Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Hải Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Hải Anh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

Phạm Hải Anh, Huyết Ðằng

 

Phạm Hải Anh, Huyết Ðằng

Thụy Khuê

 

 Trong những tác giả trẻ trội lên vài năm gần đây tại hải ngoại, Phạm Hải Anh là một trường hợp đáng chú ý: khuôn mặt văn học tuy có vẻ như chưa thật sự định hình, nhưng đã có vài nét chấm phá rất rõ: Phạm Hải Anh có thể xoay từ thực tại này sang thực tại khác, từ nhân vật này sang nhân vật khác, khá dễ dàng. Tức là Hải Anh có khả năng đóng nhiều vai "tuồng" khác nhau, nếu như chị là diễn viên. Và đó là tính chất hiếm hoi trong văn học cũng như trong kịch nghệ.

 Hải Anh có một ưu điểm (và cũng là nhược điểm): viết rất dễ. Vì viết dễ dàng nên người đọc có cảm tưởng tác giả chưa khai thác hết khả năng của mình, chưa đi đến tận cùng của nhận thức, để tạo ra một sản phẩm văn học "tới nơi tới chốn". Một cảm giác tiếc nuối chen lẫn chờ đợi Hải Anh viết kỹ hơn, bởi vì ngay từ cái "jet", cái "phóng" đầu tiên, Hải Anh đã có những tia nhận xét sâu sắc với một giọng văn chắc nịch, tự tin, bình chân như vại.

 Ví dụ lối vào truyện Cửa sổ (dựng trên bối cảnh khu tập thể Hà Nội), nhân vật chính, kẻ xưng tôi, là một anh cán bộ nghiên cứu, đứng ở cửa sổ nhà mình nhìn xuống mái ngói của một tầng đối diện. Cách mở truyện mạnh bạo và trực tiếp làm cho ta nghĩ đến hai nhân vật của Mai Thảo đứng trên từng chót một tòa cao ốc, nhìn xuống cuộc đời ở dưới chân, hoặc liên tưởng tới Fenêtre sur cour (Cửa sổ nhìn ra sân) của Hitchcock. Tất nhiên đây chỉ là cảm tưởng chứ không hề có ý so sánh Hải Anh với Hitchcock hay Mai Thảo. Tóm lại, mạnh bạo và trực tiếp, đó là lối vào truyện của Hải Anh.

 Lần theo nét bút, người đọc dần dần khám phá ra những bản phác thảo chân dung nhân vật vừa nổi vừa chìm, ít lời mà ngụ ý, của tập thể "hàng xóm" anh cán bộ nghiên cứu trong cái tầng trước mặt. Họ sống quây quần nhưng xa lạ nhau, thuộc lòng những cử chỉ, thói quen của nhau, nhưng căm ghét nhau. Họ phả ra những thói tật, những phiền hà, những ganh tị nhỏ nhoi trong cuộc sống hàng ngày.

 Ðó là một tập thể bốn hộ gồm gia đình ông Mỹ, bán thịt lợn, có người con gái "cô Bích Liên" đang chờ lấy chồng; gia đình vợ chồng Tâm, cán bộ nhà nước, có đứa con gái ốm nhom; nhà bà Ðịnh chuyên môn làm phiền hàng xóm vì khói than và mùi nước gạo, và "nàng", cái đinh của câu chuyện, nàng cũng là đối tượng yêu của nhân vật xưng tôi, tức anh chàng ngồi bên cửa sổ nhìn sang những cuộc đời đối diện. Dùng "cửa sổ" để phóng cái nhìn sang tập thể, là một ý niệm độc đáo và có dụng ý: "Nàng mơ một ngôi nhà có nhiều cửa sổ", chị nàng "mơ một ngày nào đó được tặng một ôm hoa hồng màu đỏ chói lọi. Nhưng bạn trai chị ấy không thích hoa, chỉ thích gà. Sinh nhật chị, lần nào anh ta cũng vác đến một con gà luộc. Hai người chấm muối chanh ớt, liên hoan với nhau. Rồi chị ấy lấy anh-gà-luộc ấy. Bây giờ hai người ở một cái nhà to, có rất nhiều cửa sổ." (trang 30-31)

 Lúc đọc đến đoạn này, tôi đã phì cười: cô này hóm lắm, bịa y như thật, nhưng chỉ vài ngày sau, tình cờ có cô em họ ở Hà Nội sang Paris thăm con, cũng thấy lễ mễ trong hành lý ba con gà luộc (giấu  hải quan), thì ra chuyện này có thật, không bịa tí nào: sự thật vượt ngoài trí tưởng tượng, một sự thật hài hước mà xót xa: ám ảnh ẩm thực thay chỗ cho tất cả các thứ quà xa xỉ khác, đã vượt mọi giấc mơ, vượt cửa ... hải quan để đến cư ngụ trong lòng người. Tình yêu, dù là tình trai gái hay tình mẫu tử, đều chịu áp lực của ẩm thực, chứng tỏ con người khi phải ăn đói quá lâu ngày, thì không thoát ra khỏi khát vọng ẩm thực nữa mặc dù bây giờ họ đã giầu có, đã có điều kiện cho con du học và thừa tiền xuất ngoại du lịch thăm con.

 Khát vọng ẩm thực dẫn đến phăng-tát ăn uống, nó đè bẹp những phăng-tát khác, khiến chúng trở thành những nạn nhân, một loại công dân hạng nhì. Nạn nhân ở đây hiện ra dưới dạng phăng-tát ước mơ. Với phăng-tát này, Phạm Hải Anh quẹt một nét khác: Chân dung con bé gầy đét, con vợ chồng Tâm, cán bộ nhà nước:

 "Ngày Tết, tôi sang chơi, cả nhà đi vắng, con bé pha trà, mời nước như người lớn rồi chúc tôi "Mạnh khỏe, công tác tốt!" Tôi cười bảo: "Thế cháu muốn chú chúc lại gì nào?" Nó nói: "Tùy chú. Ai cũng chúc cháu ngoan, học giỏi. Thế thôi!" Tôi hỏi: "Thế cháu không ước có cái gì khác à? Ví dụ được thưởng đi nghỉ ở biển chẳng hạn...?" Con bé đáp: "Cháu chưa đi biển bao giờ. Nhưng chả cần. Ước làm gì cho mệt. Chú có chúc cháu cũng không được đi cơ mà!"" (trang 28)

 Thế là rồi đời mơ ước. Một bút pháp tàn nhẫn, có khả năng đưa lên đoạn đầu đài tất cả những tơ tưởng ngoạn mục của con người qua vài dòng chữ li ti.

 Nhưng ở dưới cái nét phũ phàng ấy là một bản ngã văn chương: Những nhận xét thoáng qua mà lại tỉ mỉ, chính xác và đau đớn ấy chứng tỏ Phạm Hải Anh có thể tạo dựng được những gì đằng sau ngôn ngữ, tạo được những khoảng trống ngôn ngữ. Và đó là mục đích của Hải Anh. Tạo được khoảng trống ngôn ngữ, làm bật lên những điều không nói cũng là sở trường của Nguyễn Huy Thiệp.

 Một số người viết trẻ chịu ảnh huởng của Nguyễn Huy Thiệp, muốn làm như Nguyễn Huy Thiệp, nhưng không phải dễ. Thường thường họ chỉ bắt chước được cách đặt câu ngắn gọn, cộc lốc, mà không tạo được khoảng trống ở những điều không nói. Phạm Hải Anh làm được. Truyện ngắn Cửa sổ là một truyện chịu ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp trong chiều hướng đẹp của hai chữ ảnh hưởng: Hải Anh, trong vài câu ngắn gọn, cộc lốc, đã vẽ nên chân dung một con bé già trước tuổi, cử chỉ như người lớn, hỏi đáp như bà cụ non, nó đã hiểu hết những điều mà người ta gọi là "cay đắng" của cuộc đời. Nó biết có ước cũng chẳng được. Nó lõi đời hơn hai thiếu nữ: chị nàng ước được tặng bó hồng lại phải lấy anh chàng-gà-luộc. Nàng ước ngôi nhà có nhiều cửa sổ, nàng có người yêu là "tôi", nhưng chẳng may, một hôm cái anh "tôi" ấy, bắt gặp nàng đang "chọn một miếng thịt lên cân và cười", khiến hắn phải "chạy ra khỏi chợ. "Nụ cười "thịt" của nàng đã xua đuổi hắn. Rút cục, nàng với những giấc mơ "cửa sổ" cũng không thoát khỏi ám ảnh ẩm thực. Và chính ám ảnh ẩm thực ấy đã giết chết tình yêu.

 Qua một truyện rất ngắn, Phạm Hải Anh đã dẫn người đọc vào cái không khí nghẹt thở của một "chung cư tập thể". Chung cư của những giấc mơ chết yểu. Tập thể của những ước muốn tự lột xác thành những miếng thịt, miếng mỡ, miếng tim gan phèo phổi, để tìm được chỗ đứng trong lòng người. Chung cư tập thể khép lại với hình ảnh cuối cùng: Sau khi nàng đi lấy chồng, mẹ chàng cán bộ nghiên cứu dự định sẽ quây quách cái ban công sau lại, tức là bít nốt cửa sổ để làm thành chuồng cọp chứa đồ, tiện lợi hơn, bởi vì bà nghĩ: nhà có một cửa ra vào là đủ, thời buổi này ai cũng quay ra đường lớn, bao nhiêu người sống không cần cửa sổ.

 Hình ảnh cuối cùng này như nhát búa chót gõ vào mảnh ván quan tài, vĩnh viễn đóng lại "cõi nhìn" của kẻ xưng tôi. Ðể lại cho hắn cái thế giới duy nhất mà hắn độc quyền sở hữu: Thế giới không cửa sổ.

 

 Huyết đằng tập hợp 25 truyện ngắn, mỗi truyện một bối cảnh khác, một loại nhân vật khác, một thứ ẩn ý khác.

 

 Trở về không còn một chút gì ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp nữa. Hải Anh bước sang bút pháp lãng mạn, kể chuyện một anh Việt kiều về nước. Sự trở về này, giở lại dĩ vãng đau thương của một tuổi thơ kinh hoàng, đầy chất bi kịch (kiểu anh em nhà Karamazov). Hải Anh dùng biểu tượng để chồng chất những lớp lang khác nhau, khiến độc giả có thể đọc Trở về như một truyện ngắn bình thường, "hồn nhiên" viết về hoàn cảnh éo le của một Việt kiều, nhưng cũng có thể đọc Trở về dưới nét khác thường của một gia đình, một dân tộc có một dĩ vãng âm u, khốc liệt, với những người con xâu xé, tranh giành, hãm hại nhau (kiểu anh em nhà Karamazov). Với Trở về cũng như với hầu hết những truyện ngắn khác, độc giả vẫn có một chút luyến tiếc: tại sao tác giả không chịu khó đẩy tâm lý các nhân vật sâu xa hơn nữa, để chúng ghi tạc lâu và mạnh hơn nữa vào tâm cảm người đọc. Chắc chắn Phạm Hải Anh có thể làm được việc đó.

 

 Thương lá rách là một truyện hiện thực "cổ điển" mà thời sự: lá lành đùm lá rách. Ở đây, tác giả vạch ra những "con sâu", "con bọ" trong đám lá rách, chúng nằm trong hệ thống "sâu bọ" hút tủy những cơ hàn, đói khát, liệt nhược của trẻ mồ côi. Những "lá lành", trong cuộc hành hương nhân đạo, mỗi ngày một lạc thêm vào mê lộ của cuộc đi, tự hỏi về hành trình chính mình, mình có đi lạc ngay từ đầu không? Mình có tiếp viện cho bọn mafia trưng dụng tình thương, dùng viện tế bần, trại mồ côi như những dụng cụ để làm tiền không cần xuất vốn. Ðây là câu chuyện một anh sinh viên vừa ra trường tìm được việc làm ở một tổ chức cứu trợ nhân đạo nước ngoài. Anh ta làm thông ngôn cho Eric, một nhân viên của cơ quan cứu trợ. Eric muốn đến thăm những nơi mà tổ chức cứu trợ này đã hoặc sẽ cho tiền.

