Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024

Phụ nữ Ả Rập qua ảnh của Lalla Essaydi



Lalla Essaydi là một nhiếp ảnh gia và họa sĩ đương đại người Maroc. Tác phẩm của cô tập trung vào bản sắc phụ nữ Ả Rập được khám phá thông qua phong cách Phương Đông thế kỷ 19, trong đó nghệ sĩ vẽ tay thư pháp Ả Rập bằng henna trên các bề mặt khác nhau, chẳng hạn như vải, cơ thể và tường. Những bức ảnh của cô đề cập đến thực tế phức tạp về các cấu trúc quyền lực áp đặt lên cơ thể phụ nữ Ả Rập thông qua lăng kính đầy truyền thống. Như Essaydi mô tả, “Tôi mời người xem chống lại những khuôn mẫu.” Sinh năm 1956 tại Marrakech, Maroc, sau thời thơ ấu và cuộc sống đầu trưởng thành với đặc điểm là thường xuyên phải di chuyển, Essaydi chuyển đến Boston vào năm 1996. Cô lấy bằng BFA từ Đại học Tufts và bằng MFA tiếp theo tại Trường Bảo tàng Mỹ thuật vào năm 2003. Tác phẩm của cô đã nhận được sự hoan nghênh của giới phê bình trên toàn thế giới và được tổ chức và trưng bày tại các tổ chức như Bảo tàng Nghệ thuật Châu Phi Quốc gia ở Washington, Viện Nghệ thuật Chicago và Bảo tàng Fries ở Hà Lan.







Nghệ thuật vẽ Henna.

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2024

Vẻ đẹp

 

Tượng của nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu sinh năm 1934 tại Gò Vấp, Gia Định
Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Gia định
Tác phẩm: “Chiến sĩ vô danh” 1966 (Nghĩa trang quân đội VNCH Gò Vấp), “Thương tiếc” 1966 (Nghĩa trang quân đội VNCH Biên Hòa), "An Dương Vương" 1966 (Ngã 6 chợ Lớn)...





Bức ảnh gây sốt trong bộ ảnh "Cô gái nông thôn"

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Tranh Đỗ Quang Em

Tự họa của Đỗ Quang Em
Tự họa của Đỗ Quang Em
Bill Clinton khi ghé qua Việt Nam, bài diễn văn tại tiệc chiêu đãi của Chủ tịch nước tổng thống Bill chỉ nhắc đến tên hai người Việt. Nữ sĩ... Hồ Xuân Hương và họa sĩ Đỗ Quang Em.


Amulet_b_

Hội họa tả thực của Đỗ Quang Em có hình thức “cực thực”. Thực đến nỗi ngay nhiếp ảnh cũng khó lòng sánh nổi về khả năng tả thể chất (sự vật). Tả không khí (không gian) và khả năng biểu hiện bằng sự tinh lọc hình ảnh và cách điệu hướng đến cái đẹp lý tưởng (những người cho rằng, ông vẽ lại từ ảnh chụp là sai lầm)... Tả thực-“cực thực”- nhưng hội họa Đỗ Quang Em có phải là hội họa hiện thực hay không, đó là điều không chắc chắn.
images
Nghệ thuật là thế giới tâm hồn mỗi người. Nghệ thuật Đỗ Quang Em là tâm cảnh của ông. Một tâm cảnh được nhào nặn bởi ý chí, đầy kiêu hãnh...
Ông đã khéo sử dụng ánh sáng để tạo ra một cuộc đối thoại giữa bóng tối và ánh sáng, giữa huyền bí và sự thật. Là một phật tử thuận hành, ông đã đưa vào tranh một cảm thức yên lành như triết lý gọn gàng của đời ông: “Vui hay buồn, phởn hay giận, tất cả đều nằm gọn trong mỗi chúng ta... Biết chấp nhận tình cảnh bó thúc của đời mình, đó chính là hạnh phúc”.
Hoạ sĩ chỉ lấy người thân làm mẫu ... Ông tâm sự: "Nói thật, tôi chẳng biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết một vợ, bốn đứa con và vẻn vẹn vài người bạn. Bởi vậy, tôi có vẽ, có yêu thương ai, có ghét bỏ cái gì cũng trong phạm vi nhỏ hẹp đó. Tôi hạnh phúc hay khổ đau cũng chỉ trong chừng mực đó, còn những gì diễn ra bên ngoài bốn bức tường kia thì hoàn toàn xa lạ".
mason3_26_13


