Hiển thị các bài đăng có nhãn ẤN ĐỘ GIÁO (Hindu). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẤN ĐỘ GIÁO (Hindu). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2023

BRAHMA HIỆN DIỆN KHẮP NƠI

 

Brahma 4 đầu, 4 tay đang cưỡi chim Hamsa

Brahma, nằm trong hệ thống trimurti  hay còn được gọi là Tam vị nhất thể của Hindu giáo gồm ba vị thần tối cao là Brahma là đấng tạo hóa, Vishnu là đấng bảo hộ, còn Siva là đấng hủy diệt. Thần Vishnu và Siva là hai thế lực đối nghịch nhau, còn thần Brahma là một thế lực cân bằng. Cả ba vị thần này tạo thành bộ tam thần còn được gọi là Trimurti.

 

BRAHMA HIỆN DIỆN KHẮP NƠI

Hồ Anh Thái


Người hiểu về thần thánh Ấn Độ thì thấy bất cứ một pho tượng nào có bốn mặt đều biết đấy là tượng thần sáng tạo Brahma.


Tượng Bayon bốn mặt trong quần thể Angkor Thom, Campuchia


Brahma hay là “nàng” Bayon?

Có dạo nhiều nhà báo Việt Nam sang Campuchia đã viết về tượng đài Bayon bốn mặt trong quần thể đền Angkor. Có người gọi đó là mặt Phật. Có người bảo đấy là tượng vua Jayavarman VII của vương quốc Khmer xa xưa. Có người nói nhà vua cho dựng đền thờ Phật nhưng lại dùng chính gương mặt mình để tượng hình cho Phật, vua đã đồng nhất mình với Bồ Tát. Thậm chí có nhà thơ Việt Nam làm thơ ca ngợi nụ cười bí ẩn của Bayon và gọi đấy là “nàng”.

Người hiểu về thần thánh Ấn Độ thì thấy bất cứ một pho tượng nào có bốn mặt đều biết đấy là tượng thần sáng tạo Brahma.

Khmer ngày ấy chịu ảnh hưởng của Ấn Độ - không chỉ của Phật giáo mà cả Bà La Môn giáo (tiền thân của đạo Hindu ngày nay). Trong quần thể Angkor vẫn còn đó vô số tượng thần thánh Ấn Độ chen lẫn với tượng Phật.

Vậy có thể hiểu Bayon chính là thần sáng tạo Brahma? Rất có lý. Chỉ có Brahma mới có bốn mặt, biểu tượng rằng thần sáng tạo luôn hiện diện khắp nơi, khắp bốn phương trời. Quyền lực như thần Shiva, hủy diệt hoàn toàn thế giới cũ và tái tạo thế giới mới, cũng không thể có bốn mặt. Ngay cả vị thần bảo hộ cho cả thế gian trải qua mười kiếp đầu thai oai hùng là Vishnu cũng không có bốn mặt. Duy nhất trong nhóm ba vị thần hùng mạnh chỉ Brahma có bốn mặt. Bốn mặt thì phải là Brahma.

Thế thì tại sao bức tượng có nụ cười bí ẩn ấy còn được gọi là "nàng"? Chỗ này phải thể tất cho các nam thi sĩ. Quan niệm lãng mạn xưa cũ khiến người ta nghĩ rằng đã là thi sĩ thì nhìn đâu cũng thấy “em”, họ có thể gọi là em tất tật trời đất, ngọn núi, con sông, chim trời cá nước. Tuy nhiên, Bayon chẳng phải là nàng nào cả. Với người này, đấy là gương mặt của đức vua. Với người kia, đấy là tượng Phật. Với nhiều người khác, đấy là thần sáng tạo Brahma.

Nhưng cũng thông cảm cho những ai đã gọi đấy là nàng. Gương mặt ấy quả là nhiều nữ tính. Từ bi, dịu dàng, thùy mỵ. Người Ấn Độ quan niệm trong một vị thần nam cùng lúc mang chứa cả tính nam và tính nữ.

Trong tranh tượng thờ, các nam thần được thể hiện có bộ ngực trần nhẵn nhụi, đúng quan niệm thần thánh không lông lá xồm xoàm ô trọc như người trần. Tranh tượng các nam thần Ấn Độ thường có dáng vóc thanh tú nuột nà, gương mặt trái xoan, mũi cao, mắt búp sen. Bayon đã được Khmer hóa, gương mặt tròn trĩnh, mũi tẹt, mắt nhỏ. Nếu đấy là thần Brahma thì cũng dễ hiểu, người Khmer đã bản địa hóa một vị thần Ấn Độ theo đúng nhân trắc học của mình.

 

Vị thần 4 mặt Brahma-Ấn Độ


Chỉ Thần Sáng Tạo mới có bốn mặt

Trong tranh tượng Ấn Độ, thần Brahma thường có bốn mặt quay về bốn hướng, không chỉ biểu hiện rằng thần có mặt ở khắp nơi, mà đấy còn là biểu tượng bốn bản kinh Veda. Bốn cánh tay của thần tượng trưng bốn hướng. Tay cầm một số thứ như một tràng hạt, một bình nước, một cuốn sách (kinh Veda), cũng có thể là một quyền trượng, một cây cung hoặc một bông sen. Thảng hoặc tay thần có thể ở tư thế ban phước hoặc bảo hộ (Ban phước: lòng bàn tay hướng về phía người đối diện, năm ngón tay chỉ xuống dưới; Bảo hộ: lòng bàn tay hướng về phía người đối diện, năm ngón tay chỉ lên trời).

Tràng hạt tượng trưng cho thời gian. Và bởi vì toàn bộ vũ trụ tiến hóa từ nước, nên Brahma tay cầm bình nước. Thần có thể khoác trên người một tấm da hổ hoặc da sơn dương đen, vai trái đeo sợi dây thiêng. Người ta có thể vẽ thần cưỡi trên một con thiên nga (biểu tượng của tri thức) hoặc trên một cỗ xe do bảy con thiên nga kéo.

Trong bản kinh Rig Veda, từ "Brahman" (hoặc Brahma) để chỉ sức mạnh bí ẩn trong những lời thiêng. Về sau, quyền lực này gắn với kỹ năng của đẳng cấp giáo sĩ gọi là Brahmin (giáo sĩ Bà La Môn), những người nói ra “lời”.

Kinh Upanishad phát triển lên một bước, coi sức mạnh này mang tính vũ trụ và tạo ra những nhân tố hình thành lên mọi thứ, kể cả các vị thần. Cuối cùng, tinh thần sáng tạo tối cao được nhân cách hóa mà thành Brahma.

Nhắc đến sự hình thành vũ trụ thì rõ ràng thần Brahma có vai trò trong khoa học vũ trụ của Hindu giáo. Rất nhiều thần thoại trong những bản kinh sau này xoay quanh nguồn gốc và sự điều hành vũ trụ. Một thần thoại kể rằng Đấng Tối Cao tạo ra nước từ đất, đặt vào trong nước một hạt, về sau hạt thành quả trứng vàng, quả trứng vàng nở ra Brahma.

Trong những thần thoại khác, Brahma có khi là một con lợn lòi nâng đất lên cao hơn nước và tạo ra thế giới, hoặc trong hình dạng một con cá hay một con rùa. Nhưng về sau, thần thoại Hindu phát triển theo hướng quy những hiện thân này về cho thần Vishnu và Brahma bị đẩy xuống hàng thứ hai.

Từ thế kỷ 6, dân chúng Ấn Độ không còn thờ Brahma nhiều như trước nữa. Ngày nay, người ta vẫn thờ tranh tượng Brahma trong đền, nhưng rất hiếm thấy thần ở vị trí chính. Trên khắp Ấn Độ có hàng nghìn hàng vạn ngôi đền thờ Shiva và Vishnu, nhưng chỉ có hai đền thờ dành riêng cho thần Brahma: một ở Ajmer, bang Rajasthan và một ở bang Odisha.

Theo khoa học nghiên cứu vũ trụ của Hindu giáo, xuyên qua thời gian và xuyên qua vũ trụ, một vòng quay cơ bản gọi là kalpa (tức là một ngày của Brahma) tương đương 4.320 triệu năm. Một đêm cũng có độ dài tương tự. 360 ngày và đêm này tạo thành một năm trong đời Brahma, mà cuộc đời của thần Brahma được tính là 100 năm.

 

Thần Sáng Tạo Brahma trong motif tranh dân gian Ấn Độ


Thần thánh cũng như người

Việc bò được coi là thiêng cũng liên quan đến Brahma. Thần sáng tạo đã tạo ra bò cùng lúc tạo ra đẳng cấp Bà La Môn cao quý. Xuất thân của bò như vậy đã là thiêng. Sau đó, trong khi các giáo sĩ Bà La Môn cúng tế, thần bò lấy sữa của mình chế biến thành bơ tinh khiết để giáo sĩ dùng đốt đèn. Lửa là thiêng. Cúng tế là thiêng. Vậy thì bò cũng thiêng. Lưu ý bò thiêng phải là bò cái, vị thần có sữa. Bò đực không có sữa tất nhiên là không thiêng, được thả rông chẳng ai thèm nhìn ngó.

Bò cái là vật được thờ, giết bò có thể phải trả giá bằng tính mạng. Đạo Hindu đã nâng tầm quan trọng của bò cái bằng cách gán cho bò một số biểu tượng. Bốn chân của thần bò được coi như bốn bản kinh Veda. Mỗi bộ phận trên cơ thể thần bò đều có một ý nghĩa tôn giáo: cặp sừng là biểu tượng của thần thánh, mặt bò là biểu tượng của mặt trời và mặt trăng, vai là thần lửa Agni, bốn chân còn tượng trưng cho dãy Himalaya. Thần bò Kamdhenu càng trở nên quan trọng khi suốt đời đi theo vị thần được dân chúng ưa chuộng nhất là Krishna.

Trở lại với thần sáng tạo Brahma. Trong nhóm tam thần chủ chốt, Brahma dần dần thất sủng vì nhiều lẽ, trong đó có truyền thuyết sẽ kể ở đây. Có hai loại hoa bị cấm đưa vào đền thờ thần hủy diệt và tái tạo Shiva: đấy là hoa đại champaka và một loại hoa lan tên là ketaki. Cả hai bông hoa này đều phạm phải thói xấu bậc nhất là nói dối. Chuyện rằng khi cây cột linga (dương vật của Shiva, biểu tượng tái tạo cuộc sống) dựng lên giữa trời, không ai biết được gốc và ngọn của nó ở nơi nào. Vishnu hóa thành lợn lòi sục vào lòng đất để tìm chân cột, nhưng không tìm thấy và quay về thú thật điều đó. Vishnu được ghi nhận là trung thực.

Thần Brahma hóa thành thiên nga, bay lên cao tìm ngọn mà không tìm được. Thấy một bông hoa ketaki rơi xuống, Brahma thỏa thuận với bông hoa hãy nói với cả thế gian là hoa được Brahma nhặt được trên đỉnh linga, để chứng tỏ Brahma đã lên được đến đỉnh linga. Thì thần thánh cũng có lúc dối trá, thậm chí ở vị trí cao bậc nhất như Brahma. Thần thánh cũng như người phàm trần. Vụ nói dối bị lộ, Shiva nổi giận, nguyền rằng do dối trá, từ nay Brahma sẽ không được thờ trong một ngôi đền nào cả. Hoa ketaki là tòng phạm nên không bao giờ được đem cúng trong đền thờ Shiva.

 

Thậm chí có... tám mặt

Bayon, ở góc độ nào đó, chỉ là thần sáng tạo Brahma được Khmer hóa. Sau đó, người ta có thể coi đấy là tượng Phật tượng vua. Cũng được. Chỉ là trong khi diễn giải thì không nên đi quá đà, quá đà kiểu gọi Bayon là nàng nọ nàng kia chẳng hạn.

Một lần ở Bali (Indonesia) - hòn đảo đậm đặc không khí Hindu giáo và Phật giáo, tôi phát hiện một tượng Phật trong cửa hàng mỹ nghệ. Ai mà hình dung được một pho tượng Phật có tám mặt bao giờ. Thì ra người Bali không chỉ tin theo Hindu giáo rằng thần sáng tạo Brahma có bốn mặt. Thậm chí Phật còn có những tám mặt, Phật cũng hiện diện ở khắp nơi, bốn phương tám hướng. Phật và thần sáng tạo có khi cũng có sự đồng nhất, mặc dù Phật không phải là thần thánh.