 Cuộc đi của hai thanh niên dẫn đến những ngõ ngoặt không ngờ, mà mục tiêu đầu là một khám phá: phỏng vấn một em bé đánh giầy (đã được chỉ định) để lên chương trình tài trợ các trẻ em lang thang. Câu chuyện loanh quanh, hỏi qua hỏi lại, thì được biết "em bé đánh giầy" này làm ở khu có nhiều Tây, nên kiếm khá, lương em hơn cả lương hưu của cả hai cha mẹ cậu sinh viên làm "ghít" cộng lại, em bé tuy người nhỏ thó nhưng năm nay đã 21 tuổi và sắp về quê cưới vợ v.v... Chưa hết, Eric lại đòi dẫn đến một trung tâm nuôi và dạy trẻ mồ côi ở Hà Nội mà tổ chức đã trợ cấp. Tới nơi, đòi thăm phòng ăn: chẳng thấy, té ra ở đây không cần phòng ăn vì đã phát tiền cho các cháu đi ăn cơm bụi. Tìm đến lớp học: trống không bởi đang nghỉ hè, các cháu đi bán sách rong, chưa về. Hỏi: Vậy số tiền mà tổ chức gửi lần trước, được dùng vào việc gì? Trả lời: Ðể xây xưởng mộc và nuôi gà. Xin xuống thăm chuồng gà: không một mống. Hỏi tại sao? - Gà mới toi cả. Tìm đến xưởng mộc, chỉ thất mấy cái cưa đục hoen rỉ, vất bừa bãi trong căn phòng mái thủng toác hoác. Người phụ trách rưng rưng nước mắt, giải thích: "Gỗ thì đem làm củi đun hết cả rồi anh ạ. Các anh xem ... giọng người phụ trách trở nên buồn rầu xúc động, mái thì thủng lỗ chỗ, cái tường nứt toác thế kia, nhỡ đang học nó xụp xuống thì nguy hiểm chết người... Kinh phí như gió vào nhà trống, đắp chỗ nọ hở chỗ kia, khổ quá anh ạ!" (trang 65)

 Cứ từ tốn, thản nhiên như thế, Phạm Hải Anh dẫn người đọc vào những hoàn cảnh không thể tưởng tượng được mà lại rất thật, bởi sự thật ngoài đời đôi khi vượt quá giới hạn của tưởng tượng. Một chuyến đi "thực tế" vào những phũ phàng, gian lận, với những nhân vật được huấn luyện để nói lời thành tâm, chân thật, để phục vụ công tác cướp giật giữa đường; những nhân vật cái bang này có đủ khả năng tạo ra những giọt lệ làm tiền không tốn một xu, dùng việc thiện để giết chết việc thiện.
 
 

 Dạo phố Hà Nội như Thạch Lam, Hải Anh dừng lại ở một tiệm giầy, hàng "Xuân Phương Shoes Shop", có lời quảng cáo hoa mỹ "Ðến với Xuân Phương bạn sẽ hài lòng", rồi nghe chuyện đời ly kỳ của ông chủ, bạn sẽ thấy đó là cả một lịch sử lẫy lừng của dân tộc: Cụ thân sinh ra ông, nhờ có mỗi cái nghề bán dép lốp, dép râu mà mua được cả ti-vi, tủ lạnh. Một nửa dân Hà Thành xài dép lốp Xuân Phương, và trong cảnh giầu sang ti-vi tủ lạnh, cụ đã từng mơ một giấc mơ triệu phú, có tầm cỡ quốc gia, quốc tế, đó là ngày cụ trang bị dép lốp cho toàn thể phi công Việt Nam "chân dép lốp bay vào vũ trụ" (trang 89)

 Nhưng rồi cụ mất mà chưa được phỉ nguyện, con cụ, ông Xuân Phương ngày nay vẫn chỉ là chủ tiệm Xuân Phương shop và kiêm chức vụ quý hóa thứ nhì: Ông là một nhà thơ đầy triển vọng trong sinh hoạt câu lạc bộ thơ phường, với những chủ đề đầy ý nghĩa như "Khuyến khích sinh đẻ có kế hoạch". Tiệm ông luôn luôn chào đón khách quốc tế, hạng người mù chữ bản địa, cho nên cứ thấy bảng "oen khăm", "oen khiếp" là chúng nhào vô và dĩ nhiên là ông dành ưu tiên cho loại khách quý, không mà cả nhì nhằng bần tiện.

 Xuân Phương vừa pha trộn những hóm hỉnh rất Thạch Lam, lại vừa có những mỉa mai châm biếm rất Vũ Trọng Phụng, là một truyện ngắn đặc sắc của Hải Anh về con người Hà Thành ngày nay, và cũng là người Việt nói chung trong bối cảnh kinh tế thị trường. Về những ảo ảnh của khẩu hiệu, về những khôi hài của sự học mót, đua đòi, của sự dốt nát hồn nhiên, về bệnh nan y vọng ngoại.

 
 
 

 Tôi, anh, nàng và đức Phật là một thành công khác. Nàng trong truyện này là một nhân vật ảo, là cái bóng của nhân vật xưng tôi, một cô gái. Nàng là phăng-tát của tôi. Và tôi là một kẻ có khuynh hướng đồng tính nhưng lại muốn chối bỏ "tội lỗi" của mình bằng cách niệm Phật để diệt những đòi hỏi rối rắm đang phát triển trong lòng mình, diệt cái mà người ta cứ gọi trắng ra là "tà dục".

 Nhưng cả "tôi" lẫn "nàng" đều bất lực trong việc mưu sát này, cho nên dù chỉ có "một mình" anh bên "tôi", cái ả "nàng" vẫn cứ trơ trẽn chêm vào nằm cạnh, đến cả đức Phật trên đài có cao chứng, có mở lượng từ bi, cũng không "cứu vãn" được.
 
 

 Huyết đằng nổi trội như một cấu trúc chặt chẽ trong đó Phạm Hải Anh tạo được không khí truyện rất riêng biệt, một cái gì như mờ ảo, bí mật, liêu trai xung quanh mối tình giữa Hùng và Mận. Một tình yêu đến chết. Một sự đầu thai trong luân hồi. Tất cả được mở ra với biểu tượng huyết đằng, như một câu hỏi: Huyết đằng là gì? Hai chữ huyết đằng dấy lên như một ngư tiên bí mật và huyền bí, gợi âm, gợi hình, như một phù thủy của âm thanh, mời gọi mọi người tìm đọc Huyết đằng. Tất cả những nhân vật trong truyện đều có tính nửa người, nửa ma, có giọng âm, giọng dương như thể có đó mà không ở đó. Hải Anh đã vẽ được những nét bí mật của nỗi đam mê phi lý, vô tận trong tình yêu. Tuy vậy vẫn tiếc: Hải Anh viết ngắn quá, chưa đủ "thì giờ" đào sâu các nhân vật, tạo nên những tình huống, những hình ảnh gây dấu ấn lâu dài trong lòng người. Ðòi hỏi như vậy có quá chăng? Ðối với một ngòi bút mới viết được vài năm nay? Chắc là không, bởi vì qua tập truyện ngắn đầu tay, Phạm Hải Anh đã cho thấy tài năng của chị, nếu chỉ nhấn thêm lên một tý, là người đọc khi gấp cuốn sách lại, sẽ còn lưu trữ những ấn tượng lâu dài về cô Mận, về ông Xuân Phương, về cái cửa sổ, về con mèo có tên Culi và cô chủ nó v.v... Phải làm sao cho những người và vật đó ám ảnh người đọc mạnh hơn nữa, lâu hơn nữa. Chính cái ám ảnh là một trong những đích cao nhất của truyện ngắn. Nếu truyện dài là chạy marathon trong cuộc đời, thì truyện ngắn là soi kính hiển vi vào một khúc, một dòng marathon ấy, và phải tìm được những cận ảnh độc đáo nhất để làm đứng tim độc giả.

Thụy Khuê

Paris, thu 2002

Huyết đằng

 

Huyết đằng nổi trội như một cấu trúc chặt chẽ trong đó Phạm Hải Anh tạo được không khí truyện rất riêng biệt, một cái gì như mờ ảo, bí mật, liêu trai xung quanh mối tình giữa Hùng và Mận. Một tình yêu đến chết. Một sự đầu thai trong luân hồi. Tất cả được mở ra với biểu tượng huyết đằng, như một câu hỏi: Huyết đằng là gì? Hai chữ huyết đằng dấy lên như một ngư tiên bí mật và huyền bí, gợi âm, gợi hình, như một phù thủy của âm thanh, mời gọi mọi người tìm đọc Huyết đằng. Tất cả những nhân vật trong truyện đều có tính nửa người, nửa ma, có giọng âm, giọng dương như thể có đó mà không ở đó. Hải Anh đã vẽ được những nét bí mật của nỗi đam mê phi lý, vô tận trong tình yêu. (Thụy Khuê)

Huyết đằng

Phạm Hải Anh

Miếng đất ấy được rao bán đã lâu nhưng chẳng ai dám mua. Người đàn bà sống ở đấy hồi trước còn trẻ lắm, không biết vì sao lại thắt cổ chết. Ông chồng không đưa vợ ra nghĩa địa mà lại chôn ngay ở vườn nhà. Được ít lâu ông ta cũng bỏ đi biệt tích. Ngôi nhà vắng chủ dột nát, tiêu điều, chỉ có hàng rào duối bao quanh nhà và đám rau lang ăn lan trên mộ người đàn bà chết trẻ là cứ tốt om lên, xanh rợn cả con mắt. Dân làng bảo vào những đêm trăng vẫn thấy bóng người đàn bà xõa tóc thấp thoáng sau bụi duối, có khi nghe cả tiếng khóc nỉ non. Người ta tránh đi qua khu đất ấy, còn ai dám tính đến chuyện về ở. Bỗng dưng, có người đàn ông từ đâu đến, nghe xong câu chuyện cứ nhất định đòi mua cái nhà đó. Ông ta tên là Thản. Đến ủy ban xin giấy phép cư trú, ông ta nhận mình gốc người vùng này, phiêu bạt mãi nay muốn về ở hẳn tại quê nhà. Đường làng ngõ xóm ông biết vanh vách, nhưng hỏi kỹ lại chẳng có họ hàng với ai trong làng cả.

 

Ông Thản phá bỏ cái nhà cũ, dựng một căn nhà gỗ kiểu cổ ở miếng đất mua được. Ông giữ nguyên hàng rào duối quanh nhà giờ đã cao quá mang tai. Thành thử ông Thản làm gì trong nhà, người qua lại không thấy được. Mấy người hàng xóm kháo nhau rằng ông đã cuốc hết các dây khoai lang trong vườn, hí húi gieo trồng rau cỏ gì đấy. Ông Thản ở với cô con gái tên là Mận, cỡ mười tám, mười chín tuổi. Cô ta ít nói, suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Ông Thản về ở ít lâu thì có những người lạ mặt từ tận đâu đến hỏi thăm bốc thuốc. Té ra ông là ông lang mà hẳn cũng có tiếng tăm nên thiên hạ còn biết. Người làng bắt đầu gọi ông là ông lang Thản, trong cách gọi cũng có đôi phần kính nể. Người ta qua lại trước ngõ nhà ông tự nhiên, ai ốm đau gì lại đến xin thuốc. Uy tín của ông bố làm cô con gái cũng được mọi người để ý hơn. Nhưng cô Mận có vẽ làm bọn con trai làng cứ ngãng ra. Về đây đã hơn một năm song cô vẫn chẳng đánh bạn với ai. Đi đâu cũng sùm sụp cái nón che già nửa mặt. Cô ăn vận theo lối tỉnh thành nhưng không diện, mà theo bọn trong xóm bình luận thì cũng chẳng đẹp. Có dạo thằng Hùng đen, nổi tiếng táo tợn, lăm le tìm hiểu cô Mận. Hùng đến nhà ông Thản, lấy cớ xin thuốc giải cảm. Cô Mận lãng ra vườn không tiếp, Hùng cũng trơ, theo ra tận nơi. Vườn nhà ông Thản trồng toàn cây thuốc. Đêm hạ tuần tháng bảy, ánh trăng mỏng xuyên qua lá cây chỗ sáng chỗ tối. Cô Mận đứng dưới một khóm cây dây leo, tóc xõa dài đến tận khoeo chân Hùng sấn đến, chộp lấy tay cô Mận kéo sát vào mình. Cái trò này, nó làm mấy lần với bọn con gái ở bãi chiếu bóng làng, thạo lắm, mà lần nào cũng thành công. Nhưng cô Mận vùng ra, bíu vào dàn dây leo. Hùng đâm ra lúng túng. Xưa nay nó thường tán gái bằng tay, bằng hích, véo, chộp ... Chứ tán miệng thì quả là chưa quen. Cô Mận vẫn nín thinh. Hùng hỏi khỏa lấp: Mận níu vào dây leo gì lạ thế? Cô Mận vụt quay đầu lại, nhìn thẳng vào gã con trai, nói gọn lõn: Dây máu người! ánh trăng chảy tràn trên mặt cô trăng trắng. Trong một thoáng, Hùng cảm thấy mắt cô Mận lóe lên một ánh kỳ dị. Nó chợt lạnh toát người. Gương mặt cô Mận hình như nó nhìn thấy ở đâu đó, phải rồi, chính là người đàn bà trẻ đã thắt cổ chết ở đây, tóc tai xõa xượi. Chỗ khóm dây leo này, ông chồng đã chôn xác chị ta. Hùng cắm cổ bỏ chạy thục mạng. Từ ngày ấy, bọn con trai làng không đứa nào dám bén mảng đến gần cô Mận nữa .