Xem tranh Đỗ Quang Em tưởng chừng như nghe văng vẳng thơ của Hàn Mặc Tử, văn Thạch Lam và nhạc Đoàn Chuẩn.  

still_life_b_

Chiếc bị mây, cây đèn dầu, cái lò đất nứt, mấy que củi khô, ánh mắt người vợ nhìn ngây dại lạc thần được vẽ sau đó. Nồng ấm một màu nâu được chuốt thật mịn mặt phẳng tranh, vẫn ánh sáng rất quý từ khuôn mặt, nếp áo, đồ vật, nhưng trên hết là bố cục, một bố cục mới và bạo, cho thấy tinh thần bức tranh hoàn toàn hiện đại, khác với không khí tranh cổ điển của sáng và tối, cũng một màu nâu, đỏ đậm đặc tuyệt vời thời Baroque với Rembrandt, Vemeer…hay Ludovic Carrache.
images (2)



Người xem có thể cảm nhận, trong mỗi tác phẩm của ông toát lên một tinh thần nghiêm nghị, thể hiện sự trân trọng đối với thế giới đối tượng. Bao trùm trong tranh là bóng tối. Nó như sự tĩnh lặng huyền mặc của một tâm thức định tĩnh. Những khoảng sáng trong tranh Đỗ Quang Em bao giờ cũng gợi lên cảm xúc nhiệm màu của sự hiện thân.
dqem2

Bức tranh với  tone màu thật là đẹp... màu áo dài... xôn xao nhưng thấy không gian trong bức tranh thật là tĩnh lặng ... Nhìn bức này gợi nhớ đến bài hát của nhạc sĩ TCS.
Ðêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui
Mẹ hãy ra xem đường phố ngập người...

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Thiên Thủ Quán Âm

by Derek Lin
                     
Một hiện tượng đang lan khắp Á châu nhưng vẫn ít được Tây phương biết đến. Chúng tôi được xem qua phần trình diễn này trong một chuyến đến Đài Loan (Đoàn Trình Diễn Nghệ Thuật của Người Khuyết Tật Trung Hoa từ Trung Quốc sang Đài Loan lưu diễn - Lời người dịch). Đây là một chương trình trình diễn trên sân khấu rất độc đáo được gọi là Thiên Thủ Quán Âm (Quan Âm Ngàn Tay).
                                  
Quán Âm
     
Quán Âm là vì Bồ tát (Boddhisattva) từ bi, được các Phật tử tôn kính như là Nữ Thần Ân Phước. Tên của ngài được gọi tắt là Quán Thế Âm. Quán có nghĩa là quan sát, xem xét, hay để tâm đến. Thể có nghĩa là Thế gian; Âm có nghĩa là Âm thanh, đặc biệt là âm thanh của những kẻ đau khổ. Do đó, Quán Thế Âm là một người xem xét quan sát và đáp ứng với những kẻ đang kêu khóc cầu cứu trên thế gian.   
Bồ Đề (Boddhi) có nghĩa là trí tuệ hay giác ngộ, Tát Đỏa (Sattva) có nghĩa là chúng sanh hay hữu tình. Hai chữ này ghép lại thì có chữ Bồ Tát, một chúng sanh đã giác ngộ và sẵn sàng để ra ngoài vòng sanh tử, nhưng đã chọn trở lại thế gian để giúp những người khác cùng đạt đến sự giác ngộ giống mình. Đây chính là sự biểu lộ của lòng từ bi thanh tịnh tột cùng.
Ngàn tay của vị Bồ tát nầy tiêu biểu cho nhiều khá năng cứu giúp của Quán Âm. Có ngàn con mắt trên ngàn bàn tay giúp Quán Âm có khả năng quan sát thế gian. Quán Âm cũng có nhiều khuôn mặt để có thể dùng khuôn mặt thích hợp cần cho việc giúp người, không nhất thiết là dùng gương mặt của chính ngài, bởi vì sự giúp đỡ được ngài ban ra với tinh thần vô ngã (không có cái tôi trong đó – Lời người dịch). 
                     
