Hiển thị các bài đăng có nhãn Liêu Trai Chí Dị quyển XVI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Liêu Trai Chí Dị quyển XVI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2022

MỤC LUC - Quyển XVI

Trọn bộ gồm 432 truyện trong Liêu Trai Chí Dị và 68 truyện Liêu Trai Chí Dị Thập Di cùng 3 bài viết, tôi đều chép tại dtv-ebook.com. Xin cảm ơn các bạn.

 MỤC LỤC - Quyển XVI

 Liêu Trai  Chí Dị

Tác giả : Bồ Tùng Linh
Dịch giả : Cao Tự Thanh


Quyển XVI       MỤC LỤC (từ truyện 392 đến 432)

392. Tế Hầu








                                                                                              MỤC LỤC



392. Tế Hầu

 

392. Tế Hầu (Tế Hầu)

 

Mãn sinh người huyện Xương Hóa dạy học ở huyện Dư Hàng (đều thuộc tỉnh Chiết Giang), ngẫu nhiên dạo phố, đi qua dưới một dãy gác. Chợt bị cái vỏ trái vải rơi trúng vai, ngẩng nhìn thì thấy một nàng ca kỹ trẻ tuổi dựa lan can cúi xuống cười rồi bước vào trong. Sinh hỏi thăm, thì nàng ấy là Tế Hầu con bà Giả chủ nhà chứa. Nghe nói nàng nêu giá rất cao, nghĩ lại thấy mình không sao gặp được, về nhà tơ tưởng cả đêm không ngủ. Hôm sau tới đưa danh thiếp xin gặp, thấy nàng cười nói vui vẻ thân mật, lòng càng say mê. Bèn tìm cớ hỏi mượn bạn bè đủ số tiền mang tới đưa Tế Hầu, nàng tiếp đãi rất chu đáo. Lúc trên giường sinh khẩu chiếm một bài thơ tứ tuyệt tặng nàng rằng:


Cao nhị đồng bàn dạ vị ương,
Sàng đầu tế ngữ xạ lan hương,
Tân hoàn minh nhật trùng trang phượng,
Vô phục hành vân mộng Sở vương.

(Đêm thẳm êm đềm bóng giá sương .
Đầu giường nói khẽ ngát mùi hương
Sáng mai tóc mới cài trâm phượng .
Vắng mãi mây mưa mộng Sở vương) .


Tế Hầu buồn bã nói ”Thiếp tuy nhơ nhuốc hèn hạ nhưng vẫn ước mong tìm được kẻ đồng tâm để thờ, chàng còn chưa có vợ, thấy thiếp có đáng chăm sóc việc nhà không?”. Sinh mừng rỡ, lập tức hẹn hò thề thốt với nàng. Tế Hầu cũng vui mừng nói “Chuyện ngâm vịnh thiếp tự thấy là không khó, lúc nào không có ai cũng muốn đua đòi làm một bài, nhưng sợ chưa hay lại bị người ta xem thấy chê cười. Nếu được theo nhau, xin chàng dạy thêm cho thiếp". Nhân hỏi gia sản của sinh có bao nhiêu, sinh đáp "chỉ có năm mươi mẫu ruộng xấu, vài gian nhà nát thôi". Tế Hầu nói "Thiếp về với chàng rồi, thì nên ở nhà đừng đi dạy học nữa. Bốn chục mẫu ruộng trồng lúa cũng tạm đủ ăn, để mười mẫu trồng dâu, dệt năm cuộn vải là thừa nộp thuế rồi. Cứ đóng cửa nhìn nhau, chàng đọc sách thiếp dệt vải thì thơ rượu đủ vui, chức Thiên hộ hầu có gì là quý?”. Sinh hỏi "Muốn chuộc nàng ra khỏi đây thì phải mất bao nhiêu tiền?", nàng đáp “Nếu theo lòng tham của mẹ thì bao nhiêu cho đủ được? Nhiều lắm cũng chỉ hai trăm đồng vàng là đủ. Nhưng đáng hận là thiếp lúc còn nhỏ tuổi không biết quý tiền bạc, có được bao nhiêu là đưa hết cho mẹ, số để riêng chỉ có chút ít không đáng kể, chàng cố lo đủ một trăm, số còn lại thì đừng lo". Sinh nói “Tiểu sinh vốn nghèo, nàng cũng biết rồi, lấy đâu ra trăm đồng vàng được? Nhưng có người bạn thân làm Tri huyện ở tỉnh Hồ Nam, mấy lần gọi mời mà ta thấy xa ngại đi. Nay có việc nàng thì phải tới đó tính, khoảng ba bốn tháng sẽ trở về, xin cố chờ nhau”, Tế Hầu ưng thuận.

393. Chân Sinh

 

393. Chân Sinh (Chân Sinh)

 

Giả Tử Long là sĩ nhân ở Trường An (tỉnh Thiểm Tây) tình cờ qua nhà hàng xóm gặp một người khách phong thái tiêu sái thoát tục, hỏi thăm thì biết là Chân sinh. Giả rất hâm mộ, hôm sau tới đưa danh thiếp ra mắt, lại gặp lúc Chân sinh đi vắng. Ba lần tới đều không gặp, bèn sai người rình chờ lúc có nhà về báo, lại tới xin gặp. Chân sinh lánh mặt không ra, Giả vào tìm mới chịu ra gặp, ngồi gần nhau trò chuyện, cùng mừng rỡ là gặp kẻ tương tri. Giả bèn về nhà trọ sai tiểu đồng đi mua rượu. Chân lại mạnh rượu, khéo đùa giỡn, hai người rất vui vẻ. Rượu gần hết, Chân mò trong tráp lấy ra đồ dùng uống rượu, thì là một cái bình ngọc không đáy, đặt chén không vào, cái chén chợt đầy ắp rượu, rồi múc ra đổ vào bầu rượu, mãi vẫn không hết. Giả lấy làm lạ, năn nỉ xin học phép lạ ấy. Chân nói “Ta không muốn cho người khác thấy, ông không có chỗ nào kém cỏi, chỉ là lòng tham chưa hết mà thôi. Đây là phép thuật của nhà tiên, làm sao dạy được?". Giả nói “Oan cho ta quá! Ta có tham lam gì đâu, chỉ tình cờ nảy lòng mong muốn thôi, thôi từ nay trở đi xin cam phận nghèo”, hai người cười rộ rồi chia tay.


