song, bèn sai kẻ hầu quét dọn, đến tối mới xong. Kế dọn giường trải chiếu, gối đầu nằm bên song nhìn ra cửa sổ ngắm trăng. Trằn trọc một lúc thì đêm đã yên ắng, chợt có tiếng gió ào ào nổi lên, cổng chùa rít kèn kẹt. Đang nghĩ một mình rằng chắc sư trong chùa quên cài cổng, thì tiếng gió đã tới cạnh phòng ở, kế đó cửa phòng mở tung. Còn đang ngờ vực chưa biết là gì thì tiếng động đã vào tới phòng, lại có tiếng dép quèn quẹt tới sát phòng ngủ, bắt đầu thấy sợ thì cửa phòng ngủ mở ra. Vội nhìn ra, thì thấy có một con quỷ lớn khom lưng bước vào, tiến tới đứng sừng sũng ở đầu giường, cao ngang xà nhà, mặt vàng như trái dưa già, mắt sáng lóng lánh nhìn khắp bốn vách, há miệng to như cái chậu, răng chơm chởm dài khoảng ba tấc, liếm mép nuốt nước bọt ừng ục, tiếng rền cả phòng. Ông sợ quá, nhưng lại nghĩ nó chỉ đứng cách mình trong gang tấc, không còn cách chạy trốn nữa, chẳng bằng nhân lúc sơ hở mà đâm. Bèn ngầm rút thanh bội đao dưới gối ra chém hết sức trúng vào bụng nó, nghe leng keng như chém vào đá. Con quỷ cả giận, vươn móng vuốt vồ ông, ông co người lại tránh, quỷ vồ trúng cái chăn, giật lấy rồi căm tức bỏ đi. Ông bị kéo rơi xuống giường, nằm dưới đất la ầm lên, người hầu cầm đèn chạy tới thì thấy cửa phòng vẫn đóng như cũ. Trèo cửa sổ vào trông thấy cả sợ, bèn đỡ ông lên giường, ông mới kể lại chuyện. Mọi người cùng đi tìm kiếm thì thấy cái chăn vắt ở cửa phòng ngủ, đem ra cửa mở xem thì thấy vết móng to như cái rổ, năm dấu ngón tay xuyên suốt từ bên này qua bên kia. Trời sáng ông không dám ở lại nữa, cắp tráp về nhà, sau tới hỏi sư trong chùa, thì không thấy có gì khác lạ nữa.
Ông họ An ở huyện Tín Dương (tỉnh Sơn Đông) chăm việc đồng áng, gặp vụ lúa thu chín, gặt để thành đống trên bờ ruộng. Lúc ấy ở thôn bên cạnh có kẻ đi trộm lúa, nên ông sai đầy tớ nhân đêm có trăng chở thóc về làng nộp thuế, đong đếm xong thì trở lại, còn tự mình ở lại canh giữ, gối đầu lên cái mác ngủ cạnh đống lúa. Vừa mới thiu thiu, chợt nghe có tiếng người đạp lên lúa sàn sạt đi tới, ngỡ là bọn trộm, vội ngóc đầu dậy nhìn thì thấy một con quỷ cao hơn một trượng, mặt mũi hung dữ tới sát bên cạnh. Ông phát hoảng không biết làm sao, bèn nhảy bật dậy đâm bừa, con quỷ kêu rống như sấm sét bỏ chạy. Ông sợ nó quay trở lại, vác cái mác chạy về, gặp đầy tớ dọc đường, thuật lại chuyện mới rồi bảo họ đừng ra ruộng nữa, song mọi người cũng chưa tin lắm.