Tượng Phật tám mặt ở Bali, Indonesia


Tôi đã sưu tầm những pho tượng Phật nho nhỏ của nhiều nước, nhưng chưa bao giờ thấy ở đâu có pho tượng tám mặt bằng đồng như Phật ở Bali. Đồ mỹ nghệ sản xuất nhiều nên không hiếm, nhưng mà lạ. Và đặc biệt thú vị. Tranh tượng Chúa Jesus ở nước nào cũng giống nhau, nhưng tranh tượng Phật thì đến xứ nào đều được bản địa hóa theo xứ ấy. Người Bali đã tạc tượng đầu Phật theo quan niệm của riêng họ - bản địa hóa và có cả yếu tố “tam sao thất bản”.

Nghĩ ngợi trở lại với tượng Bayon. Ừ nhỉ, có thể đấy cũng là tượng Phật. Không phải mặt vua, không phải mặt Brahma. Bayon biết đâu cũng chính là tượng Phật, Phật bốn mặt theo quan niệm của người Khmer từ xa xưa.

Quần thể Angkor Wat được vua Suryavarman II xây dựng vào nửa đầu thế kỷ 12 khi xứ Khmer đã theo Phật giáo, nhưng không phải không còn chịu ảnh hưởng của Bà La Môn giáo. Angkor Thom và Bayon được vua Jayavarman VII xây dựng tiếp sau đó. Các vị vua này và dân chúng thời đó hẳn đã đồng nhất vua với thần với Phật, họ coi vua cũng chính là một dạng Quán Thế Âm Bồ Tát Avalokitesvara.

Nghe nói rằng các vị vua thuộc những triều sau đó lại theo Bà La Môn giáo, họ đã không đập phá Bayon vì tưởng nhầm đó là tượng thần sáng tạo Brahma.

Xứ Khmer thời ấy, Phật giáo đổi chỗ cho Bà La Môn giáo, rồi Bà La Môn giáo trở lại. Có nhiều điều giống như ở Ấn Độ cổ đại, Phật giáo ra đời trong lòng một xã hội Bà La Môn giáo, kế thừa Bà La Môn giáo nhiều yếu tố tư tưởng, nhiều truyền thuyết, thậm chí là những biểu tượng như chữ vạn swatiska, bánh xe chính pháp chakra hoặc tòa sen cao quý...

Giống như trong xã hội Bali ngày nay, Hindu giáo là cộng đồng chiếm đa số nhưng ở đấy vẫn dung chứa những giá trị Phật giáo, thậm chí những nghệ nhân theo đạo Hindu còn tạc tượng Phật tám mặt như đã kể ở trên.

                                                                                                   Theo viet-studies






Bức chạm khắc trang trí trên vòm cửa của tháp Mỹ Sơn E1, được đưa về bảo tàng ĐIÊU KHẮC CHĂM ĐÀ NẴNG năm 1935. Nội dung bức chạm là một chủ đề quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ, truyền thuyết về sự hình thành vũ trụ của người Ấn Độ cổ xưa. Bức chạm minh họa thần Visnu nằm trên biển vũ trụ mênh mông đen tối, được nâng đỡ bởi rắn thần Shesha 7 đầu, tay phải thần đỡ dưới đầu, tay trái giữ chặt cuống sen mọc ra từ rốn, trên đài sen thần Brahma ra đời trong tư thế thiền định và sau đó thần Brahma sáng tạo ra thế giới. Phía chân thần Visnu là hình ảnh một vị đạo sĩ đang chúc phúc cho cho cuộc đản sinh. Trong nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, ở vị trí này thường là hình ảnh của nữ thần Laksmi – vợ của Visnu. Hai đầu bức phù điêu là hai chim thần Garuda mình người chân chim, hình tượng Garuda này rất phổ biến trong nghệ thuật Môn – Dvaravati ở Thái Lan. Hiện phòng Quảng Ngãi cũng đang trưng bày một tác phẩm cùng chủ đề (kí hiệu [BTC 164]).

Tượng thần Brahma ở Giồng Xoài


Hình khắc minh họa tác phẩm điêu khắc cổ đại từ Iconographic Encyclopedia of Science

Tượng thần Brahma bằng đồng từ Campuchia, Thế kỷ XII-XIII.
Bảo tàng Nghệ thuật Walters. 




Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh thần bí.


Khoa học thực nghiệm và khoa học chiêm tinh thần bí.
 Nguồn
Sudeih Babu, nhà chiêm tinh giỏi nhất Ấn Ðộ
--------------------
Giáo sư Olivers hỏi.
-"Nhưng tại sao các tinh tú ở xa lại ảnh hưởng đến từng cá nhân được?"
Babu thong thả trả lời:
"Nếu tinh tú ở xa quá thì khoa học thực nghiệm giải thích thế nào về ảnh hưởng của mặt trăng đối với nước thủy triều lên xuống hoặc chu kỳ trong thân thể đàn bà?"
"Nhưng nếu tôi bị tai nạn thì điều đó ăn nhập gì đến các hành tinh?"
Babu lắc đầu mỉm cười:
"Các ông nên nghĩ thế này, tinh tú chỉ là biểu tượng mà thôi. Tự nó không ăn nhập gì đến chúng ta hết mà chính cái dĩ vãng của ta đã ảnh hưởng đến đời sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu lại cái ảnh hưởng này mà thôi. Không ai có thể hiểu khoa chiêm tinh nếu họ không tin luật Luân Hồi (Reincarnation). Con người chết và tái sinh trở lại trong nhiều kiếp. Ðịnh mệnh của y theo dõi và ảnh hưởng lên đời sống của y theo luật Nhân Quả (Karma of cause and effect). Nếu ta không tin con người chết đi và đầu thai lại để học hỏi, để tiến hóa, để trở nên một người toàn thiện thì mọi sự đều là ngẫu nhiên hay sao? Một Thượng Ðế công bình, bác ái có lẽ nào dung túng điều này?
Khi qua đời thể xác hư thối tan rã nhưng tính tình, dục vọng, ý chí vẫn còn nguyên cho đến khi ta đầu thai vào một kiếp sống mới thì những tính này sẽ trở nên cá tính (personality) của kiếp sau. Các hành tinh chỉ là tấm gương ghi nhận các nguyên nhân này và phản chiếu trở lại. Bất cứ một hành động nào cũng tạo nên một nguyên nhân dù xấu hay tốt ví như ta ném một trái bóng lên không trung. Trước sau gì nó cũng rơi xuống vì trọng lượng và ảnh hưởng của sức hút trái đất, nhưng đến khi nào nó rơi xuống còn tùy sức ném của ta nặng nhẹ ra sao. Khoa Chiêm tinh nghiên cứu các vũ trụ tuyến này để đoán được khi nào cái nguyên nhân trước sẽ trở lại. Babu im lặng một lúc và thong thả giải thích thêm:
"Trước khi đi xa hơn, tôi muốn các ông hiểu lịch sử chiêm tinh để có một cái nhìn thật đứng đắn. Từ ngàn xưa, Chiêm tinh học vẫn được coi là một khoa học quan trọng. Chiêm tinh gia chỉ đứng ở địa vị thứ hai sau Giáo Sĩ mà thôi. Ðối tượng của khoa chiêm tinh là vũ trụ. Tiếc thay phần này đã bị thất truyền chỉ còn phần nhỏ nói về sự liên hệ giữa con người và các bầu tinh tú còn được lưu truyền đến nay và được xem là khoa bói toán. Khoa chiêm tinh có từ lúc nào không ai biết nhưng hiền triết Bhrigu đã truyền dạy các môn đồ của ông vào khoảng 6000 năm trước. Nòng cốt của nó nằm trong bộ sách Brahma Chinta do ông soạn ra. Bhrigu có bốn đệ tử: Người thứ nhất rất giỏi về khoa học đã đi sang Ba Tư lập nghiệp, từ đó ngành Chiêm tinh đi về hướng Tây và ảnh hưởng đến Hy Lạp và La Mã sau này. Người thứ hai rất giỏi về triết học đi về phương Ðông sang Trung Hoa truyền bá ngành này ở đây. Người thứ ba thích nghiên cứu những hiện tượng siêu hình đã lên Tuyết Sơn nhập thất và sau truyền môn này cho dân chúng Tây Tạng. Người thứ tư ở lại xứ Ấn và làm đến chức quốc sư. Bộ sách Brahma Chinta được coi là quốc bảo cất trong cung điện.
Sau này, các hoàng tử tranh cướp ngôi vua đã giành nhau bộ sách quý. Sau mấy chục năm chinh chiến, bộ sách được phân chia làm nhiều phần, mỗi ông Hoàng giữ một mảnh và từ đó khoa Chiêm tinh trở nên thất truyền--- Các mẫu vụn này đã được các thầy bói sưu tầm, ghi chép lại để kiếm ăn nhưng họ chỉ nắm một vài then chốt chứ không sao hiểu hết. Như các ông thấy, căn nhà này rất lớn, gồm có 49 phòng, mỗi phòng đều chứa đầy các sách vở do tôi sưu tầm. Tất cả gia tài sự nghiệp của tôi đều được sử dụng để sưu tầm các sách cổ--- Tôi xuất thân từ một gia đình Hoàng tộc nhưng tôi chỉ ham mê khoa Chiêm Tinh. Tôi bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu, theo học các vị Chiêm Tinh Gia nổi tiếng cho đến khi sưu tầm được bộ Brahma Chinta. Dĩ nhiên, bộ sách này nguyên bản mấy ngàn trang nhưng tôi chỉ sưu tầm được có vài trăm trang và tốn gần 20 năm nghiên cứu nó.
Babu mỉm cười nhìn giáo sư Olivers:
"Bạn Olivers thân mến, lá số tôi lấy cho ông rất khác thường so với người Âu. Tin hay không tùy ý bạn, đúng hay sai chỉ bạn biết nhưng tôi muốn nói thêm rằng các nghiệp quả đã trả xong. Ðời bạn đã bước vào một khúc quanh quan trọng. Lá số cho thấy bạn đã đến bên thềm Ðạo và sẽ được một sự dìu dắt của một hiền giả."
Giáo sư Olivers cảm động xiết chặt đôi tay gầy guộc của nhà Chiêm Tinh. Toàn thể phái đoàn cũng xúc động không kém. Khi trước họ đã nghi ngờ khoa bói toán nhưng sự kiện vừa xảy ra đã thay đổi tất cả. Không ai ngờ giáo sư Olivers lại có một đời sống cá nhân bất hạnh như thế.
"Chúng ta chỉ mới ở vào một buổi bình minh của khoa học nhưng mỗi khám phá mới, mỗi kiến thức mới đều đem lại cho chúng ta một bằng chứng rằng vũ trụ nầy là công trình của một Ðấng Hóa Công.
Hãy lấy một thí dụ Toán học cho dễ hiểu: Nếu ta bỏ vào túi 10 thẻ nhỏ, mỗi thẻ có ghi từ số 1 đến 10 và tuần tự rút ra tùng cái một. Sau khi rút xong ta lại bỏ thẻ vào túi, trộn đều và rút ra lần nữa. Làm sao ta có thể rút tuần tự từ số 1 dến số 10? Theo toán học ta phải rút mười lần mới có một lần rút được thẻ mang số 1. Phải rút 100 lần mới có một lần rút được số 1 và 2. Phải rút 1000 lần mới được số 1,2,3 liên tiếp. Nếu muốn rút theo thứ tự từ 1 đến 10 thì trường hợp đặc biệt này chỉ có thể xẩy ra một lần trong mười tỷ lần có đúng không? Nếu áp dụng Toán Học vào các điều kiện tạo đời sống ở quả đất này thì ta thấy nguyên lý ngẫu nhiên không sao hội đủ các điều kiện cần thiết. Vậy thì ai đã tạo ra nó?
Trái đất quay quanh trục của nó với vận tốc 1600 cây số một giờ ở giữa đường xích đạo. Nếu nó quay chậm 10 lần thì ngày sẽ dài gấp 10 và dĩ nhiên sức nóng cuả mặt trời cũng gia tăng gấp 10 lần. Thế thì cây cối, sinh vật đều bị thiêu sống hết còn gì. Nếu cái gì chống được sức nóng cũng chết lạnh vì đêm cũng dài ra gấp 10 và sức lạnh cũng tăng lên gấp 10 lần kia mà. Ai đã làm trái đất quay trong một điều kiện tốt đẹp như thế?
Mặt trời là nguồn sống của quả đất phải không? Mặt trời nóng khoảng 5500 độ bách phân. Quả địa cầu ở đúng một vị trí tốt đẹp không xa quá mà cũng không gần quá. Vừa vặn đủ để đón nhận sức nóng của mặt trời. Nếu sức nóng mặt trời gia tăng một chút, ta sẽ chết thiêu và ngược lại nếu sức nóng mặt trời giảm đi một chút, ta sẽ chết rét. Tại sao trái đất nằm ở điều kiện thuận lợi như vậy? Trục trái đất nghiêng theo một tà độ là 23 độ. Nếu trái đất đứng thẳng không nghiêng theo bên nào thì sẽ không có thời tiết bốn mùa. Nước sẽ bốc hơi hết về hai cực và đông thành băng giá cả.
Mặt trăng là một vệ tinh của trái đất điều khiển thủy triều biển cả. Nếu nó không cách xa trái đất 380000 cây số mà xích lại gần hơn 80000 cây số thì một cuộc hồng thủy sẽ xảy ra. Nước sẽ bị sức hút dâng lên ngập tất cả các lục địa mỗi ngày hai lần. Tóm lại tất cả mọi đời sống trên mặt địa cầu sẽ biến mất nếu các điều kiện trên sai lệch đi một ly. Nếu nói rằng đời sống chỉ là một sự ngẫu nhiên thì trong tỷ tỷ lần may ra mới có một điều kiện tốt đẹp hoàn toàn để có sự sống như thế được."
Babu yên lặng nhìn mọi người. Không ai có thể ngờ nhà chiêm tinh xứ Ấn lại có thể sang sảng chứng minh một cách khoa học và hùng biện trước một cử tọa toàn những khoa học gia nổi tiếng nhất ở Âu Châu.
Babu quay sang nhìn giáo sư Allen, một nhà sinh vật học của trường Havard:

"Nếu toán học xem có vẽ trừu tượng quá hãy thử quan sát thiên nhiên dưới cái nhìn của khoa Sinh Vật Học (Biology) xem sao:
Với khả năng sinh tồn của mọi vật, ta thấy sự hiện diện của tạo hóa rất chu đáo. Sự sống không có sức nặng hay bề đo mà mạnh mẽ làm sao? Bạn hãy nhìn một rễ cây non nớt, mềm yếu, vậy mà nó có thể soi nứt một tảng đá cứng rắn. Sự sống chinh phục không khí, đất, nước. Nó thống trị mọi nguyên tố, nó bắt buộc vật chất tan rã rồi lại kết hợp thành các hình thể mới. Sự sống là nhà điêu khắc nặn thành những hình thể mới lạ, là họa sĩ vẽ những cảnh vật thiên nhiên tô điểm cho tạo hóa. Sự sống cũng là nhạc sĩ dạy chim hót thánh thót, dạy côn trùng ngân nga, là nhà hóa học chế các hương thơm, quả ngọt. Sự sống từ các loài thảo mộc thu hút thán khí biến thành dưỡng khí nuôi muôn loài. Hãy nhìn những giọt Nguyên sinh chất (Protoplasm) trong suốt gần như vô hình, mắt ta không thể nhìn thấy mà nó di động nhờ hấp thụ sinh khí thái dương. Chính cái tế bào đơn độc này chứa mầm sống của muôn loài và là cội nguồn của toàn sự sống theo khoa học thực nghiệm. Tự nó không tạo ra sự sống vậy thì sự sống ở đâu đã đến?
Này các ông bạn, cá hồi (Salmon) sinh ra ở nước ngọt, theo dòng nước ra biển và sống ở đây cho đến khi trưởng thành rồi lại trở về nguồn. Hãy nhìn nó lội ngược dòng về sinh quán, nó bơi một mạch đâu hề phân vân lưỡng lự. Nếu ta bắt nó đem đến một chỗ khác, nó vẫn trở lại nơi xưa. Ai đã dạy cho nó phân biệt một cách chắc chắn như vậy? Loài lươn biển cũng thế, chúng rời sinh quán từ các ao hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới để bắt đầu một cuộc du hành đến tận ngoài khơi quần đảo Bermuda. Muốn đến đây một con lươn Âu Châu phải đi gần 4000 cây số, lươn Á Châu phải đi xa hơn có khi gần 8000 cây số. Chỉ tại đây chúng mới sinh sản và chết. Các con lươn con sinh ra tại đây không biết gì về sinh quán mà vẫn trở về quê hương xa xôi của cha mẹ chúng nó. Biết tìm về một cái lạch ở Pháp hay một cái hồ ở Nam Dương. Giống nào về nhà giống đó, một con lươn Pháp không bao giờ bị bắt ở Ấn Ðộ và một con lươn giống Thái Lan không bao giờ đi lạc sang Phi Châu. Ai đã ban cho loài lươn nguồn cảm kích phân biệt như thế? Ai đã hướng dẫn những con lươn bé bỏng trên đường phiêu du ngàn dặm như vậy? Chắc chắn không thể do ngẫu nhiên phải không các bạn?
Toàn thể phái đoàn kinh ngạc trước kiến thức quảng bác của nhà chiêm tinh gầy gò, bé nhỏ. Không ai ngờ một xứ chậm tiến như Ấn lại có một nhà bác học uyên thâm như vậy. Babu mỉm cười nói tiếp:
"Có lẽ các ông còn nhiều phân vân, thôi được hãy nói về yếu tố di truyền cho thực tế hơn. Yếu tố này là một mầm sống nguyên thủy rất nhỏ chứa đựng trong tất cả các tế bào. Mọi sinh vật đều có đặc điểm di truyền khác nhau. Yếu tố này cho ta thấy rõ sự sống đã được trù định từ trước vì một cái cây sẽ tạo ra một cái cây chứ không phải con vật. Từ các loại sinh vật bé nhỏ như con kiến đến các loài sinh vật to lớn như cá voi đều chịu sự chi phối của yếu tố này.