Từ đó thường qua lại với nhau, kết bạn quên cả hình hài. Mỗi khi thiếu thốn, Chân lại lấy một viên đá đen ra, thổi vào rồi niệm thần chú, chà xát lên gạch ngói, gạch ngói lập tức hóa thành bạc trắng xóa, đưa tặng cho Giả, nhưng cũng chỉ vừa đủ chi dùng, không mấy khi thừa. Giả cứ xin thêm, Chân nói "Ta đã nói ông tham, bây giờ thì sao, bây giờ thì sao?". Giả nghĩ hỏi thẳng quyết không được, phải nhân lúc Chân say ngủ, đánh cắp viên đá mới xong. Một hôm, hai người say rượu đã đi nằm, Giả lén dậy lục lọi túi Chân, Chân biết được nói “Anh thật là không còn lương tâm, không thể ở chung được". Rồi từ biệt, dọn đi ở chỗ khác. Hơn năm sau Giả dạo chơi bên bờ sông, nhìn thấy một viên đá trong suốt giống hệt viên đá của Chân, bèn nhặt lấy giữ gìn như của báu. Qua vài hôm Chân chợt tới, buồn rầụ như đánh mất vật gì Giả hỏi han, Chân đáp “Viên đá ông thấy trước đây là đá điểm kim của tiên. Trước ta kết giao với Bão Chân tử, ông ta thương ta biết giữ phận nên tặng cho, vừa rồi say rượu làm rơi mất, bấm độn thì biết đang ở chỗ ông, nếu có thể trả lại cho nhau, thật không dám quên ơn”, Giả cười nói "Ta bình sinh không dám lừa dối bạn bè, đúng như ông bói đấy. Nhưng biết Quản Trọng nghèo mà không làm được như Bão Thúc Nha[318] bây giờ ông định làm gì?". Chân xin tặng trăm đồng vàng, Giả nói "Trăm đồng vàng không phải ít, nhưng truyền cho ta câu thần chú đã, tự ta điểm kim một lần thử xem, thì không tiếc gì nữa”.
 
Chân sợ Giả nuốt lời, Giả nói “Ông là tiên mà không biết xưa nay Giả Mỗ không bao giờ thất tín với bạn bè à?". Chân bèn truyền cho câu thần chú, Giả ngoái lại định mài lên một hòn đá to, Chân nắm khuỷu tay kéo lại không cho thử. Giả bèn cúi xuống nhặt một mảnh ngói đặt lên phiến đá giặt áo nói "Bấy nhiêu thì không nhiều chứ?”, Chân ưng thuận. Nhưng Giả không mài viên đá điểm kim lên mảnh ngói mà lên phiến đá giặt áo, Chân biến sắc, định giật lấy viên đá thì phiến đá giặt áo đã biến thành khối bạc ròng. Giả trả lại viên đá, Chân than "Số kiếp đã như thế, còn nói gì nữa? Đem phúc lộc sai trái tới cho người ắt bị trời phạt, nếu ông muốn cho ta được thoát thì xin phân phát số tiền này cho nhiều người, có được không?”. Giả đáp “Sở dĩ ta muốn có tiền là không phải để hưởng riêng một mình, ông vẫn coi ta như hạng bo bo giữ của à?", Chân mừng rỡ chào đi. Giả được tiền vừa đem cho vừa đi buôn, không đầy ba năm đã cho hết số tiền có được. Một hôm Chân chợt tới, nắm tay Giả nói “Ông thật là người tín nghĩa, sau khi chia tay lần ấy Phúc thần tâu với Thượng đế nên ta bị xóa tên khỏi sổ tiên. May là được ông rộng rãi bố thí, đến nay cũng đủ công đức để chuộc lỗi rồi. Xin ông gắng thêm, đừng bỏ phế”.


Giả hỏi Chân giữ chức ở ty tào nào trên trời, Chân đáp "Ta là hồ tu tiên đắc đạo, xuất thân hèn mọn, không kham được chuyện phiền nhiễu, nên bình sinh chỉ giữ phận, không dám nhận chức tước gì". Giả mời rượu, hai người lại cùng nhau ăn uống vui vẻ như trước. Đến năm Giả hơn chín mươi tuổi, thỉnh thoảng hồ vẫn ghé chơi.  Mỗ ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm nghề bán thuốc giải độc, cho dù nguy cấp tới mức nào cứ uống thuốc của y cũng sống. Nhưng y giữ kín bài thuốc, họ hàng thân thích cũng không truyền cho. Một hôm gặp tai bay vạ gió bị bắt, người em vợ mang cơm vào trại giam, lén trộn thuốc độc vào, ngồi chờ y ăn xong mới nói. Y không tin, nhưng giây lát thấy bụng đau quặn lên, mới hoảng sợ chửi lớn "Thằng súc sinh đi mau, trong nhà tuy có thuốc giải độc, nhưng chỉ sợ đường xa không trở lại kịp, mau mau vào thành tìm lấy một bó dây tơ hồng và một chén nước trong, đi mau lên!”. Người em vợ nghe lời, tìm được các thứ tới thì y đã nôn mửa gần chết. Vội đổ thuốc cho, lập tức đỡ ngay, bài thuốc ấy từ đó mới được truyền ra. Chuyện này cũng giống như việc hồ giữ kín viên đá vậy.

 ----
[318] Biết Quản Trọng... Bão Thúc Nha: Quản Trọng và Bão Thúc Nha là người thời Xuân thu, chơi thân với nhau. Quản Trọng có tài nhưng nhà nghèo, đi buôn chung với Bão Thúc Nha, khi chia lời thường lấy phần nhiều hơn. Có người cho Quản Trọng là tham, Bão Thúc Nha nói đó là vì Quản Trọng nghèo, cần tiền nuôi gia đình chứ không phải là tham.


394. Thang Công

 

394. Ông Thang (Thang Công)

 

Ông Thang tên Sính, đỗ Tiến sĩ năm Tân sửu. Mắc bệnh gần chết, chợt thấy hơi nóng dưới chân cứ lan dần lên trên, lên tới đùi thì chân chết, lên tới bụng thì đùi chết. Nhưng lên tới ngực thì tim chưa chết ngay, phàm những chuyện lúc còn là trẻ con tới những chuyện nhỏ nhặt đã quên từ lâu đều theo máu trong tim kéo về, dâng lên từng đợt từng đợt như thủy triều. Nếu là chuyện hay thì thấy bình tĩnh yên ổn, nếu là chuyện dở thì thấy áy náy hối hận, như dầu sôi trong vạc, khó chịu không sao nói ra thành lời được. Như còn nhớ lúc bảy tám tuổi có bắt một con sẻ nhỏ rồi giết, chỉ một việc ấy thôi mà thấy máu trong tim dâng lên ào ào khoảng ăn xong bữa cơm mới hết. Cứ thế tất cả mọi chuyện đã làm trong đời lần lượt hiện về xong, mới thấy làn hơi nóng lan qua cổ họng dâng lên óc, thoát ra khỏi đỉnh đầu bốc ra ngoài như hơi nước sôi trên nồi cơm. Qua vài mươi khắc thì hồn lìa thất khiếu, rời xác mà đi. Nhưng lại bơ vơ không biết đi đâu, cứ lang thang trên đường. Chợt có một người to lớn đi tới, cao hơn tám thước, bắt ông cho vào tay áo. Vào bên trong thấy da thịt gồ ghề, có rất nhiều người đều tỏ vẻ buồn bã, không sao thoát được. ông sực nghĩ chỉ có Phật mới có thể giải nạn được, bèn niệm Phật hiệu, được ba bốn tiếng thì rơi ra khỏi tay áo, người to lớn lại bắt lấy cho trở vào, ba lần bỏ vào ba lần rơi ra, người to lớn bèn bỏ đi. Ông đứng một mình ngẩn ngơ, còn chưa biết nên đi đâu. Lại nghĩ Phật ở phương tây, bèn đi về phía tây.