Họ Hứa ở phía bắc thành huyện Truy (tỉnh Sơn Đông) làm nghề đánh cá. Đêm nào cũng mang rượu tới bờ sông, uống rồi mới kéo lưới, uống rượu thì rót một chén xuống đất khấn "Ma da trên sông tới mà uống", cứ thế thành lệ. Người khác đánh cá có khi không được chút gì, chứ riêng Hứa thì đêm nào cũng được đầy giỏ. Một đêm vừa đem rượu ra uống một mình thì có một thiếu niên tới quanh quẩn cạnh đó. Hứa mời cùng uống, vui vẻ với nhau, trọn đêm chờ chẳng được con cá nào, Hứa rất thất vọng. Thiếu niên đứng dậy nói "Xin xuống dưới dòng xua cá lên cho ông", rồi nhẹ nhàng bước đi. Giây lát quay lại nói “Cá tới nhiều rồi đấy!” quả nhiên nghe tiếng cá đớp móng vang dưới sông, cất lưới lên thì được vài con dài cả thước. Hứa mừng quá, cám ơn định về, đưa cá biếu thì thiếu niên không nhận, nói "Nhiều phen được cho uống rượu ngon rồi, bấy nhiêu đâu đã đủ để báo đáp? Nếu như không ghét bỏ, xin cứ cho được uống rượu thế này thôi!". Hứa nói “Mới uống với nhau có một lần, sao lại nói là nhiều phen? Còn nếu chiếu cố tới nhau mãi, thì đó là điều ta rất muốn, chỉ thẹn không có gì để tỏ bày tình cảm thôi". Rồi hỏi họ tên, thiếu niên đáp “Ta họ Vương, không có tên tự, gặp nhau cứ gọi là chàng Sáu Vương được rồi", rồi từ biệt nhau.
Anh Mỗ ở Sơn Đông sống bằng nghề diễn trò rắn, dạy được hai con rất thuần, đều màu xanh. Con lớn thì đặt tên là Đại Thanh, còn nhỏ gọi là Nhị Thanh. Con Nhị Thanh trên đầu có một cái chấm đỏ, đặc biệt khôn ngoan, lúc diễn trò bảo gì là làm nấy, người diễn trò rắn yêu quý khác hẳn với những con khác. Một năm nọ con Đại Thanh chết, y định tìm con khác thay nhưng chưa gặp dịp rảnh rỗi. Một đêm trọ lại ở chùa trong núi, sáng ra mở giỏ thì con Nhị Thanh cũng đâu mất, y lo buồn muốn chết, tìm tòi kêu gọi mà không thấy tăm hơi, lùm cây bụi cỏ nào cũng sục vào tìm, nghĩ rằng trước nay nó luôn trở về, vì vậy cứ ngồi đợi nó tự về. Mặt trời đã lên cao, cũng đã tuyệt vọng, bèn thất thểu lên đường. Đi được vài bước, nghe trong bụi cây có tiếng sột soạt, ngạc nhiên quay lại nhìn, thì thấy con Nhị Thanh bò tới. Y mừng như bắt được ngọc báu, đứng lại ở bên đường đợi, con rắn cũng dừng lại. Nhìn về phía sau thì thấy một con rắn nhỏ đi theo nó, bèn vỗ về nói “Ta cứ tưởng ngươi đi luôn rồi. Bạn nhỏ này là ngươi dắt về phải không?”. Bèn lấy thức ăn ra cho ăn, cho cả con rắn nhỏ ăn nữa, con rắn nhỏ tuy không bỏ đi nhưng có có vẻ sợ sệt không dám ăn. Nhị Thanh ngậm thức ăn cho nó, dáng như chủ nhà mời khách. Người nuôi rắn cũng đút cho, nó bèn ăn. Ăn xong nó theo Nhị Thanh chui vào giỏ, y vác về, dạy cho làm trò. Dần dà nó cũng vào khuôn phép không khác gì Nhị Thanh, y đặt tên là Tiểu Thanh, mang đi diễn trò khắp nơi, thu được rất nhiều tiền.