Ðiều này chắc chắn không phải ai nghĩ ra hay ngẫu nhiên phải không? Chỉ có Ðấng Sáng Tạo mới có đủ quyền năng làm các việc đó. Này các bạn, khắp nơi trong vũ trụ đâu đâu cũng có một sự quân bình tuyệt đối, không loài nào lấn át loài nào. Hãy nhìn loài côn trùng, chúng sinh sản rất nhanh mà sao không chiếm quả đất? ấy là vì chúng không có bộ phổi như loài có vú (Mamma). Vì chúng thở bằng khí quản (Trachea) và khi chúng lột xác lớn lên, khí quản không lớn lên theo nên thân thể chúng bị giới hạn trong khuôn khổ nhất định. Con người hơn loài thú ở điểm lý trí. Bản năng con thú tuy kỳ diệu nhưng bị giới hạn. Bộ óc con người tuyệt vời ở chỗ nó có thể vượt xa tầm giới hạn của nó. Muốn quan niệm sự hiện hữu của Thượng Ðế, cần phải có một năng khiếu mà chỉ loài người mới có. Ta có thể gọi nó là trí tưởng tuợng cũng được nhưng nhờ nó mà con người mới thu nhận các sự kiện vô hình, vô ảnh. Trí tưởng tượng mở cho ta một chân trời bao la và nhờ thế ta mới ý thức một thực tại tuyệt diệu rằng Thượng Ðế là tất cả, ngài ở khắp mọi nơi nhưng không ở đâu Ngài hiện rõ như trong tâm hồn chúng ta."
Toàn thể phái đoàn yên lặng, thán phục những dẫn chứng hoàn toàn khoa học và giản dị của nhà chiêm tinh. Vài giờ trước đây, ai cũng nghi ngờ khả năng của "Gã thầy bói" nhưng hiện giờ mọi người đều công nhận y là một nhà bác học với kiến thức uyên bác không thua ai.
Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi nguời và nói:
"Là khoa học gia, các ông hãy suy nghĩ về những điều tôi vừa trình bày. Hãy quan sát vũ trụ, hãy dẹp bỏ các thành kiến sẵn có và sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm rồi các ông sẽ thấy tất cả đều diễn ra trong một trật tự, mỹ lệ và điều hòa. Các ông sẽ ý thức sự bé nhỏ của con người trước vũ trụ bao la vì khoa học xây dựng trên căn bản của giác quan vốn rất giới hạn, sao có thể cảm xúc vũ trụ được? Nếu ta cứ khăng khăng cho rằng những cái gì không nghe được, không nhìn được đều không hiện hữu thì thật là một sai lầm tai hại. Có biết bao nhiêu sự kiện xảy ra mà giác quan giới hạn không thể cảm nhận cho đến một ngày nào họ khai mở các giác quan khác..."
Từ xưa đến nay khoa Chiêm tinh vẫn bị người đời hiểu lầm và diễn tả sai lạc rất nhiều. Nhờ nghiên cứu bộ sách nguyên thủy Brahma Chinta nên tôi có thể nói cho các ông biết chút ít về khoa học này với hy vọng sẽ đánh đổ phần nào thành kiến sai lầm của người Âu.
Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều mang sẵn một tài sản khác nhau đó là Nghiệp Báo. Tài sản này có thể tốt đẹp do các nguyên nhân hợp với Thiên Ý hoặc xấu xa bởi các lỗi lầm trong tiền kiếp. Tất cả nguyên nhân này đều chứa chấp trong Tàng Thức (A Lại Da thức) và trở nên một động lực chi phối đời ta. Ðộng lực này được phân phối bởi các mãnh lực trong vũ trụ một cách vô cùng phức tạp và biến thành một thứ gọi là Vũ Trụ Tuyến (Cosmic rays). Những vũ trụ tuyến này không ồ ạt ảnh hưởng đến ta ngay mà tùy theo sự thay đổi của tinh tú để phản chiếu xuống trần gian. Ðiều này rất hợp lý vì trải qua vô lượng kiếp sống, con người đã làm biết bao điều xấu xa, đâu thể nào trong vài ba kiếp mà trả hết được. Ðó cũng là lý do con người cứ trầm luân trong luân hồi sinh tử.
Chiêm tinh học nghiên cứu sự xê dịch, vận hà của tinh tú mà đoán biết được các ảnh hưởng con người trong kiếp sống này. Nhờ nghiên cứu Chiêm Tinh mà người ta hiểu rõ rằng không hề có một Ðấng Thần Linh thưởng phạt hay kiểm soát các hành động của ta. Tất cả chỉ là hậu quả của những gì do ta tạo nên và phải gánh chịu."
"Nhưng chính ông đã đề cập đến Thượng Ðế và sự hiện hữu của Ngài kia mà?" Babu bật cười:
"Các ông vẫn còn quan niệm rằng Thượng Ðế là một ông già ngồi trên cao nắm quyền sinh sát, định đoạt số phận con người - đó là một quan niệm rất ấu trĩ. Thượng Ðế cao cả hơn nhiều - Ngài sáng tạo và đặt tất cả vào một trật tự trong vũ trụ. Làm gì có việc ngài định đoạt số phận từng người như các ông nghĩ. Tất cả diễn tiến theo luật vũ trụ - nhân nào quả nấy, một lực nào cũng có một phản lực đi kèm đó là khoa vật lý chứ đâu phải gì xa lạ? Làm gì có việc số mệnh đã định sẵn, nếu thế ta cứ tiêu cực, bất động mặc cho số phận run rủi hay sao? Này các ông bạn, Chiêm Tinh Học là một khoa học thực tiễn và tiến bộ không thể có vấn đề mê tín. Lá số tử vi không có nghĩa là con người chỉ là nô lệ của quá khứ mà chỉ cho ta thấy rõ sự tuần hoàn của vũ trụ mà trong đó con người có thể thay đổi tính mạng.
Chiêm Tinh Học nghiên cứu phản ứng của con người dưới ảnh hưởng tinh tú. Các tinh tú chỉ là những khí cụ trung gian biểu lộ một cách trung thực các tác động quân bình của nghiệp quả gây nên trong quá khứ. Mỗi người sinh ra đời vào một ngày giờ mà ảnh hưởng của tinh tú hòa hợp với nghiệp quả cá nhân của y. Các vũ trụ tuyến được tinh tú phản chiếu xuống làm mạch máu di chuyển, tế bào thay đổi dĩ nhiên ảnh hưởng đến cuộc đời con người. Mặc dù con người không thể thay đổi việc đã xảy ra trong quá khứ nhưng nhờ ý chí tự do, y có thể vượt khỏi tầm ảnh hưởng này và chiến thắng ảnh hưởng tinh tú.
Tôi lấy một thí dụ như thương gia Keymakers bạn của các ông. Ðáng lý theo số mạng thì ông ta phải chết trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng vì một mầm thiện nẩy sinh, thấy chiến tranh quá ư tàn khốc ông động lòng trắc ẩn mang tài sản ra giúp đỡ rất nhiều nạn nhân chiến cuộc. Dĩ nhiên, khi đó ông ta không hề biết gì về số mạng của mình nhưng hành vi bác ái này đã tạo một phản lực mạnh mẽ thúc đẩy các vũ trụ tuyến xê dịch sang một bên và nhờ thế ông ta thoát chết. Số mạng của ông ta hoàn toàn thay đổi từ đó. Các ông hiểu rằng hoán cải số mạng không có nghĩa việc quá khứ sẽ bị xóa bỏ nhưng đáng lý một biến cố lớn sẽ xẩy ra trong kiếp này lại không xảy ra. Khi ta phát tâm làm một việc hợp với Thiên Ý thì một ảnh hưởng tinh tú bỗng chói sáng và các từ điện mạnh mẽ đẩy ngược luồng vũ trụ tuyến sang hướng khác. Do đó, con người có thể cải mệnh số dễ dàng nếu biết làm các việc tốt lành, đẹp đẽ. Dĩ nhiên, ảnh hưởng xấu không mất đi nhưng sẽ tiềm ẩn, chờ một cơ hội khác sẽ phát hiện lại. Nói một cách khoa học thì đời người có thể ví như một phương trình toán học A * B equals C. A và B là nguyên nhân và C là hậu quả nhưng nếu ta thêm vào đó một nguyên nhân X thì A * B * X sẽ không thể bằng C nữa vì đã có thêm nguyên tố X. Ðó là nguyên lý hoán cải số mạng mà tôi vừa trình bày.
Ðời người thực ra đã ghi khắc trên tinh tú nhưng các tinh tú khi sáng khi mờ và sự mờ tỏ do chính ta quyết định. Khi ta có các hành vi xấu xa nó tạo ra những động lực xấu và sẽ thu hút các điều xấu ghi khắc trên tinh tú phản chiếu xuống mau lẹ hơn. Dĩ nhiên hậu quả không thể lường. Trái lại, nếu ta ý thức điều này, phát tâm làm việc hữu ích tự nhiên phát sinh các động lực tốt đánh bật các ảnh hưởng xấu sang một bên. Nhờ nghiên cứu Chiêm Tinh Học một cách đứng đắn, khoa học, con người sẽ hiểu biết mệnh trời, biết tin tưởng ở mình và sống cuộc đời thoải mái, không bi quan, không lạc quan, an vui tự tại."
"Như thế người đi trên đường Ðạo sẽ gặp gì khi đã có nghiệp quả xấu?"
"Nghiệp quả xấu ví như một án treo, bất động - nhưng không ai có thể tránh được nó. Ðối với những người đã vào cửa Ðạo, đã hiểu biết thì họ lại cầu xin được trả quả cho lẹ. Tuy họ không gây các nhân xấu nữa nhưng họ đủ can đảm để chịu đựng nghiệp quả. Có thế họ mới rút ngắn thời gian trong sinh tử luân hồi. Hiểu biết mệnh trời để sống thoải mái chính là mục đích khoa Chiêm Tinh chân chính."
"Vạn vật trong vũ trụ dù ở cõi vô hình hay hữu hình đều được sắp hạng và phân loại theo quy mô của số 7. Tất cả mọi hình thức sinh hoạt trong dãy hành tinh hiện tại đều thuộc một trong 7 cung. Mỗi cung có 7 phân bộ hay 49 nhóm.
Toàn thể Thái Dương hệ của chúng ta đều là sự biểu lộ của Thượng Ðế, mỗi phần tử trong đó đều là một phần của Ngài. Ngoài ra có 7 vị tinh quân (Logoi) mỗi vị kiểm soát một cung. Thật ra các vị này chỉ là những trung tâm thần lực những con đường vận hà để thần lực Thượng Ðế ban rãi ra. Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với ba cõi giới Hạ Giới, Trung Giới và Thượng Giới. Thượng Ðế cũng thế. Tất cả vật chất trong Hạ Giới hợp thân thể xác của Ngài. Tất cả vật chất cõi Trung Giới hợp thành Vía của Ngài và tất cả vật chất cõi Thượng Giới hợp thành thể Trí của Ngài. Tóm lại, tất cả đều là thành phần của Thượng Ðế từ hạt bụi đến các dãy Thiên Hà. Mọi nguyên tử vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một phần của Thượng Ðế xuyên qua 7 cung - khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều tùy ảnh hưởng các cung. Khoa chiêm tinh có thể phân biệt người nào chịu ảnh hưởng cung nào tùy số lượng nguyên tử cấu tạo xuất phát từ cung liên hệ."
Babu nhìn mọi người thấy cũng có vẻ ngơ ngác. Y mỉm cười giải thích:
"Ðề tài này rất khó hiểu, thôi để tôi giải thích rộng ra vậy. Nói theo danh từ Thiên Chúa Giáo thì Bảy vị Tinh Quân (Logoi) này đã xuất hiện trong linh ảnh (Vision) của Thánh Jean. Sách Khải Huyền 4.5 nói rõ: "Có 7 ngọn đèn thắp trước Ngài, đó là 7 vị Ðại Thiên Thần của Chúa Trời." Lúc khởi thủy mọi người chúng ta đều là thành phần của Thượng Ðế nghĩa là cùng bắt nguồn từ một nơi. Sau đó, chúng ta tách rời ra xuyên qua 7 con đường vận hà này. Theo sự hiểu biết của tôi thì 7 con đường biểu lộ 7 đức tính của Thượng Ðế qua 7 vị Tinh quân: Vị thứ nhất là Thiên Thần Michael (Sức mạnh) liên hệ đến Hỏa Tinh. Vị thứ hai là Gabriel (Toàn tri) liên quan đến Thủy Tinh. Vị thứ ba là Raphael (Quyền năng) liên quan đến Thái Dương. Vị thứ tư là Uriel (Ánh sáng) liên quan đến Mặt Trăng. Vị thứ năm là Zakiel (Hảo ý) liên quan đến Mộc Tinh còn hai vị kia là Jophiel và Chamuel thì tôi không biết rõ hành tinh liên hệ.
Khoa học thực nghiệm tin rằng các hành tinh đều là sự kết hợp ngẫu nhiên của vật chất. Nếu là ngẫu nhiên tại sao chúng nằm ở các vị trí nhất định trong vũ trụ và di chuyển theo một quỹ đạo cố định? Mọi vật dường như tuân theo một định luật thiên nhiên nhưng đằng sau định luật đó luôn luôn có một sức mạnh thiêng liêng cai quản. Tôi cố gắng dùng tên các vị thiên thần và danh từ Thiên Chúa Giáo để giải thích cho các ông. Ðiều này có thể được diễn tả khác đi tùy quan niện tôn giáo, văn hóa nhưng sự thật vẫn là một. Muốn hiểu khoa Chiêm Tinh phải đi ngược về nguồn cội. Con người từ một chốn nguyên thủy ví như nước cùng một nguồn chảy theo bảy dòng suối khác nhau để ra biển. Mỗi dòng suối sẽ mang một tính chất khác nhau, do đó nước trong suối cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều.
Loài người có thể phân biệt ra 7 đức tính rõ rệt tùy theo con đường vận hà mà họ trải qua. Khoa Chiêm Tinh nghiên cứu con người và ảnh hưởng hành tinh đến các tính nết nhất định. Cũng như khoa Sinh Lý Học phân biệt con người qua tính chất nồng nhiệt, lạnh nhạt, Bạch Huyết chất hay Ða Huyết chất. Thực ra đó chỉ là các phương pháp khác nhau để trình bày tính chất con người.
Dĩ nhiên, không dễ gì tìm ra cung của mỗi người vì y đã đi sâu trong luân hồi sinh tử, tạo các nghiệp quả phức tạp và những nguyên nhân này chế ngự, ảnh hưởng đến tính tình y rất nhiều. Chỉ với sự khai mở các giác quan như Thần Nhãn hay có một kinh nghiệm sâu xa về huyền môn ta mới có thể biết rõ họ thuộc cung nào.
Nếu một người biết rõ cung của mình và tiếp tục trau dồi bản tính sẵn có thì y sẽ tiến rất nhanh vì khí cụ hữu hiệu nhất là phương pháp thuộc về cung liên hệ. Thí dụ như người có khiếu về âm nhạc lại cứ học Toán. Không phải y sẽ không tiến bộ gì nhưng nếu đi về âm nhạc y sẽ tiến nhanh hơn vì hợp với khả năng hơn. Sự hiểu biết mình là ai, có những khả năng tiềm ẩn nào sẽ giúp ta định hướng đi cho chính xác. Ðó mới là mục đích của khoa Chiêm Tinh.
Ða số con người hành động không ý thức, chịu ảnh hưởng ngoại cảnh nên luôn bất mãn, không thoải mái. Họ tự đóng kịch với chính mình hoặc sống theo một lề lối khuôn khổ không thích hợp. Trong Kinh Thánh có câu: "Nếu các ngươi không hồn nhiên như trẻ con, các ngươi không thể vào nước Thiên Ðàng". Ðiều này khuyên ta nên sống thật với chính mình. Chiêm Tinh Học có thể giúp ta biết ta là ai, thích hợp với những công việc gì? Sự nghiên cứu Chiêm Tinh như thế mới gọi là đứng đắn chứ không phải chỉ xem quá khứ, vị lai, may rủi.
"Làm sao con người có thể biết họ thích hợp với cung nào?"
"Một nhà Chiêm Tinh giỏi có thể lấy lá số tử vi để xem cá nhân liên hệ với cung nào, điều này đòi hỏi rất nhiều thời giờ, kinh nghiệm. Một phương pháp khác là hãy nhìn hành động mỗi người: Người thuộc cung 1 sẽ đạt đến mục đích bằng sức mạnh ý chí. Người thuộc cung 2 phân tích kỹ lưỡng vấn đề để lựa chọn phương pháp nào hữu hiệu nhất. Người thuộc cung 3 nghiên cứu rất kỹ về thời gian, giờ khắc thuận lợi nhất v.v... Một thí dụ khác như trong việc chữa bệnh, người thuộc cung 2 sẽ tìm hiểu nguyên nhân và phương pháp nào thích hợp nhất để chữa khi người thuộc cung 3 sẽ nghiên cứu thời gian nào thuận lợi để chữa. Người thuộc cung 6 sẽ tìm cách chữa bệnh bằng đức tin. Người thuộc cung 7 sẽ chữa bằng các nghi lễ, cúng tế v.v... Tuy nhiên, cách tốt hơn hết là tự mình, xét lấy mình. Hãy dẹp bỏ những điều mình vẫn khoác lên bản ngã như danh vọng, địa vị, ham muốn. Hãy thành thật với chính mình thì ta có thể xem được mình thuộc về cung nào. Nếu ta là người có ý chí mạnh mẽ, cương quyết làm việc trong tinh thần khoa học thì có lẽ ta thuộc cung 1. Nếu ta là người khôn khéo, thích lý luận và làm việc một cách hiệu quả thì có lẽ ta thuộc cung 2. Nếu ta là người nhạy cảm, thích hoạt động xã hội, từ thiện thì có lẽ ta thuộc cung 5. Nếu ta là người có đức tin mạnh mẽ, cẩn thận, có thể ta thuộc cung 7 v.v...
Ðề tài các cung rất khó giải thích trong một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể nói vắn tắt thôi: Cái vật chất sơ khai nguyên thủy bắt đầu tiến hóa qua 7 con đường vận hà hay 7 đức tính quan trọng. Chỉ khi nào con người phát triển toàn vẹn cả 7 đức tính này y sẽ trở nên toàn thiện. Dĩ nhiên, chúng ta đều bất toàn dù mỗi cá nhân đã nẩy nở các đức tính cần thiết căn bản.
Người Âu Tây đã khai mở rất nhiều khả năng suy luận, khoa học nhưng thiếu khả năng sùng tín, bác ái. Vì lý trí nẩy nở nhiều hơn tình cảm nên họ có vẻ thiếu thiện cảm, lạnh lùng thích chống báng thay vì dung hòa. Trong khi đó, người Á Châu phát triển mạnh về sùng tín và bác ái nhưng thiếu khả năng suy luận, để tình cảm chi phối nên họ có vẻ chịu đựng, nhượng bộ, khoan dung, dễ dãi. Cả hai đều không quân bình tuyệt đối nên trong tương lai sẽ có các biến chuyển mạnh mẽ, xáo trộn để cả hai dân tộc có dịp học hỏi, hòa hợp với nhau."
Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi trầm giọng:
"Trong cuộc đời nghiên cứu sách vở bí truyền của các tôn giáo, tôi không hề thấy có sự khác biệt giữa các giáo lý nếu không nói là giống hệt nhau. Tiếc thay, con người chỉ thích đi tìm sự khác biệt để chỉ trích, phê bình và càng ngày càng đi xa đến chỗ vô minh cùng cực."
"Nhưng các tôn giáo có khác biệt nhau chứ?"
Babu nhẹ nhàng:
"Này các bạn, mỗi quốc gia có phong tục, tập quán riêng biệt. Mỗi thời buổi đều có các thay đổi, giá trị khác nhau do đó, một chân lý cũng có thể được giảng dạy bằng các phương pháp khác nhau. Phương pháp, ngôn ngữ có thể khác nhưng chân lý vẫn là một cũng như Thượng Ðế có 7 con đường vận hà khác nhau qua bảy cung. Nguyên tử mỗi cung có các rung động khác nhau, có màu sắc khác nhau, tính chất khác nhau nhưng nó đều là nguyên tử xuất phát từ Thượng Ðế. Nếu bạn thay đổi áo mặc khác nhau thì bạn đâu có thay đổi, chiếc áo có thể khác nhưng người mặc áo vẫn chỉ là một. Nếu các ông đi ngược về cội nguồn các ông sẽ hiểu sự thay đổi từng thời kỳ qua ảnh hưởng tinh tú."
Giáo sư Allen thắc mắc:
"Xin ông giải thích thêm về việc này."
Babu trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
"Trong 7 vị Tinh Quân có những biến đổi diễn ra từng thời kỳ giống như sự tuần hoàn của hơi thở trong bộ máy hô hấp hay sự vận động của trái tim. Các sự biến đổi này diễn ra vô cùng phức tạp dưới thiên hình vạn trạng. Vì lẽ thể vía con người được cấu tạo cùng một nguyên tử với thể vía các vị Tinh Quân nên khi vị Tinh quân thay đổi tự nhiên mọi người trên thế gian cũng ít nhiều ảnh hưởng theo. Nói một cách khác, khi vị Tinh Quân cai quản một cung thay đổi thì những người đã đi qua cung đó, nguyên tử cấu tạo có chứa đựng nhiều tỷ lệ của cung đó sẽ thay đổi theo. Trong lịch trình tiến hóa, đã có những sự thay đổi trong đầu óc loài người từng thời kỳ và do đó, văn minh nhân loại cũng đổi thay. Theo sự nghiên cứu của tôi thì mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 100 năm, nhưng cứ 25 năm cuối lại có các biến chuyển gây ảnh hưởng cho chu kỳ kế tiếp.
"Như vậy thì sự biến chuyển kỳ này sẽ bắt đầu vào khoảng 1975 cho đến năm 2000 và ảnh hưởng đến thế kỷ 21?"
Babu gật đầu:
"Thật ra chu kỳ không hoàn toàn trùng hợp từng năm, từng tháng vì niên lịch thông thường không chính xác. Khoa Chiêm tinh xử dụng một thứ lịch khác theo sự vận chuyển của các tinh tú. Tuy nhiên, để giản dị hóa vấn đề này ta có thể nói rằng cứ 25 năm cuối của mỗi thế kỷ là buổi giao thời có nhiều sự thay đổi mãnh liệt."
Giáo sư Mortimer buột miệng:
"Nhưng đã có bằng chứng nào rằng cuối thế kỷ này sẽ có các thay đổi lớn?"
Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi người:
"Các ông đều là người Âu, tôi xin dẫn chứng bằng lịch sử Âu Châu cho dễ hiểu. Các ông có thể coi nó là sự trùng hợp ngẫu nhiên cũng được:
Năm 1275, Roger Bacon phát động phong trào phục hưng văn hóa rồi suốt 100 năm sau toàn thể Âu Châu đều thay đổi. Năm 1375, Christian Rosenkreuz phổ biến nền văn hóa này khắp từng lớp dân chúng đưa Âu Châu thoát khỏi nền tảng hắc ám của thời kỳ Trung Cổ. Năm 1275 và 1375 chả là 25 năm chót của thế kỷ 13 và 14 hay sao?"
Giáo sư Mortimer, một nhà bác học về Cổ ngữ và Lịch sử Âu Châu suy nghĩ:
"Quả thế, phong trào phổ thông văn hóa bằng đường lối phục hưng đã cứu nguy cho sự suy đồi của Âu Châu nhưng đó chỉ là hai trường hợp. Tôi thiết nghĩ muốn kết luận ta cần nhiều dữ kiện rõ ràng hơn."
Babu mỉm một nụ cười bí mật và xác định:
"Thế thì ông nghĩ sao về việc phát minh ra máy in, kỹ thuật ấn loát vào năm 1473? Nhờ thế tư tưởng các triết gia, giáo sĩ mới phổ thông khắp quần chúng, nâng cao dân trí Âu Châu? Ông nghĩ sao về Francis Bacon và cao trào nghiên cứu khoa học năm 1578, xử dụng Anh Ngữ thay vì Latin để phổ biến kiến thức khoa học. Có phải những việc này đã đem khoa học vào xã hội để cải thiện cuộc sống hay không? Việc này xảy ra vào 25 năm cuối của thế kỷ 15 và 16.
Phải phục hưng văn hóa, đưa Âu Châu khỏi các thành kiến bảo thủ đã rồi cải cách, phát triển khoa học để mọi người biết suy luận sau đó, mới thay đổi xã hội được chứ. Văn hóa đi trước phổ biến tư tưởng để dọn đường cho các thay đổi chính trị, xã hội về sau.
Năm 1675, các Hội kín bất đầu mọc lên kêu gọi san bằng giai cấp, dẹp tan bất công xã hội gây nên bởi chế độ Bảo Hoàng. Năm 1789, cuộc cách mạng Pháp đã bùng nổ và thay đổi hẳn lịch sử Âu Châu. Hai biến cố này đều xảy ra trong vòng 25 năm cuối của thế kỷ 17 và 18. Từ đó đến nay chắc các ông đã thấy?"
Giáo sư Mortimer toát mồ hôi trán, lịch sử Âu Châu đối với ông nào có xa lạ gì nhưng sự giải thích của Babu đã làm ông bừng tỉnh.
Toàn thể phái đoàn đều bàng hoàng khâm phục Babu. Trong một buổi chiều nhà Chiêm Tinh xứ Ấn đã hùng biện dẫn chứng về Toán Học, Sinh vật Học, Triết Học, Tôn Giáo và cả lịch sử Âu Châu như một học giả uyên bác nhất. Kiến thức của y đã chinh phục tất cả mọi người.
Giáo sư Mortimer run giọng:
"Vậy thì theo ông việc gì sẽ xảy ra cho thế kỷ 20 này?"
Babu im lặng suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
"Năm 1875 đánh dấu một bước tiến quan trọng, đó là sự phát triển khoa học văn minh cơ giới cùng thuyết "Tiến Hóa" của Darwin và phong trào Thiên Chúa giáo tự do. Từ đây bắt đầu một cuộc tranh chấp giữa tinh thần và vật chất. Có hai mãnh lực rất mạnh phát xuất từ hai bầu tinh tú đói cực gây nên phong trào Duy Tâm và Duy Vật. Thế kỷ 20 bắt đầu với sự phát triển cực thịnh của thuyết Duy Vật. Con người sẽ bị thúc đẩy vào các sự kiện vật chất, họ sẽ gặp các thử thách mà nhu cầu bao tử, khoái cảm xác thân tranh đấu với nhu cầu tâm linh một cách mãnh liệt. Ðến khoảng 25 năm cuối, từ 1975 trở đi thì phong trào Duy Tâm sẽ phát triển mạnh mẽ và được phổ biến sâu rộng để thúc đẩy sự tiến hóa tâm linh. Cuối thế kỷ 20 phong trào Duy Vật sẽ sụp đổ, hiện tượng nghiên cứu các giáo lý bí truyền sẽ bắt đầu.
Này các ông bạn, các bạn đều là những người tiền phong. Trước khi một sự phổ thông Bí Giáo được thực hiện phải có những hạt giống gieo sẵn và nẩy mầm.
Ðó là lý do các bạn được thúc đẩy để nghiên cứu các hiện tượng huyền bí Phương Ðông. Tôi không thể tiết lộ thêm điều gì nhưng qua lá số tử vi của Olivers tôi qủa quyết những điều tiên đoán đều sẽ thành sự thật.
Chắc chắn trong 25 năm cuối của thế kỷ này sẽ có nhiều thay đổi và có những cố gắng giúp cho sự tiến bộ của nhân loại, giai đoạn này rất quan trọng. Có hai loại người trên thế gian: Một loại đã thấy ánh sáng rực rỡ nơi cuối chân trời và định hướng để tiến tới đó. Dĩ nhiên, họ sẽ phải chiến đấu cam go với các cám dỗ, các hoàn cảnh bất lợi xảy ra chung quanh nhưng ở họ, hy vọng luôn luôn sáng rỡ. Hạng thứ hai không cảm xúc được các tư tưởng thanh cao, không tin tưởng những điều cao thượng. Họ là những người lạc lõng, đáng thương vì họ sẽ phải học các bài học hết sức đau khổ cho đến khi họ hiểu biết và quay đầu về phía ánh sáng. Ðiều này đã và đang xảy ra."
"Chuyện gì sẽ xảy ra cho những người không hiểu biết này?"
Babu bật cười:
"Các ông nghĩ rằng Thượng Ðế sẽ trừng phạt họ ư? Không đâu, họ sẽ phải tự học lấy những bài học trong lầm lỗi, trong đau khổ. Thí dụ như một người muốn đi từ quê lên tỉnh. Y có thể đi theo các đường lộ xây cất sẵn sàng, theo bản đồ chỉ dẫn. Nhưng có người cứ khăng khăng đi theo ý mình bất tuân theo luật lệ, đường dọn sẵn không đi, bản đồ có sẵn không thèm nhìn. Y sẽ đi vào rừng, dẫm lên gai góc, đau đớn, lạc lối lung tung sau đó mới ý thức sự ngu xuẩn của mình. Ðời là một bài học vô cùng qúy giá mà ai cũng phải học. Cõi đời đầy những vô thường, khi thế này, lúc thế khác chứ đâu êm xuôi bằng phẳng.
Babu ngưng nói đưa mắt nhìn về sông Hằng. Bên kia bờ sông là một câu lạc bộ với những ánh đèn màu cùng tiếng nhạc dập dìu. Y thở dài:
"Ðó là nơi hội họp của một hội đồng thương mại. Hội này quy tụ toàn các thương gia, các bậc thượng lưu trí thức giàu có bật nhất thành phố này. Tuần nào họ cũng hội họp ăn uống. Ða số đều đã ngoài 60 mà vẫn còn ham vui. Cơ thể họ đã suy nhược ngưng lòng hưởng thụ vật chất còn mãnh liệt. Họ tụ tập nhau để nói chuyện mưa gió, thời tiết, thú vui đời người. Không ai ý thức được rằng chỉ ít lâu nữa, ai cũng phải từ giã cõi trần. Nghe họ vui đùa, tưởng như họ có thể lột da như giống rắn để sống mãi mãi như thế."
Babu nhìn lên bầu trời đầy sao trầm ngâm:
"Mọi vật trong vũ trụ đều quân bình tuyệt đối, không dư, không thiếu, từ hạt bụi bé nhỏ đến những dãy Thiên Hà vĩ đại. Ðời người quá ngắn và luôn bị lôi cuốn vào sinh hoạt quay cuồng. Ðâu mấy ai ý thức được sự phung phí hôm nay dọn đường cho sự đau khổ ngày mai. Tất cả chỉ là những ảo ảnh chập chờn thế mà người ta cứ coi như thật. Nếu biết thức tỉnh quan sát ta có thể học hỏi biết bao điều hay. Tiếc rằng khi đắc thời người ta quên đi quá khứ rất nhanh, chỉ trong đau khổ, nhục nhã ê chề mới chịu học. Có thể đó cũng là lý do luôn luôn có các biến động vô thường, thúc dục con người học hỏi."
"Ông nghĩ rằng con người sẽ học hỏi trong đau khổ?"
Babu thở dài:
"Ðúng thế, chúng ta có tính hay quên nên cứ phải học đi học lại các bài học khổ. Chỉ khi bị khổ sở, bị đàn áp, tự do bị chà đạp con người mới quay về với niềm hy vọng cuối cùng là đức tin. Khi sung sướng ít ai nghĩ đến việc tu thân cầu giải thoát. Khi cơ thể bệnh hoạn ta mới thấy khỏe mạnh là hạnh phúc. Khi bị tù đày ta mới thấy giá trị của tự do. Tiếc rằng khi khỏi bệnh, ta không ý thức nguyên nhân đã gây nên bệnh đó mà lại tiếp tục một đời sống như trước do đó, ta cứ bị bệnh hoài.
"Nhưng con người cũng học hỏi rất nhiều và đã có tiến bộ lớn lao."
Babu ngắt lời:
"Các ông gọi như thế nào là tiến bộ? Trên phương diện vật chất con người ta đã tiến bộ chút ít so với ngững thế kỷ trước nhưng phương diện tinh thần vẫn nghèo nàn như xưa, chả tiến được chút nào, bằng cớ là họ vẫn tiếp tục các lỗi lầm quá khứ."
"Ông muốn nói đến chiến tranh ư?"
Babu im lặng nhìn lên bầu trời đầy tinh tú ngẫm nghĩ một điều gì. Toàn thể mọi người im lặng chờ dợi. Sau cùng, giáo sư Allen lên tiếng:
"Theo ông thì hòa bình có thể thực hiện một ngày gần đây không?"
Babu mỉm cười trả lời:
"Các ông nghĩ rằng với khả năng bé nhỏ của tôi mà có thể biết hết được ư? Từ khi con người có mặt trên trái đất này đã có hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác. Chiến tranh có bao giờ chấm dứt được? Thực ra chiến tranh chỉ là sự biểu lộ trạng thái bên trong chúng ta, là sự phóng đại các động tác hằng ngày của chúng ta. Sở dĩ mỗi ngày nó một trầm trọng hơn là do kết quả các hoạt động kỹ nghệ và óc sáng tạo của con người. Chiến tranh không thể chấm dứt nếu các nguyên nhân gây nên cuộc chiến vẫn còn. Nếu có một cây cổ thụ thật lớn và ta muốn chặt nó. Ta không thể leo lên vặt hết lá cây được, vặt lá này nó lại mọc lá khác phải không các bạn? Cách duy nhất là đốn tận gốc rễ. Nguyên nhân chiến tranh bắt nguồn từ các tham vọng, giận dữ, oán hận, đầu óc quốc gia, bộ lạc, tinh thần phe phái, đố kỵ, ganh ghét. v.v... Tận diệt được các thói xấu này là chấm dứt chiến tranh. Phương pháp duy nhất là làm một cuộc cách mạng trong tâm hồn. Chỉ khi nào loài người ý thức điều này và thay đổi quan niệm sống, xóa bỏ lòng thù hận thì họ sẽ thấy bình an. Tiếc rằng ai cũng chỉ nhìn thấy sự sai quấy nơi người khác nên mới có tình trạng ngày nay.
Hòa bình và thiện chí cần đi đôi với nhau nên không ai có thể thực hiện hòa bình khi lòng còn đầy oán thù, ghen ghét muốn bốc lột kẻ khác để mưu lợi cho cá nhân mình hay phe phái mình. Tất cả các hội nghị, các mưu tính để mang lại hòa bình cho nhân loại đều thất bại vì con người không chịu thực hiện hòa bình ở chính mình."
Babu mỉm cười nhìn tất cả mọi người một lúc rồi trầm giọng:
"Các ông đều biết Ðại Ðế Alexandre, người đã chinh phục thế giới. Trong việc xây dựng hòa bình cho Hy Lạp, ông đã càn quét, tiêu diệt tất cả những nước láng giềng có thể đe dọa xứ ông, rồi cứ thắng xong trận này lại phải lo đến trận khác và cuộc chiến tranh để mang lại hòa bình cứ thế kéo dài. Alexandre là một người thông minh theo học với hiền triết Aristotle.
Khi lên ngôi Hoàng Ðế ông đã tâm sự với Thầy:
"Con sẽ chiến thắng Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ."
Aristotle hỏi:
"Rồi sao nữa?"
Alexandre trả lời:
"Rồi con sẽ đem binh đánh Ba Tư nêu cao ngọn cờ Hy Lạp. Sau đó con sẽ đem quân chinh phục tất cả các quốc gia Trung Ðông."
"Rồi sao nữa?"
Alexandre suy nghĩ:
"Sau đó thì con có thể ngủ một cách bình an."
(Ghi chú: Thời đó người Hy Lạp chỉ biết đến Ấn Ðộ mà thôi chưa biết đến các nước khác ở Á Châu)
Aristotle mỉm cười:
"Con hỡi, tại sao con không ngủ bình an ngay đêm nay có hơn không?"
Babu kết luận:
"Tôi nghĩ con người cần đặt cho mình một câu hỏi tương tự. Hãy quan sát lòng mình một cách thành thật xem mình muốn gì? Chúng ta muốn bình an hay kích động? Phải chăng chúng ta đều náo nức muốn cái gì? Mỗi buổi sáng, chúng ta vội vã cầm lấy tờ báo để tìm các tin tức sôi nổi nhất. Nếu không có tin gì về chiến tranh, thiên tai, xáo trộn, khó khăn kinh tế - thì chúng ta vứt tờ báo xuống đất và than rằng chả có gì đáng xem. Có phải thế không?
Chúng ta muốn sống yên ổn, không thích xáo trộn nhưng rất thích thú nghe nói về các sự xáo trộn của kẻ khác. Chúng ta dành nhiều giờ để bàn cãi sôi nổi về người này, người nọ, chê bai ông này, diễu cợt bà kia. Phải chăng chúng ta vẫn làm thế? Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi tại sao ta lại làm thế không?
Lòng ta còn ham tiền bạc, danh vọng, địa vị, sức khỏe và chỉ cầu bình an cho chính mình thôi nên chẳng bao giờ thỏa mãn. Nếu ai có hỏi thì ta cũng sẽ chối quanh như Ðại Ðế Alexandre chỉ xin một giấc ngủ bình an mà thôi.
Giấc ngủ bình an nào có khó, nào xa xôi diệu vợi, tốn công nhọc sức mới có. Làm sao ta có thể lao đầu vào vật chất phù du, xây dựng dang vọng địa vị, thỏa mãn cái phàm ngã hữu hình hữu hoại đồng thời tìm sự bình an, êm tĩnh? Chính các điều trên đã phá vỡ sự yên tĩnh xung mãn của nội tâm ta. Phiền não là do chính ta tạo nên chứ đâu phải hoàn cảnh phải không các bạn?
Ngày hôm nay chúng ta đã nói chuyện rất lâu rồi, các bạn sẽ còn trải qua một hành trình dài, gặp gỡ nhiều bậc danh sư, hiền triết. Tôi chúc các bạn tìm được niềm an tĩnh của tâm hồn."
Babu mỉm cười dơ tay tiễn khách, vầng trăng đã lên cao, lấp loáng phản chiếu trên sông Hằng.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Văn hóa tín ngưỡng phồn thực trong đền Khajuraho