Không bao lâu thấy bên đường có một nhà sư ngồi xếp bằng, bèn tới vái lạy hỏi đường. Nhà sư nói "Phàm sổ sinh tử của kẻ sĩ nhân thì do Văn Xương Đế quân và đức Khổng thánh giữ, phải do hai nơi ấy gạch tên mới có thể đầu thai được” ông hỏi hai nơi ấy ở đâu, nhà sư chỉ đường, ông vội đi mau. Không bao lâu thì tới miếu Khổng tử, thấy đức Tuyên thánh đang ngồi quay mặt về phía nam, bèn vái lạy cầu khẩn. Đúc Tuyên thánh nói tên ông bị sót nhưng vẫn có ở chỗ Đế quân, lại chỉ đường cho. Ông lại đi tiếp, thấy một nơi điện gác như phủ đệ của bậc vương giả, khom người bước vào quả có một người dáng mạo giống hệt như Văn Xương Đế quân mà người đời vẫn truyền tụng, bèn quỳ xuống khẩn cầu. Đế quân xem lại sổ sách rồi nói “Ngươi thành thật ngay thẳng, lẽ ra có thể sống lại, nhưng thân xác đã nát rồi, không phải Bồ Tát không ai giúp được”. Rồi chỉ đường bảo đi mau, ông vâng lời lên đường. Trong giây lát thấy một nơi rừng trúc san sát, điện gác rục rỡ bèn bước vào. Thấy Bồ Tát tóc búi cao trang nghiêm, mặt như vầng trăng rằm, cầm cành dương tẩm nước phép xanh biếc khói vờn. Ông kính cẩn cúi đầu vái lạy, thuật lại lời Đế quân. Bồ Tát nói là khó, ông năn nĩ mãi không thôi. Bên cạnh có vị Tôn giả bẩm xin Bồ Tát dùng đại pháp lực, nhúm đất làm thịt, lấy cành dương liễu làm xương. Bồ Tát theo lời, bẻ cành dương trong tay nhúng vào bình ngọc đựng nước phép, nhào đất sạch lấy bùn làm xác ông, rồi sai Đồng tử đưa về nhà, xô cả vào quan tài. Người nhà nghe trong quan tài có tiếng rên rỉ cựa quậy hoảng sợ kéo nhau tới đỡ ông ra, thì đã khỏi bệnh. Tính lại thì ông chết đã bảy ngày rồi.

 

395. Vương Hóa Lang

 

395. Nhà Buôn Họ Vương (Vương Hóa Lang)

 

Ông Mỗ bán rượu ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) sai con thứ là Tiểu Nhị qua Tế Hà đòi nợ. Nhị ra cửa tây thành, gặp anh là A Đại. Lúc ấy Đại chết đã lâu, Nhị kinh ngạc hỏi "Anh làm sao lại tới được đây?". Đại đáp "Dưới âm phủ có một cái án còn nghi ngờ, phải có em đi làm chứng một chuyến". Nhị tỏ vẻ bực dọc cười khẩy, Đại chỉ một người mũ đen phía sau nói "Sai dịch đang ở đây, chúng ta được tự do sao?". Rồi lấy tay vẫy, Nhị bất giác đi theo, suốt đêm đi gấp tới dưới núi Thái Sơn. Chợt thấy một nơi công thự, vừa định kéo nhau vào, thấy mọi người ồn ào đổ ra. Người áo đen chắp tay hỏi thế nào rồi, một người đáp "Không cần vào nữa đâu, đã xét xử được rồi". Người áo đen bèn thả Nhị bảo về. Đại lo cho em không có tiền đi đường, người áo đen nghĩ ngợi một lúc lâu, rồi dẫn Nhị đi. Được hai ba mươi dặm vào thôn, tới dưới chái một nhà nọ, dặn rằng "Nếu có người ra, cứ bảo đưa về, nếu họ không chịu, ngươi cứ nói là Nhà buôn họ Vương dặn thế", rồi đi.


Nhị nhắm mắt chết cứng ở đó, đến sáng chủ nhà ra thấy người chết ngoài cổng hoảng sợ, hồi lâu thì Nhị sống lại. Chủ nhà vực vào đổ cháo cho, Nhị mới nói làng xóm quê quán, xin cho tiền về. Chủ nhà ngần ngừ, đến khi Nhị nói như lời người mũ đen dặn thì vô cùng hoảng sợ, vội lấy ngựa đưa Nhị về. Tới nhà, Nhị trả lại tiền phí tổn thì không chịu lấy, hỏi nguyên do cũng không chịu nói, rồi chào mà về.

 

396. Kham Dư

 

396. Địa Lý (Kham Dư)

 

Tư lang Tống Quân Sở ở huyện Nghi (tỉnh Sơn Đông) trong nhà vốn chuộng thuật phong thủy, dù là đàn bà con gái cũng thông hiểu sách địa lý. Ông Tống chết, hai vị công tử mỗi người dựng ra một phái, tìm đất chôn cha. Nghe ở đâu có thầy địa lý giỏi thì đường xa ngàn dặm cũng tìm tới, tranh nhau mời mọc nên thuật sĩ trong mỗi nhà có tới trăm người. Hàng ngày ruổi ngựa khắp đồng, chia nhau hai bên ra vào như hai đội quân. Được hơn một tháng, mỗi bên tìm được một ngôi đất tốt, bên này nói sẽ được phong hầu, bên kia nói sẽ được bái tướng, anh em không ai chịu nhịn ai, vì thế tức giận không bàn tính với nhau, cùng chuẩn bị việc chôn cất cha, màn gấm phướn màu đều sắp xếp đầy đủ. Ngày chôn cất, xe chở quan tài tới ngã ba, hai anh em đều dựa vào lời trăn trối của cha để tranh nhau, từ buổi sáng đến xế chiều cũng không ngã ngũ được là chôn ở đâu. Khách khứa dần dần ra về hết, đám đạo tỳ khiêng quan tài đứng chờ đã đổi vai mấy mươi lần, mệt quá không chịu nổi nữa, bèn đặt quan tài xuống cạnh đường. Vì thế cũng không chôn nữa, thuê thợ dựng nhà rạp cạnh đường để che mưa che nắng cho quan tài.


Người anh dựng chỗ ở bên cạnh, cho người ở lại canh giữ, người em cũng dựng chỗ ở như anh. Người anh dựng lại thì người em cũng dựng lại, sau ba năm thành một thôn nhỏ. Qua nhiều năm, hai anh em nối nhau chết. Hai chị em bạn dâu mới bàn với nhau, cố gắng xóa hết những lời bàn bạc trái ngược của người trước về nơi chôn cha chồng. Bèn cùng ruổi xe ra đồng, tới nơi hai ngôi đất anh em đã chọn, đều chê là chưa tốt lắm, rồi cùng sắm sửa lễ vật mời thầy địa lý tới vẽ họa đồ đầy đủ mang về trình nhưng hai chị em cứ nói là không được. Mỗi ngày trình lên mấy tấm họa đồ, đều bị bỏ hết, hơn chục ngày mới chọn được nơi tốt. Người chị xem họa đồ mừng rỡ nói "Được rồi!", rồi đưa người em xem, người em nói "Ngôi đất này sẽ phát được một Cử nhân võ trước tiên”. Chôn được ba năm, cháu đích Tôn của ông Tống quả nhiên đậu Cử nhân võ.