Trương sinh chết bất ngờ, hồn đi theo quỷ sứ tới gặp Diêm Vương. Diêm Vương tra lại sổ, thấy quỷ sứ bắt lầm bèn nổi giận trách mắng, bắt phải đưa về. Trương xuống khỏi điện, xin riêng với quỷ sứ cho được đi xem địa ngục, quỷ dắt đi khắp nơi ngục Cửu U, núi kiếm vạc dầu cho xem, tới đâu cũng giải thích tường tận. Sau cùng tới một chỗ, thấy có nhà sư bị buộc vào đùi treo ngược lên, đau đớn kêu gào muốn đứt hơi, tới gần nhìn thì ra là anh mình. Trương hoảng sợ, hỏi vì tội gì mà đến nông nổi này, quỷ sứ đáp "Người này làm sư, đi khuyến hóa tiền bạc các nơi lại đem đánh bạc chơi đĩ ráo cả, nên phạt như thế. Muốn thoát tai ách phải sám hối thôi". Trương được sống lại, nghĩ là anh mình đã chết. Lúc ấy người anh tu ở chùa Hưng Phúc, bèn tìm tới xem. Vào tới cổng đã nghe tiếng anh đau đớn kêu la, vào tới phòng thì thấy trên đùi nổi mụn nhọt to vỡ ra, máu chảy dầm dề, đang nằm buộc chân treo lên vách, từa tựa như cảnh mình đã thấy bị treo ngược dưới âm phủ vậy. Sinh hoảng sợ hỏi, người anh làm sư đáp "Treo lên còn đỡ, nếu không thì đau thấu tim gan". Trương nhân đó thuật lại chuyện mình mắt thấy tai nghe, nhà sư cả sợ, bỏ hết rượu chè, kính cẩn tụng kinh, được nửa tháng thì khỏi, sau trở thành một nhà sư thanh tu.
Hiếu liêm họ Lưu nhớ được chuyện kiếp trước, là bạn đồng khoa với tiên huynh là Văn Phấn công, thường kể lại rất rõ ràng. Một kiếp ông là con nhà sĩ hoạn nhưng làm nhiều điều xấu xa, chết năm sáu mươi hai tuổi. Lúc ông vừa vào gặp, được Diêm Vương tiếp đãi theo lễ đối với người lớn tuổi, cho ngồi, mời uống trà. Nhìn thấy nước trà trong veo, tới giữa chén lại đục như keo, ông thầm nghi là thuốc lú, nhưng làm sao từ chối không uống được? Bèn nhân lúc Diêm Vương ngoảnh qua chỗ khác, lén đổ xuống góc bàn rồi làm như đã uống cạn. Lát sau bản tội lỗi kiếp trước của ông được kê ra, Diêm Vương nổi giận, sai quỷ sứ lôi xuống, phạt đầu thai làm ngựa, liền bị quỷ sứ trói lại dẫn di.
Chàng Cảnh thứ mười tám người huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh nặng, biết không sống được, nói với vợ rằng "Sắp vĩnh biệt nhau rồi. Sau khi ta chết, thủ tiết hay lấy chồng khác đều tùy nàng, nhưng xin cứ nói rõ”. Vợ im lặng không đáp, Cảnh cứ hỏi riết, lại nói “Thủ tiết thì tốt, lấy chồng khác là thường tình, cứ nói rõ có gì phải ngại? Ta sắp cùng nàng vĩnh biệt, nàng mà thủ tiết thì ta được an ủi, nàng mà lấy chồng khác thì ta cũng dứt được tình!”. Vợ rầu rĩ nói "Nhà không có đấu thóc thừa, chàng còn sống đã không đủ ăn, lấy gì mà thủ tiết”. Cảnh nghe thấy chụp lấy vai vợ, uất ức nói "Nhẫn tâm quá!”, dứt lời thì chết, tay vẫn nắm cứng vai vợ không buông. Vợ kêu ầm lên, người nhà đổ tới, phải hai người bẻ ngón tay, ra sức giật mạnh mới gỡ ra được. Cảnh không biết là mình đã chết, ra khỏi cửa thấy có hơn mười chiếc xe nhỏ, mỗi chiếc có mười người, đều có danh sách dán trên thùng xe. Người đánh xe thấy Cảnh, giục lên xe mau. Cảnh thấy trên xe đã có chín người, mình là người thứ mười, lại nhìn tới danh sách thì thấy tên mình ở cuối cùng.