Ở Ấn Độ, ngôi đền có kiến trúc độc đáo với những hình vẽ chạm khắc cảnh “quan hệ” nam nữ được xây dựng trong gần hai thế kỷ và đã tồn tại hơn 1000 năm qua.



Đền Khajuraho ban đầu là nơi quy tụ của gần 100 ngôi đền nhỏ được xây bằng đá sa thạch và có kiến trúc vô cùng lộng lẫy, tại một thị trấn nhỏ của bang Mahhya Pradesh ở miền Trung Ấn Độ. Theo sự tàn phá của thời gian, hiện tại nơi đây chỉ còn sót lại khoảng hơn 20 ngôi đền.

Nằm trải dài trên diện tích khoảng 20 km vuông, nơi đây từng là một đô thị phồn hoa, tráng lệ và là thủ phủ của đế chế Chandela giàu mạnh. Sau đó một thời gian, ngôi đền dần bị trôi vào quên lãng và bị bao phủ bởi cây cối, rừng rậm. Mãi đến vài thế kỷ sau, ngôi đền mới được thực dân Anh phát hiện ra. Vật liệu chính để xây dựng ngôi đền là đá sa thạch. Điều đặc biệt, các kiến trúc sư đã không dùng đến vữa khi xây đền. Tất cả các phiến đá được gắn chặt với nhau bởi các lỗ mộng và lực hấp dẫn đã liên kết chúng chặt chẽ lại với nhau.


 Điều nổi bật nhất là các bức tượng, hình vẽ được chạm khắc trong các ngôi đền Khajuraho cũng là những kiệt tác nghệ thuật vô cùng quý giá. Nó thể hiện một nét văn hóa phồn thực của người xưa. Phần lớn, chúng khắc họa các khung cảnh sinh hoạt của người dân dưới thời đại đế chế Chandela, từ cảnh cuộc sống xa hoa của vua chúa, các nữ thần và cả người dân thường.


 Những cụm tượng mô phỏng cảnh hưởng thụ hoan lạc, quan hệ nam nữ trong nhiều tư thế, thậm chí có cả những bức tượng chạm khắc người thứ ba đang nhìn trộm. Nhưng tất cả đều mang tính biểu cảm, nhẹ nhàng với lối khắc họa đầy nghệ thuật chứ không diễn tả một cách thô tục. Bên cạnh đó, một số ngôi đền còn có hai lớp tường và được chạm khắc những hình thù nhỏ về đời sống tình dục.



 Người ta đưa ra rất nhiều lời giải thích, cho việc khắc họa những hình ảnh nhạy cảm này lên ngôi đền thờ các vị thần. Có giải thích cho rằng, nơi đây từng là đất sinh sống của một giáo phái Hindu. Giáo phái này thường thờ cúng những biểu tượng thể xác và lạc thú trong đời. Cũng có lý giải khác cho rằng, việc khắc họa hình ảnh này là cách để con người tu tâm dưỡng tính tránh được những cám dỗ trong cuộc đời.

Kiến trúc đền thờ Hindu giáo



 “Ấn Độ là xứ sở của tôn giáo, tôn giáo của tăng lữ,

đồng thời là tôn giáo của vũ nữ” *


Thời cổ đại
Các sử gia nói đền Hindu đã không tồn tại trong thời kỳ Vê Đa (1500 – 500 trước Công nguyên). Những phần còn lại của cấu trúc ngôi đền đầu tiên được phát hiện ở Surkh Kotal, một nơi ở Afghanistan bởi một nhà khảo cổ học người Pháp vào năm 1951. Nó đã không dành riêng để thờ cúng cho một vị thần nhưng lại dành để thờ cúng vua Kanishka (127-151)
Các cấu trúc ngôi đền đầu tiên không được làm bằng đá hoặc gạch. Trong thời cổ đại, đền thờ công cộng hoặc cộng đồng đã có thể làm bằng đất sét với mái lá được làm bằng rơm hoặc lá. Đá chỉ trở thành vật liệu được ưa thích trong những giai đoạn xây dựng sau này, hình thức ban đầu là những những đền thờ khắc sâu vào trong đá tạo thành các hang động – đền thờ,  là hình thức kiến trúc đục ngầm trong đá  (rock-built hoặc rock-cut).

The Undavalli Caves

Thời trung đại. Phù điêu và thần tượng đã được tìm thấy trong khoảng thế kỷ thứ II và III, nhưng không có một kiến trúc đền thờ nào còn sót lại.  Các học giả đưa ra giả thuyết rằng những ngôi đền cổ của Hindu giáo được mô phỏng theo cấu trúc một ngôi nhà của cư dân bản địa, hoặc một cung điện.  Những ý tưởng thiết kế và xây dựng đền thờ Hindu giáo giai đoạn này được cho là lấy hình mẫu từ những đền thờ của đạo Jain và Phật giáo,  nhưng sau đó đã có sự phát triển và tiến hóa mạnh mẽ trong cuộc cạnh tranh của các tôn giáo với nhau.
Đặc điểm các phong cách kiến trúc
Phong cách Nagara
Còn gọi là phong cách Bắc Ấn, hình thành từ thế kỷ thứ IX, mái đền có cấu trúc hình dáng những đường cong mềm vươn lên, trên đặt cái mũ hình lẳng bẹt, có một tháp cao gọi là Shikhara; công trình không có sân, đặt đơn độc trên những khu đất trống, bao gồm mặt bằng môn sảnh, thần đường, phòng cầu phúc đều có hình dáng vuông. Phong cách Nagara được xây theo lối hướng thượng, các tháp cao dần đều từ cổng vào đến tháp chính.

Đền thờ Kandariya Mahadeo, Khajuraho
Phong cách Dravida
Còn gọi là phong cách Nam Ấn, hình thành từ thế kỷ thứ XI đến thể ký XVIII mái đền có cấu trúc hình kim tự tháp đỉnh bằng, đặt trong những tường bao nhiều lớp hình thành các sân trong, tháp cổng cao lớn gọi là Gopura. Kiến trúc Nam Ấn có tính truyền cảm mãnh liệt, nhiều mái tháp cao đến 50-60m, tổ hợp bởi những đường thẳng khúc chiết, vươn lên sừng sững, khiến cho tổng thể công trình rất có sức mạnh, mang tính chất hướng về trung tâm.
Đền thờ mang phong cách Dravidian cơ bản có 4 phần, có thể thêm bớt tùy theo điều kiện từng vùng và từng giai đoạn lịch sử: (1) chính điện được gọi là Vimana (2) Các cửa hoặc Mandapas (3) Cổng – kim tự tháp, gọi là Gopurams (4) Hội trường, Chawadis. Bên cạnh đó, một ngôi đền luôn có hồ nước hoặc giếng nước, sử dụng cho các mục đích thiêng liêng, hay phục vụ sinh hoạt cho các tu sĩ.


