Hiển thị các bài đăng có nhãn Liêu Trai Chí Dị Thập Di. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Liêu Trai Chí Dị Thập Di. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2022

MỤC LỤC - Liêu Trai Chí Dị Thập Di

  MỤC LỤC - Liêu Trai  Chí Dị Thập Di

Tác giả : Bồ Tùng Linh
Dịch giả : Cao Tự Thanh

Liêu Trai Chí Dị Thập Di (1-10)

 


Liêu Trai Chí Dị Thập Di 

01. Hoàng Tịnh Nam (Hoàng Tịnh Nam)

Hoàng Tịnh Nam lúc được trưng tập, cùng hai người Hiếu liêm lên kinh. Trên đường gặp một tên cướp khét tiếng, hai người Hiếu liêm sợ, quỳ rạp đưa tiền bạc ra. Hoàng tức giận, tay không tấc sắt nhưng lấy hai tay ôm chân y nhấc lên ném ra, tên cướp không kịp đề phòng bị ngã cả người lẫn ngựa. Hoàng sấn vào đánh y gãy cánh tay, lục túi y lấy hết tiền bạc rồi đuổi đi. Hai người Hiếu liêm phục Hoàng khỏe mạnh, giúp tiền khuyên nên tùng quân. Sau Hoàng lập được kỳ công, làm quan tới chức Tướng quân.


02. Răn Quỷ (Dụ Quỷ)


Lúc Thượng thư Thạch Mậu Hoa ở Thanh Châu còn là Chư sinh, ngoài cổng quận thành có cái vực lớn, không có mưa cũng không cạn. Trong hạt bắt được mấy mươi tên cướp lớn, xử tử trên bờ vực, ma quỷ tụ họp ở đó phá phách, người đi qua cứ bị kéo xuống vực. Một hôm, có Mỗ đang gặp nguy cấp, chợt bọn quỷ bỏ chạy tán loạn, nói "Thạch Thượng thư tới đấy!". Không bao lâu thì ông đi tới, Mỗ kể lại chuyện, ông lấy hòn than viết lên vách đá rằng "Thạch Mỗ ra điều cấm như sau: Xét vì suy nghĩ vô lương, đến nỗi chuốc cơn sấm sét, mưu toan bất pháp, cho nên chịu tội búa rìu. Chỉ nên bỏ lòng quỷ ý ma, lo điều sám hối, ngõ hòng rửa xương tàn cốt nát, thoát cảnh trầm luân. Các ngươi sống chịu cực hình, chết còn họp ác. Hung hăng kéo tới, xõa tóc thành bầy, nhảy nhót sấn lên, vung tay làm dữ. Bùn vàng lấp mũi, còn khoe oai quỷ oan hồn, ban ngày làm yêu, lại dám chặn đường hành khách. Ngoài núi gò ba thước, chỉ do kẻ sống trông coi, giữa trời đất hai ngôi, há để các ngươi hung dữ? Răn về sau đều nên giấu vết, chớ giữ lòng tà, đống xương bên sông Vô Định, chờ lúc luân hồi, mảnh hồn trong mộng kim khuê, về nơi cố thổ. Nếu còn giữ thói xưa, ắt có ngày hối hận".

 

03. Người Đất Tấn (Tấn Nhân)

 

Mỗ người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây) rất khỏe mạnh, tuy không học võ nghệ nhưng người học võ cũng không ai đánh lại. Mỗ qua Trung Châu, có một đệ tử Thiếu Lâm bị y đánh bại, căm hờn về kể lại với sư phụ, bàn nhau bày tiệc mời y tới để làm hại. Mỗ tới, người kia trước tiên đem trà quả ra mời, trong có hạt hồ đào để nguyên vỏ cứng rắn không sao ăn được. Mỗ nhặt lấy đặt lên mép bàn, lấy ngón tay trỏ gõ một cái, hạt hồ đào lập tức vỡ nát. Mọi người hoảng sợ, đối xử với y rất tử tế rồi chia tay.

 

04. Nữ Quỷ (Nữ Quỷ)

 

Vương Bính ở Oanh Kiều huyện Truy Xuyên (tỉnh Sơn Đông), ra khỏi thôn thấy trong miếu Thổ địa có một cô gái đẹp bước ra, cứ liếc nhìn mình mãi. Vương buông lời ỡm ờ, nàng tươi cười vui vẻ, nhưng không có nơi nào hành sự, bèn hẹn đến đêm vui vầy với nhau. Bính nhân đó nói rõ nơi ở, tối đến quả nhiên nàng tới, cùng nhau vui thú rất nồng nàn. Bính hỏi họ tên, nàng không chịu đáp, từ đó lui tới không dứt. Bính ngủ cùng giường với vợ, cô gái cũng tới giao hoan mà vợ Bính vẫn không biết là có người. Bính ngạc nhiên hỏi, nàng mới nói "Ta là vợ thần Thổ địa", Bính cả sợ, muốn dứt tình ngay nhưng làm đủ cách vẫn không ngăn trở nàng được. Cứ thế nửa năm, bị bệnh nằm liệt giường không dậy nổi. Người đẹp lại càng hay lui tới, người nhà đều nhìn thấy. Không bao lâu Bính chết, người đẹp vẫn mỗi ngày tới một lần. Vợ Bính quát nàng ta “Con ma dâm đãng không biết xấu hổ. Người ta đã chết, còn tới làm gì?” người đẹp bèn đi không trở lại nữa.


Dị Sử thị nói: Thổ địa tuy nhỏ nhưng cũng là thần, há lại để tho vợ tùy ý lăng nhăng, quyết không đến nỗi như thế. Không biết là con ma nào dâm đãng giả danh, khiến cho ngàn năm sau người ta còn nói thôn ấy có vị thần hèn kém bất cẩn, oan thay!

 

05. Đàn Ông Sinh Con (Nam Sinh Tử)

 

Tổng binh Phúc Kiến Dương Phụ có tên luyến đồng, trong bụng máy động. Mười tháng đến kỳ, mơ thấy thần nhân mổ hai nách lấy con ra, hai đứa con trai kêu khóc hai bên. Trở dậy nhìn xuống dưới nách, vết mổ vẫn còn rõ ràng. Bèn đặt tên hai đứa con là Thiên Xá, Địa Xá.


Dị Sử thị nói: Xét lại thì việc này xảy ra trước khi Ngô phiên[337] làm phản. Sau khi Ngô làm phản, Trung thừa Mỗ nghi Dương, muốn trừ diệt nhưng sợ Dương làm loạn, bèn lấy cớ khác gọi tới. Vợ Dương trí dũng song toàn, lấy làm ngờ vực, khuyên Dương đừng đi, nhưng Dương không nghe. Vợ Dương khóc mà tiễn, trở về truyền lệnh cho các tướng, khoác giáp cầm gươm để chờ tin tức. Không bao lâu có tin chồng bị giết, bèn làm phản đánh Mỗ. Mỗ hoảng sợ không biết làm sao, may mà quân sĩ ra sức giữ thành, vợ Dương đánh không được bèn rút quân. Vợ Dương đi đã xa, Mỗ mới mặc giáp lên ngựa, kéo quân ra thành hò hét ầm ĩ, người ta kể cho nhau nghe để cười. Vài năm sau giặc bị dẹp yên, không bao lâu Mỗ bạo tử. Lúc chết thấy Dương cầm gươm bước vào, tả hữu cũng đều nhìn thấy. Than ôi, hồn ma tuy mạnh mẽ, nhưng đã không chắp lại đầu vào xác được nữa rồi! Việc sinh con đầy vẻ yêu tà, đã là điềm báo trước chăng?

[337] Ngô phiên: tức Ngô Tam Quế, xem chú thích truyện Bảo Trú, quyển IV

 

06. Nước Bọt Của Ma (Quỷ Tân)

 

Lý Mỗ đang ngủ trưa thấy một người đàn bà trong tường bước ra, đầu tóc rối tung, tóc xõa xuống che kín mặt. Người ấy tới trước giường mới lấy hai tay vạch tóc để lộ khuôn mặt, da dẻ đen dủi vô cùng xấu xí. Lý cả sợ định chạy nhưng đã bị người đàn bà chồm lên giường ôm chặt lấy đầu, kề môi vào miệng Lý, dùng lưỡi đẩy nước bọt qua, thấy lạnh như băng, từ từ trôi vào cổ Lý không muốn nuốt nhưng không sao thở được, nuốt thì thấy lầy nhầy trong cổ họng, vừa hít một hơi thì trong miệng đã đầy nước bọt, nghẹt thở đành phải nuốt vào. Như thế hồi lâu, ngạt thở không chịu nổi nữa, chợt nghe ngoài cửa có tiếng chân người, người đàn bà mới buông tay ra biến mất. Sau đó Lý thấy bụng trương lên đầy tức, mấy ngày không ăn uống gì được. Có người bảo uống nước sâm lư, Lý thổ ra một vật như quả trứng trong suốt, mới dần dần khỏi bệnh.