Do ảnh hưởng lan rộng của văn hóa Trung Hoa, Quán Âm có thể là vị Bồ tát được biết đến nhiều nhất trên thế giới. Điều nầy đôi lúc đưa đến ngộ nhận khi có nhiều người lẫn lộn Quán Âm và Bồ tát. Thí dụ nhiều người đã dịch lầm tên vũ điệu trình diễn là Bồ Tát Thiên Thủ.  
Thêm vao đó hình ảnh thần thánh hóa của Quán Âm có thể đưa đến ngộ nhận ở mức độ căn bản. Một vị Bồ tát không phải là một vị thần mà là một chúng sanh – một chúng sanh đã thăng hoa về tâm linh. Mặc dầu Quán Âm được mô tả qua hình ảnh một phụ nữ Á đông đẹp đẽ, tuy nhiên bất cứ người nào cũng có thể thành Bồ tát dầu người đó có bất cứ hình dáng, chủng tộc, hay giới tính gì đi nữa. Hễ khi nào bạn hành xử theo xu hướng tự nhiên của lòng từ bi, là bạn đã tiến gần thêm được một bước để trở thành Bồ tát.
                                              
Về phần trình diễn
                  

 
Điều ly kỳ nhất về phần trình diễn này là tất cả các vũ công đều bị điếc. Họ là thành viên của Đoàn Trình Diễn Nghệ Thuật của Người Khuyết Tật Trung Hoa. Không có người nào trong nhóm họ có thể nghe được âm nhạc – điều này làm cho việc múa phối hợp của họ là một thành tựu kỳ diệu. Những khó khăn và thách đố họ gặp phải trong lúc tập luyện thật ngoài sự tưởng tượng. 
Thông điệp rốt ráo của phần trình diễn này có thể tóm tắt qua những lời của Zhang Jigang, nhà biên soạn và đạo diễn vũ khúc này:
Khi bạn tử tế và trong lòng đầy tình thương,
Ngàn tay sẽ tự nhiên đến giúp bạn.
Khi bạn tử tế và trong lòng đầy tình thương,
Bạn sẽ vươn ngàn cánh tay để giúp kẻ khác.                                    

Chú thích của người dịch:  
- Vũ khúc này được các vũ công Trung Quốc tập luyện trong gần 10 năm trước khi ra trình diễn trước công chúng. Trong năm 2005, họ đã đi trình diễn tại hơn 40 quốc gia. Đoàn vũ công gồm 9 nam và 12 nữ đều câm điếc, do câm điếc nên họ dùng nét mặt và cử chỉ để diễn tả nội tâm. Trong quá trình tập luyện, họ đã học phương pháp phối hợp hơi thở và diễn xuất, diễn đạt tấm lòng từ bi bao la của Bồ Tát Quán Âm. 
- Trong phim, bạn thấy có 2 người đứng ở hai bên hông sân khấu là những người nhắc vũ điệu bằng cách ra dấu cho các vũ công câm điếc vì các vũ công này không nghe được điệu nhạc.  
- Các vũ công, lúc hợp thành một, lúc phân ra thành nhiều, nói lên khả năng phân thân của Bồ Tát Quán Thể Ấm như trong hai câu thơ:
Ngàn xứ khẩn cầu ngàn xứ ứng  
Thường vào biển khổ độ người qua.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

MINH VĂN

Minh Văn
(Biên tập theo tư liệu của nhà báo tự do Xuân Bình)
Trong các văn tự biểu hình, mọi yếu tố âm, nét chữ, tiết điệu và câu cú đều phải truyền lực cho ngữ ngôn, làm nổi bật hiệu quả đặc thù của các biểu tượng và diễn đạt tư tưởng.
Hàng nghìn năm qua, Minh Văn tựa như giọt nước tinh tế, lặng lẽ và bền bỉ trong dòng chảy giao lưu văn hóa Việt Nam- Trung Hoa, hai quốc gia đồng chủng, đồng văn.
Minh văn là những chữ cổ được viết, vẽ, khắc… trên các đồ vật, hay thể hiện trong trang trí nội thất, thiết kế kiến trúc, quy hoạch. Nó xuất hiện trên rất nhiều chất liệu như gỗ, gốm, đồng, vải, thảm đến những công trình xây dựng có quy mô lớn…
Minh văn không chỉ là hệ thống ký hiệu thị giác ghi lại hay cho phép văn tự truyền tải thông tin ngôn ngữ trong không gian và lưu giữ nó cùng thời gian. Đôi khi nó là một phúng dụ trừu tượng hay ẩn dụ những quan niệm văn hóa, thẩm mỹ khác biệt. Nó gây dựng biểu tượng, làm sáng tỏ những ước mơ, khát vọng của con người.