 

Người ta đồn ông Thản có một thứ thuốc gia truyền quý lắm. Con bệnh thập tử nhất sinh được ông nhận lời chữa là kể như cầm được mạng sống. Sân nhà ông Thản căng thêm mái che cho người ngồi đợi mỗi ngày một đông. Quần vải đen gấu xoăn tít kề bên váy, quần âu. Những bàn tay xám đen nứt nẻ bên những đôi tay được chăm chút sạch sẽ, móng tay cắt hoặc sơn màu. Bụng lép kẹp, bụng phệ, bụng thắt eo... Đủ loại. Chỉ có bệnh tật là bình đẳng đến khắc nghiệt. Dường như có một làn sóng âm u từ địa ngục vờn qua tất cả bộ mặt sang hèn, nhấn chìm chúng trong nỗi lo âu khắc khoải không phân biệt. Ngày của cô Mận trôi giữa những bộ mặt u sầu ấy, bận rộn cuốn quýt. Ông Thản không có thời gian trò chuyện với con gái, nếu có cũng chỉ toàn về thuốc và bệnh.

 

Trong đám khách nhà ông Thản hôm ấy có một gương mặt là lạ. Cô Mận liếc nhìn đôi lông mày kẻ hai vạch đen đậm trên vầng trán sáng sủa của người khách, tự hỏi sao anh ta phải tới đây. Người khách bắt gặp cái nhìn của Mận, mỉm cười. Nụ cười của anh ta thật lạc lõng ở chỗ này. Ở nhà ông Thản, người ta thương xót hỏi han nhau, có khi mừng rỡ hy vọng, nhưng không ai cười cởi mở và nhẹ tênh như thế. Cô Mận cắm cúi đi vào nhà. Ông Thản tiếp khách rất nhanh. Anh ta đi ra tay không, chẳng mang theo thuốc thang gì ... Tối hôm ấy, cô Mận ra đóng cổng, giật nẩy mình thấy một bóng đen đứng im lìm cạnh hàng rào duối. Người khách ban sáng! Anh ta nhận ra Mận, lại mỉm cười. Trong bóng tối, cô Mận chỉ nhìn thấy hàm răng anh ta sáng bóng, đôi mắt lấp lánh hướng về mình.

 

- Anh đứng đây làm gì?

- Tôi chưa lấy được thuốc .

- Sao...?

- Ông lang từ chối không chữa.

- Cho anh à ?

- Vâng, cho tôi .

 

 

Mận nhớ lại gương mặt người khách lúc sáng. Xanh xao nhưng đầy vẻ tự tin. Chẳng lẽ lại thế? Ông Thản rất ít khi từ chối bệnh nhân, trừ khi có lý do đặc biệt. "Anh chờ một chút nhé!" Cô Mận dặn người khách rồi vội vã quay vào. Lâu lắm mới thấy cô quay lại, tay cầm một gói thuốc :

 

- Anh sắc lên uống. Bốn bát nước cạn lấy hai. Ngày uống hai lần.

- Tôi uống hết chỗ này rồi sao ?

 

Cô Mận ngập ngừng một lát, bảo :

 

- Nếu cần nữa, anh lại đến đây. Nhưng đừng vào. Cho người nhắn, em sẽ đem thuốc ra .

 

Người khách im lặng, chỉ có đôi mắt lấp lánh dõi vào Mận. Cô gái bối rối cúi đầu.

 

Đã thành lệ, cứ tuần hai lần, cô Mận đem thuốc ra bờ sông cho người khách. Những buổi gặp mỗi lần lại dài hơn. Anh ta hay chờ Mận ở chỗ con sông uốn lẹm vào bờ một vạt cong cong. Hai người ngồi xuống bãi cõ mềm mại. Mận dứt dứt những bông chua me nở tím, đưa lên mũi ngửi dù biết nó chẳng có hương vị gì. Anh ta kể cho Mận nghe về thành phố thơm mùi hoa sữa đầu đông, về biển xanh lộng lẫy ngập nắng, về những triền núi bát ngát hoa đào... Gói thuốc để giữa hai người. Cặp lông mày của anh ta ngày càng sẫm đậm hơn trên vần trán xanh xao nhưng những câu chuyện anh kể mỗi lúc một kỳ lạ và quyến rũ hơn. Đêm, Mận thường mơ thấy anh ta. Họ dìu nhau bơi ngược dòng nước xiết. Vạt đất lở bến sông xa tít. Mờ mờ bé như mảnh lưỡi liềm. Cặp lông mày anh ta rướn lên, rướn lên, bứt khỏi vầng trán xanh xao, biến thành đôi cánh chim đen bay vút đi Mận choàng tỉnh, ngộp thở như bị sặc nước... Một buổi chiều ông Thản đi vắng, Mận dẫn người con trai vào thăm vườn. Đang tháng ba, cây cam thảo đơm hoa nặng trĩu đầu cành. Những cánh hoa hình cánh bướm nhỏ xíu, quần tụ xúm xít với nhau, hồng tươi. Xuyên bối mẫu cũng đang nở hoa. Từ kẽ lá, những bông hoa chuông vàng lục nhạt lung liêng đùa với gió. Chiều sẫm dần lại lúc nào không biết . Nắng rớt trên khóm ngải phù dung lá trắng ánh lên như tráng bạc. Mận quen tay dứt mấy cái lá hoắc hương vò vò. Không gian thoảng mùi hương dễ chịu, hơi hăng hắc của hoa và lá thuốc. Mận trỏ cho người con trai khóm dây leo :

 

- Cây này bố em quý nhất. Em vẫn hái nó làm thuốc cho anh. Mỗi lần cắt dây để làm thuốc, từ vết cắt nhựa nó ứa ra đỏ như máu nên gọi là "dây máu người", tên chữ là huyết đằng.

 

Khóm huyết đằng đã bị đốn vợi đi nhiều lắm, chỉ còn ba bốn dây. Một chùm hoa huyết đằng màu vàng rụt rè buông xuống chạm vào mái tóc cô Mận . Người con trai thở dài:

 

- Thôi, em đừng chặt dây làm thuốc nữa. Anh uống thế đủ rồi, có lẽ tuần sau, anh không tới nữa đâu.

 

Mận nín thinh. Khóm huyết đằng ông Thản khó khăn lắm mới gây được. Nghe bảo chỉ có máu người mới làm cho nó trở nên tươi tốt, linh thiêng. Vì thế mà ông Thản đã cầy cục mua bằng được mảnh đất này, cốt để trồng huyết đằng đúng trên mộ người đàn bà xấu số Chắc chắn ông sẽ không cho Mận chặt hết cả khóm huyết đằng đi để cứu người mà ông đã từ chối không chữa bệnh. Ngay buổi đầu tiên, ông Thản đã bảo con gái: Bệnh anh ta nặng lắm. Cố cứu cũng vô ích thôi. Nhưng Mận không tin. Càng ngày cô càng lao theo một mong mỏi mãnh liệt là đem lại cuộc sống cho người con trai ấy. Cô thắp hương ở gốc huyết đằng, cầu xin người đàn bà dưới đất kia ban phép mầu nhiệm vào dây thuốc, truyền cho anh ta sự sống mà chị ta đã từ bỏ. Cô giấu cha, đêm dùng dao chặt từng dây huyết đằng, nước mắt hòa vào dòng nhựa cây ròng ròng máu đỏ. Cô sợ anh sẽ ra đi, mang theo thành phố của cô, biển xanh của cô, rừng đào của cô .. , mang theo vĩnh viễn cái thế giới lung linh mầu sắc và tình yêu mà anh vừa hé mở cho cô thấy. Không có anh, cô sẽ ra sao ở đây, sau hàng rào duối, giữa những bộ mặt lo âu khắc khoải vì bệnh tật, bên bụi huyết đằng hàng năm trổ hoa trên xác người đàn bà trẻ?

 

Mấy tuần sau, một buổi sớm ông Thản ra vườn, thấy trống quang một góc . Khóm huyết đằng đã bị chặt sát tận gốc. Nhựa cây thẫm lại quanh vết chặt, tím đỏ, đặc quánh. Cô Mận bỏ nhà đi từ hồi đêm, đem theo toàn bộ thân huyết đằng, để lại mảnh giấy tạ tội với bố .

 

... Người con trai nắm lấy tay Mận, nhìn bọc thuốc cô đem theo vào bệnh viện, mỉm cười. Nụ cười độ lượng làm Mận đau nhói, chợt hiểu rằng thế là hết. Cô gái quay gương mặt đẫm nước mắt về phía khác, không dám nhìn anh ta. ngoài cửa sổ bệnh viện, một nhành xanh non nhô lên, xanh đến trớ trêu ở chốn này, lá vẫy vẫy như đùa. Trò chơi số mệnh! Sao có thể đặt cược bao nhiêu hi vọng vào một dây leo mỏng manh đến thế? Huyết đằng - thuốc bổ máu Còn anh ta bị ung thư phổi. Cô đã biết thế ngay từ đầu. Và vẫn dùng dây huyết đằng ràng buộc anh phải đến với cô. Sao không thể cứng rắn từ chối anh từ đầu như cha cô? Sao biết là vô vọng mà vẫn chặt trụi khóm huyết đằng để tặng anh cùng với những gì quý giá nhất mà mình có?

 

Người con trai yên lặng nghe những lời thú nhận lộn xộn của Mận. Bọc huyết đằng xổ tung, vung vãi trên giường. Đã có lúc anh ta tin mạng sống mình nằm ở đấy Anh ta đã dầm chân đợi Mận hàng tiếng, dồn tất cả niềm khát sống lên mỗi ánh mắt nụ cười, đoạt cho được tình yêu của con gái và cùng với nó là thuốc cải tử hoàn sinh. Bây giờ trước mắt anh ta chỉ là những xác cây đứt đoạn, xám xịt. Hình như trước đây, anh ta đã xem nó là toàn bộ mục đích của mình. Những mẩu huyết đằng khô héo thầm thì với anh ta rằng không phải thế. Người con trai nhắm mắt lại. Hiện lên trong anh ta khu vườn nhỏ đầy hoa thuốc, đôi môi người thiếu nữ khát khao dâng hiến, bóng chiều sẫm lại và những cây huyết đằng lá xanh thẫm rủ xuống quanh hai người ... Lạ lùng là anh ta chưa từng có những giây phút như thế với người yêu mình. Cô ấy đẹp hơn Mận rất nhiều, hợp với anh ta hơn về mọi mặt. Vậy mà trong lúc tìm mọi cách để lấy thuốc, anh ta lại cảm nhận từ Mận một niềm rung động mãnh liệt. Chưa bao giờ cuộc sống hiện lên dưới ánh mắt anh ta đầy quyến rũ và khao khát như vào những buổi chiều ngồi kể chuyện Mận nghe. Lúc đó, cả hai không dám tin rằng huyết đằng đối với họ thực ra chẳng quan trọng gì. Lúc đó, chính anh ta không biết rằng mình đang gửi gắm ở Mận cái phần đẹp đẽ nhất để cô gái mang theo, đi tiếp trong cuộc đời này... Lặng lẽ, gần như thanh thản, anh ta tìm bàn tay Mận, đặt lên bọc thuốc:

 

- Em mang huyết đằng về đi. Đừng khóc nữa. Nó không phải là vô ích đâu ....

 

... Mùa đông năm ấy buốt giá chưa từng có. Người ta thấy cô Mận giúp bố đốt nhiều rơm, lấy tro ủ quanh các gốc cây thuốc. Dáng cô nặng nề, chắc sắp đến ngày ở cữ. Mấy bà trong xóm chép miệng bảo ông Thản dại, nhà làm thuốc mà không biết phá cái thai hoang đó đi để giữ tiếng cho con gái. Có người bênh ông, cãi rằng thế mới là có đức, mạng sống quý lắm, ai nỡ vứt bỏ đi được. Ông Thản và cô Mận hình như chẳng bận tâm đến những lời bàn tán. Việc nhà vốn đã bận, lại còn phải mua sắm đủ thứ chờ đứa trẻ ra đời. Tháng Một, đầu giờ tí, cô Mận sinh con trai. Tiếng khóc chào đời oe oe vang cả căn nhà xưa nay vốn yên tĩnh. Ông Thản đốt đèn ra vườn chôn cuống nhau cho thằng bé. Chợt giật mình thấy gốc huyết đằng tưởng chết đã từ lâu lắm bật nhú lên một cái mầm xanh non ...