 

07. Nghiện Ăn Rắn (Xà Tịch)

 

Lữ Phụng Nghi là đầy tớ Vương Phủ Lệnh ở hương ta, tính nghiện ăn rắn. Mỗi khi bắt được con rắn nhỏ thì nuốt chủng, giống như nuốt cọng hành. Gặp con lớn thì lấy dao chặt ra từng khúc từng khúc, rồi bốc mà ăn, nhai nghe rau ráu, máu me chảy cả xuống cằm. Lại rất giỏi đánh hơi, từng có lần cách bức tường ngửi thấy mùi rắn, vội vàng chạy ra, quả nhiên bắt được con rắn dài một thước, lúc ấy không mang đao, bèn trước hết cắn nát đầu, đuôi còn ngoe nguẩy ngoài miệng.

 

08. Đầu Đà Họ Kim (Kim Đầu Đà)

 

Kim Thế Thành, người Trường Sơn. Tính không cần kiệm, đột nhiên xuất gia làm đầu đà. Giống như điên khùng, ăn những vật nhơ bẩn mà cho là ngon. Chó dê ỉa đái trước mặt là cúi xuống ăn, tự xưng là Phật. Bọn đàn bà dân quê ngu xuẩn lấy làm lạ, giữ lễ đệ tử có tới hàng ngàn hàng vạn người. Kim quát bảo ăn phân, không ai dám trái lời. Xây dựng điện gác, tiền bạc không đủ, mọi người vui vẻ đóng góp. Huyện lệnh Nam công ghét vì làm việc kỳ quái, bắt tới đánh đòn, sai sửa văn miếu, môn nhân đồn ầm lên với nhau “Phật gặp nạn", rồi tranh nhau cứu, trong một tuần cung điện ở Văn miếu đều xây xong, việc thu góp tiền bạc còn mau lẹ hơn kẻ lại tàn ác đi thu.


Dị Sư thị nói: Ta nghe Kim đầu đà, người ta đều gọi như thế, nói “Kim Thế Thành là Phật phẩm, đến nỗi ăn nhưng vật cực kỳ nhơ bẩn. Bị đánh đòn không đủ làm nhục, phạt thì lập tức có người cứu, cách xử sự của Nam công sao mà hay thế”. Nhưng xây Học cung lại nhờ tới kẻ yêu tà ăn vật nhơ bẩn, cũng là sự xấu hổ của sĩ đại phu vậy!

 

09. Yêu Tài (Ái Tài)

 

Trong quan trường, có người có em gái vào cung làm Quý nhân sinh con. Có tướng quân Mỗ làm giúp bài khải, trong có câu “Em trai lớn lên, suốt đời cạnh mây rồng, vàng ngọc chói chang gác vẽ, xá muội phu nhân, mười năm theo kiệu phượng, xiêm y lộng lẫy ráng chiều. Chày giặt có thể cầm, trăng sương không cần đập áo, ngòi ngự có thể cậy, vịnh ngâm đâu nhọc Vân Anh”[338]. Quan trên phục tài, cho đổi qua ngạch văn giai, về sau làm tới chức Thông chính sứ.

 [338] Chày giặt... Vân Anh: chưa rõ điển tích, song theo văn cảnh thì có lẽ hai câu này muốn nói vị Quý nhân kia đã sinh con với vua, không phải lẻ loi như người vợ giặt áo dưới trăng mong chồng về, cũng không phải vất vả như Vân Anh trong tích cầu Lam. Xem thêm chú thích  truyện Thụy Vân.

10. Vợ Người Nhà Buôn (Thương Phụ)

 

Thương nhân Mỗ ở Thiên Tân, sắp đi buôn nơi xa, vay tiền một người nhà giàu, bị tên trộm rình thấy. Đến đêm, y lén vào nhà núp, định chờ lúc sơ hở lấy trộm. Nhưng người thương nhân vì hôm ấy là ngày tốt, nên đã mang tiền lên đường. Tên trộm rình đã lâu, chỉ nghe vợ người thương nhân trăn trở trên giường, như không ngủ được. Kế đó, trên vách có cánh cửa nhỏ mở ra, cả phòng sáng bừng. Trong cửa có một cô gái bước ra, diện mạo trẻ trung xinh đẹp, tay cầm một sợi dây dài, tới cạnh giường đưa cho người đàn bà. Người đàn bà xua tay từ chối, cô gái cứ đưa người đàn bà bèn cầm dây trở dậy, buộc lên xà nhà, đưa cổ vào tự ải. Cô gái bèn bước ra, cánh cửa trên vách cũng đóng lại. Tên trộm cả kinh, tung cửa ra kêu ầm lên. Gia nhân tỉnh dậy đổ tới, hỏi han lý do, rồi vội xông vào cứu, nhưng người đàn bà không tỉnh lại. Liền bắt tên trộm đưa lên quan. Quan cho rằng tên trộm đã chính mắt nhìn thấy, thì không còn gì phải nghi ngờ, bèn thả y ra. Hỏi người làng, đều nói chủ cũ của nhà ấy từng có người thiếu phụ treo cổ tự tử, tuổi tác diện mạo đều giống hệt như tên trộm nhìn thấy, nên biết đó là ma. Tục truyền người chết dữ đều phải có kẻ thay thế, đúng là như thế chăng?

 

Liêu Trai Chí Dị Thập Di - (11. Long Ngũ Tắc)

 


Liêu Trai Chí Dị Thập Di 

11. Năm Chuyện Về Rồng (Long Ngũ Tắc)

I.

Viên Tuyên Tứ nói ở Tô Châu, lúc mưa rào trời tối, sấm sét nổ ran. Mọi người đều nhìn thấy rồng trên mây buông xuống, vẩy trên thân rung động, trong vuốt nắm một cái đầu người, râu tóc đều nhìn thấy rõ. Giây lát bay vào trong mây đi mất, nhưng không nghe có ai bị mất đầu.

II.

Tục truyền rồng lấy nước dưới sông làm mưa, ngờ rằng điều đó chỉ là truyền thuyết mà thôi. Từ Đông Si nam du, ghé thuyền vào bờ sông, nhìn thấy một con rồng xanh giữa đám mây buông xuống, lấy đuôi khoắng vào nước sông, sóng nước nổi lên ầm ầm, theo thân rồng mà bay lên. Từ xa nhìn thấy ánh nước sáng loáng, rộng như tấm lụa ba thước. Giây lát đuôi rồng rút lên, mặt nước cũng yên ắng. Lát sau mưa đổ xuống như trút.


III.

Người đàn bà họ Lý ở thôn Hình huyện Truy Xuyên, chồng chết lúc đang có thai, bụng lúc chợt trướng lên như cái vò, lúc lại thu lại bằng nắm tay. Đến khi lâm bồn, suốt một ngày một đêm không sinh được. Nhìn tới, thấy một cái đầu rồng, vừa thấy người là thụt vào trong. Người nhà cả sợ, không dám tới gần. Có bà đỡ họ Vương, thắp hương võ bộ, niệm ấn bắt quyết, không bao lâu cái thai lọt ra, không thấy rồng đâu nữa. Chỉ có vài cái vẩy rơi xuống, đều to như đồng tiền. Sinh được một đứa con gái, da thịt trong suốt như thủy tinh, nhìn thấy cả tạng phủ trong người.


IV.

Huyện Bác có người dân tên Vương Mậu Tài, sáng sớm thăm ruộng, nhặt được ở bờ ruộng một đứa nhỏ khoảng bốn năm tuổi, mặt mủi đẹp đẽ ăn nói khôn ngoan, bèn đưa về nhà nuôi làm con, linh thông phi thường. Được bốn năm năm có một nhà sư tới nhà đứa nhỏ nhìn thấy, hoảng sợ bỏ trốn biệt tích. Nhà sư nói với Vương "Đó là một trong năm trăm con rồng nhỏ trong ao ở Hoa Sơn, bỏ trốn tới đây". Rồi lấy ra một cái bát đổ nước vào, quả nhiên nhìn thấy một con rắn trắng nhỏ bơi lội trong đó, kế cất bát ra đi.