Dị Sử thị nói: Thuật phong thủy có thể cũng có lý, nhưng say mê tin tưởng quá thì thành ngốc nghếch. Huống chi lại tức giận cãi nhau, quàn quan tài lại bên đường, không kể gì đến đạo hiếu, thì làm sao dựa vào mạch đất để mong con cháu phát phúc được? Như việc làm của hai người chị em bạn dâu kia quả là điều hay đáng truyền lại vậy.

 

397. Đậu Thị

 

397. Đậu Thị (Đậu Thị)

 

Nam Tam Phục là con nhà thế gia ở huyện Tấn Dương (tỉnh Sơn Tây), có một tòa nhà riêng cách nơi ở hơn mười dặm, cứ hàng ngày cưỡi ngựa qua. Một hôm gặp mưa, trên đường có một xóm nhỏ, thấy một nhà nông dân cổng nẻo rộng rãi bèn ghé vào tránh mưa. Người trong vùng vốn đều kính sợ Nam, nên chỉ giây lát đã thấy chủ nhà ra mời vào, thái độ rất khép nép cung kính. Nam vào nhà thấy rất nhỏ hẹp, khách đã ngồi xuống chủ nhà mới kịp lấy chổi quét dọn qua loa. Kế pha mật làm trà bưng ra mời, Nam bảo ngồi mới dám ngồi xuống. Hỏi tên họ, xưng là Đình Chương họ Đậu, giây lát lại dọn rượu làm gà tiếp đãi rất chu đáo. Thấy có cô gái tuổi cập kê bưng mâm dọn chén ngoài cửa, chỉ thấp thoáng nửa người, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng. Nam thấy rung động, ngớt mưa chào về, bồi hồi nhớ nhung mãi. Hôm sau Nam mang gạo lụa qua tặng để cám ơn, mượn cớ làm thân. Từ đó trở đi thường mang rượu thịt ghé chơi nhà Đậu, cùng nhau ăn uống trò chuyện. Cô gái cũng quen dần, không tránh mặt quá nữa, cứ qua lại trước mặt khách. Cứ Nam nhìn tới thì cúi đầu mỉm cười, Nam càng say mê, cứ ba ngày phải ghé lại một lần.


Một hôm gặp lúc Đậu vắng nhà, Nam ngồi chờ hồi lâu, cô gái ra tiếp khách, Nam nắm tay cưỡng ép, cô gái thẹn thùng giãy giụa chống cự nói "Nhà tuy nghèo nhưng ta cũng phải lấy chồng, sao lại cậy giàu sang khinh người thế!". Lúc bấy giờ Nam vừa chết vợ, bèn chắp tay nói “Nếu được nàng thương yêu, thề không lấy ai khác". Cô gái đòi phải thề, Nam chỉ tay lên trời thề sẽ chung sống với nhau mãi mãi, cô gái mới ưng thuận. Bắt đầu từ hôm đó cứ chờ lúc Đậu đi vắng thì qua gần gũi với cô gái. Cô gái giục “Hẹn hò riêng tư thế này không thể lâu dài được. Được đoái thương che chở cho, nếu chịu ra ơn cưới hỏi, cha mẹ ắt lấy làm vinh dự, chẳng có gì khó khăn cả, nên lo cho mau”. Nam cũng hứa. Nhưng lại nghĩ cô gái là con nhà nông dân không xứng làm vợ mình, nên cứ bịa đặt chuyện nọ kia để khất lần. Gặp lúc có người mối tới bàn chuyện hôn nhân với một nhà giàu có, Nam lúc đầu còn ngần ngừ, kế nghe con gái nhà ấy xinh đẹp nhiều tiền, bèn quyết ý. Cô gái có mang, thúc giục càng gấp, Nam bèn cắt đứt không tới nữa.

398. Lưu Lượng Thái

 

398. Lưu Lượng Thái (Lưu Lượng Thái)

 

Hoài Lợi Nhân ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) kể rằng ông Lưu Lượng Thái là hậu thân của hồ. Cha ông ở núi Nam Sơn, thấy có ông già tới nhà, tự xưng là họ Hồ. Ông Lưu hỏi nhà cửa, ông ta đáp "ở trong núi này thôi, nhưng ở đây vắng vẻ chỉ có hai chúng ta, cũng nên sớm tối qua lại thăm hỏi nhau, nên ta tới làm quen". Ông Lưu trò chuyện thấy lanh lợi sắc sảo thích lắm, bèn đem rượu uống với nhau, say khướt ông ta mới ra về. Hôm sau ông ta tới, ông Lưu tiếp đãi còn nồng hậu hơn, nhân nói “Từ khi đội ơn ông tới chơi, chia tay thấy nhớ lắm, nhưng không biết nhà ông ở làng nào, xin hỏi ông ở đâu vậy?". Hồ đáp "Không giấu gì ông, thật ra ta là con hồ già trong núi này, có túc duyên với ông nên mới dám tới xin làm môn hạ, chứ vốn không thể gây họa cho ông được, xin tin nhau đừng sợ hãi".


Ông Lưu cũng không ngờ sợ gì, lại càng thân thiết, lập tức so tuổi tác thì Hồ lớn hơn, bèn nhận làm anh. Từ đó qua lại với nhau như anh em ruột, có chuyện hay dở gì Hồ đều báo cho biết trước. Lúc ấy ông Lưu chưa có người nối dõi, chợt ông già nói “Ông đừng lo, ta sẽ làm con ông”, ông Lưu lấy làm kỳ quái vì lời nói lạ lùng, Hồ nói “Ta tính số mình thấy đã hết rồi, sắp đến lúc đầu thai, nhưng đi nơi khác đâu bằng sinh vào nhà cố nhân?". Ông Lưu hỏi "Thần tiên vốn thọ vạn năm, đâu lại tới nỗi thế?”. Ông già lắc đầu đáp “Đó không phải là chuyện ông biết được", rồi đi. Đêm ấy quả nhiên ông Lưu nằm mơ thấy ông già tới nói "Ta tới rồi đây", tỉnh dậy thì phu nhân vừa sinh được một con trai, đó là ông Lưu Lượng Thái. ông Lưu lớn lên, ngôn từ lanh lợi hài hước giống hệt như Hồ. Lúc trẻ đã nổi tiếng văn chương, năm Nhâm thìn đỗ Tiến sĩ, tính lại hào hiệp hay giúp đỡ người hoạn nạn, nên tân khách Tần Sở Yên Triệu[320] đều tới ở cùng, mở quán bán hàng, trước cổng thành cái chợ.

 ---
[320] Tần Sở Yên Triệu: tức vùng Thiểm Tây, Hồ Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, gọi theo tên thời Tiên Tần.