 

Xuân Phương shop

Dạo phố Hà Nội như Thạch Lam, Hải Anh dừng lại ở một tiệm giầy, hàng "Xuân Phương Shoes Shop", có lời quảng cáo hoa mỹ "Ðến với Xuân Phương bạn sẽ hài lòng", rồi nghe chuyện đời ly kỳ của ông chủ, bạn sẽ thấy đó là cả một lịch sử lẫy lừng của dân tộc: Cụ thân sinh ra ông, nhờ có mỗi cái nghề bán dép lốp, dép râu mà mua được cả ti-vi, tủ lạnh. Một nửa dân Hà Thành xài dép lốp Xuân Phương, và trong cảnh giầu sang ti-vi tủ lạnh, cụ đã từng mơ một giấc mơ triệu phú, có tầm cỡ quốc gia, quốc tế, đó là ngày cụ trang bị dép lốp cho toàn thể phi công Việt Nam "chân dép lốp bay vào vũ trụ" (trang 89)

Nhưng rồi cụ mất mà chưa được phỉ nguyện, con cụ, ông Xuân Phương ngày nay vẫn chỉ là chủ tiệm Xuân Phương shop và kiêm chức vụ quý hóa thứ nhì: Ông là một nhà thơ đầy triển vọng trong sinh hoạt câu lạc bộ thơ phường, với những chủ đề đầy ý nghĩa như "Khuyến khích sinh đẻ có kế hoạch". Tiệm ông luôn luôn chào đón khách quốc tế, hạng người mù chữ bản địa, cho nên cứ thấy bảng "oen khăm", "oen khiếp" là chúng nhào vô và dĩ nhiên là ông dành ưu tiên cho loại khách quý, không mà cả nhì nhằng bần tiện.

Xuân Phương shop vừa pha trộn những hóm hỉnh rất Thạch Lam, lại vừa có những mỉa mai châm biếm rất Vũ Trọng Phụng, là một truyện ngắn đặc sắc của Hải Anh về con người Hà Thành ngày nay, và cũng là người Việt nói chung trong bối cảnh kinh tế thị trường. Về những ảo ảnh của khẩu hiệu, về những khôi hài của sự học mót, đua đòi, của sự dốt nát hồn nhiên, về bệnh nan y vọng ngoại.

 

Xuân Phương shop

Phạm Hải Anh

Tấm biển bề thế đóng chắc vào tường ở ngay ngã tư đầu phố. Nền xanh, chữ in hoa, sơn đen nổi bật: “Xuân Phương shoes shop”. Ở dưới là hai dòng quảng cáo, chữ ngả, hoa mỹ: “Đến với Xuân Phương bạn sẽ hài lòng” và “Wecome to Xuân Phương!” Góc phải vẽ một đôi giày cao gót đang nhảy nhót làm bắn ra những tia vàng lấp lánh. Góc trái – hình một đôi giày nam đen nhánh, kiểu môđen. Dưới cùng là mục Tel và Fax, nhưng hai mục này còn để trống. Ngày ngày, độ tám rưỡi sáng, ông Xuân Phương vác một cái hòm gỗ tạp đựng đồ nghề và một manh chiếu ra trải dưới tấm biển. Đấy là dấu hiệu shop ông mở cửa cho quý khách vào sửa giầy. Hôm nào trời mưa, shop ông có thêm tấm nilông màu xám che cho khỏi ướt. Còn nếu trời nắng thì cứ lộ thiên cho thoáng. Ông Xuân Phương có một chú phụ việc người bé nhỏ. Lúc nào vắng khách, hai ông con ngồi duỗi thẳng chân trên chiếu, gió hây hẩy, tán phượng xanh om đu đưa trên đầu, nom rất là thoát tục.

Bên trái ông Xuân Phương là cô bán trứng vịt lộn, bên phải là bà hàng chè chén. Xa hơn một chút có bún ốc, bún riêu, xôi chè, cháo sườn, phở... Cả tập hợp hàng quán này với những bàn gỗ xam xám chật ních bát đũa, giấy ăn, dấm tỏi ớt, những cái ghế con con thấp tịt thỏa hiệp giữa ngồi bệt và ngồi xổm..., lúc nào cũng đông đúc tạo thành một khu chan gắp nhai húp xì xụp hân hoan vui sống. Ở giữa cái đám hổ lốn vô danh ấy, ông Xuân Phương với tấm biển uy nghi của ông là một cái gì vượt trội lên, độc đáo, làm người ta chợt liên tưởng tới con mối chúa ung dung ngự giữa bầy đàn nhốn nháo điên khùng vì cuộc mưu sinh.

Mà ông Xuân Phương ung dung thật. Khi tôi mang giầy ra, còn đang đứng xớ rớ, ông khoát tay mời ngồi, cử chỉ đàng hoàng như thể cho phép tôi ngự trên chiếc ghế bành êm ru chứ không phải là cái ghế con cập kênh bên bờ cống lờ đờ nước chảy. Ông Xuân Phương khề khà bảo: “Chú ở bên 46 chứ gì? Từ độ chuyển về đây chưa ra mắt hàng xóm láng giềng đấy nhé. Tôi cũng định sang thăm chú mà chưa thu xếp thời gian được.” Tôi đâm rối trí, không biết có nên lấp liếm bảo mình ra đây để hỏi thăm sức khoẻ ông, hay cứ đưa giầy ra sửa. Thì ông Xuân Phương lại ân cần khuyên tôi nên lấy vợ:

"Chú năm nay bao nhiêu tuổi, băm tư rồi hả? Chưa vợ con gì thế là không ổn, phải an cư rồi mới lạc nghiệp. Chú lương tháng được bao nhiêu? Đàn bà bây giờ thiếu gì, hay là kén quá, để tôi giới thiệu cho một cô, hay là làm rể tôi nhé?"

Tôi vội vàng đưa đôi giày hỏng ra để hãm ông lại. Nhưng đã muộn. Băng pháo đã châm ngòi không thể tự tắt được, những lời hỏi thăm của ông Xuân Phương vẫn hồn nhiên bắn tung vào tôi, rát rạt. Tính tôi hay bị mất tinh thần. Ngày còn bé, lòng can đảm của tôi thường được đo bằng số lần thay quần ướt đũng. Bây giờ từng trải hơn, tuyến bài tiết cũng tốt hơn, nhưng những khi bị vặn vẹo, tôi vẫn không khỏi rịn chút mồ hôi. Nay trước uy thế của ông Xuân Phương, tôi đâu dám lảng tránh không trả lời. Ông Xuân Phương gật gù, chị hàng trứng và bà bán nước hai bên cùng vui vẻ góp tai góp miệng. Chẳng mấy chốc, khi ông Xuân Phương xỏ được mũi kim đầu tiên vào đôi giầy hỏng, đời tư của tôi đã khoả thân tênh hênh nằm trên kênh thông tin của shop Xuân Phương. Ông Xuân Phương thân mật gọi một chén nước chè mời tôi. Tôi rút bao thuốc mời lại ông một điếu. Tình xóm giềng mới được xây đắp tuy hơi muộn mằn nhưng xem ra cũng ấm cúng. Ông Xuân Phương chùi tay vào quần, đón điếu thuốc, rít một hơi. Cặp mắt ông chợt hơi mờ đi, mơ màng. Lúc này là lúc có thể chuyển đề tài, tôi gợi ý:

"Bác có tấm biển hiệu đẹp quá!"

Ông Xuân Phương mở choàng mắt, nhìn tôi đắc ý:

"Ấy đấy. Cả phố này đố có cái nào địch được. Mà chính thằng Xuân Phong nhà tôi thiết kế đấy!"

Ông chỉ tay sang cậu phụ việc đang nhoay nhoáy đánh giầy bên cạnh. À, ra đó là cậu Xuân Phong. Tôi khen thực thà:

"Cậu nhà có hoa tay thật. Mà lại cả tiếng Anh nữa cơ đấy."

Ông Xuân Phương không dấu nổi vẻ tự hào:

"Không, tiếng Anh là con chị nó. Con Xuân Hương. Con bé trình độ lắm nhé, học hết lớp mười hai rồi, bây giờ đang học tiếng Anh đã đến bằng gì rồi ấy. Nó học đến đâu, chữ vào thun thút đến đấy chứ không ngu lâu như cái thằng này."

Cậu Xuân Phong gầm gừ tiếng gì không rõ trong cổ, cái búa cầm tay bổ chan chát vào đế giầy. Ông Xuân Phương bình luận:

"Mày cứ bổ thật lực cho nó vỡ mẹ nó đi để bố mày đền tiền người ta một thể."

Rồi quay sang tôi than vãn:

"Thời thế xoay vần đấy chú ạ. Ngày xưa, nhà tôi chả gì cũng tiếng tăm lừng lẫy cái đất Hà Nội này..."

Ông Xuân Phương kể ông sinh năm Ất Dậu. Các anh chị ông đều nhận những cái tên quê mùa miễn cho có cái mà gọi. Nhưng ông thì khác. Ông sinh vào đúng buổi chiều cờ đỏ Việt Minh bay khắp làng. Cha ông theo người ta phá kho thóc Nhật, được chia hẳn một thúng gạo đầy. Cả làng khí thế hừng hực. Đổi đời rồi! Mẹ ông phấn khởi quá đẻ tuột ra ông không cần phải rặn. Cả nhà, cả họ bảo thằng này số sướng, sinh ra đúng vào Mùa Xuân của dân tộc nên đặt tên chữ là Xuân Phương. Các con ông sau này cứ đệm chữ Xuân ấy mà đặt... Khi ông Xuân Phương lớn lên thì cụ thân sinh ra ông đã làm chủ một hiệu bán dép lốp, dép râu và guốc mộc ở ngay gần cầu Long Biên. Chỉ nhờ bán dép mà nhà ông sắm nổi tivi, cả phố đến xem ké. Lúc tan phim ra, không ai nhận nổi dép mình. Cả mấy chục cái dép ngổn ngang, giống nhau y đúc, đều là hàng Xuân Phương cả. Một nửa Hà thành xài dép lốp Xuân Phương. Cụ thân sinh ra ông còn ôm mộng được trang bị dép lốp cho toàn thể phi công Việt Nam “chân dép lốp bay vào vũ trụ”. Nhưng ước mơ của cụ không thành... Ông Xuân Phương thở dài nuối tiếc, chỉ tay sang cậu Xuân Phong, hậm hực:

"Mà cũng tại chúng nó nữa. Cái hồi dép Xuân Phương ế, tôi đã quyết nhà mình cứ giữ truyền thống đi dép Xuân Phương. Đời cha không hết thì con cháu đi dần, mãi người ta cũng phải nhận ra giá trị của mình. Nhưng mới độ một tháng, con Xuân Hương đã tha ngay về đôi dép nhựa xanh lè, đi vài bữa thì nước ăn toét cả mười kẽ ngón chân. Tôi đánh nó, chửa nó cũng chẳng ăn thua, nghĩ chỉ còn hi vọng vào thằng Xuân Phong. Thằng bé vẫn bền bỉ đôi dép râu, ai cười mặc ai. Hoá ra nó tích góp tiền, đùng một cái rước về một đôi giày tây. Báu ngọc gì đâu, cứ tập tễnh y thể thằng què. Đi vài bữa, cả giày, cả tất bốc mùi lên như chuột chết. Tôi thắp hương trên bàn thờ ông chúng nó, khóc vì không dạy được con..."