V.

Di kiên chí chép: Trong niên hiệu Hoàng Thống nhà Kim (1141-1149), phủ Hà Trung đại hạn. Thái thú là Lý Kim Ngô cầu đảo không có kết quả. Nghe nói sư Từ Huệ ở chùa Tây Nham giới luật cao thâm, được đồ đệ ngưỡng mộ, bèn tới mời.  Sư nói “Thân già không có gì có thể làm cảm động trời đất, nhưng hàng ngày lúc thuyết pháp đều thấy có một ông già tới nghe, không biết từ đâu tới, ngờ đó là rồng nên cầu khẩn y. Nhưng phải là Kim Ngô sáng mai tới đây, thành khẩn mà chờ”. Lý nói "Vâng” Quả nhiên ông già lại tới. Lý đang nói chuyện với nhà sư, nhìn thấy ông ta bước vào chùa, lập tức thắp hương trải chiếu, sai tả hữu xốc nách dìu vào, quỳ xuống lạy lục bày tỏ ý nguyện. Ông già hoảng sợ ngăn lại nói "Sứ quân quỳ lạy một ông già trong núi, xin hỏi có chuyện gì?". Lý nói "Trời hạn gây tai họa, ngũ cốc không chín, muôn dân sẽ không sao sống nổi. Xin Long quân nhân từ, ban cho mưa ngọt, sẽ xin lập đền thờ tự, bốn mùa cúng tế để làm rõ uy linh của thần, xin thần thương cho”.


Ông già im lặng, lát sau chau mày than thở “Ồ người tiết lộ thiên cơ của ta là nhà sư, không biết ta chết lúc nào đây”. Bèn nói với Lý "Sứ quân đừng lo, ta xin đem cái chết để báo đáp”. Rồi ngoảnh lại sư nói “Ta nay vì sư mà đắc tội với trời, nhất định sẽ bị tru diệt, ta sẽ phải chết ngay, thân rơi xuống đất, nhưng không ra khỏi đất này. Xin sư chứng minh, sai dân toàn quân làm đàn tế bảy ngày bảy đêm, ngõ hầu đền đáp công đức, có thể được siêu thăng”. Sư ưng thuận, ông già bèn ra đi. Lúc ấy có một trận mưa đổ xuống ba ngày ba đêm. Ngu Khanh ngoài thành báo có con rồng chết rơi xuống chân núi. Lý dắt hết sĩ thứ, triệu một ngàn nhà sư tới đó, dựng đàn trường, mời Từ Huệ lên diễn pháp. Việc xong, thấy con rồng hiện thân trên không, nói tiếng người cảm tạ “Ta tuy bị trời giết, nhưng nhờ pháp lực cứu trợ, đội ơn diệu pháp vô thương nên đã được làm rồng cõi Bồ Đề". Lý bèn lập miếu thờ, xin triều đình ban cho biển ngạch, lại đặt tên cho xứ ấy là hang Thương Long.


Lại như bến Dã Ngưu ở Bạch Ba Lạc Kinh gần miếu Cửu thiên huyền nữ. Trong niên hiệu Hoàng Thống nhà Kim, đêm thu nước tràn, cư dân bị lụt chết đuối, mười người có tới sáu bảy. Người phía dưới bến thấy một bầy thuồng luồng vẫy vùng trong hang vực, xô bờ phá vách, biến chỗ ấy thành ao đầm, nhà cửa đều biến mất, ruộng vườn không còn gì. Mưa lớn năm ngày năm đêm không ngớt, chợt có mấy mươi con trâu trên đỉnh núi theo dòng trôi xuống đánh nhau với thuồng luồng ở chân núi. Mây đen mờ mịt, ánh lửa chốc chốc lóe lên, qua một đêm trời tạnh, nước sông lại trở về dòng cũ. Có một con thuồng luồng dài mười trượng chết dưới cổng đền. Mạnh quân Thái thú Lạc Kinh dẫn đầu sĩ dân hai quận Lạc Dương Hà Dương trai giới mang cỗ tam sinh tới bờ sông cúng tế. Giây lát có con rồng xuất hiện trên mây, vươn cổ như tới hưởng. Hàng vạn người ngẩng nhìn, mới biết đó là vật đã biến thành trâu giết thuồng luồng. Bèn lập miếu thờ ở chỗ ấy. Chu Tùng Long kể lại như thế.

 

Liêu Trai Chí Dị Thập Di - (12-20)


Liêu Trai Chí Dị Thập Di 

12. Bạch Liên Giáo (Bạch Liên Giáo)

Tư Hồng Nho thủ lĩnh Bạch Liên giáo vốn là nhà nông. Cày ruộng ở chân núi, được một pho tượng Phật bằng đồng, một thanh kiếm bằng sắt, cùng hai quyển sách tả đạo. Ngày đêm học tập, không gì không tinh thông. Bèn tự xưng là Như Lai xuất thế, mê hoặc dân ngu. Từng có người khách đêm tới nhà, Từ vẽ một cái mặt trăng treo lên vách, cả gian phòng sáng bừng. Trong phòng chất đầy vàng bạc, để người ta tùy ý lấy không ngăn cấm. Không cần tôi tớ, chỉ rút trong túi ra hai hình người giấy cao ba tấc đặt xuống đất, lập tức vươn dài ra cao bằng người, lại thướt tha xinh đẹp. Một người ăn mặc lối văn sĩ, tuấn nhã phong lưu, một người ăn mặc lối võ sĩ, đeo kiếm mang cung. Sai dọn rượu bày tiệc đi lại rất mau lẹ. Lại lấy ra hơn mười người bằng giấy, làm phép đều biến thành mỹ nữ, áo lông xiêm ráng, ca múa mời rượu. Có thể sai khiến quỷ thần, cho dù các loại cây cối loài vật ở núi sông thành thị cũng đều có thể biến ra trong nháy mắt. Lại đưa ra một tấm gương bảo người ta soi vào có thể thấy được số phận trọn đời. Có người thì khăn lượt mũ sa, có người giáp vàng áo thêu, người soi vào không ai không mừng rỡ nhảy nhót.


Tin tức đồn đãi khắp nơi, lúc ấy người ta nối gót nhau tới xin soi, trước cửa đông nghịt. Từ thấy những người bị mê hoặc ngày càng đông, bèn treo gương tự soi, thì thấy đội mũ miện mặc long bào, nghiễm nhiên là bậc vương giả. Bèn phao tin rằng "Phàm những người ăn mặc đẹp đẽ trong gương đều là người trong hội Long Hoa, được Như Lai định rõ là sẽ làm quan, đều nên gắng sức để tìm phú quý". Mọi người đều ngạc nhiên mừng rỡ lạy phục xuống. Kế đó chế cờ lệnh cầm tiết việt, không ai không nhảy nhót đi theo, chưa từng có người nào không tuân lệnh. Không đầy vài tháng, đã có hàng vạn người theo về, một dải Đằng Dịch theo gió mà rạp. Về sau đại quân thảo phạt, giết sạch không ai sống sót. Bọn họ vọng tưởng một bước lên trời, mà không tự răn!


Bành Đô ty người Trường Sơn, sống trong quân ngũ nhiều năm, dũng cảm hơn người. Lúc thảo phạt, gặp hai cô gái để bím tóc cặp đao sắt, thúc ngựa dữ, hung hãn dị thường, Bành ra sức tiếp chiến. Hai cô gái không thể tới gần Bành, mà Bành cũng không sao làm hai người bị thương. Từ sáng đến chiều, liên tiếp ba ngày Bành kiệt sức, thở dốc mà chết. Về sau bắt được quân giặc hỏi cung, mới biết hai cô gái ấy là người giấy đao gỗ, ngựa cưỡi chỉ là ghế gỗ mà thôi. Đao ngựa giả mà làm chết tướng quân thật, lạ thay!