399. Ngã Quỷ

 

399. Ma Đói (Ngã Quỷ)

 

Mã Vĩnh người đất Tề (vùng Sơn Đông) tính tham lam vô lại, không có chút của cải gì, người làng gọi đùa là Ma đói. Năm hơn ba mươi tuổi càng bần cùng, quần áo vá chằng vá đụp, ngày ngày mang một con chim ra chợ làm trò quanh quẩn xin ăn, người ta đều khinh rẻ, coi như súc vật. Trong huyện có ông già họ Chu lúc nhỏ dời lên sống ở kinh đô làm những nghề không tốt đẹp. Khi già về làng ở, bị sĩ phu đàm tiếu chê bai. Nhưng Chu ăn ở hiền lành lương thiện, nên ngươi ta dần dần mới tỏ ra tôn trọng. Một hôm Chu thấy Mã làm trò không được đồng nào lấy làm thương xót bèn cho tiền, lại dắt về nhà cho mấy trăm đồng làm vốn buôn bán nhỏ. Mã về lại không chịu làm ăn, cứ ngồi không ăn sẵn, không bao lâu hết tiền lại làm theo lối cũ, nhưng thường tránh mặt Chu. Sau bỏ làng lên huyện, tối đến vào ngủ ở trường huyện. Gặp đêm đông lạnh quá, cứ lấy lọng trên đầu tượng Khổng tử đắp, lại chẻ cả bàn ghế đốt sưởi.


Học quan biết được, tức giận trừng phạt, Mã năn nỉ xin tha, lại hứa sẽ giúp tiên sinh làm giàu. Học quan mừng rỡ tha cho đi. Mã dò xét biết được nhà viên Chư sinh Mỗ giàu có, liền tới cửa bắt đưa tiền, cố ý chọc giận rồi lấy dao tự đâm vào mình, vu cáo để ăn vạ. Học quan đòi viên Chư sinh phải hối lộ nhiều tiền mới bỏ qua, các viên Chư sinh đều căm phẫn, cùng kiện lên huyện. Quan huyện điều tra được sự thật, sai đánh Mã bốn chục trượng, đóng gông giam lại, ba ngày thì Mã chết. Đêm ấy ông già họ Chu nằm mơ thấy Mã đội mũ đeo đai bước vào nói "Chịu ơn lớn của ông, nay tới để báo đáp”, tỉnh dậy thì vợ đã sinh con trai. Ông biết đó là Mã, đặt tên là Mã Nhi. Mã Nhi lúc nhỏ không thông minh nhưng cũng học hành được, năm hơn hai mươi tuổi thi cử mấy lần cũng được vào học ở trường huyện. Sau khi khảo khí, đêm ngủ ở nhà trọ, nhìn thấy trên vách có dán bài văn sách cũ, tới xem thì làm theo đề bài trong thiên Cáo tử sách Mạnh Tử, trong lòng thấy khó khăn nên cố học thuộc. Vào thi thì đề bài ra lại đúng như thế. Mã bèn chép lại nên đỗ hạng ưu, được hưởng lương.


Năm hơn sáu mươi tuổi được bổ làm Huấn đạo huyện Lâm Xuyên, tại chức mấy năm không hề lấy đạo nghĩa giao du với ai, cứ thấy ai rút tiền trong tay áo đưa ra thì hón hở như chim cốc bắt được cá, ai không đưa tiền thì nhướng chân mày dài ra cả tấc, nhìn chằm chặp như không quen. Gặp lúc quan trên gặp người Chư sinh mắc lỗi nhỏ, ra lệnh các Học quan phải nghiêm khắc, Mã càng tàn ác như trị giặc cướp, có ai kiện tụng học trò là lập tức gõ cửa Huấn đạo, đủ chuyện như thế nên các Chư sinh không sao chịu nổi. Nhưng Mã gần bảy mươi tuổi thì tai điếc mắt mờ, cứ ra gặp người là sắc thuốc nhuộm tóc nhuộm râu cho đen lại. Có cuồng sinh Mỗ lấy rễ cây nhuộm màu đỏ sắc thuốc cho Mã, sáng ra mọi người cùng nhìn thì thấy râu tóc đỏ rực như tượng Linh quan trong miếu. Mã cả giận sai bắt nhưng người kia đã trốn đi từ đêm, vì thế căm tức thành bệnh, vài tháng thì chết.

 

400. Ty Khảo Tệ

 

400. Khảo Tệ Ty (Ty Khảo Tệ)

 

Văn Nhân Sinh người tỉnh Hà Nam mắc bệnh nằm liệt giường mấy hôm, thấy một viên Tú tài vào quỳ trước giường ra mắt, thái độ cực kỳ cung kính. Kế mời sinh dạo vài bước nói chuyện, đỡ vai sinh ra cửa vừa đi vừa trò chuyện không ngớt, đã mấy dặm vẫn chưa chịu chia tay. Sinh dừng lại chắp tay chào, Tú tài nói " Xin phiền ông đi thêm vài bước, ta có việc muốn nhờ”. Sinh hỏi, Tú tài đáp "Bọn ta đều thuộc Ty khảo tệ cai quản, Chủ ty có tên là Quỷ vương bụng rỗng (Hư đỗ Quỷ vương), theo lệ cứ ra mắt là phải cắt một miếng thịt vế, nhờ ông nói giúp cho một tiếng thôi". Sinh ngạc nhiên hỏi mắc tội gì mà tới nỗi như thế, Tú tài đáp "Không cần có tội, lệ cũ vốn thế. Nếu có nhiều tiền thì cũng có thể chuộc được, nhưng ta nghèo”. Sinh nói “Ta vốn chẳng quen biết gì với Quỷ vương, làm sao giúp ông được?". Tú tài đáp “Kiếp trước ông là hàng ông nội của y, có thể y nghe lời”. Trò chuyện một lúc thì vào một nơi thành quách, tới một nha thự.


Vào trong thấy hành lang không rộng rãi to lớn lắm, chỉ có một sảnh đường cao rộng, dưới tường có hai tấm bia đá dựng hai bên, viết chữ màu xanh to như cái tô lớn, một tấm viết "Hiếu đễ trung tín", một tấm viết "Lễ nghĩa liêm sỉ”. Bước lên thềm tiến vào thấy trên sảnh có một tấm biển viết ba chữ lớn "Khảo tệ ty". Cột chính khắc một đôi liễn chữ lõm vào rằng "Gọi hiệu gọi tự gọi tường[321] giáo hóa cõi âm duy đức hạnh hai chữ, Trò giỏi trò vừa trò kém, môn đồ cửa quỷ chỉ lễ nhạc một thềm". Còn dạo quanh nhìn ngó chưa hết thì quan đã ra, tóc xoăn lưng còng như người sống mấy trăm tuổi, nhưng lỗ mũi to huếch, môi vẩu răng chìa cả ra ngoài. Theo sau là một viên Chủ bạ mình người đầu cọp, lại có mấy mươi người lính lệ đứng hầu, quá nửa trông dữ tợn hung ác như quỷ núi, Tú tài nói "Đó là Quỷ vương đấy". Sinh sợ quá định lủi ra nhưng Quỷ vương đã nhìn thấy, bước xuống vái chào mời sinh lên. Kế hỏi thăm sức khỏe, sinh chỉ dạ dạ. Lại hỏi có việc gì quá bộ tới đây, sinh nói rõ lại ý của Tú tài. Quỷ vương đổi sắc mặt nói "Chuyện này đã có lệ thường, cho dù cha ta ra lệnh cũng không dám vâng lời", dáng vẻ nghiêm nghị dữ tợn như không cho ai nói thêm câu nào nữa. Sinh im lặng rồi đứng dậy cáo biệt. Quỷ vương đi nép một bên tiễn ra tới ngoài cổng mới quay vào. Sinh không về mà lẻn trở vào để xem tình hình.