Chuyện đang đến hồi gay cấn thì phải dừng lại. Ông Xuân Phương có khách. Không phải khách sửa giày mà là bạn thơ. Ra ông Xuân Phương còn sinh hoạt câu lạc bộ Thơ phường. Chủ tịch câu lạc bộ thơ đến giục ông nộp bài cho buổi sinh hoạt thơ phụ lão tuần sau, đề tài khuyến khích sinh đẻ có kế hoạch. Ông Xuân Phương oang oang đọc thơ để duyệt trước. Tôi tự biết mình không thể đọ sức với nàng thơ để buộc ông Xuân Phương quay vào với mớ giầy hỏng nên kiên nhẫn chờ. Ông Xuân Phương đọc một bài lục bát rất dài. Tôi nghe loáng thoáng thấy “gian lao” với “cõi u mê”, sau lại thấy “bừng lên” rồi “đẹp giàu”, chắc là triển vọng cũng tươi sáng. Ông đại diện thơ phường gật gù nhận xét tư tưởng thế là vững nhưng chủ đề chưa nổi bật. Ông Xuân Phương phản đối, bảo câu “Rồi từ khi biết đặt vòng, đời em như ánh nắng hồng ban mai. Sinh con nhiều nhất là hai. Gia đình hạnh phúc, tương lai đẹp giầu...” thế là rõ ý lắm rồi. Ông chủ tịch câu lạc bộ thơ cao hứng đọc một bài họa vần. Ông Xuân Phương bắt đầu bình luận. Cô hàng trứng ngơ ngẩn lắng nghe, bà hàng nước lơ đãng đuổi ruồi. Ông Xuân Phương lại đọc sang bài thơ thứ hai. Một anh bán thuốc tẩy đi qua, loa phóng thanh cũng thơ ra rả: “Lòng em trong trắng, áo dính nhựa cây, thuốc tẩy anh đây, bôi vào là sạch...”. Rồi một xe hàng rong nữa, lần này là nhạc vàng thánh thót: “Trái tim ngục tù. Anh yêu em đến ngàn thu...” Đệm vào màn trình diễn thơ nhạc trữ tình ấy là giàn còi inh ỏi của ôtô, xe máy, và thỉnh thoảng, tiếng búa của cậu Xuân Phong đóng đinh chí chát trên những gót giầy đang được tân trang lại.

Trong lúc đó, đôi giày của tôi vẫn nằm ỳ ra trên chiếu, mõm há hốc cầu cứu. Bất chấp tình hàng xóm giữa tôi với ông Xuân Phương đã được vun đắp, bất chấp quá khứ lừng lẫy của nhà dép lốp Xuân Phương, bất chấp cả bao nhiêu thơ nhạc thánh thót rót vào, nó vẫn ngoan cố toang hoác ra như thế, cái nó cần là mấy mũi khâu hay chỉ vài giọt keo thôi. Tôi không đủ kiên nhẫn, lì lợm như đôi giầy của tôi. Tôi tính nước bỏ của chạy lấy người, nhưng thơ của ông Xuân Phương vẫn ào ào xối xả, lời từ biệt của tôi vất vả lách vào rồi lại bị đẩy bắn ra. Vị cứu tinh đến bất ngờ giữa lúc tôi sắp chết đuối giữa bài thơ thứ bao nhiêu của ông Xuân Phương. Ấy là một ông tây được tấm biển tiếng Anh mời mọc, tự tin đặt đôi giày lấm lên chiếu của Xuân Phương shop. Ông Xuân Phương lập tức ngừng bặt. Ông chủ tịch câu lạc bộ thơ phường lập tức cáo lui. Cậu Xuân Phong nhanh nhẹn lấy đồ nghề. Ông Xuân Phương phụ trách chân phải, cậu phụ trách chân trái, hai chiếc bàn chải lia vù vù thần tốc, nom rất ngoạn mục. Tôi ngẩn ngơ nhìn ông chủ một thời của dép lốp, dép râu đang nhiệt tình đánh giầy tây. Ông ưu tiên khách quốc tế thế là phải, còn tôi hàng xóm láng giềng, giải quyết nội bộ lúc nào chả được. Đôi giầy của ông tây sạch bong trong nháy mắt, xi đánh đen nhay nháy. Ông Xuân Phương lịch sự đưa cả hai tay ra nhận tiền. Ông chỉ tay lên tấm biển Xuân Phương shop, hai bố con cười hân hoan. Ông tây cũng cười ra ý hài lòng. Cô hàng trứng, bà bán nước và tôi bất giác cười theo. Cả Xuân Phương shop bỗng dưng tưng bừng hớn hở, không khí rất là dễ chịu.

Cuối cùng cũng đến lượt tôi. Ông Xuân Phương tính dán đế năm nghìn, khâu mũi mười nghìn, vừa dán vừa khâu tổng cộng bốn chiếc bốn chục ngàn. Phương châm của Xuân Phương shop là “Chắc - Bền - Rẻ”, tôi cứ đi thử thì biết, lần sau lại ra đây. Ông Xuân Phương có vẻ quý tôi. Ông hứa sẽ giới thiệu cho tôi một đám, lại mời tôi khi rảnh rỗi cứ ghé lại đây, ông sẽ đọc thơ cho mà nghe. Lời mời nhiệt tình của ông làm tôi đâm hoảng, cho nên từ lần sau, tôi cứ tránh đi qua ngã tư ấy. Chỉ thỉnh thoảng, tôi đứng xa xa nhòm ra chỗ ông Xuân Phương. Ngày ngày ông vẫn chễm chệ thiết triều ở cái góc cố định. Cao trên đầu lấp lánh tấm biển hiệu hứa hẹn tiến thẳng đến một tương lai quốc tế hoá bằng giầy tây, tiếng tây, Tel và Fax, kiên cố ở dưới là cả cái vỉa hè trải chiếu ngời ngời tính dân tộc. Ở đó, ông sẽ không bao giờ ngã, không bao giờ thoái vị, vĩnh viễn tự hào về quá khứ dép lốp và ung dung ngồi sửa giầy tây, khi rảnh rỗi lại rung đùi đọc thơ hay củng cố tình thân hữu láng giềng...

Một dạo thành phố ra chiến dịch “đường thông hè thoáng”, ông Xuân Phương không chạy kịp bị tịch thu mất cái chiếu, nhưng tấm biển may còn giữ được. Vài hôm yên ắng, lại thấy shop ông mở cửa. Mọi thứ vẫn y như cũ, chỉ có cái chiếu mới hơn và nghe đâu dạo này ông Xuân Phương chuyển sang làm thơ phê phán xã hội ghê lắm.

Tìm trăng đáy nước

 

Tìm Trăng Đáy Nước - Phạm Hải Anh !

           Bạn đã bao giờ tìm trăng đáy nước chưa ạ?

      Trăng đáy nước thơ mộng, đẹp lung linh, huyền ảo ... lắm.

      Nhưng đó là trăng đáy nước ... sông , trăng đáy nước ... hồ , trăng đáy nước ... ao ....

      Còn đây là trăng đáy nước ... gì, bạn biết không?

      "Trăng vằng vặc soi lên vũng nước đái cụ Nhổn loang trên sân. Trăng trong nước đái cũng sáng như trăng trên trời ...".

      Bạn có... giật mình không? Có thấy... ngạc nhiên, có thấy... khó chịu, có thấy... buồn không? Tôi nghĩ là có. Bởi vì tôi cũng đang bị những cảm giác ấy bao trùm.

      Văn của Phạm Hải Anh, suy nghĩ của PHA về cuộc đời và con người... khốc liệt quá. Đọc một mạch hết truyện, tôi như người hụt hơi - phải ngưng lại, ra ban công ngó mênh mông phố xá, cỏ cây, đất trời một chút .... Tôi cũng đã từng trải qua một thời như thế: Cuồn cuộn, ăm ắp, bật trào, ùa vỡ... không đè nén được. Tuổi đời chồng lên, tôi thấy mình khác trước- điềm tĩnh hơn, từ tốn hơn, chậm hơn ....

      Trở lại với PHA, tôi nghĩ đó là sức trẻ của cô. Chỉ có sức trẻ mới đủ mạnh để làm người ta hừng hực, dâng trào như giông bão, như thác lũ... đến vậy. Cô không hề dấu diếm, đậy điệm. Cái cô nghĩ cứ ào ào, anh ách chảy ra không dứt, không thể dứt và sẽ không bao giờ dứt.

      Truyện không sắc sảo về nội dung. Truyện kể về một cô bé Choắt nghèo trở thành Phương Thảo bán quán nhờ một ít nhan sắc trời cho và sau đó là đi nước ngoài sinh sống. Cái xóm nơi cô ở, gia đình cô, những người từng quen biết... được cô nhìn bằng con mắt tả thực , chân phương , không tô son điểm phấn , có sao nói vậy.

      Cái hay của truyện nằm ở ngôn ngữ. Đó là ngôn ngữ của người sinh ra ở phía Bắc: một chút khách sáo, màu mè, kiểu cách của Bắc xưa; một chút chanh chua, ngoa ngoắt của kẻ chợ; một chút mỉa mai, châm chọc, đắng chát - của dân có lương tri- khi nhận ra- cái bản chất thật- của những con người, những sự việc giả dối ... - nấp dưới tên gọi, vỏ bọc hào nhoáng, mỹ miều ....

      Có hai cụ hàng xóm, một tên Kim Anh, một tên Kiều Nga đã vào tuổi chín mươi. Một cụ- sáng nào cũng vậy- ra sân ngồi... đái- rồi hứng một bụm tay- phần xoa mặt, phần uống. Cụ còn lại thì vê cứt mũi ăn rồi bảo đó là cốm Vòng. Cô kết luận: Tên các cụ đẹp như phấn hương, phai cả rồi. Giờ chỉ còn lại cái nết, cái tánh (đái làm khai rình mảnh sân chung)- là ở lại mãi cùng hai cụ thôi .

      Lại có một ông học đến hàm Giáo sư, ngụ cùng xóm. Ông Giáo lâu lâu ghé đến- khi nhà chẳng còn ai- vuốt má cô cháu hờ với vòng tay như gọng kìm luôn xiết dần- khi xuống dưới- cùng hơi thở hổn hển làm héo cả lớp lông tơ trên má Choắt. Ông Giáo già độc thân, hơn tuổi bố Choắt, có tiếng nghiêm khắc. Nhưng trước Choắt, sách thánh hiền đạo mạo cùng ông Giáo, tất thảy đều rơi xuống đất, đê mê nằm bẹp dưới chân đứa con gái mười bảy tuổi .

      Lại có một bác là bạn học cũ của bố. Nhiều năm lưu lạc , nay gặp lại. Từng một thời là công tử Hà thành, một thời là Sĩ quan rồi một thời là tù cải tạo thì: chẳng biết sợ là gì, cũng chưa từng biết nói dối. Chính bác ấy đã cho Choắt biết- cô đẹp. Từ lúc ấy, Choắt đổi tên thành Phương Thảo: tóc dài, chân dài, đuôi mắt dài ... .

      "Đạo đức cần mà tiền cũng rất cần". Phương Thảo đành đi bán quán. Gia cảnh khấm khá hẳn lên .

      Vì bố mẹ cô luôn muốn sống như "hai bậc hiền giả ở chốn bụi trần" cho nên- quá khứ đẹp đẽ của gia đình; đạo đức, danh tiếng của ông bà... được bọc gói sạch sẽ lại. Tổ tiên chẳng nhìn thấy gì qua lớp vải đỏ phủ mặt nên không phải lo, không phải áy náy. Uy tín gia đình vẫn cao. Cuộc đời vẫn đẹp sao!

      Cha mẹ cô mãn nguyện. Nhưng cái... mùi thì... thua. Mùi hỗn tạp của nước tiểu bà già, trẻ con, ch ... ,... , ... và mùi phân. Cái mùi mà có đi hết một đời cũng không thể quên được. Cái mùi phân  khốn nạn làm tác giả uất ức , giận run lên. Cô kể về một nơi mà người ta còn thờ cả... cứt. Cứt cũng làm giả. Cứt cũng có loại một, loại hai đấy. Quý nhất là phân ngoại, bón cây cứ là to vật vã nhé .

      Từ phân, cô chuyển sang nhà vệ sinh. Giáo sư hay chị quét rác đều bình đẳng vào chung một nhà xí công cộng. Nghiệt thay, cửa phòng vệ sinh chỉ cao ngang ngực nên ai cũng cần một cái... mẹt để... che mặt. Mỗi sáng, hơn hai trăm cái mẹt của hơn hai trăm con người xếp hàng- nhìn hệt như con rồng đang giương vẩy bay vút lên trời cao. Báo chí, sách vở... , học vấn, bằng cấp... - có hề chi, chúng cần được tận dụng làm giấy... chùi.

      Văn PHA như bị nén chặt lâu ngày, uẩn ức- bục vỡ, văng túa ra- cào cấu người đọc- với con mắt lửa đỏ rực làm bỏng rát da ta. Tôi ngây ngất đọc. Tôi cười khách khách thành tiếng. Tôi rùng mình dù trời không lạnh và rồi tôi- ngậm ngùi. Ôi, sao lại buộc tôi phải nhớ lại một thời cùng cực của dân vùng thành thị- ngày hôm qua ... .