 

13. Sai Dịch Ma (Quỷ Lại)

Hai người sai dịch ở Lịch Thành vâng lệnh Huyện lệnh Hàn Thừa Huyên đi công cán ở quận khác, cuối năm mới về. Trên đường gặp hai người, ăn mặc giống như mình. Cùng đi suốt nửa ngày dần dần nói chuyện với nhau. Hai người kia tự xưng là sai dịch quận Tế Nam. Sai dịch nói "Những nha dịch trong quận, mười người thì bọn ta biết tới tám chín. Hai ông thì chưa từng quen biết". Người kia nói "Nói thật, ta là sai dịch ma trong miếu Thành hoàng, nay là mang công văn tới miếu Đông Nhạc". Sai dịch hỏi trong công văn viết gì, đáp "Tế Nam sắp có kiếp nạn lớn, là báo danh những người bị giết". Sai dịch cả sợ hỏi bao nhiêu người chết, đáp "Cũng không rõ lắm, nhưng e gần trăm vạn", sai dịch càng hoảng sợ. Nhân hỏi thời hạn, đáp là tháng giêng. Hai người sai dịch nhìn nhau, tính ngày về tới nơi vừa đúng hôm Trừ tịch. Sợ bị mắc nạn, nhưng chần chừ thì sợ bị khiển trách. Ma nói “Lỡ hạn tội nhỏ, gặp nạn họa lớn, nên tránh đi chỗ khác, tạm thời đừng về". Sai dịch theo lời, chia tay theo đường tắt trốn đi. Không bao lâu quân tới có gần trăm vạn người chết, hai người nha lệ được thoát.


Dị Sử thị nói: Theo lành tránh dữ là then chốt trên thế gian. Không ngờ dưới địa phủ cũng như thế. Hay là hai người sai dịch ấy không có tên trong kiếp nạn, nên sai dịch ma khuyên như thế chăng?

 

14. Khách Rết (Yết Khách)

Có người thương nhân phương Nam buôn rết, hàng năm tới Lâm Câu, thu mua rất nhiều. Thổ nhân cầm kẹp gỗ vào núi, vào hang sâu lật đá tảng tìm bắt. Hết một năm lại tới, ngụ ở chỗ trọ cũ chợt thấy bồn chồn, lông tóc dựng đứng mà sợ sệt gấp bội lúc bình thường. Chợt nói với chủ nhân "Làm hại vật sống đã nhiều, nay bị ma rết tức giận, sắp tới giết ta, xin cứu ta với”. Chủ nhân thấy trong phòng có cái vò lớn, bèn bảo vào đó ngồi xổm rồi lấy nắp đậy lại. Không bao lâu, một đại hán bước vào, đầu tóc xõa tung vẻ mặt hung dữ, hỏi chủ nhân "Người khách phương Nam ở đâu?", đáp đã ra ngoài. Người ấy vào phòng nhìn quanh, khịt khịt mũi thành tiếng mấy lần, rồi ra cửa đi. Chủ nhân nói “May ra thì thoát nạn chăng!", rồi bước vào mở nắp vò lên, thì người khách đã hóa thành máu.

 

15. Con Hồ Trong Dinh Thự Tuân Hóa (Tuân Hóa Thự Hồ)


Khưu công người Chư Thành, làm Quản đạo đạo Tuân Hóa. Trong dinh thự vốn có nhiều hồ, ở ngôi lầu trong cùng thường xuyên có hồ tụ họp, thỉnh thoảng ra hại người. Chửi mắng lại càng lộng hành, nhĩmg người làm quan ở đó chỉ làm tiệc cầu khấn, không ai dám xúc phạm. Khưu công đáo nhiệm, nghe thế nổi giận. Hồ cũng sợ công cương nghị, biến thành một bà già, nói với người nhà của công "Xin bẩm lại với đại nhân là đôi bên không có thù oán gì, xin làm khách ba ngày nữa, sẽ đưa hết già trẻ đi," Công nghe cũng im lặng không nói gì. Hôm sau duyệt binh xong, bảo đừng tan về, sai đem hết súng ống trong các doanh tới, chĩa quanh lầu cùng phát đạn, trong giây lát ngôi lầu thành đất bằng. Lông da máu thịt trên trời rơi xuống rào rào, nhưng thấy giữa đám mưa máu mịt mờ có một làn khí trắng như đám mây vọt ra. Mọi người nhìn lên nói "Có một con thoát rồi”, nhưng từ đó trở đi trong dinh thự yên ổn. Sau hai năm, công sai một người đầy tớ tin cẩn mang bạc về kinh để thu xếp việc thăng chuyển. Việc chưa xong, người ấy còn ở lại trong nhà một nha dịch để chờ trả tiền dần duyên[339]. Một hôm chợt có ông già tới kinh đô kêu oan, nói vợ con bỗng dưng bị tàn sát. Lại nói công cắt xén quân lương, nịnh nọt thượng cấp, hiện cất ở nhà Mỗ, có thể làm bằng chứng. Xét sớ hỏi lý, cùng tới nhà người nha dịch kia, tìm kiếm không ra tiền bạc. Ông già nhịp chân xuống đất, công sai hiểu ý, đào xuống quả nhiên lấy được vàng. Trên vàng bạc đều có khắc tên quận giải về. Sau đó tìm ông già, thì đã đi mất. Bắt láng giềng để tìm người ấy, cũng không có ai. Công vì thế mắc nạn. Ông già tức là con hồ trốn thoát vậy.
 
Dị Sử thị nói: Hồ quấy phá người ta, thì rất đáng tru diệt. Nhưng đã sợ mà xin tha, cũng nên giữ trọn lòng nhân, có thể nói công cũng quá nóng nảy vậy. Nếu làm quan ở Quan Tây mà như thế, thì há chỉ một con hồ trắng thù hận thôi sao?

 [339] Tiền dần duyên: dần duyên cũng như dần nghị, chỉ việc quan lại giao du với nhau. Tiền dần duyên tức tiền quan lại tặng biếu để làm quen, đây chỉ tiền hối lộ.

16. Huyện Lệnh Ngô Huyện (Ngô Lệnh) 


Ông Mỗ làm Huyện lệnh Ngô huyện, quên mất tên họ, cứng rắn có tiếng. Tục đất Ngô rất trọng thần Thành hoàng, dùng gỗ tạc tượng, may gấm làm áo, dáng vẻ như người sống. Gặp ngày cúng thần thì dân cư góp tiền mở hội, xe kiệu chật đường. Cờ phướn la liệt, trống kèn đàn sáo vừa trỗi vừa đi, ồn ào ầm ĩ, chen chúc trên đường. Thói quen đã thành lệ, không năm nào dám bỏ phế. Ông tới đó, gặp lúc họ đang đi, bèn ngăn lại hỏi, dân ở đó kể lại chuyện. Lại nói tiền bạc đóng góp rất nhiều, ông tức giận, chỉ vào thần trách mấy câu "Thành hoàng là chủ một huyện, nếu ngu xuẩn ương bướng không thiêng thì là ma quỷ tối tăm ngu muội, không đáng để thờ phụng. Còn nếu linh thiêng thì phải biết tiếc của cải, sao lại được tốn phí vô ích, làm hao tổn máu mỡ của dân”. Nói xong kéo tượng thần xuống đất, đánh hai mươi roi. Từ đó tập tục lập tức thay đổi. Ông trong sạch ngay thẳng không riêng tư, chỉ là trẻ tuổi thích đùa giỡn. Ở đó hơn một năm, ngẫu nhiên bắc thang trong giải vũ trèo lên bắt chim sẻ, hụt chân rơi xương gãy đùi, kế chết. Người ta nghe thấy trong đền Thành hoàng có giọng ông tức giận lớn tiếng, giống như tranh cãi với thần, mấy ngày không ngớt. Mọi người không quên ơn ông, kéo nhau tới tụ họp, khẩn cầu xin thôi, sẽ xây một miếu riêng, giọng ông liền tắt. Miếu mới cũng gọi là miếu Thành hoàng, xuân thu cúng tế, còn linh thiêng hơn miếu cũ Ngô huyện đến nay vẫn có hai Thành hoàng.

 

17. Nha Dịch Sâu Mọt (Đố Dịch)

 

Tiến sĩ Lý Khuông Cửu người Trâu Bình làm quan rất liêm khiết công minh. Từng có người nhà giàu bị người ta vu cáo, nha dịch dọa nói "Quan đòi hai trăm lượng vàng, mau thu xếp cho xong, không thì có tai họa đấy". Người nhà giàu sợ hãi vâng dạ, thu xếp được một nửa, nha dịch không chịu, người nhà giàu hết sức nài nỉ. Nha dịch nói "Không phải ta không ra sức, nhưng sợ quan không chịu. Đợi lúc xét xử, ngươi cứ nhìn ta, ta sẽ bẩm lại số này, quan ưng thuận hay không thì cũng có thể biết ta không có ý gì khác". Giây lát ông xét vụ ấy. Tên nha dịch biết ông không hút thuốc, bèn tới gần hỏi hút thuốc không, ông chỉ lắc đầu. Tên nha dịch bước xuống, nói khẽ “Vừa rồi nói ra con số, quan lắc đầu không chịu, ngươi thấy rõ chứ”. Người nhà giàu tin thật, càng hoảng sợ, bèn ưng thuận con số lúc đầu. Tên nha dịch biết ông nghiện trà, bèn tới gần hỏi uống trà không, ông gật đầu. Tên nha dịch lấy cớ đi pha trà, lại bước xuống nói khẽ “Quan ưng thuận rồi, đã gật đầu, ngươi thấy rõ chứ?”. Kế vụ ấy xét xong, người nhà giàu quả nhiên được tha. Tên nha dịch lập tức thu tiền, lại đòi thêm tiền tạ ơn. Than ôi, tên nha dịch ấy cũng gian trá thật.