 

401. Lý Sinh

 

401. Lý Sinh (Lý Sinh)

 

Lý sinh ở huyện Thương Hà (tỉnh Sơn Đông) là người mộ đạo Phật. Cách làng hơn một dặm có ngôi chùa, Lý dựng ba căn tịnh xá, ngồi xếp bằng trong đó. Các nhà sư khất thực qua lại ghé vào ăn ngủ, thường cùng họ bàn kinh kệ, chu cấp đầy đủ. Một hôm tuyết lớn rất lạnh, có nhà sư già mang bọc ghé vào nghỉ, bàn kinh kệ rất sâu sắc. Sáng ra định đi, Lý cố giữ lại. Được vài ngày, Lý có chuyện phải về nhà, nhà sư dặn trở lại sớm, như có ý muốn chào Lý trước khi đi. Gà gáy Lý đã trở lại, gõ cửa không thấy đáp, bèn leo tường vào. Thấy trong phòng đèn lửa leo lét, không biết nhà sư làm gì nên nghi ngờ, lén tới nhìn trộm. Nhà sư sắp xếp hành lý, có một con lừa gầy ốm buộc ngoài lan can, Lý nhìn kỹ thì không phải là lừa thật, mà giống vật chôn theo người chết, có điều vẫn vẫy tai khua đuôi thở phì phì. Giây lát nhà sư sắp xếp hành lý xong, mở cửa dắt nó ra, Lý đi theo sau. Ngoài cổng chùa vốn có cái ao lớn, nhà sư buộc lừa vào gốc cây cạnh ao, cởi áo lội xuống vốc nước lên rửa ráy xong, mặc áo vào, kéo lừa xuống tắm cho nó. Kế đó đeo hành lý nhảy lên lưng lừa, thúc nó đi mau. Lý mới cất tiếng gọi, nhà sư chỉ từ xa chắp tay cáo biệt, chưa kịp nghe nói gì thì đã đi xa rồi.


Trên đây là lời của Vương Mai Ốc. Vương là bạn của Lý, từng tới chơi nhà, thấy trên sảnh đường treo một tấm biển viết “Sảnh đợi chết" (Đãi tử đường), cũng là một bậc đạt sĩ.

 

402. Tưởng Thái Sử

 

402. Thái Sử Họ Tưởng (Tưởng Thái Sử)

 

Thái sử Tưởng Siêu nhớ được kiếp trước là sư trên núi Nga Mi, mấy lần mơ thấy tới bên bờ đầm cạnh nơi ở cũ rửa chân. Tính rất thích kinh Phật, luôn nghĩ tới kinh kệ, tuy sớm vào Hàn lâm nhưng thường có ý xuất gia. Có lần rảnh rỗi xuống Giang Nam chơi, tới Tần Bưu không muốn về nữa, người con trai khóc lóc lôi kéo, ông không nghe. Kế vào đất Thục, tới ở chùa Kim Sa tại Thành Đô (tỉnh thành Tứ Xuyên). Lâu sau lại tới núi Nga Mi, lên ở chùa Bạch Hổ, nói bệnh rồi hóa, tự viết bài kệ rằng:


Tu nhiên viên hạc tự lai thân,
Lão nạp vô đoan trụy nghiệp trần.
Ninh hướng hoạch thang cầu ty nhiệt,
Na tùng đại hải khứ phiên thân.

Công danh khổi lỗi trường trung vật,
Thê tử khô lâu đội lý nhân.
Chỉ hữu quân thân vô báo đáp,
Sinh sinh thường tự chúc năng nhân.

(Thảnh thơi vượn hạc tới cùng thân
Lão nạp không dưng xuống cõi trần
Cứ hướng vạc sôi mong tránh nóng
Sao theo bể lớn thỏa xoay vần

Công danh ngao ngán tuồng con rối
Thê tử mong manh kiếp thế nhân
Chỉ có hiếu trung chưa hết phận
Hóa sinh vẫn nghĩ phải làm nhân)


Phụ: Một Truyện Trong Trì Bắc Ngẫu Đàm (Trì Bắc Ngẫu Đàm Nhất Tắc)

Hàn lâm Tu soạn, tiên sinh Hổ Thần Tưởng Siêu người Kim Đàn, tự hiệu là Hoa Dương sơn nhân. Lúc nhỏ ham mê Phật học, không uống rượu ăn thịt, bà nội ông nằm mơ thấy là nhà sư già ở núi Nga Mi tới đầu thai. Khi ông được vài tuổi thường nằm mơ thấy mình là sư già ở trong một gian nhà tranh, sau nhà có dòng suối chảy tới, có lúc nhúng một chân vào suối để rửa rồi xuống suối tắm, phía trên là núi cao chọc trời, lại có mấy lần nằm mơ thấy Phật Nhiên Đăng vào phòng mình cùng luận bàn kinh kệ. Năm mười lăm tuổi, có hai đạo nhân tới ngồi ở cửa nói "Sơn nhân có thầy ở núi Nga Mi, đã hơn hai trăm tuổi, sợ đã rơi rụng rồi" vân vân, hồi lâu mới đi. Năm Đinh hợi niên hiệu Thuận Trị (1647) tiên sinh hai mươi ba tuổi, thi đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp đệ tam danh, được bổ vào Hàn lâm viện, hơn hai mươi năm thì về ở ẩn, kế được thăng từ hàm Biên tu lên hàm Tu soạn, chết ở chức Sử quan.


Tính ông thích ngao du sơn thủy, đi chơi khắp từ Ngũ nhạc tới các núi Hoàng Sơn, Cửu Hoa, Khuông Lư, Thiên Đài, Võ Đương, không hề sợ cọp beo rắn rết. Lúc về già làm việc ở Sử quán lấy cớ có bệnh cáo về, nhưng không về Giang Nam mà từ đất Sở (vùng Hồ Nam) đi thuyền lên Vu Giáp vào Nga Mi, tháng giêng năm Quý sửu chết ở chùa Phục Hổ núi Nga Mi. Lúc tịch có làm bài thơ rằng "Lại hướng vạc sôi mong mát mẻ" vân vân. Thường nói mình là dòng dõi của Thừa tướng Tưởng Uyển nhà Thục Hán, lúc ở đất Thục (vùng Tứ Xuyên) có làm bộ Tứ Xuyên thông chí, vì việc Uyển cứ tới đập của các dinh Tuần phủ, Cha chánh, án sát ở tỉnh, ngông nghênh không chịu bị câu thúc tới như thế đấy.