      Giờ thì Phương Thảo đã đi Tây. Ở chỗ thơm tho, Phương Thảo nhớ cái mùi xóm nhỏ. Lẩn quẩn ghê không (!)

      Vậy đó, ở nhà thì bực- bực quá- chửi vung chửi vãi. Đi xa thì nhớ. Cây dẻ xứ người làm sao bì được với hương hoa sữa ngạt ngào, ngây ngất từng cho Phương Thảo phiêu lưu vào miền cổ tích? Một triết lý không lạ nhưng mới toanh về cách thể hiện được tác giả tung vào, đầy cảm hứng: "Bay mãi rồi cũng rơi về đất !".

      Mẹ viết thư tha thiết gọi Phương Thảo về. Xóm nhỏ có nhiều thay đổi. Dân đi Tây như Phương Thảo thì có gì hay? Thần tượng của cái xóm ấy giờ là tay "chủ số đề kiêm buôn lậu bao cao su và ảnh cởi truồng Trung Quốc". Phương Thảo gặp lại ông Giáo- nay già quá, hết thời, mệt mỏi, lạc lõng như kẻ vô hồn giữa phố xá đông đúc, ồn ào ....

      Đang thăm mẹ thì Phương Thảo nhận được tin người bạn thân từ bên kia đại dương uống thuốc ngủ tự tử. Như một điềm báo, trước khi Phương Thảo về Việt Nam, anh nói như trối: Nhớ ngắm cúc vàng và ngửi hộ anh mùi hoa sữa của mùa Thu Hà Nội mình. Phương Thảo đau đớn: Cúc đẹp mấy rồi cũng tàn. Hương sữa thơm mấy rồi cũng tan. Nắng Thu vàng mấy rồi cũng lịm.... Sao anh lại vội vã đến thế?

      "Vội làm gì đêm nay trăng lên .... Trăng vằng vặc soi lên vũng nước đái cụ Nhổn loang trên sân ...

Ngày mai , Phương Thảo lại ra đi" .

      Phương Thảo ra đi, đau đáu mang theo một câu hỏi thắt lòng "Những đám mây chẳng ra hình thù gì nối nhau lướt trên vòm hoa sữa ngậm hương, trôi mãi trôi về đâu ?"

      Với truyện Tìm trăng đáy nước , PHA đã mang đến cho người đọc một nét vẽ (cái nhìn- nhận định) thô mộc nhưng trung thực và sắc bén: "Trăng trong nước đái cũng sáng như trăng trên trời!" .

Posted 16th December 2011 by Phạm Thị Thu Thủy

 


Tìm trăng đáy nước

Truyện ngắn – Phạm Hải Anh

Căn nhà trông ra mảnh sân chung, lúc nào cũng thấy cái lưng còng của cụ Nhổn nhấp nhô ở đó. Bà cụ chín chục tuổi mà minh mẫn, lọm cọm làm việc không ngơi tay. Bí quyết trăm tuổi của cụ rất đơn giản. Sáng dậy, đái một bãi ra tay, xoa khắp mặt, lại uống một ít, thế là bách bệnh tiêu tán. Cụ khỏe thật, nhưng cái sân chung của xóm, nơi cụ vẫn thực hành "trị bệnh" thì khai buốt óc. Cụ Nhổn tên cúng cơm là Lê Kim Anh. Cụ Vòng tầng dưới là Kiều Nga. Tuổi già, đến cái tên đẹp cũng không giữ được. Ai cũng thành cụ tất, chứ làm sao mà hình dung ra Kim Anh rửa mặt bằng nước đái, Kiều Nga vê cứt mũi ăn ngon lành, bảo là cốm Vòng! Những cái tên thời con gái như phấn hương, phai cả.

Bấy giờ nó còn là con cái Choắt. Gọi Choắt nhưng đã khá phổng phao. Mỗi lần ra sân phơi quần áo, bất kể giờ nào Choắt cũng bắt gặp thằng hàng xóm. Nó đứng giữa cửa, dạng chân, quần mở banh, con cu như hỏa tiễn chực rời bệ phóng đâm vút vào Choắt. Ông giáo sư cùng phố cũng hay đến cho mượn sách lúc cả nhà đi vắng. Ông giáo vuốt má cô cháu gái hờ, hơi thở mỗi lúc một hổn hển làm héo cả lớp lông tơ trên má dậy thì. Cánh tay ông như gọng kìm, xiết dần, xuống dưới. Quyển sách rơi bộp xuống đất. Choắt không dám kêu. Ông giáo già hơn tuổi bố, suốt đời độc thân, nghiêm khắc có tiếng. Mẹ bảo: "Đàn bà con gái, cần nhất là đạo đức." Mẹ bảo vệ đạo đức cho con gái bằng quần áo cắt may luộm thuộm. Choắt mười bảy tuổi, mặc áo cũ của mẹ, quần cũ của mẹ, đi dép cao su, đầu đội nón lá già vàng khè. …

Hôm ấy mưa xuân phây phẩy, ướt đẫm khóm trúc Phật bà của mẹ. Nhà có khách. Người đàn ông tóc muối tiêu, người lòng khòng, vừa chửi rất tục, vừa xin lỗi luôn miệng. Ông khách đến chơi bất ngờ, đi tay không thảnh thơi, cái áo khoác ngoài màu rêu, trùm mông, chứa đầy bí mật. Móc túi phải, này cháu gái, rang hộ bác mớ lạc. Móc túi trái: hành khô, tỏi, một túm thì là xanh tươi. Mở nắp túi trên: cút rượu đầy sóng sánh. Lục lọi túi trong: mấy quả ớt. Vỗ vỗ bên ngực phải: chai mắm tôm Thanh thơm nức mũi. Cái túi bên hông phồng phồng chứa cả cân bún tươi, trắng nõn. Túi bên kia là một bọc đầu cá lăng sống, béo vàng. Chưa hết, từ các túi áo trên, túi quần dưới tiếp tục tuôn ra: nghệ, cà chua, chanh quả, dấm bỗng, bánh phồng tôm, tiêu hạt, hành tây, hành ta, rau sống… Hôm ấy không cần cặm cụi nhặt sạn trong rá gạo hôi mùng mục, không bị thâm móng tay vì rau muống mậu dịch già ngoanh ngoách, cả nhà xúm xít xào nấu, hành tỏi phi điếc mũi hàng xóm. Ông khách chặn tay Choắt đang tỉ mẩn lột vỏ mấy tép tỏi: "Không cần. Để cả vỏ đấy, bác có cách." Choắt vâng, tò mò chờ xem phép lạ của ông khách ảo thuật tách vỏ tỏi không cần bóc. Đến lúc ăn, vỏ tỏi vẫn bám nguyên, phải lấy răng nhằn. Ông khách vỗ đùi, cười lớn: "Thấy chưa, cách này khỏi cần bóc mà vỏ vẫn đi đằng vỏ." Choắt bật cười theo, hơi nóng thức ăn làm mồ hôi li ti rịn hai bên thái dương, má hồng rực. Ông khách nhìn, chợt buông đũa than: "Cháu ơi, mày ăn mì, ăn bo bo mà sao đẹp thế?". Choắt cúi mặt xuống bát cơm. Lần đầu tiên Choắt nghe nói mình đẹp, nhưng sao ông khách lại thở dài, và cả nhà im lặng thế?

Ông khách là bạn học cũ của bố, muời mấy năm lưu lạc mới gặp lại. Chàng công tử Hà thành ăn chơi lệch đất, cổ lủng lẳng bình axít, anh chị đầu gấu mấy đụng phải cũng ngán ngẩm lảng xa. Ông sĩ quan uống đến đái ra rượu, bắt lính cõng về đồn, nửa đường tụt xuống, ra lệnh: "Mày trèo lên lưng để tao cõng trả, cho công bằng." Người tù cải tạo chưa từng biết chuyện bếp núc, xung phong đi làm lòng lợn để hít tí không khí tự do, cầm cả bộ lòng giặt như giặt áo, khi đem về trại lòng còn nguyên cứt, bị phạt cùm vì tội lừa cán bộ… Người như ông, chẳng biết sợ là gì, cũng chưa từng nói dối. Choắt trốn vào góc nhà, săm soi mình trong chiếc gương nhỏ bằng lòng bàn tay. Gò má lấm chấm tàn nhang. Lông mày xếch. Miệng rộng. Mẹ vẫn than con gái sao giống bố, chẳng được nét gì. Nhưng hôm ấy ông khách đã nói: "… sao đẹp thế! ". Đêm, Choắt thấy thằng hàng xóm nhìn mình đăm đắm, cái nhìn buồn bã, ngây dại. Lại thấy hơi thở nóng bỏng của ông giáo sư phà bên tai. Và cậu bạn trai cùng lớp kín đáo cầm tay, vuốt ve ngón út. Tỉnh dậy, ngón tay út còn cong lên, mơn man cảm giác. Cái Choắt đã đổi tên thành Phương Thảo từ lúc ấy. Cọng cỏ ngát hương mướt xanh muời bảy tuổi. Phương Thảo tóc rất dài, chân dài, đuôi mắt cũng dài, lá cỏ sắc cắt hồn.

Đạo đức cần mà tiền cũng rất cần. Mẹ đành để Phương Thảo đi bán quán. Nhưng lại dặn làm gì đến mười giờ tối cũng phải về nhà, giữ tiếng cho bố mẹ. Bố mẹ đã sống một đời giữ tiếng cho ông bà. Ông bà giữ tiếng cho cụ kỵ. Tiếng là gì mà đời nào cũng phải đa mang? Me bảo đừng hỗn. Chủ nhà này trước kia là bác sĩ, kĩ sư cả đấy, ăn ở thế nào mà cứ đi vắng là hàng xóm vứt cứt vào nhà. Từ ngày bố mẹ về đây, cả xóm già trẻ ai cũng niềm nở. Cô hàng xóm ném cứt giấu tay vẫn bị bà hàng xóm bên kia lột quần lót trên dây phơi ném vào vũng nước đái cụ Nhổn. Bà hàng xóm ấy thì chốc chốc lại réo mả tổ cha tiên nhân con đĩ nào đang yên đang lành động cỡn úp ngược cái bếp dầu của bà để chảy hết cả dầu sao nó không về úp cái đầu lâu bố nó…Quần lót mẹ phơi trên dây không ai động đến, bếp dầu nằm ngay ngắn, nhà không bị vứt cứt. Ăn nhau cũng nhờ cái tiếng. Bố mẹ sống như hai bậc hiền giả giữa chốn bụi trần. Bụi trần cả theo nghĩa đen vì căn nhà cấp bốn trống trải bốn bề lúc nào cũng ngập bụi từ bốn phương tám hướng đổ về. Bụi nhà máy điện, bụi mùn cưa, bụi cuốn theo vệt bánh xe ngoài phố… Mẹ dũng cảm chống trả bằng phất trần, chổi, giẻ lau… nhưng vô ích. Bụi dầy lên bám mờ ảnh thờ, mẹ đành mua tấm lụa đỏ che mặt các cụ, chỉ ngày giỗ tết mới mở ra. Bàn thờ nhấp nhô những vuông lụa đỏ, quá khứ trở nên vô hình vô ảnh nhưng bù lại được bọc gói sạch sẽ. Tổ tiên trông xuống con cháu qua lớp lụa ấy sẽ thấy đời giống y lời bài hát: "hồng như màu của bình minh, đỏ như màu máu của mình tim ơi ". Mẹ gom gạch, xây trước cửa nhà bồn cây. Sau vài tuần chăm chỉ tưới tắm, hoa lá lên chẳng ra hình thù gì, nhưng những cái tên thảo mộc nghe thật sướng tai: khóm trúc Phật bà, cây phun châu nhả ngọc, bụi hồng tỉ muội, cây trinh nữ hoàng cung, lan cẩm cù, hoa trạng nguyên, lá hoàn ngọc… Thằng Bi nhà bên mỗi sáng mắt nhắm mắt mở lại ra bắc cái vòi xinh xinh đái vào khóm trúc Phật bà của mẹ. Lá trúc úa vàng, hoa phun châu nhả ngọc thâm thâm màu đất, hồng tỉ muội còi cọc không hoa, chỉ có khóm trạng nguyên mỗi độ Noel là đơm bông đỏ chói chang. Năm nào mẹ cũng phấn khởi bảo đấy là điềm lành.