Đại Tư mã họ Vương người huyện Tân Thành (thuộc tỉnh Sơn Đông) có người quản gia, gia tư cũng vào loại khá. Một đêm mơ thấy một người tới nói “Ngươi thiếu bốn mươi ngàn đồng, nay phải trả lại”. Y hỏi, người ấy không đáp, cứ đi thẳng vào nhà trong. Lúc y tỉnh dậy, vợ đã sinh được một con trai, biết là oan nghiệt kiếp trước, bèn lấy ra bốn mươi ngàn đồng để riêng vào một phòng, mọi chi phí quần áo, thức ăn, thuốc men cho con đều lấy ở đó. Được ba bốn năm, tiền trong phòng chỉ còn bảy trăm đồng, nhìn thấy người vú ôm đứa con tới cho đùa giõn bên cạnh, y bèn nói với nó rằng “Bốn mươi ngàn đồng sắp hết, ngươi chuẩn bị đi đi thôi". Y vừa dứt lời, đứa con chợt biến sắc mặt, nghẹn cổ trợn mắt, bế lên vỗ về thì đã đứt hơi chết rồi. Bèn lấy số tiền còn lại để chôn cất thì vừa đủ, chuyện này quả đủ để răn kẻ mắc nợ vậy.
Họ Lý ở huyện Tào Châu (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh ở huyện, gia cảnh khá giả nhưng nhà cửa không rộng rãi lắm, phía sau nhà có mấy mẫu vườn vẫn bỏ hoang. Một hôm có ông già tới thuê, đưa ra trăm đồng vàng, Lý vì chỉ có đất không nên từ chối. ông già nói "Xin cứ nhận cho, đừng nghĩ ngợi gì". Lý không nỡ phật ý, bèn nhận tiền, chờ xem chuyện lạ. Hôm sau, người trong thôn thấy xe ngựa rầm rộ chở người tới nhà Lý, đều cho rằng nhà Lý không lấy đâu đủ chỗ ở. Hỏi thăm thì Lý hoàn toàn không hay biết, vội về xem xét nhưng chẳng nghe thấy trong vườn có gì lạ. Mấy ngày sau ông già chợt tới thăm, lại nói “Được nương nhờ dưới mái đã mấy hôm, nhưng mọi việc đều phải bắt đầu, đào lò đắp bếp bận rộn nên chưa rảnh để trọn lễ làm khách. Hôm nay có sai đám trẻ làm cơm, mong được hạ cố qua chơi”.
Họ Lý ở huyện Duy (tỉnh Sơn Đông) có tòa nhà không ở, chợt có một ông già tới thuê, xin trả năm mươi đồng vàng một năm. Lý ưng thuận, nhưng ông già đi luôn không thấy trở lại. Lý bảo người nhà cho người khác thuê, thì hôm sau ông già tới nói "Ta đã hỏi thuê rồi, sao lại định cho người khác thuê nữa?". Lý nói thật là ngờ ông không thuê, ông già nói "Ta định ở đây lâu, nên mới thong thả để chọn ngày tốt, sau mười ngày nữa mới dọn tới". Rồi trả trước tiền thuê một năm cho Lý, lại nói “Nếu trọn năm vẫn bỏ không, xin cũng chớ lạ". Lý đưa ra cửa, hỏi rõ ngày dọn tới, ông già chào ra về. Quá kỳ hẹn mấy hôm vẫn không thấy đâu, Lý tới xem thì thấy hai cánh cổng cài chặt nhưng bên trong có khói nấu cơm bốc lên và tiếng người ồn ào.