 

403. Ấp Nhân, 404. Vu Trung Thừa

 

403. Người Trong Huyện (Ấp Nhân)

Trong huyện có người làng nọ vốn là kẻ vô lại. Một buổi sáng ngủ dậy, thấy có hai người tới bắt đi, tới đầu chợ, gặp người đồ tể treo nửa con heo lên giá, hai người lấy hết sức xô vào, y chợt thấy mình dính liền vào với thịt heo. Lát sau người đồ tể chặt thịt bán, vung dao cắt xẻo, cắt tới đâu y thấy đau tới đó, buốt tới tận xương tủy. Sau lại có người hàng xóm của y tới mua thịt, cứ cò kè trả giá, hết thêm mỡ lại bớt nạc, cắt vụn cả ra, lại càng đau đớn. Đến khi thịt heo đã bán hết, y mới tìm đường về được. Về tới nhà thì mặt trời đã lên cao, người nhà nói rằng y dậy muộn, bèn kể lại những việc mình đã gặp. Gọi người hàng xóm để hỏi, thì quả là đi chợ mua thịt mới về tới nói là có bao nhiêu miếng thịt bao nhiêu miếng mỡ đều đúng vanh vách. Trong vòng buổi sáng mà đã qua một phen bị tùng xẻo chẳng cũng lạ sao!

 

404. Trung Thừa Họ Vu (Vu Trung Thừa)

Trung thừa Vu Thành Long đi tuần sát tới huyện Cao Khâu (tỉnh Giang Tô). Gặp lúc có người thân hào sắp gả con gái, quần áo nữ trang rất nhiều, đêm bị kẻ trộm đào ngạch vào lấy hết sạch, quan phủ huyện không biết làm sao truy tìm. Ông Vu sai đóng hết các cổng thành, chỉ mở một cổng cho dân ra vào, sai người canh giữ khám xét rất ngặt để tìm tang vật. Lại ra lời hiểu thị rằng "Tất cả người trong thành đều phải về ở nhà, chờ hôm sau khám xét xem có giấu diếm của cải ăn trộm không". Rồi ngầm dặn những người canh giữ cửa thành lưu ý xem ai ra vào cổng thành nhiều lần thì bắt. Quá trưa thì bắt được hai người, nhưng chỉ đi tay không không có hành lý gì. Ông nói "Đây đúng là kẻ trộm rồi", hai người phân trần không thôi. ông sai cởi áo ra để khám, thấy phía trong áo còn mặc thêm hai chiếc áo đàn bà, đều là vật ăn trộm được. Đại khái chúng sợ hôm sau lục soát khám xét nên vội mang đi giấu, nhưng quần áo nhiều quá khó mang xách nên cứ ngầm mặc trong người ra vào nhiều lần.


Lại lúc ông làm Tri huyện, có lần qua huyện bên cạnh, sáng sớm đi gần tới thành thấy hai người cáng một người bệnh. Người bệnh trùm một cái chăn lớn, trên gối để lộ ra mái tóc, có cài một chiếc trâm hình con phượng, nằm nghiêng trên cáng. Có ba bốn người đàn ông khỏe mạnh đi theo bên cạnh, thay nhau lấy tay đè mép chăn xuống sát người bệnh như sợ gió lọt vào. Cứ giây lát lại ghé vào bên đường cho hai người khác thay phiên khiêng cáng. ông Vu đi qua rồi, sai người quay lại hỏi, họ đáp là em gái bị bệnh nặng phải đưa về bên nhà chồng. Ông đi được hai ba dặm, lại sai người quay lại xem họ vào thôn nào. Sai nhân đi theo, tới một thôn nọ thấy có hai người đàn ông ra đón họ vào nhà, trở lại bẩm với ông. Ông hỏi quan huyện ấy rằng trong thành có giặc cướp gì không, quan huyện đáp rằng không. Lúc ấy triều đình quy trách nhiệm về quan lại rất nghiêm khắc, trên dưới đều sợ nên cho dù trong hạt bị trộm cướp cũng ẩn nhẫn không dám nói ra.


Ông tới quán xá rồi, sai người nhà hỏi kỹ, quả nhiên có người nhà giàu bị cướp vào nhà phóng hỏa giết chết. Ông gọi con người nhà giàu tới hỏi, người ấy không nhận là nhà vừa bị cướp. Ông nói “Ta đã tra xét thay, biết được bọn cướp ở đây rồi, chẳng xa xôi gì đâu”. Con người nhà giàu bèn dập đầu năn nỉ, xin ông rửa hờn cho người chết. Ông tới gõ cửa gặp quan huyện, cắt đặt lính khỏe rầm rộ ra thành, tới thẳng thôn nọ, bắt được tám người, vừa hỏi cung đã nhận tội. Hỏi người đàn bà bị bệnh là ai, chúng khai "Đêm ấy cùng về kỹ viện nên bàn với kỹ nữ, đặt vàng trong cáng cho cô ta nằm ôm lấy để che giấu, vừa mới chia chác xong", mọi người đều phục ông Vu sáng suốt như thần.


Có người hỏi vì đâu mà ông biết chúng là bọn cướp, ông đáp "Chuyện này rất dễ, chỉ vì người ta không để ý thôi. Đời nào có chuyện đàn bà nằm trên cáng mà lại để đàn ông thò tay vào trong giữ chăn bao giờ? Vả lại chốc chốc lại đổi vai khiêng cáng, có vẻ rất nặng nhọc, đủ biết trên cáng còn có đồ vật khác nữa. Mà nếu đàn bà có bệnh phải đưa về thì phải là đàn bà ra cổng đón chứ. Đây lại là hai người đàn ông, mà chẳng hề ngạc nhiên hỏi han một lời, nên biết chắc đó là bọn cướp”.

 

405. Vương Tử An

 

405. Vương Tử An (Vương Tử An)

 

Vương Tử An là danh sĩ huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông) nhưng lận đận mãi ở chốn trường ốc. Khoa ấy vào thi xong, Vương rất mong mỏi, gần đến ngày ra bảng thì uống rượu say mèm, về nằm trong phòng. Chợt có người bẩm ngựa báo tin thi đỗ tới Vương choàng dậy nói "Thưởng người báo tin mười ngàn”. Người nhà thấy say, nói dối cho qua chuyện "Xin cứ ngủ yên, đã thưởng rồi", Vương lại ngủ tiếp. Giây lát lại có người bẩm “Ông đỗ Tiến sĩ". Vương nói một mình "Còn chưa lên kinh, làm sao đã đỗ Tiến sĩ”. Người ấy nói “Ông quên rồi à? Đã qua tam trường rồi". Vương cả mừng lại vùng dậy gọi "Thưởng người báo tin mười ngàn”. Người nhà lại nói dối "Xin cứ ngủ yên! Đã thưởng rồi". Lát sau, một người bước mau vào bẩm “Ông thi điện đỗ Hàn lâm, Trưởng ban đang có mặt”. Nhìn ra quả có hai người đang lạy trước giường, áo mũ tề chỉnh. Vương gọi dọn rượu mời, người nhà lại ậm ừ, cười thầm là say tới như thế.