Minh Văn nhìn từ ... Niết Bàn

Trang trí văn tự cổ 
chùa Bút Tháp Bắc Ninh

Lâu nay mọi người thường gắn khái niệm “minh văn” với trang trí nội thất, thiết kế sản phẩm, đồ vật và giới hạn trong những không gian nhỏ. Nhưng nhiều công trình kiến trúc tôn giáo tiêu biểu có bình đồ được thiết kế theo chiết tự Hán lại cho thấy “minh văn” có đời sống đáng kể trong thiết kế kiến trúc, quy hoạch và tạo tác trên những không gian rộng lớn hơn.
Chữ ĐINH
Chùa Tức Mạc, Nam Định là nhận diện thiết kế kiểu chữ Chữ Đinh (T) với chính điện (thượng điện) được nối thẳng góc với nhà bái đường.


Chữ CÔNG
Chùa Dâu, Bắc Ninh, đền thờ vua Đinh-Lê, Ninh Bình là đề tài để nghiên cứu thiết kế chữ Công với nhà chính điện song song với nhà bái đường và được nối với nhau bằng nhà thiêu hương (ống muống).

Chữ QUỐC

Công trình tiêu biểu cho kiểu Nội công ngoại quốc là chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, chùa Keo (Thái Bình, Nam Định). Kiến trúc này có bố cục mặt bằng phía trong hình chữ Công và tường bao quanh phía ngoài hình chữ Quốc .


Chữ TAM
Chùa Kim Liên, chùa Tây Phương, Hà Nội là kiến trúc chữ Tam với ba nếp chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng song song với nhau.
Chưa có mô hình, master plan, bản vẽ mặt cắt ngang hay ảnh vệ tinh, những thiết kế ngày trước có thể “làm khó” cho nhiều người trần, kẻ phàm. Nhưng những tác phẩm này như là tín dấu, một vật phẩm, nghi lễ thờ cúng, hầu dâng. Nó thật dễ để Thần, Phật chiêm ngưỡng và thụ hưởng từ cõi trên.
 
Một quỹ Gen văn hóa

Trang trí Minh văn 
trên tàu du lịch Bhaya Hạ Long
Phần lớn minh văn thì ẩn hiện trong các thiết kế nội, ngoại thất hay các chế tác vật dụng, vật phẩm nó gần gũi, tác động trực tiếp hơn với đời sống.

Tháp nước Phan Thiết
do Suphanouvong thiết kế 1938
Các minh văn luôn biến dịch khi xuất hiện hay được thể hiện trên các chất liệu, không gian khác nhau. Nó có vần luật tương quan giữa các tỷ lệ ngắn, dài, cao thấp, nhỏ to; giữa cái chi tiết với tổng thể. Nó hàm chứa những nguyên tắc có ý nghĩa triết học về sự cân bằng và ổn định trong các trang trí dạng kỷ hà, vuông, tròn, hình đa giác…
Có thể tìm minh chứng từ rất nhiều các kiến trúc cổ.  

Chữ VẠN

Đồ án trang trí chữ Vạn trên chất liệu gỗ ở cửa sổ am Tích Thiện, bình phong phủ thờ của chùa Bút Tháp, cửa đại ở nhà Vương, Hà Giang,



Chữ THỌ
hay chữ Thọ ở cung điện, lăng tẩm Huế….bất kỳ nơi nào, từ chùa thờ Phật, đình đền cúng Thần, các minh văn đều biến hoá sinh động đến mức ngạc nhiên. Minh văn là nơi neo bám, phát triển các trang trí hoa, lá, thú, linh vật, thực vật hóa linh vật như các đề tài Dơi ngậm chữ Phúc, Cúc hóa Rồng, Rồng hóa Mây, Long-Thọ


Chữ Vạn - nhà Vương, Hà Giang
Biểu tượng lưỡng nghi trên các cửa sổ chùa Kim Liên, Tây Phương không chỉ là một ví dụ thông minh khi kết hợp giữa công năng và trang trí. Những mảng âm- dương, đặc- rỗng, đen- trắng đủ ngăn cách trong ngoài, đủ chiếu sáng, thông gió, làm mát và còn “bắt” người ta phải nhắm mắt lại để tưởng tượng ra những biểu tượng lớn hơn của vũ trụ, càn khôn.
Trên cổng, cửa các tư gia, minh văn giống như những lời chào mặc thiệp. Đó cũng là những lời gia huấn, giáo huấn khắc trên cột nóc, hoành phi, câu đối. 