Điềm lành hay không chả biết nhưng từ độ Phương Thảo đi bán quán thì cuộc sống ở nhà cũng dễ chịu lên. Thay vì rượu sắn uống nhức đầu, bố chuyển sang mua rượu gạo. Rượu gạo thực ra vẫn hại, bố uống bia hơi, bia Tàu, rồi bia lon, mỗi lần uống lại khề khà bảo bây giờ sướng thật, những thứ này ngày xưa có tiền cũng phải quen mới được mua phân phối, các cô mậu dịch mặt vác lên tận trời xanh. Mẹ lại có niềm vui khác. Thỉnh thoảng, Phương Thảo mang từ chỗ làm về đầu tôm hùm, chân gà, chân cua ghẹ, đầu cá. Mẹ hỉ hả gỡ gạch ở đầu tôm, tuốt thịt cua, chặt chân gà…, vừa làm vừa mắng tụi Tây phí phạm, không biết ăn miếng ngon. Nó ngu thế mới tới phần mình. Mình khôn nên chẳng tốn xu nào mà chế biến ra bao nhiêu món đặc sản. Đầu cá nấu canh riêu, gạch tôm thịt cua làm nem, chân gà hầm tam thất con gái ăn đỏ da thắm thịt. Nhà ăn không hết, mẹ cho hàng xóm lấy thảo. Uy tín của bố mẹ trong xóm càng cao, bụi cây trước nhà mặc sức lên tươi tốt không ai bẻ. Ăn đặc sản, uống bia lon, ngắm hoa trạng nguyên miễn phí. Cuộc đời vẫn đẹp sao!

Có hai điều làm mẹ chưa được mãn nguyện. Thứ nhất là mùi. Bụi cây cảnh tên rất đẹp của mẹ không lọc được các mùi hỗn tạp ùa vào từ mảnh sân chung. Mùi nước tiểu của bà già, trẻ con, chó. Mùi khói bếp than. Mùi dầu hỏa. Mùi vỏ cam, vỏ chuối, cuống rau thối mục từ tầng trên quẳng xuống mái nhà tầng dưới. Mùi thùng nước gạo lên men. Nhưng rùng rợn nhất là những ngày đổi thùng. Công nhân vệ sinh đeo khẩu trang, đi ủng, xách xô, xẻng vào nhà vệ sinh nậy nắp hố xí. Phân tươi tràn ra lênh láng. Các chị công nhân lấy xô múc, gánh từng thùng ra vào kĩu kịt, phân rải như hoa sao dọc đường vào ngõ. Nhà nào nhà nấy buông rèm, đóng cửa kín mít, thắp hương, có người nhạy cảm hơn thì lấy khăn mặt dấp nước quấn quanh mũi như kinh nghiệm phòng chống hơi ngạt thời chống Mỹ. Chẳng ăn thua gì. Cái mùi nhọn sắc như lưỡi khoan bén, xuyên qua mũi, xoáy sâu vào tận cùng não bộ, một ngày không quên, một đời không quên. Chỉ có cụ Nhổn là thản nhiên. Cụ bảo thế ăn thua gì. Cũng là của con người cả, làm gì mà rầm rĩ nhặng xị lên. Như ở Cổ Nhuế người ta còn thờ cả cứt. Buổi sáng, chợ phân họp đông đúc. Người bán kẻ mua xắn tay áo lên tận nách, khuấy vào thùng phân, nặn bóp ngửi xem chất lượng, chê phân này chua, phân kia nhão. Phân cũng giả đấy. Có đứa trộn đất sét, có đứa nghiền khoai lang vứt vào, mua bán không cẩn thận là lỗ vốn. Lại chia phân hạng một, hạng hai. Hạng nhất là phân khu Giao tế, Tôn Đản, bốn quận nội thành nói chung chất lượng tốt. Ngoại thành nhà quê ăn rau dưa nhiều, phân loãng xanh chẳng quý. Quý nhất là phân ngoại. Chẳng phải hàng imported gì nhưng là nguồn tuồn từ sứ quán Tây ra. Phân ấy đắt gấp đôi thường, nghe bảo bón cây nào cũng lên to vật vã như đổi giống… Xóm mình đây còn đỡ, chứ nhìn sang khu tập thể đối diện mà xem. Hơn hai trăm con người, tám nhà vệ sinh. Buổi sáng hàng người xếp hàng trước nhà xí như con rồng tám đầu, đầu vào nhăn nhó, đầu ra thảnh thơi. Từ ông giáo sư đến chị quét rác vào đây nhất loạt là bình đẳng. Cánh cửa nhà vệ sinh chẳng hiểu sao lại chỉ cao đến ngang ngực. Người ngoài cứ việc nhìn vào mặt người trong là biết nông nỗi đoạn trường. Sau có đứa sáng kiến đem mẹt đến đấy bán, vừa để che mặt, vừa phẩy phẩy chống hơi nóng, mùi hôi, nhất cử tam tứ tiện. Cái thằng bán mẹt ấy kiếm bạc nghìn ngon ơ. Từ đấy, mỗi người đi vệ sinh lại trang bị thêm cái mẹt tre, như tấm mộc của hiệp sĩ thời trung cổ. Tưởng tượng hai trăm cái mẹt cùng vẫy lên một lúc là con rồng trước cửa nhà vệ sinh xòe vây, giương vẩy bay vút lên chín tầng trời. Sau này đi đây đi đó nhiều, Phương Thảo đôi lúc thấy bọn Tây đơn điệu quá đâm nhàm. Hố xí nhất loạt giật nước, giấy vệ sinh biến báo thế nào cũng na ná như nhau. Chúng nó còn lâu mới sáng tạo được như mình. Con bé hàng xóm tâm sự đi vệ sinh em thích nhất là giấy báo. Vừa đọc giải trí quên thối, khi dùng vò ra lại mềm, lại dai, lại thấm nước. Nhưng mà báo thì chả phải lúc nào cũng có. Nhìn vào mớ giấy thải trong nhà vệ sinh mới thấy hết độ phong phú. Giấy kẻ ô li xé từ vở học trò. Giấy báo Nhân Dân, An Ninh, Văn Nghệ, Pháp Luật, Lao Động. Giấy sách khoa học, văn chương, từ điển… Miếng được vuốt sắc cạnh rồi mới xé. Miếng xé vội lam nham. Có những miếng giống nhau đều tăm tắp. Lại có miếng to miếng nhỏ luộm thuộm. Bao nhiêu mẩu giấy là bấy nhiêu học vấn, thói quen, tính cách. Tháng một lần, mẹ bịt khẩu trang, lấy chổi cán dài gom mớ giấy lưu cữu thành đống rồi hỏa thiêu, khói bay ngút trời.

Giờ thì Phương Thảo đã đi Tây. Ở đây không gian thơm ngát. Nhà vệ sinh nức hương biển Thái Bình Dương, xà phòng trầm hương, nước tắm hoa cam, nước gội đầu tổng hợp mùi hoa mùa xuân. Phòng khách thoảng hương rừng nhiệt đới, nước cọ sàn mùi táo, nước rửa bát hương chanh Địa Trung Hải, nước rửa tay mùi hoa hồng… Đôi khi cuộn mình trong chăn nệm thơm tho, Phương Thảo nhớ cái mùi xóm nhỏ. Chẳng biết nên vui hay buồn. Cửa sổ buồng ngủ bây giờ trông ra cây dẻ lớn. Tháng năm, hoa bừng lên như lửa trắng trên cây. Mỗi lần gió nổi, cả núi hoa lung lay, xao động. Hoa dẻ hữu sắc vô hương, không giống như hoa sữa ở nhà. Cây sữa mọc ở đầu mảnh sân chung, khi heo may về nhú lên những chùm hoa xanh nhạt, bông nhỏ như đinh hương. Duy nhất chỉ vào dịp ấy, hương hoa sữa lấn át tất cả các mùi hỗn tạp trong xóm. Căn phòng của bố mẹ bồng bềnh trôi trong biển hương sữa. Những lớp sóng hương ngạt ngào mê man xô đẩy Phương Thảo hai mươi tuổi vào miền cổ tích. Ở đó chàng hoàng tử giương cánh buồm đỏ thắm chờ nàng Lọ Lem từ lâu lắm. Mẹ không biết con gái đã nhận lời đính ước với hoàng tử, có hương hoa sữa làm chứng. Mẹ bắt đầu lo vì Phương Thảo không bao giờ về muộn, lúc nào cũng đúng mười giờ tối. Đi một mình, về một mình, như bài học đạo đức của mẹ. Đi qua cầu thang nơi ông hàng xóm đặt cái tivi để nuôi gà. Tivi panasonic hỏng, moi hết ruột vứt đi, vỏ ngoài chắn lưới mắt cáo, thành cái chuồng gà hiện đại. Trên nóc tivi là chuồng vẹt Hồng Kông. Vẹt ỉa xuống đầu gà. Cám gà vãi tung ra đất. Con chó tha thẩn ngửi hít rồi bỏ ra thùng nước gạo sục mõm tìm xương. Phương Thảo đi qua mảnh sân chung nước đái cụ Nhổn trộn nước đái thằng Bi. Qua dây phơi trĩu trịt quần lót áo lót. Qua góc bếp sực mùi than tổ ong, mùi dầu hỏa. Qua khóm trúc Phật bà, hồng tỉ muội, trinh nữ hoàng cung của mẹ… Đi qua tất cả mà chẳng chạm vào vì Phương Thảo đang bận tâm sự với hoàng tử. Chàng nàng liên hệ với nhau hai ba tiếng rưỡi trên hai bốn, trừ nửa tiếng Phương Thảo xếp hàng đi vệ sinh. Lúc đó hoàng tử chẳng nên đến gần. Lúc đó mới thật là toàn tâm toàn ý như Thiền. Thời gian còn lại, Phương Thảo nói, hoàng tử lắng nghe và chàng hiểu hết. Bao nhiêu năm, hoàng tử ở bên Phương Thảo như cuộn giấy thấm tuyệt hảo, hút mãi những nỗi niềm không cạn. Bây giờ khi nhớ lại, Phương Thảo nghĩ có thể đó là hội chứng hoa sữa, giống người say nấm độc tự huyễn hoặc mình bởi những ảo ảnh. Một sáng bừng tỉnh sau cơn mê hoa sữa, Phương Thảo chợt thấy mình đang là vợ goá của hoàng tử. Tài sản thừa kế là một núi tâm sự không biết trút vào đâu, còn lại thì trống rỗng. Ngoài vườn, hoa dẻ đã tàn gần hết. Những cánh dẻ như ngàn vạn con bướm trắng phiêu tán theo gió. Bay mãi rồi cũng rơi về đất.

Thế thì sao không thử bắt đầu từ đất? Nhờ anh hàng xóm lực lưỡng cuốc giúp mảnh vườn, trồng mấy cây hoa dê dễ sống. Anh hàng xóm lần nào Phương Thảo mở cửa ra cũng gặp, nhiệt tình hơn cả ông giáo sư cùng phố ngày xưa cho mượn sách. Hay ừ quách cậu đồng nghiệp đầu vuốt gôm như lông nhím, chân tay không vạm vỡ bằng nhưng có thể cùng đi dạo biển, buổi tối đàn ghita phừng phừng mắt đắm đuối môi ướt. Hay thả mình bình yên như cọng cỏ mềm nép vào lồng ngực chắn gió của người bạn thân rất thân. Hay gặp lại cố nhân chín năm trước đã theo Phương Thảo về tận gốc cây sữa đầu nhà, người chẳng ngại bay chín nghìn cây số tìm lại cọng cỏ ngày xưa…Hay là gửi cả tá bình xịt khử mùi, nước hoa, nước tắm thơm về cho mẹ. Dùng hàng ngoại đánh át mùi nước đái cụ Nhổn, thằng Bi, xua đuổi hương hoa sữa. Khi đó Phương Thảo có thể về hát karaoke vô tư với thằng Cà Chô. Cà Chô không phát âm được chữ cà chua nhưng lại thích hát. Chiều chiều, bố mẹ nó hãnh diện bật giàn karaoke cực xịn để thằng con ba tuổi gào vào máy: "Chái tim tù lù, anh êu em đến tàn lu". Cà Chô không đọc được lời bài hát ở dưới: "Trái tim ngục tù, anh yêu em đến ngàn thu". Chẳng sao, tim tù lù chắc dễ chịu hơn. Có điều Phương Thảo lại biết đọc, và hiểu rằng chịu ngục tù như thế là sến lắm lắm, nhưng thoát ra bằng cách nào đây? Thư mẹ viết thiết tha, con ơi về đây sướng khổ có nhau. Bây giờ ở nhà khác lắm. Mẹ đã lắp xí bệt giật nước kiểu Tây, trước cửa trồng thêm giàn thiên lý. Hương nó thơm ngọt ngào chứ không gắt như hoa sữa. Về đi mẹ nấu canh thiên lý giò sống cho mà ăn.