 

18. Nha Dịch (Tạo Lệ)

 

Trong niên hiệu Vạn Lịch, Huyện lệnh Lịch Thành mơ thấy thần Thành hoàng đòi người hầu hạ, lập tức ghi tên tám người nha dịch vào sớ điệp đốt trong miếu. Đến đêm, tám người đều chết. Đầu tiên một người nghe bảy người kia đã chết, trong lòng sợ hãi, cắn ngón tay mà chết. Phía đông miếu có quán rượu, chủ quán vốn quen biết cả tám người. Đêm ấy có một người tới mua rượu, bèn hỏi mời khách nào. Đáp "Bạn đồng liêu rất đông nên mua một vò, chỉ thiếu họ Tự mà thôi". Đến sáng, gặp người nha dịch khác, mới biết người ấy đã chết. Tới miếu mở cửa vào thì vò rượu còn đó, rượu bên trong vẫn còn đầy, nhưng mùi vị giống hệt nước lã. Quay về nhìn lại tiền thì đều là tro giấy. Quan huyện bèn đắp tám pho tượng đặt trong miếu, riêng người cắn ngón tay thì pho tượng tươi tắn như người sống. Con cháu tám nhà đều quanh năm cúng tế. Các nha dịch trong huyện nhận chức, trước tiên đều ra đó tế lễ, nếu không ắt sẽ gặp chuyện bị trách phạt.

 

19. Trư Bà Long (Trư Bà Long)

 

Trư Bà Long sản ở Giang Tây, hình dáng như con rồng mà ngắn , có thể bay là đà, thường lên dọc bờ sông bắt ngỗng vịt để ăn. Có người săn được, thì bán thịt cho hai nhà họ Trần họ Kha. Hai họ ấy đều là hậu duệ của Trần Hữu Lượng, nhiều đời ăn thịt trư bà long, chú họ khác thì không dám ăn. Có người khách từ Giang Tây tới, bắt được một con, buộc lại trong thuyền. Một hôm ghé thuyền ở Tiền Đường, dây buộc hơi lỏng, nó chợt nhảy xuống sông, sóng nước nổi lên, thuyền buôn chìm hết.

 

20. Bạc Nén (Nguyên Bảo)

 

Lâm Giang ở Quảng Đông, vách núi dựng đứng, thường có bạc nén khảm vào vách đá. Phía dưới dốc núi sóng lớn, thuyền bè không thể ghé vào. Có người khua mái chèo cố tới gần để khều, thì dính cứng không lay động được. Nếu số người ấy lấy được, thì khều một cái là rơi xuống ngay, quay lại thì đã qua kiếp khác rồi.

 

Liêu Trai Chí Dị Thập Di (21- 27)

 


Liêu Trai Chí Dị Thập Di

21. Vu Tử Du (Vu Tử Du)

Người trên bờ biển nói, một hôm trong biển chợt có hòn núi cao nhô lên, người ở đó đều hoảng sợ. Có Tú tài đi nhờ thuyền đánh cá, mua rượu độc ẩm. Đến đêm có một thiếu niên bước vào, mặc áo đội mũ nhà nho, tự xưng là Vu Tử Du, chuyện trò phong nhã, Tú tài rất thích, bèn cùng nhau uống rượu. Đến nửa đêm rời tiệc cáo từ. Tú tài nói “Nhà ông ở đâu, đêm tối mờ mịt thế này, việc gì phải làm khổ mình”. Đáp "Ta không phải là người ở đây. Vì sắp đến tiết Thanh minh, theo đại vương lên mộ. Gia quyến đã đi trước, đại vương tạm nghỉ lại, giờ Thìn sáng mai sẽ lên đường nên phải trở về để lo việc buổi sáng". Tú tài cũng không biết đại vương là ai. Đưa ra tới đầu thuyền, người ấy nhảy xuống nước bơi đi, mới biết là yêu cá. Hôm sau, giờ Thìn thấy đỉnh núi rung động, trong chớp mắt biến mất, mới biết hòn núi ấy là một con cá lớn, tức cái mà người kia gọi là đại vương. Tục truyền tiết Thanh minh, cá lớn trong biển dắt con cái đi bái mộ, hay là chuyện có thật chăng? Đầu niên hiệu Khang Hy, dưới biển nổi sóng, có con cá lớn gào thét mấy hôm, tiếng như trâu rống. Kế chết, những người quảy sọt tới xẻ thịt, chen chúc trên đường. Con cá to khoảng một mẫu, chỉ không có tròng mắt, hốc mắt sâu như cái giếng, bên trong đầy nước, người xẻ thịt vô ý rơi vào đó là lập tức chết đuối. Có người nói cá lớn dưới biển bị biếm chức là bị khoét mắt, lấy mắt làm ngọc dạ quang.

 

22. Em Trai Lý Tượng Tiên (Lý Tượng Tiên Đệ)

Lý Tượng Tiên ở Thọ Quang, học vấn uyên bác là kẻ sĩ cao khiết ở vùng Hải, Đại. Biết kiếp trước là sư, sinh ra đã sợ bú, trên kia đã kể rõ. Con trai sớm đỗ đạt, nhưng mình chỉ lấy văn học mà sống đến trọn đời. Đó là cái mà Phật gia vẫn nói là phúc nghiệp chưa tu chăng? Người em cũng sớm nổi tiếng, nhưng sinh ra có tật kín, mấy tháng mới động đậy. Lúc động thì bật dậy, không kể gì tới tân khách, từ ngoài la lối bước vào, lúc ấy tỳ nử bà vú đều tránh mặt. Tới cửa lại khựng lại, không vào phòng mà quay ra. Anh em đều là người kỳ lạ vậy.

 

23. Núi Vũ Di (Vũ Di)

Núi Vũ Di có vách đá dựng đứng cao ngàn nhận, người ta thường nhặt được trầm hương vàng ngọc chất đống bên dưới. Thái thú nghe chuyện, sai vài trăm người làm thang lên đỉnh để xem chuyện lạ, ba năm mới làm xong. Thái thú lên thang, sắp tới đỉnh thì thấy một bàn chân buông xuống, ngón cái to bằng cái chày giặt áo, lớn tiếng gọi "Đừng xuống, sắp rơi rồi”, cả kinh vội trèo xuống. Vừa tới đất thì giá gỗ khô mục sụp xuống tan nát không còn gì.

 

24. Ao Huyền Âm (Huyền Âm Trì)

Thạch Hiến người Thái Nguyên, làm nghề buôn bán, thường đi buôn ở phía bắc đất Đại, đưa hàng từ chỗ có tới chỗ không. Một năm vào tháng năm, đang lúc bắt đầu nóng bức, Hiến trên đường từ cửa Nhạn Môn trở về, khát nước muốn uống, nhưng tìm khắp nơi không thấy suối, nhân ngồi nghỉ dưới gốc cây lớn. Chợt thấy một nhà sư, mắt lồi áo vá, diện mạo rất kỳ lạ, thoăn thoắt đi tới nói "Ta ở phía nam núi Ngữ Đài, có rừng sâu nước đọng, cách xa trần tục, thật là nơi quần tăng tránh nắng. Đàn việt có chịu theo ta tới đó chơi không? Nếu không đi được, ta thấy đàn việt sẽ vì bệnh nhiệt mà chết, há chẳng hối hận sao?”.  Hiến vì trời đang nóng bức, mà nhà sư lại lấy lời họa phúc khơi gợi nên động tâm, nhân xin với sư "Xin cùng đi với sư”. Lúc ấy nhà sư dẫn Hiến đi về phía tây, được vài dặm quả thấy rừng sâu nước đọng, quần tăng đang đùa giỡn dưới nước. Hiến kinh ngạc hỏi, sư đáp “Đây là ao Huyền âm, bọn ta tắm dưới đó,  cũng lấy nước ấm để hông áo”. Rồi đưa Hiến đi vòng quanh ao, Hiến chỉ lạ chỗ quần tăng dưới nước trạng mạo đều giống hệt nhau. Kế đó trời tối, một nhà sư nói "Đàn việt hãy nghe bọn ta tụng kinh tiếng Phạn đây”. Lúc ấy Hiến đứng trên bờ ao, quần tăng đều dưới nước, đồng thạnh tụng niệm.