 
Dơi ngậm chữ Thọ

 
Trong các kiến trúc đương đại, tái hiện minh văn đến độ đậm đặc phải kể đến phủ Thành Chương ở Sóc Sơn, Hà Nội. Khi chuyển động cùng con tàu Bhaya trên phong cảnh thủy mạc Hạ Long, chữ Thọ trên các ô cửa đã biến hóa thành Vạn- Thọ. Dù không nhiều nhưng minh văn ở các khu resort Hội An riverside, Victoria, Palmgarden cũng để lại những dấu ấn hoài niệm khó quên về một Hội An di sản văn hóa. 






 Minh Văn ở Dinh Độc lập (KTS Ngô Viết Thụ)

Dinh Độc lập Sài gòn

Kiến trúc Dinh Độc lập ở Sài Gòn, trên trang web của khu di tích có viết:

“Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông.

Chữ  CÁT

Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư;
Chữ KHẨU

Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận.


Chữ TRUNG

Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên.

Chữ TAM
Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM. Theo quan niệm dân chủ hữu tam Viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con người hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ.

Chữ VƯƠNG


Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG  


Chữ  CHỦ



trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước.

Chữ HƯNG
Mặt trước của dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.”

Cứ theo thông tin này thì phải công nhận rằng Dinh Độc Lập là kiến trúc nhiều… chữ nhất Việt Nam.
Cá nhân tôi chỉ thấy tiếc rằng không ai có một chữ nào, một chữ thôi để lý giải, biện minh cho việc vì sao phải san phẳng, xóa sổ dinh Norodom ra khỏi lịch sử thay vì cứu giúp, phục dựng nó với tư cách là biểu tượng của một giai đoạn lịch sử- văn hóa, một kiến trúc đẹp? Nếu là KTS Ngô Viết Thụ tôi sẽ không làm ngơ trước sự thật này.
Dinh Norodom xưa

Minh văn trong trang trí kiến trúc truyền thống  (VanPham sưu tầm)

5 con Dơi vây quanh quả Đào mừng thọ

Biểu tượng con dơi và chữ Thọ trên một cổng vòm.
Hoa văn chữ Vạn và chữ Thọ

Chữ Vạn cách điệu cửa chùa Nành, Gia Lâm, Hà Nội

Cổng chùa Hưng Ký, Chữ Thọ cách điệu

Dơi ngậm chữ Phúc

Dơi ngậm chữ Thọ
Chữ VẠN, chữ THỌ
Chữ Thọ, 5 con Dơi, 5 chữ Vạn nhà Phật
Con dơi chữ Hán gọi là bức, đọc cùng âm [fú] với chữ phúc, phước theo nghĩa may mắn, phúc lành. Năm con dơi tức là ngũ phúc, gồm có: (1) Thọ, là sống lâu; (2) Phú, là giàu có; (3) Khang ninh, là bình an; (4) Du hiếu đức, là có lòng ưa thích đạo đức; (5) Khảo chung mệnh, sống lâu cho tới hết đời.
Chữ vạn là biểu tượng cho sự tốt lành (cát tường). Nhưng vạn còn đồng âm với chữ vạn (10.000) với nghĩa là vô số.
Như vậy, đặt chữ thọ trong vòng năm con dơi và năm chữ vạn hàm nghĩa ao ước hay cầu chúc được hưởng ngũ phúcvạn thọ (sống lâu muôn tuổi).

Lưỡng nghi chùa Kim Liên

Bình Phong họa tiết chữ Vạn
Ghế chữ Vạn



Các biến thể của chữ Vạn (Phật giáo)

Cửa sổ họa tiết chữ Vạn



Chữ Phật

Đèn chữ Phật





Minh văn trên cửa sổ
Việt phủ Thành Chương