Đền thờ Meenakshi Amman
Phong cách Vasara
Còn gọi là phong cách Trung Ấn, phát triển ở cao nguyên Decan.Đây là tên được đặt cho một phong cách kiến trúc phát triển trong những thế kỷ thời trung cổ và kết hợp cả hai phong cách Nagara và phong cách Dravida.
Phong cách này làm giảm chiều cao của các tầng riêng biệt mà không làm giảm số lượng của các tầng. Các cấu trúc hình bán nguyệt của Phật giáo cũng được kết hợp trong một số các ngôi đền của phong cách này. Các ngôi đền của Halebid, Belur, Somanathapura và Pattadakal là một số ví dụ về phong cách này.

Đền thờ Halebidu
Kiến trúc cơ bản của một ngôi đền Hindu giáo
Cấu trúc đền Hindu hầu như giống nhau trên khắp đất nước Ấn Độ. Mặc dù có thể có thêm bớt một số công trình phụ khác nhau theo ảnh hưởng của từng vùng đất, do khả năng tài chính của từng ngôi đền, thỉnh thoảng là do ảnh hưởng chính trị. Chẳng hạn, trong chính điện có thể có cùng lúc hai pho tượng (một tượng thật, một phiên bản) hoặc những bức tường cao xung quanh các ngôi đền ở Nam Ấn ban đầu là để bảo vệ đền trước những người Hồi giáo xâm lăng, về sau trở thành đặc trưng cho phong cách kiến trúc Nam Ấn.
Người Hindu cúng bái không theo nhóm, chủ yếu là cúng riêng, trừ những dịp lễ đặc biệt. Vì vậy cấu trúc đền thờ dựa theo nguyên tắc chỉ có một chính điện nhỏ gọi là Garbha Griha (phần A trong sơ đồ), nơi đặt tượng thần. Có một lối đi xung quanh chính điện này. Đây là trung tâm của ngôi đền, trên đó thường là mái vòm tròn hoặc mái xoắn ốc, trừ những ngôi đền Nam Ấn, mái xoắn thường ở ngay lối vào. Sau khi cầu kinh, nhất thiết phải đi xung quanh chính điện, cho nên lối đi xung quanh tượng thần là phần cốt yếu trong cấu trúc ngôi đền.
Có một lối đi nhỏ gọi là antrala (B) nối giữa chính điện và mandapa (C), tức là sảnh lớn với những hàng cột, nơi các tín đồ tập hợp để cầu cúng. Những cái cột phần lớn bằng cẩm thạch trên đó chạm khắc hình những nữ thần, những tiểu thần, những hoạt động trong đời sống của các vị thần chính, thỉnh thoảng là cảnh trong những thiên trường ca.

Sơ đồ cấu trúc cơ bản một đền thờ HIndu giáo
Ở một số ngôi đền hình chạm khắc thường xuất hiện trên rất nhiều cột đá cẩm thạch và trên bề mặt các bức tường bên ngoài đền. Cổng vào đền gọi là ardha mandapa (D). Những ngôi đền lớn còn có những khu vực gọi là maha mandapa (E) và kalyana mandapa (F) tăng thêm chỗ cho nhiều tín đồ trong dịp lễ hội.

Sự khác biệt giữa phong cách kiến trúc Nam Ấn và Bắc Ấn
Thiết kế
Đền thờ Hindu được thiết kế theo hình học gọi là Vastu-Purusha-Mandala.  Mandala có nghĩa là những đồ hình có dạng đối xứng, cân đối quanh một trục trung tâm, như hình vuông và hình tròn. Purusha là bản chất phổ quát ở cốt lõi của Hindu giáo truyền thống, nghĩa là linh hồn vũ trụ – đại ngã, trong khi vastu nghĩa cấu trúc nhà ở. Các thiết kế đưa ra một ngôi đền Hindu trong một cấu trúc tự lặp đi lặp lại đối xứng bắt nguồn từ niềm tin trung ương, thần thoại, hài hòa và nguyên tắc toán học.

Hình đồ Vastu-Purusha-Mandala
Bốn hướng chính giúp tạo ra các trục của một ngôi đền Hindu, xung quanh hình thành một hình vuông hoàn hảo trong không gian có sẵn. Các vòng tròn của Mandala tạo thành quảng trường. Hình vòng tròn được lấy ý tưởng từ những gì con người quan sát trong cuộc sống hàng ngày (mặt trăng, mặt trời, chân trời, giọt nước, cầu vồng). Các hình vuông được chia thành những ô vuông nhỏ gọi là padas (thường có 64, hoặc 81 ô vuông). Mỗi padas là khái niệm được gán cho một nguyên tố tượng trưng, ​​đôi khi là một vị thần. Trung tâm của hình vuông dành riêng cho Brahman, và được gọi là Brahma padas.
Các ngôi đền có cửa hướng về phía mặt trời mọc, và lối vào cho các tín đồ cũng thường là phía đông, một số ngôi đền Nam Ấn có cửa vào phía Nam.
Bên dưới Mandala là Garbha-Griya, một khoảng không gian khép kín, hình vuông, không cửa sổ. Trong không gian này thường là một Murti – tượng thần. Đây là Murti của các vị thần chính, và điều này thay đổi tùy theo mỗi ngôi đền.
Phía trên Vastu-Purusha-Mandala là một cấu trúc thượng tầng với một mái vòm gọi Shikhara ở phía Bắc Ấn Độ, và Vimana ở miền Nam Ấn Độ. Đôi khi, trong những ngôi đền tạm, mái vòm có thể được thay thế bằng tre. Mái vòm dạng chóp tròn hoặc mái vòm được thiết kế như một kim tự tháp, hình nón hoặc hình dáng núi. Các học giả cho rằng hình dạng này được lấy cảm hứng từ ngọn núi vũ trụ của Meru hay đỉnh núi Kailash của Himalaya, nơi các vị thần ngự trị.
Ngôi đền lớn có đại sảnh với hàng cột gọi là Mandapa phục vụ như phòng chờ cho khách hành hương và tín đồ. Các mandapa có thể là một cấu trúc riêng biệt trong các đền thờ cũ, nhưng trong ngôi đền mới hơn không gian này được tích hợp vào cấu trúc thượng tầng đền thờ. Những ngọn tháp có nhiều kiểu dáng và hình dạng, nhưng tất cả đều có độ chính xác toán học và các biểu tượng hình học, chủ đề và nguyên tắc thường thấy là hình tròn và hình vuông.
Những bức tường của đền thờ được trang trí trực quan với nghệ thuật chạm khắc, tranh vẽ hoặc hình ảnh để truyền cảm hứng cho các tín đồ. Các trụ cột, tường và trần nhà thường cũng có chạm khắc rất công phu. Những hình ảnh này xuất xứ từ những sử thi của người Ấn Độ, những câu chuyện thần thoại Veda về đúng và sai, đức hạnh và ngược lại. Họ là những vị thần, hay những vị anh hùng.
Đôi khi, những tác phẩm điêu khắc trên các bức tường bên ngoài đền thờ miêu tả cảnh quan hệ tình dục, như ở đền thờ Khajuraho, thể hiện triết lý của đạo Hindu về sự phân cách mong manh giữa thiêng liêng và phàm tục, không gian bên trong (thiêng liêng) và bên ngoài đền thờ (phàm tục) chỉ ngăn cách nhau bởi một bước chân.
Một bức điêu khắc trên tường bên ngoài đền thờ Khajuraho, 

mô tả cảnh quan hệ tình dục tập thể


Một ngôi đền Hindu điển hình là nơi thể hiện sự đa dạng và phong phú của nghệ thuật tạo hình Ấn Độ – từ những bức tranh điêu khắc, từ các biểu tượng tượng trưng để chạm khắc, cho đến cách bố trí chu đáo của không gian để phản ánh sự tổng hợp của các nguyên tắc toán học với tinh thần Hindu.
Văn bản tiếng Phạn cổ phân loại thần tượng và hình ảnh trang trí trong đền thờ theo nhiều cách. Ví dụ, một trong những phương pháp phân loại theo hình thức:
– Chitra – hình ảnh có 3 chiều và hình thành hoàn chỉnh, tức là những bức tượng tròn.
– Chitrardha – hình ảnh được khắc trên mặt phẳng, những bức phù điêu.
– Chitrabhasa – hình ảnh có 2 chiều như những bức tranh trên tường và các loại vải vóc.
Một cách khác để phân loại là bởi tình trạng biểu cảm của hình ảnh:
– Raudra hoặc ugra – là những hình ảnh mang ý nghĩa sợ hãi. Những vị thần thường mắt tròn, mang vũ khí, đem những vòng trang sức bằng hộp sọ và xương. Những vị thần này được thờ cúng bởi những người lính trong chiến tranh, trước khi ra trận, hoặc những người trong những lúc đau khổ hay có lỗi. Đền thờ loại này không được thiết lập bên trong làng và thị trấn, chúng được xây dựng bên ngoài và ở các khu vực xa xôi.

Nữ thần Durga giết quỷ Mahishasu
– Shanta và saumya – là những hình ảnh yên tĩnh, thái bình và diễn đạt tình yêu, lòng từ bi, lòng tốt và đức tính tốt đẹp khác trong đền thờ Hindu. Những hình ảnh này sẽ mang biểu tượng của hòa bình, kiến thức, âm nhạc, sự giàu có, hoa, gợi cảm…. Ở Ấn Độ cổ đại, những ngôi đền này là yếu tố nổi bật trong làng và thị trấn.

Nữ thần Lakshmi mangd đến tài lộc
Đặc điểm của kiến trúc đền thờ Hindu giáo
Sự tượng trưng của trung tâm và phương hướng.
Đền thờ Hindu xuất hiện muộn hơn kiến trúc Phật giáo, do thời kỳ đầu của tôn giáo này là sát sinh tế lễ, làm các dàn tế là chính, nguyên nhân thứ hai là do các đoàn thể tôn giáo Hindu thành lập muộn, đến thế kỷ thứ IX mới xuất hiện.
Đặc điểm của hình thức mái là giống như đỉnh núi Meru, là dạng Nagara ở phía Bắc hay dạng Doravida ở phía Nam. Núi Meru là nơi ở của thần quyền Hindu giáo, được coi là trung tâm của vũ trụ, vì thế việc biểu hiện trung tâm là chủ thể quan trọng nhất của đền thờ Hindu giáo.
Phần ngoài của các ngôi đền hình đỉnh núi được trang trí rất phức tạp, đa phần thể hiện tinh thần ham muốn nhục dục, điều đó phụ thuộc vào tâm lý hảo phồn của người Ấn Độ. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho rằng sự nhấn mạnh tính biểu trưng của núi Meru mới là quan trọng nhất.