Qua khoảng một bữa cơm, một nhà sư nắm tay Hiến nói "Đàn việt cứ cùng tắm  với bọn ta trong ao Huyền âm, cẩn thận thì không có chuyện gì đâu”. Hiến lập tức theo nhà sư lội xuống ao, chợt thấy toàn thân lạnh buốt, run lên bần bật, vì thế giật mình tỉnh dậy. Thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây, giày áo ướt đẫm, mà trong người càng lạnh. Lúc ấy trời đã tối, vội tấp tểnh tới nơi có thôn xóm, gõ cửa xin nước, nhân ngủ nhờ ở đó. Sáng hôm sau thấy bệnh đã giảm, nên lại lên đường. Trên đường chợt nghe tiếng ếch kêu, rất giống tiếng quần tăng tụng kinh tiếng Phạn bèn đi tìm. Đi vài dặm thấy một nơi rừng sâu nước đọng, có rất nhiều ếch. Bèn tìm hỏi tiều phu, quả nhiên chỗ nước ấy tên là ao Huyền Âm, mới biết quần tăng đều là bầy ếch biến ra. Hiến nói! Bầy ếch này có thể biến hình để mê hoặc người ta, chẳng phải rất kỳ quái sao! chợt đùng đùng nổi giận, giết sạch bầy ếch.

 

25. Trâu (Ngưu Độc)

Đất Sở Trung có người nông dân ra chợ về, trên đường dừng lại nghỉ. Có người thuật sĩ phía sau tới, cùng nhau nói chuyện phiếm, chợt nhìn người nông dân nói "Khí sắc của ông không tốt, trong vòng ba ngày se bị hao tài, gặp quan ngục”. Người nông dân nói "Ta đã nộp thuế đủ, bình sinh không hay tranh cãi, làm sao có chuyện quan ngục?”. Người thuật sĩ nói “Ta cũng không biết, nhưng khí tượng như thế, không thể không cẩn thận". Người nông dân rất không tin, chắp tay từ biệt rồi về. Hôm sau chăn trâu ngoài đồng, có con ngựa trạm phóng qua, con trâu nhìn thấy, lầm tưởng là cọp, xông vào húc chết ngựa. Người nông dân bị bắt lên quan, quan phạt qua loa, bắt bồi thường con ngựa. Đại khái trâu gặp cọp ắt đấu, nên những người buôn trâu ngủ lại trên đường đều lấy trâu để tự vệ. Thấy ngựa tới là xua trâu tránh đi, vì sợ húc lầm.

 

26. Bài Ký Trĩ Xuyên (Trĩ Xuyên Ký)

Con nhà họ Lý ở Cô Tàng, gặp thời loạn lạc, trốn vào núi Thái Bạch, xõa tóc mặc áo vải, dứt hết trần duyên, quy y Tam bảo, đạo hiệu là Khế Hư. Không ăn cơm gạo, hàng ngày ăn lá bách đỡ lòng, như thế đã nhiều năm. Một hôm có đạo sĩ Kiều Quân dung mạo thanh tú, râu tóc trắng xóa tới thăm Khế Hư, nói “Cốt cách của sư rất thanh tú sau này nên rong chơi nơi tiên đô". Khế Hư nói “Ta là người trần tục, làm sao tới được tiên đô?". Kiều Quân nói "Tiên đô rất gần, sư có thể đi”. Khế Hư nhân xin Kiều Quân chỉ đường, Kiều Quân nói “Sư nên chuẩn bị thức ăn chờ ở quán trọ tại Thương Sơn, phàm thấy người nào mang giỏ tre đi buôn, thì cứ mời ăn. Có ai hỏi sư đi đâu, sư cứ nói là muốn tới Trĩ Xuyên, người ấy sẽ dẫn sư đi". Khế Hư nghe xong, vui vẻ ra mặt, lập tức tới Thương Sơn, ngụ trong quán trọ, chuẩn bị thức ăn ngon để cho những người buôn bán qua lại Thương Sơn.


Ở đó liên tiếp mấy tháng, gặp hơn trăm người bán hàng rong mang giỏ tre, đều ăn xong rồi đi, hoàn toàn không có lễ phép gì, lòng cung kính của Khế Hư cũng hơi giảm. Lại cho rằng Kiều Quân lừa dối, định về Trường An. Đã chuẩn bị hành trang, chợt có một người bán hàng rong mang giỏ tre, tuổi còn rất trẻ, đột nhiên bước vào, hỏi Khế Hư “Sư định đi đâu?”. Khế Hư nói "Ta muốn lên Trĩ Xuyên gần một năm nay rồi". Thiếu niên kinh ngạc nói "Trĩ Xuyên là cõi thần tiên, sư làm sao tới được?”. Khế Hư đáp “Ta từ nhỏ đã hâm mộ thần tiên, từng gặp bậc chí nhân khuyên ta tới Trĩ Xuyên, nhưng chưa biết đường thế nào". Thiếu niên nói “Trĩ Xuyên cách đây trong gang tấc, sư có thể theo ta, có thể không bị ngăn trở”. Khế Hư nói “Nếu quả được tới Trĩ Xuyên, thì có chết cũng không hối hận”. Thiếu niên dẫn Khế Hư tới Lam Điền, mua thức ăn, rồi trong đêm ấy lên Ngọc Sơn, qua chỗ cheo leo, lên chỗ dốc hiểm, tất cả có tám mươi nơi. Tới một cái động, thấy trong động có nước chảy ra. Thiếu niên và Khế Hư lấy giỏ tre đựng đá tráng lấp cửa động, để chặn dòng nước. Sau ba ngày, nước trong động mới cạn, hai người bước vào, tối tăm không thể nhìn thấy vật gì. Thấy một cánh cửa cách vài mươi bước, bèn đi tới đó.


Ra khỏi cánh cửa thì mặt trời tỏa sáng, gió mát hiu hiu, sơn thủy xinh tươi, cảnh tiên hiển hiện trước mắt. Lại đi hơn trăm bước, thấy một hòn núi cao, đỉnh núi chót vót, đường lên cheo leo, Khế Hư hoa mắt không dám lên. Thiếu niên nói "Tiên đô đã sát bên, sao còn chần chừ?”. Rồi kéo tay Khế Hư đi. Lên tới đỉnh núi, là một bãi đất phẳng. Nhìn xuống sông ngòi đồng ruộng phía dưới, xa tít không thấy rõ. Lại đi hơn trăm dặm, vào một cái động. Đến khi ra, thấy có hồ nước rộng mênh mông, cạnh hồ có một con đường lát đá rộng hơn thước, lại theo đó đi hơn trăm dặm. Thiếu niên dẫn Khế Hư theo đường đá đi, tới chân núi, phía trước có cây cổ thụ, cành lá rậm rạp, khói mây giăng mắc, cao mấy mươi tầm. Thiếu niên trèo lên cây hú dài, hồi lâu chợt có gió thu nổi lên đầu cành cây, kế thấy có sợi dây lớn buộc một cái giỏ trúc từ đỉnh núi thả xuống. Thiếu niên bảo Khế Hư nhắm mắt ngồi vào giỏ.

Khoảng nửa ngày, thiếu niên nói “Sư có thể mở mắt ra nhìn rồi". Khế Hư đã quên mình đang trên đỉnh núi, nhìn thấy thành quách cung khuyết vàng ngọc chớp sáng ngoài cõi ráng mây. Thiếu niên chỉ nói “Đó là Trĩ Xuyên”. Lúc ấy bèn giải thích những gì trước mắt. Có bọn tiên đồng hơn trăm người xếp hàng trước sau, một người tiên hỏi thiếu niên "Nhà sư này là ai, là người nhân gian à?". Thiếu niên đáp “Nhà sư này tên Khế Hư, thường muốn tới Trĩ Xuyên, nên ta dắt tới đây". Kế tới một điện, có người cài trâm cầm hốt ngồi dựa vào ghế ngọc, dáng vẻ rất oai nghiêm, thị vệ xúm quanh vòng trong vòng ngoài, quát tháo rất dữ tợn. Thiếu niên bảo Khế Hư cúi đầu bước lên ra mắt, nói "Đó là Trĩ Xuyên chân quân”. Khế Hư cúi lạy. Chân quân triệu Khế Hư lên, hỏi “Ngươi đã dứt bỏ được Tam Bành chưa?”. Khế Hư không sao trả lời. Chân quân nói "Cẩn thận đừng ở lại đây quá lâu”.