Thì về. Cái xóm nhỏ xem ra cũng nhiều thay đổi. Cụ Vòng đã quy tiên, bia mộ đề tên Nguyễn Thị Kiều Nga. Cụ Nhổn nhờ nước tiểu trị liệu nên còn minh mẫn, chỉ tội yếu. Phương Thảo biếu cụ tiền ăn trầu, cụ bảo thôi thôi nhưng bàn tay khô khỏng móng như vuốt chim giữ chặt tiền không rời. Thằng hàng xóm ngày xưa giờ một vợ hai con, mặc com lê, lái taxi, chỉ học phất phơ có một tuần đã lấy bằng tay lái lụa, đi taxi của nó lúc nào cũng có thể là đi suốt lên thiên đường. Phương Thảo đi giầy đinh, mặc áo hở rốn, tay xách camera tìm về những con đường ngày xưa. Con đường xao xác hoa kim phượng, cánh vàng rải lăn tăn trên gạch đỏ màu son. Con đường rợp bóng sấu già, sau cơn mưa, lá sấu giập thơm mát như úp mặt vào trái dưa hấu mới bổ. Con đường ngày xưa phượng nở cháy trời, bây giờ không phải mùa hoa, chỉ có những trái già nâu sẫm đung đưa trong gió… Các chị bán hàng lưu niệm cho Tây "hênô" Phương Thảo, tụi trẻ tổ bán báo Xa Mẹ mấy lần mời mua postcard cảnh hồ Gươm lung linh cầu Thê Húc. Phương Thảo nghĩ mình phải đi may gấp áo bà ba lụa tơ tằm cho thiên hạ đỡ mất công xổ tiếng Tây. Cô thợ may vừa đo vòng ngực, vừa hỏi: "Chắc chị không phải người ở đây, hay là đi xa lâu lắm mới về?"

Lỗi tại hoa sữa. Mà cũng tại ông khách đã buột miệng "… sao đẹp thế!". Nếu chẳng bao giờ nghe ông nói, có lẽ Phương Thảo cứ là cái Choắt. Sẽ vô nhiễm với hoa sữa. Sẽ đóng đô trong xóm nhỏ, yên tâm phấn khởi cùng đám các bà nội trợ chuyển từ bếp than sang bếp dầu, bếp điện và thỏa mãn khi mua được bếp ga. Sẽ tự tin giống con bé bán trứng vịt lộn nhà đối diện. Nó hân hoan khoe với Phương Thảo chiếc váy Siđa mới mua, ngắn đến ngang đùi. Mặc váy này vào, ngồi sau xe honda của chồng, con bé bán trứng sẽ cởi lốt thành mệnh phụ, à quên, thành đầm, đầm bây giờ mới môđen chứ mệnh phụ lỗi thời rồi. Chồng nó đạp xích lô lọng vàng, đậu ở cửa khách sạn ba sao kia kìa, nó sợ chồng nhìn đầm quen mắt về chê vợ nhà quê nên sắm váy mini bảo vệ hạnh phúc gia đình. Mới tâm sự hôm trước, hôm sau, Phương Thảo đi ăn sáng, ngạc nhiên thấy hàng trứng vịt lộn đóng im ỉm. Con bé bán trứng đội nón sùm sụp đi ngang cửa, vẫy tay chào: "Thằng khốn lạn ló bảo em mặc váy ngắn như con phò. Ló đánh em tím cả mặt. Em dọn về nhà mẹ đây. Bái bai chị." Tiếc cho thằng chồng không thức thời!

Phương Thảo tự biết cái mác đi Tây về của mình không đủ làm con bé bán trứng thán phục. Tây gì mà chỉ thấy lóc cóc đi bộ hoặc xe ôm, chả bao giờ gọi taxi hay bước lên xích lô lọng vàng của chồng nó. Thần tượng của con bé bán trứng là bố mẹ thằng Cà Chô, chủ số đề kiêm buôn lậu bao cao su và ảnh cởi truồng của Trung Quốc tuồn qua biên giới. Mẹ Cà Chô sắm toàn hàng xịn trong shop thời trang, đeo vàng đỏ chói. Sáng sáng, cô ấy mặc áo lụa mỏng dính, xịt nước hoa thơm ngồi ở bàn chờ Ôsin* mua phở bưng về ăn điểm tâm. Buổi chiều hai vợ chồng quần áo thể thao trắng muốt, lái xe ôtô nhà đi đánh tennis, tối thì đi nhảy đầm. Con bé Ôsin nhà ấy chỉ mặc quần áo thải ra của bà chủ mà thành niềm mơ ước của tất cả đám Ôsin choai choai khác. Ôsin mặc quần bò thụng, hai ống xòe ra như cái nơm úp cá, đánh mông đi lại cực kỳ mãn nguyện.

Mẹ Cà Chô vừa ngắm nghía chiếc nhẫn hồng ngọc mới mua, vừa ái ngại nghe Phương Thảo kể chuyện ở bên Tây làm gì có Ôsin, cái gì cũng tự làm. Cơm nước giặt giũ đã đành, đi làm xe đạp còng cọc đã đành mà đến việc nặng như sửa xe, cưa, bào, khoan, đục, sơn quét nhà cửa… đàn bà cũng phải cố học mà làm lấy. "Tây hóa ra khổ thế em nhỉ", mẹ Cà Chô kết luận, lại đăm chiêu bộc bạch: "Nhưng mà thời nào ở đâu cũng có cái khổ của nó thôi. Có Ôsin thì nhàn thân, nhưng cũng đau cả đầu…" Một tối bố mẹ Cà Chô đi nhảy đầm về sớm, thấy nhà khóa cửa. Cà Chô bị nhốt trong nhà từ chiều, gói bim bim được hối lộ ăn hết từ lâu, đang khóc sụt sịt vì đói quá. Gần mười hai giờ đêm mới thấy Ôsin trang điểm lộng lẫy, mặc váy đầm của bà chủ đi chơi về. Hôm sau, mẹ Cà Chô đích thân áp tải Ôsin ra bến xe gửi trả về quê. Bẵng đi vài tháng, bố Cà Chô đi hát karaôkê ôm thì gặp lại Ôsin cũ, giờ là giọng ca vàng của quán, không còn tên là Na như hồi trước mà đổi thành Lan, "Nệ Nan". Mẹ Cà Chô nhắn nhe khắp nơi tìm người giúp việc, bây giờ chỉ muốn thuê bà già. Ôsin mới ngót nghét năm chục, mặt mũi ngờ nghệch thật thà, mỗi tội chả biết dạ thưa cho phải phép mà cứ hồn nhiên gọi mợ chủ là mày, xưng tao, ý chừng cho mình lớn tuổi hơn. Ôsin này quanh năm hái chè trên đồi Vĩnh Phú, thành ra cũng không biết gọi theo kiểu người đồng bằng. Khi cần gọi ai, Ôsin chỉ hú, nội lực hùng hậu từng được thử thách trên những đồi chè mênh mông, tiếng hú lan xa cả dãy phố, ai nghe cũng rờn rợn xương sống. Ôsin Vĩnh Phú lại không biết lau nhà, mấy chục năm ở nhà nền đất nện, giờ đi trên sàn đá hoa cương trơn bóng cứ trượt chân như làm xiếc. Nấu ăn thì kinh quá, cái gì cũng chỉ luộc và cho muối. Cả nhà Cà Chô nuốt không được, đành tự túc ăn đặc sản tháng, Ôsin lĩnh tiền ăn cơm bụi. Ngày ngày, Ôsin ngồi phệt ở thềm nhà, bắt chuyện với người qua lại, thì thào kể đêm qua ông bà chủ cãi nhau, duyên do rằng thì là ông chủ mua cái vợt chơi gì mờ đắt thế, những mấy triệu, nhà tôi ăn cả năm không hết chỗ tiền ấy, lại kể hái chè ở Vĩnh Phú ngày được hai nghìn tiền công, nắng xuyên qua lớp vải dầy xém lưng, ở đây cả ngày chả biết làm gì, chân tay bải hoải, ăn miếng cơm trắng mà cứ nhạt thếch, buồn nhớ nhà quá thể… Được hai tuần ăn cơm Hà Nội, Ôsin Vĩnh Phú đổi mới tư duy, từ bỏ cái quần vải đen mang từ dưới quê lên bị các bà bán rau chê là "âm lịch". Ôsin mặc quần hoa xin được, đứng vịn vào giàn karaôkê, chụp ảnh màu gửi về động viên tinh thần bố con nó dưới quê. Ông chồng Vĩnh Phú nhận ảnh, nhắn vợ về lập tức. Biết ngay là ra đất ăn chơi con người nó hư hỏng, năm chục tuổi đầu mà mặc quần hoa như thế là để đi đánh đĩ. Ôsin sợ chồng, ngậm ngùi từ chức, về lại bản quán hái chè.
Phương Thảo tình cờ thấy ông giáo sư hàng xóm cũ. Ông đạp xe như nép vào lề đường, xe máy, ôtô rầm rầm qua lại, nhấn còi ầm ĩ. Một gã choai choai phóng Dream láng tay lái xẹt qua ông, ghé sát mặt quát: "Bố già đi sai đường rồi. Đường về Văn Điển ** đi hướng kia kìa." Ông giáo gầm lên tiếng gì không rõ, hầm hầm kéo xe lên vỉa hè. Giờ tan trường, những tà áo dài trắng thướt tha túa ra, đẹp hơn Phương Thảo của mười mấy năm về trước, nhưng ông giáo không nhìn nữa. Cánh tay ông, từng như gọng kìm ám ảnh Phương Thảo, giờ không còn đủ sức trừng trị gã trai mất dậy, run lên giận dữ, bất lực. Gã choai choai đã biến mất trong dòng người xe, quẳng lại cho ông luồng khói xăng khét lẹt và chuỗi cười khả ố. Không ai dừng lại, không một cái liếc mắt về phía ông già lạc lõng đứng ở vệ đường.

Điện tín từ bên kia bờ đại dương nhắn về. Người bạn thân hôm qua uống cả vỉ thuốc ngủ. Đêm ấy chia tay, anh bảo tóc Phương Thảo sao lại có mùi hương hoa sữa. Lần này về Hà Nội đúng vào mùa cúc, nhớ ngắm luôn cả cho anh. Anh nói như thể hai đứa đã không hẹn nhau một ngày cùng lang thang trên các phố hàng. Hàng Lược, Hàng Bồ, Hàng Quạt, Hàng Gai, Hàng Đường, Hàng Bạc… Những gánh cúc vàng rưng rưng trôi nổi khắp các con phố cổ. Cô bán hoa vừa bán hàng, vừa hốt hoảng trông chừng công an đến phạt. Thành phố mới ra quyết định cấm bán hàng rong, cho nên những xe hoa trái cứ cuống cuồng rong ruổi. Năm bông cúc này cho em, năm bông này cho anh, hãy tỉnh lại mình cùng ngắm. Anh vẫn thích hoa này, bông cúc quý, tàn héo rồi mà cánh chẳng rụng rơi. Những cánh nhỏ bám chắc lấy đài. Như anh muốn giữ em, như em giữ mùi hương sữa. Ràng buộc nhau thế để làm gì? Tỉnh mà xem em cắm cúc trong bình gốm sẫm màu. Cánh vàng óng giữ nắng chiều ở lại. Rồi cũng sẽ tàn phai, cả hoa lẫn nắng. Anh vội làm gì?

Vội làm gì đêm nay trăng lên. Những đám mây chẳng ra hình thù gì nối nhau lướt trên vòm hoa sữa ngậm hương, trôi mãi trôi về đâu. Thằng Cà Chô đang hát bài "Trái tim tù lù" ưa thích. Trăng vằng vặc soi lên vũng nước đái cụ Nhổn loang trên sân. Trăng trong nước đái cũng sáng như trăng trên trời… Ngày mai, Phương Thảo lại ra đi…

Amsterdam, rằm tháng tư Nhâm Ngọ

————-
* Ôsin: sau một phim truyền hình nhiều tập của Nhật Bản kể về cuộc đời nhân vật chính Ôsin, là đầy tớ phấn đầu vươn lên thành bà chủ, từ "Ôsin" thành tiếng lóng gọi người giúp việc trong nhà.


* * Văn Điển: tên một nghĩa địa lớn ở ngoại thành Hà Nội