Đền thờ Arunachaleshwara, Tiruvannamalai
Hình thức mái (tường ngoài) của đền thường có gấp khúc để chứa đựng được nhiều hình điêu khắc hơn, hình thức này gọi là Ratha. Trong khi đó, mái đền (Shikhara) thì được thu dần về phía trên , tạo cảm giác động thái mãnh liệt để nhấn mạnh ngôi đền mang ý nghĩa tượng trưng là trung tâm vũ trụ. Ý nghĩa tượng trưng này sau này còn được gắn vào  một dạng tháp cổng lớn có tên là Gopura của các ngôi đền Nam Ấn.
Ví dụ tiêu biểu cho sự biểu tượng trung tâm của đền đài Ấn Độ là ngôi đền Kandariya Mahadeva ở Khajuraho. Ngôi đền này có hình thức mái vươn mạnh mẽ và kết thúc bằng một phần đỉnh gọi là bảo tháp.
Chủ đề trung tâm không chỉ thể hiện ở ngoại thất mà còn thể hiện ở nội thất. Các mặt thất nhỏ để cúng các vị thần luôn chiếm các vị trí quan trọng. Phần quan trọng nhất trong một ngôi đền Hindu là chánh điện Garbhagriha. Căn phòng được xây dựng ở ngay chính trung tâm ngôi đền với rất ít cửa sổ, trong đó đặt biểu tượng của vị thần mà ngôi đền thờ phụng. Ví dụ: trong ngôi đền của thần Shiva, thường đặt Linga cho biểu tượng của vị thần này. Năng lượng tuôn trào từ chánh điện.  Ba cửa của căn phòng chỉ là cửa giả để nguồn năng lượng của thần linh được lưu giữ trong Garbhagriha. Kiểu xây dựng này cũng phản ánh cho toàn bộ phần bao quanh ngôi đền.
Các đền thờ Hindu khi xây dựng đều tuân thủ nghiêm ngặt cấu trúc hình khối như kiểu Mandala thị Hindu giáo thường được quy hoạch theo một trật tự nhất định với đồ hình vuông. Mandala/Mạn-đà-la trong tư tưởng Ấn Độ là một đồ hình huyền thuật tượng trưng cho vũ trụ, hoặc vuông hoặc tròn đồng tâm tượng trưng cho vị trí trung tâm. Bình đồ bố cục hình vuông của ngôi đền Ấn Độ giáo dựa trên đồ hình này mà hình thành gọi là Vatsupurusa-mandala/Mạn-đà-la của hiện thể con người vũ tru (Kramrisch 1978: 46-50; Michell 1988: 71-3, fig. 28). Ngôi đền Prambanan ở Indonesia được kiến thiết rất cẩn trọng bởi các kiến trúc sư tài ba dựa trên quy hoạch chính của một đồ hình Mandala mà sau này thường thấy trong Phật giáo Mật Tông. Theo những luận thuyết Ấn cổ, các kiến trúc đền đài, nhà ở, đô thị Hindu giáo thường được quy hoạch theo một trật tự nhất định với đồ hình vuông.
Tính phương hướng của đền thờ Hindu giáo có hai cách thể hiện: cách thứ nhất là biểu hiện ở bố trí cửa đền ở hướng Đông, cửa của sự sống.  Cửa hướng đông là cửa mở duy nhất, ba cửa còn lại của mỗi ngôi đền đều được bít kín, gọi là cửa dụ, vì người Hindu giáo quan niệm rằng cửa mở chỉ dành cho người phàm, còn thần linh có phép thần thông sẽ ra vào các cửa dụ. Lối vào từ hướng Đông là dành cho hầu hết các thần. Lựa chọn thứ hai là các hướng khác ngoại trừ hướng Nam. Tuy nhiên những thần như Shree Kali Mata và Shree Hanuman lại thíc quay về hướng Nam.  Người dân Ấn Độ tin rằng 4 hướng được canh giữ bởi 4 vị thần:
1) Shree Indra ở hướng Đông : vua của các vị thần

2) Shree Varuna ở hướng Tây: thần mưa, nước
3) Shree Kubera ở hướng Bắc: thần của cải
4) Shree Yama ở hướng Nam: thần chết chóc.

Đền thờ mỗi vị thần khác nhau sẽ quay về những hướng khác nhau tùy theo mục đích sử dụng. Cách thứ hai là phần bên trong các Garbhagriha bao giờ cũng có một hành lang dành cho “nghi thức xoay phải”, người đến thăm đền sẽ di chuyển dọc các hành lang theo chiều kim đồng hồ.
Quan niệm chính và phụ, âm và dương.
Kiến trúc “tạc đá” của Ấn Độ có hai loại chính là “kiến trúc động đá” (kiến trúc đục ngầm trong đá” và”kiến trúc đá tảng”.
“Kiến trúc đá tảng” là kiến trúc tạo thành từ việc tạo khắc các khối đá khổng lồ, kiến trúc đá tảng thường chỉ có không gian bên ngoài, không có không gian bên trong hay có một phần rất ít. Ví dụ tác phẩm “Chiến xa” ở Mamallapuram, một tác phẩm kiến trúc tạc đá nổi tiếng  khác là đền thờ số 16 Kailasa Shiva thuộc quần thể động đá Ellora (756-773 sau CN), cách thi công đền thờ này  là đầu tiên người ta tạc phần ngoài  của tảng đá lớn trên một vách núi, sau đó mới tạc không gian bên trong nó.
Về quan niệm, kiến trúc động đá và kiến trúc đá tảng là bộc lộ hình thức kiến trúc “chính”, “phụ”. Kiến trúc động đá bộ lộ quan niệm “phụ”(âm) vào không gian kiến trúc, còn kiến trúc đá tảng bộc lộ quan niệm “chính” (dương) vào thực thể kiến trúc.
Quan niệm âm dương còn thể hiện qua kiến trúc của một đền thờ. Đền thờ Nagara có hình dạng như 1 nữ thần đang ngồi và phần chính điện thờ “linga” cũng chính là “yoni” của nữ thần. Lối kiến trúc này thể hiện sự hòa hợp về âm dương giữa thần Shiva và vợ  nữ thần Kali.

Quan điểm âm – dương trong kiến trúc đền thờ Hindu giáo
Ở đền thờ Nam Ấn, kiến trúc lại có hình dạng của 1 vị thần đang nằm nếu nhìn nghiêng và có dạng Mandala hình vuông khi nhìn từ trên xuống. Chân thần tượng trưng cho những tháp cổng Gopuram và qua chiếc cổng  đó, đi dần vào bên trong sẽ là trung tâm Mandala, chính điện Kalasha.
Hình ảnh tượng trưng của nước và bậc cấp
Nước có ý nghĩa quan trọng đối với một đất nước có khí hậu nóng nực và oi bức. Tầm quan trọng của nước đã ăn sâu vào tư tưởng cũng như tôn giáo Ấn Độ. Ý nghĩa của nước chính là nguồn gốc của sinh mệnh. Do đó, giếng nước đóng vai trò quan trọng trong làng quê Ấn Độ, giếng nước có ở đền thờ đạo Hindu, đạo Hồi, cung điện hay pháo đài, thành quách. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng  nói đến văn hóa Ấn Độ mà không nói đến giếng nước hay hồ nước là một thiếu sót thật sự. Vì vậy, những hồ chứ  nước thường được tìm thấy trong các đền thờ Hindu. Nguồn nước được cho là nước thánh từ sông Hằng được sử dụng đề thanh tẩy hoặc dùng trong những nghi lễ hiến tế.
Bậc cấp trong đền thờ Nagara cũng là một yếu tố quan trọng khác của văn hóa kiến trúc  Ấn Độ. Muốn vào được bên trong đền thờ phải vượt qua những bậc cấp này, thể hiện tinh thần hướng thượng. Kiểu kiến trúc lộ thiên này rất gắn bó với đời sống của người Ấn  Độ, họ thường ngồi nghỉ hoặc ngủ trên kiến trúc lộ thiên này. Bậc cấp tại bến phà sông Hằng ở Varanaxi là một ví dụ, ở đó người ta tắm rửa, trừ tà, nghỉ ngơi, giao lưu, hỏa táng, tồn tại, đó là nơi giao tiếp công cộng quan trọng.
Đền thờ Nam Ấn cũng có bể tắm nghi lễ hoặc hồ bơi, có thể có mái vòm rộng, được bao quanh bởi tường và tháp cổng gopura. Những kiến trúc vòng ngoài này thường trở nên mở rộng và hùng vĩ hơn theo thời gian, thậm chí to hơn cả kiến trúc bản thân ngôi đền. Những đặc điểm này hiện còn tồn tại trong ngôi đền Brihadishvara ở Tanjavur.
Ở Ấn Độ, các yếu tố gắn bó với tập quán sống và môi trường sống đều được coi là quan trọng, mang tính chất đa năng và đồng nhất với văn hóa. Yếu tố nước như vậy đã tạo thành tính cách của văn hóa kiến trúc Ấn Độ.
Kết luận
Các tôn giáo đều là nguồn gốc tạo nên các biểu hiện của nghệ thuật với mục đích là tỏ lòng thành kính với các vị thần. Các tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất trong kiến trúc Hindu giáo đều thể hiện sự hòa hợp giữ thiêng liêng và trần tục, giữ con người và thần linh.
Đền thờ Hindu phản ánh các lĩnh vực nghệ thuật, các bổn phận, niềm tin, giá trị và cách sống của những người theo đạo Hindu. Đó là sự liên kết giữa con người, thần thánh, và Vũ trụ Purusa.
Cấu trúc “Parama Sayika” ,9×9 (81), được tìm thấy ở hầu hết những ngôi đền Hindu tế lễ rộng lớn. Theo cấu trúc hình học này, mỗi vòng tròn đồng tâm mang 1 ý nghĩa khác nhau. Lớp ngoài cùng, Paisachika tượng trưng cho Asura và cái ác; lớp tiếp theo là Devika tượng trưng cho Deva và cái thiện. Giữa lớp thiện và ác là Munusha tượng trưng cho đời sống con người. Tất cả những lớp đó bao quanh vòng Brahma, tượng trưng cho năng lượng sáng tạo. Trung tâm vòng tròn là Grabhgriya tượng trưng cho nguồn gốc của vạn vật trong vũ trụ.
Trong các văn bản cổ xưa của Ấn Độ, đền là nơi để hành hương – Tirtha. Ngôi đền chứa đựng những giáo lý của đạo Hindu, đồng thời thể hiện toàn bộ những nhân tố tự nhiên giúp tạo ra và duy trì cuộc sống – từ lửa đến nước, từ những hình tượng thiên nhiên đến các vị thần, từ nữ tới nam, âm thanh, mùi vị cho đến hư vô.
Susan Lewandowski nhấn mạnh rằng yếu tố cơ bản trong một đền thờ Hindu được xây dựng trên niềm tin rằng vạn vật đều là một, chúng có sự kết nối với nhau. Một cuộc hành hương được thực hiện trong một không gian theo cấu trúc toán học cấu trúc 64, 81, một tập hợp đầy nghệ thuật của những cột trụ được điêu khắc và những bức tượng được trưng bày và tôn vinh 4 mục tiêu đời sống: Artha (của cải), Kama (Ái dục), Dharma (bổn phận), Moksha (giải thoát).
Ở giữa đền, thông thường là bên dưới hay bên trên và có khi là bên cạnh các vị thần, có một khoảng trống tượng trưng cho Purusa, “nguồn gốc tối cao” (Supreme Principle), đó là vũ trụ linh thiêng, không hình dạng, tượng trưng cho mọi nơi, kết nối mọi thứ, và là bản chất của mọi người. Một ngôi đền có ý nghĩa trong việc giúp những người mộ đạo thấy được bản thân của mình, thanh tẩy tâm trí và hình thành quá trình nhận thức của họ. Các vị thần trong từng ngôi đền khác nhau phản ánh những khía cạnh tinh thần khác nhau. Đó là nơi để những người theo đạo Hindu giải phóng tâm trí của họ và tập trung vào những thế lực tâm linh bên trong ngôi đền.
Theo truyền thống Hindu, không có ranh giới giữa cái phàm và cái thiêng. Chính vì vậy, đền thờ Hindu không chỉ là những nơi linh thiêng mà còn là nơi thế tục. Ngoài cuộc sống tinh thần, ý nghĩa và mục đích đền thờ Hindu còn được thể hiện trong những nghi lễ xã hội và cuộc sống hằng ngày, vì vậy chúng có chức năng xã hôi. Đền còn là nơi để tổ chức lễ hội, những tiết mục nghệ thuật như ca hát, nhảy múa, lễ kết hôn, sinh nhật, tang ma, những sự kiện quan trọng trong đời người. Ngoài ra nó còn là nơi chứng kiến sự kế vị của các triều đại và các vùng lãnh thổ cùng với sự phát triển kinh tế của những triều đại đó.
Những ngôi đền Hindu đóng vai trò hạt nhân trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, nghệ thuật và tri thức trong suốt thời kỳ cổ-trung đại ở Ấn Độ. Burton Stein nói rằng những ngôi đền Nam Ấn nắm giữ chức năng phát triển vùng, như là hệ thống tưới tiêu, khai hoang đất và khắc phục hậu quả sau thiên tai. Những hoạt động này được trả bằng đóng góp của những người mộ đạo. Những ngôi đền này có một lượng lớn tài sản, chúng còn có chức năng như những ngân hàng.
Ngày nay, khi những người di cư và những cư dân Do Thái từ Nam Á xây dựng một đền thờ Hindu, họ cũng đã góp phần tạo dựng một cộng đồng xã hội, giúp làm giảm những định kiến, đồng thời xây dựng quyền công dân cho vùng đất này.Kiến trúc truyền thống Ấn Độ đã để lại nhiều bài học lớn cho thế hệ sau, nhất là các kiến trúc sư đương đại Ấn Độ.
Có nhiều vấn đề đặt ra cho thấy nền kiến trúc cổ đại Ấn Độ có thể tạo tiền đề cho việc tìm ra một cái cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, như vấn đề cộng sinh đa nguyên và vấn đề hình học trong kiến trúc. Việc ứng dụng quan niệm trung tâm và phương hướng, việc gợi lại những triết lý về nước trong đời sống Ấn Độ, việc gợi lại sơ đồ hình học Mandala không chỉ thấy trong nhiều tác phẩm kiến trúc mà còn thấy trong nhiều các mặt bằng đô thị.
(theo Lạc Hoa Viên)