Rồi sai thiếu niên dẫn lên đình Thúy Hà. Ngôi đình ấy vươn ra không trung, lan can chạm mây, thấy một người phanh áo chớp mắt, tóc dài mấy mươi thước, da dẻ xám xịt, chỗ mắt và ngực lõm vào. Thiếu niên nói “Sư có thể ra mắt vái chào". Khế Hư hỏi “Người này là ai, chớp mắt là nhìn cái gì?". Thiếu niên nói "Đó là Dương Ngoại lang, vốn là Tôn thất nhà Tùy, từng làm Ngoại lang ở Nam cung, cuối thời Tùy thiên tử hoang dâm, thiên hạ phân tranh, bốn phương binh lửa, nước thuộc người khác. Vì thế ty địa vào núi, nay đã đắc đạo. Đó không phải là chớp mắt mà là nhìn thấu qua. Phàm người nhìn thấu qua thì thấy rõ cả thế gian". Khế Hư nói "Xin ông ta đừng chớp mắt có được không?". Thiếu niên bèn dẫn tới vái chào cầu xin. Ngoại lang chợt không chớp mắt nữa. Nhưng hai mắt phát ra ánh sáng sáng rực như mặt trăng mặt trời, mở nhắm cũng như nhau, không sao che được. Khế Hư sợ sệt toát mồ hôi lưng, lông tóc đều dựng đứng.


Kế lại thấy một người nằm trên vách đá, thiếu niên nói "Người ấy họ Nhất, tên Chi Nhuận, cũng là người nhân gian đắc đạo mà tới đây". Thiếu niên dẫn Khế Hư trở về, vẫn theo đường cũ. Khế Hư nhân hỏi thiếu niên "Trước đây ta ra mắt chân quân, chân quân hỏi ta chuyện Tam Bành, ta không trả lời được, xin hỏi đó là ý nghĩa gì?". Thiếu niên nói "Phàm Bành là họ của Tam Thi, thường sống trong thân thể con người, chờ xét công tội. Mỗi khi đến ngày Canh thân thì báo lên Thượng đế. Cho nên phàm những người tu tiên, trước tiên phải trừ tuyệt Tam Thi, như thế thì có thể đạt đạo. Nếu không thì tuy khổ công cũng vô dụng”. Khế Hư hiểu ra, từ đó trở về làm nhà ở núi Thái Bạch, tuyệt cốc luyện khí, chưa từng kể lại chuyện Trĩ Xuyên cho người khác. Về sau dời tới ở dưới núi Hoa Sơn.


Có Trịnh Thân người Vinh Dương, Thẩm Luật người Ngô Hưng cùng từ Trường An ra, đi ngang Hoa Sơn, gặp lúc trời tối mưa lớn, hai người dừng lại. Khế Hư đã tuyệt cốc, nên không mời cơm. Trịnh Thân lấy làm lạ vì Khế Hư không ăn mà da dẻ vẫn hồng hào, nhân hỏi sự thật. Khế Hư mới kể lại chuyện Trĩ Xuyên. Trịnh vốn là người hiếu kỳ, nghe được chuyện ấy vừa than thở vừa ngạc nhiên, đến khi từ Quan Đông trở về ghé lại thì Khế Hư đã dọn đi không biết ở đâu. Trịnh quân từng ghi lại truyện ấy, gọi là Trĩ Xuyên ký.

 

Liêu Trai Chí Dị Thập Di (28 - 34)

Liêu Trai Chí Dị Thập Di

28. Rắn Sâu (Trập Xà)


Quách sinh người huyện ta, mở trường dạy học ở trang Chi Hòa Đông Sơn. Đồng tử có năm sáu người, đều vừa vào học. Phía nam phòng sách là nhà xí, lại có một chuồng trâu dựng kề vào vách núi, trên vách núi cỏ mọc um tùm. Bọn đồng tử vào nhà xí phần nhiều cả giờ mới ra. Quách qưở mắng thì nói “Tôi trong nhà xí được lên mây". Quách ngờ vực, lúc đồng tử vào nhà xí, bèn theo bên cạnh liếc nhìn. Thấy bay lên trên không hai ba thước, lúc lên lúc xuống, thỉnh thoảng lại bất động. Quách bước vào nhìn kỹ, thấy ở khe hở trên vách đá có một con rắn ngẩng cao đầu, to như cái chậu, hút hơi phun lên. Bèn gọi người trong trang cùng tới xem, chất lửa đốt vách đá, con rắn chết mà khe hở vỡ ra. Con rắn không dài lắm, nhưng to bằng cái thùng. Đại khái bị chẹt ở trong không ra được, đã qua nhiều năm.



29. Đầy Tớ Của Họ Bao (Bao Thị Bộc)


Bao thị người Phiên Dương, ở ngoài cửa Tần Châu. Mua một con ngựa, giao cho đầy tớ là Trình Tam nuôi nấng. Hàng ngày dắt ngựa ra bến sông tắm, thường có con quạ khoang cổ trắng đậu xuống lưng ngựa ỉa, rất lo sợ, nhưng đuổi đi nó lại trỡ lại. Lúc ấy bèn uốn kim làm lưỡi câu, xâu vào sợi tơ dài, từ bụng ngựa buộc vòng lên lưng, móc mồi để nhử. Con quạ ăn mồi nuốt luôn lưỡi câu, không sao thoát được. Trình móc hai mắt quạ cho vào bọc về nhà, xin rượu của chủ nhân nuốt xuống. Từ đó mắt ngày càng sáng, có thể nhìn thấy ma quỷ trong cõi hư không. Có tỳ nử của họ Bao trong bếp, thấy một con ma trợn mắt lè lưỡi, dưới cổ lòng thòng một sợi dây, núp lén nhìn qua khe cửa, Trình vác gậy đập, con ma rên la hoảng sợ, dần dần lún xuống đất biến mất. Đại khái trước kia có người thắt cổ ở chỗ ấy. Về sau mỗi lần Trình ra ngoài đồng ắt nhìn thấy vật gì đó, tuy giống hình người, nhưng chân tay thân thể phần nhiều không nguyên vẹn. Quát tháo đuổi tới, thường đều bỏ chạy. Có người nói mắt con quạ ngàn năm có thể nhìn thấy vật giấu kín, hay cái mà Trình nuốt là như thế chăng.



30. Tục Đất Huy (Huy Tục)


Người đất Huy phần nhiều hóa thành loài vật, ra ngoài kiếm ăn. Có người khách nghỉ lại quán trọ, thấy bầy chuột chui vào khạp gạo, đuổi thì bỏ chạy. Khách chờ lúc chui vào, mau lẹ đậy nắp lại, múc nước đổ vào trong, lát sau đều chết. Cả nhà chủ nhân đột nhiên chết hết, chỉ còn một đứa con sống, liền kiện lên quan. Quan theo tình tha cho người khách.



31. Tục Đất Nguyên (Nguyên Tục)


Lý Quý Lâm quyền giữ ấn triện Nguyên Giang. Lúc vừa tới đáo nhiệm, thấy mèo chó đầy sảnh, lấy làm kinh ngạc. Liêu thuộc nói “Đó là bách tính dưới quê tới xem phong thái”. Giây lát số người và súc vật bằng nhau, lát sau đều hóa thành người, nhao nhao tan đi. Một hôm, Lý ra ngoài gặp khách, kiệu đang đi trên đường, chợt một người phu kiệu gọi lớn “Tiểu nhân bị hại rồi!”, lập tức nhờ nha dịch khiêng giúp. Nha dịch tức giận quát tháo cũng không nghe, cắm đầu chạy mau. Nha dịch đuổi theo sau, người ấy vào trong chợ, tìm thấy một ông già liền tới nhờ xem. Ông già nói “Là ngươi ăn phải vật lạ”. Bèn lấy tay vuốt vào bụng, từ trên xuống dưới, ra sức đẩy, đẩy tới bụng dưới, thấy da thịt gổ lên, bèn lấy dao sắc rạch ra, lấy ra một hòn đá, nói “Khỏi rồi", người ấy bèn chạy về. Lại nghe nói có người nằm trong nhà mà cánh tay thì bay đi, vào nhà người ta trộm cắp tài vật. Nếu bị chủ nhân phát giác, buộc chặt cánh tay không cho bay về, thì người ấy kể như mất một cánh tay.



32. Con Ngựa Có Nghĩa (Nghĩa Mã)


Lưu Thừa Tiết người Chiết Tây, làm quan thu thuế ở Cống Châu được điều nhiệm, để gia đình ở lại đất Cống, chỉ cùng một con trai một đầy tớ cưỡi ngựa lên đường. Tới Quý Khê, dừng ngựa vào nhà trọ nghỉ lại. Gặp mấy người khách buôn mang hương đất Quảng, cùng ngồi hỏi han nhau từ đâu tới, muốn mua hương của khách. Khách lấy ra cho xem, đều không vừa ý. Khách chế nhạo, Lưu nói "Ta tuy không giàu có, nhưng hương của ta còn hơn hàng này". Nhân mở rương lấy ra cho xem, trong rương có vài trăm lượng bạc, bọn khách lén nhìn trộm. Đến lúc trời tối, đều ngủ lại. Bọn kia đều là cướp, đến khuya vác gậy xông vào phòng Lưu. Lưu từ nhỏ tùng quân, có sức khỏe, vung đao chém đứt một cánh tay, bọn cướp sợ hãi tan chạy.


Chủ nhân cũng là kẻ đồng mưu, bèn nói "Bọn họ không thỏa lòng, nhất định sẽ gọi thêm bè đảng tới, không thể ngủ yên được đâu, chẳng bằng nhân lúc trời chưa sáng lên đường để tránh đi". Lưu không ngờ là dối trá, gọi người đầy tớ dậy, không chờ ăn sáng đã lên đường. Tới dưới gù cao, gặp bọn cướp, tuy ra sức đánh nhau, nhưng ít khó chống nhiều, Lưu cùng con trai, đầy tớ đều bị giết. Vừa lúc có một người lính đưa công văn đi qua, bọn cướp cũng giết chết, vứt xác xuống hố, chia tiền bạc rồi tan đi, chỉ còn con ngựa quanh quẩn trên đường. Gặp lúc có viên Chủ bạ đi công cán về, con ngựa tới đón trước xe, khuỵu chân như lạy phục xuống, kế lúc lui lúc tiến, đuổi đi lại quay lại. Viên Chủ bạ lấy làm lạ, nỏì “Đây ắt có nỗi oan muốn tố cáo”. Bèn sai mấy người theo con ngựa. Tới dưới dốc gò, con ngựa giẫm xuống đất đứng lại, thấy máu tươi đầy đất tanh nồng, bốn cái xác trong huyệt vẫn còn ấm. Lập tức sai Lý chính truy nã tìm bắt, không đầy buổi sáng đã bắt được tất cả bọn cướp, đều khép vào tội chết.




33. Vệ Sư Hồi (Vệ Sư Hồi)


Vệ Uyên, tự Sư Hồi, người Đông A Trịnh Châu. Nghiện rượu thành tật, thông minh hơn người nhưng lười đọc sách, hơn bốn mươi tuổi vẫn tay trắng nghèo hèn, thủy chung chưa ra làm quan. Gặp lúc mùa hè nóng bức, Sư Hồi cùng bạn bè đầu hồ uống rượu, say nằm dưới tường, mơ thấy mình đang ở chỗ khác. Chợt có tin báo người nước Nhũng Miến vào cướp, cư dân dìu già cõng trẻ chạy tán loạn. Sư Hồi hốt hoảng lủi trốn, đến khi trở về thì trong nhà đều đầy những người bị bắt, một mình đi vào núi, bàng hoàng mấy năm, không chốn nương thân. Chợt gặp ba người bạn cũ là Diêm Trung Phu, Lý Hanh Gia, Vương Miễn Phu, hỏi han tình hình, cho biết vợ con đều không việc gì.


Sư Hồi cả mừng vì được quá cả lòng mong mỏi, bèn nói "Ta khốn khổ ba năm, đói rét phiêu linh, ăn bữa sáng không biết bữa tối, thường nghĩ lúc gặp gỡ vui chơi trước kia, uống một hơi hết vài đấu rượu, nay muốn được uống một chén cho đỡ khát, cũng không phải chuyện gì lớn. Các ông thấy sao?". Trung Phu nói "Cách đây vài dặm có quán rượu, nhị muội của ta coi việc hâm rượu, rất xinh đẹp, cứ cùng tới thăm". Sư Hồi càng mừng, vào tới chợ thì đúng như lời Trung Phu. Sư Hồi đầu tiên uống một vò, lại gọi lấy thêm rượu, thấy a hoàn bưng rượu ra có vẻ buồn rầu.


Sư Hồi trách nói "Người hàng rượu gặp khách thì phải vui vẻ, tại sao ngươi lại như thế?”. A hoàn khóc nói "Tiền bối không biết đó thôi. Vật người vừa uống không phải là lúa mạch nấu ra, mà đều là tinh huyết của người ta. Người là người cõi trần, lại vứt bỏ tiền trình, rước lấy tai họa, lúc chết sẽ bị ép cốt tủy mà làm rượu”, Sư Hồi chớp chớp mắt không tin. Cô gái bèn dẫn vào nhà trong, vòng qua sảnh lớn, thấy đồ nấu rượu bày la liệt, bên cạnh có hơn trăm người trần truồng ngồi đó, nam nữ lẫn lộn. Có hai con quỷ lớn cầm kích theo thứ tự xóc lên cho vào vò rượu, lấy đá lớn đè xuống. Máu từ miệng chảy ra, giây lát thành rượu, Sư Hồi hoảng sợ tỉnh dậy. Nhìn thấy tiểu đồng đang hầu bên cạnh, tân khách vẫn đang ngồi, tiếng đầu hồ vẫn khua lanh canh. Bèn kể lại giấc mộng thì vốn chưa đầy một giờ, nhớ lại những điều đã trải qua, thì lại trong vài năm. Người thời Đường chép truyện Thái thú Nam Kha[341] anh đào áo xanh[342] giấc mộng kê vàng ở Hàm Đan[343], việc cũng tương tự Văn thiên lục chép việc Trương sinh xuống âm ty[344], cũng rất giống chuyện này.


[341] Truyện Thái thú Nam Kha: Nam Kha ký của Lý Công Tá thời Đường chép Thuần Vu Phồn ở Quảng Lăng, phía nam nhà ở có cây hòe lớn, cành lá xanh tốt. Gặp hôm sinh nhật Phồn say rượu nằm ngủ, mơ thấy tới nước Đại Hòe An, cưới công chúa, làm Thái thú quận Nam Kha hai mươi năm, sinh năm trai hai gái, cực kỳ vinh hiển. Sau đánh nhau với giặc thua trận, công chúa cũng chết, bị cách chức. Tỉnh dậy thấy nằm ở sân, mà mặt trời chưa lặn chén rượu uống dở vẫn còn. Bèn đi tìm dưới gốc cây hòe, thấy một tổ kiến lớn, mới sực nghĩ ra nước Đại Hòe An là bầy kiến dưới cây hòe, quận Nam Kha là một cành hòe hướng về phía nam. Về sau người ta dùng từ “Nam Kha” để chỉ sự hư ảo của vinh hoa.

[342] Anh đào áo xanh: nguyên văn là "Anh đào thanh y”, chưa rõ là sách gì.

[343] Giấc mộng kê vàng Hàm Đan: xem chú thích truyện Tục hoàng lương, quyển V.

[344] Văn thiện lục... âm ty: chưa rõ là sách gì.



34. Thần Sét (Lôi Công)

Người dân ở Hào Châu tên Vương Tùng Giả, mẹ đang ngồi trong sảnh, gặp lúc mưa nhỏ, sắc trời mờ tối. Thấy thần sét cầm chùy đập cánh sấn vào, cả sợ vội cầm cái chậu đựng nước tiểu hắt ra. Thần sét bi dính bẩn, giống như bị đao búa chém trúng, quay người chạy mau, hết sức nhảy lên mây mà không được. Lăn lộn trước sân, rống lên như bò. Mây trên trời dần dần hạ xuống ngang mái hiên, trong đám mây có tiếng ran ran như ngựa hí, ứng với tiếng của thần sét. Giây lát mưa đổ như trút, thần sét rửa sạch được nước tiểu trên người, liền nổi sấm sét mà đi.


------------