Hồi lâu, Vương lại nghĩ không thể không ra ngoài cho vẻ vang với làng xóm, cất tiếng gọi Trưởng ban, nhưng gọi cả chục lần vẫn không thấy thưa. Người nhà cười nói "Xin tạm nằm thêm một lúc, ông ta vừa ra ngoàí". Hồi lâu quả nhiên Trưởng ban lại tới, Vương đập giường giậm chân mắng thằng đầy tớ chậm chạp đi đâu mất mặt, Trưởng ban nổi giận nói “Đồ học trò khố rách vô lại, nãy giờ ta đùa với ngươi, mà ngươi mắng thật à?". Vương giận lắm vùng dậy tát cho rơi cả mũ, Vương cũng ngã theo. Vợ vào đỡ dậy nói "Sao mà say tới mức này?”. Vương đáp "Thằng Trưởng ban đáng ghét, ta phải trị nó chứ say cái gì?". Vợ cười nói "Trong nhà chỉ có một mụ già ban ngày nấu cơm, ban đêm ấp chân cho ông, lấy đâu ra Trưởng ban? Chờ đến khi ông rạc xương ra ấy à?". Con cái đều phì cười, Vương cũng hơi tỉnh rượu, chợt như tỉnh mộng mới biết những việc trước đó đều là nhảm nhí. Nhưng vẫn nhớ việc Trưởng ban rơi mũ, tìm tới sau cửa thấy có một cái núm giải mũ to bằng cái chén, mọi người đều lạ lùng. Vương cười nói "Người xưa bị quỷ trêu chọc, ta nay thì bị hồ lấy làm trò cười"


Dị Sử thị nói: Học trò vào trường thi có bảy cái giống. Lúc mới đầu, đi chân mang tráp giống ăn mày. Lúc gọi tên, quan thét lính mắng giống thằng tù. Lúc về chỗ ngồi, nhô đầu lố nhố, thò cẳng quều quào giống ong lạnh cuối thu. Lúc ra khỏi trường thi, tâm thần thảng thốt, trời đất đổi màu giống chim bệnh rời lồng. Lúc chờ ra bảng thấy cây cỏ đều sợ sệt, mơ mộng cũng chập chờn, nghĩ tới chuyện thi đỗ thì khoảnh khắc lầu gác tựa mọc lên, nghĩ tới chuyện thi rớt thì chớp mắt xương cốt như mục nát, đứng ngồi không yên giống con khỉ bị trói. Chợt tới lúc ngựa ruổi báo danh, không có tên mình thì tinh thần suy sụp chết điếng giống con nhặng say thuốc, ai chọc ghẹo cũng không biết. Đầu tiên thì lòng dạ tan nát, chửi quan trường không mắt, bút mực không thiêng, mọi đồ dùng học hành đều đem đốt, đốt không cháy thì giẫm đạp, giẫm đạp không vỡ thì ném xuống cống, rồi xõa tóc vào núi, quay mặt vào vách, nếu lại có kẻ lấy văn chương "thả phù”[322] khen hay dâng cho mình, nhất định sẽ vác dao rượt. Không bao lâu, ngày tháng trôi đi, lòng dạ nguôi dần, lại đâm ra ngứa nghề, thì giống chim cưu vỡ trứng, đành tha rác làm tổ, ấp ủ trứng mới vậy. Tình cảnh như thế, người trong cuộc khóc lóc tưởng chết song người ngoài cuộc nhìn vào chỉ thấy buồn cười. Vương Tử An nháy mắt trong lòng sinh muôn mối, chắc hồ quỷ cười trộm đã lâu mới nhân lúc bị say mà đùa cợt, nên lúc đầu giường tỉnh rượu, há không bật cười tự nhạo mình sao? Nghĩ lại cái ý vị của sự đắc chí chỉ trong chớp mắt, các ông trong rừng văn thì chỉ được trong đôi ba chớp mắt, thế mà Vương Tử An chỉ nếm hết trong một buổi, cái ơn của hồ đáng sánh với của bậc phòng sư[323] vậy.

 ---

[322] Văn chương thả phù: tức văn chương bát cổ dùng trong khoa cử ngày trước, gồm có tám đoạn, chuyển ý từ đoạn trước sang đoạn sau thường dùng hai chữ "thả phù” (vả lại) để đưa đẩy.

[323] Phòng sư nguyên văn là "tiến sư”, chỉ các quan chấm thi, ngày trước học trò đi thi được lấy đỗ phải làm lễ tạ ơn, Tôn trọng như bậc thầy.

406. Mục Nhụ, 407. Kim Lăng Ất

 

406. Trẻ Chăn Trâu (Mục Nhụ)

 

Có hai đứa trẻ chăn trâu vào núi gặp hang sói, thấy trong có hai con sói con, bèn bàn tính rồi mỗi đứa bắt một con, chia nhau leo lên hai cái cây cách nhau vài mươi bước. Giây lát sói mẹ về, vào hang thấy mất con, có vẻ lo lắng hoảng sợ. Một đứa trẻ bèn kéo tai kéo chân sói con cho nó kêu lên, sói mẹ nghe tiếng ngẩng nhìn, giận dữ lao tới dưới gốc cây, gầm thét cắn xé. Đứa trên cây kia lại chọc cho sói con kêu ầm lên, sói mẹ nghe tiếng, ngoảnh nhìn bốn phía, vừa trông thấy thì bỏ gốc cây này phóng qua, đứng dưới gầm thét. Tiếng sói con lại kêu lên trên cây bên này, sói mẹ lại phóng qua, cứ thế miệng không ngừng gầm, chân không ngừng chạy, qua lại vài mươi lần thì chạy chậm dần, gầm nhỏ dần, sau cùng nằm phục xuống hồi lâu không động đậy. Hai đứa trẻ leo xuống nhìn, thì đã đứt hơi chết rồi.


Nay có kẻ cường hào trợn mắt vỗ kiếm như định nuốt sống người ta, kẻ làm cho y nổi giận bèn đóng chặt cửa. Y chữi mắng kiệt sức khan tiếng thấy không ai chống lại, há chẳng đắc ý tự cho là oai hùng? Không biết đó chỉ là cái oai của thú vật, người ta cố ý chọc ghẹo để làm trò vui mà thôi.

 

407. Anh Ất Ở Kim Lăng (Kim Lăng Ất)

 

Người bán rượu ở Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) là Ất, mỗi khi cất rượu xong lại ngâm vào nước cho nồng thêm, người mạnh rượu bao nhiêu cũng chỉ uống vài chén là say mềm, nhờ vậy nổi tiếng là có rượu ngon, trở nên giàu có. Một buổi sáng thức dậy, thấy có con hồ say nằm cạnh hầm rượu, bèn trói chặt bốn chân, đang tìm dao để giết thì hồ tỉnh dậy cầu khẩn rằng "Xin tha cho, ông muốn gì cũng được”. Ất bèn thả ra, nó lăn lộn vài cái biến thành người. Lúc ấy có họ Tôn ở cùng ngõ, vợ bị hồ ám, Ất nhân đó hỏi. Hồ đáp "Đó là ta đấy". Ất thấy người em dâu họ Tôn rất đẹp, xin hồ dắt theo, hồ lấy làm khó. Ất nài nỉ mãi, hồ bèn đưa đi, tới một cái hang, hồ lấy một tấm áo đưa cho, nói "Đây là của tiên huynh để lại, mặc vào thì có thể tới đó được". Ất mặc vào đi về nhà, người nhà đều không ai nhìn thấy, tới khi mặc áo thường trở ra, họ mới nhìn thấy. Ất cả mừng, cùng hồ tới nhà họ Tôn, thấy trên tường dán lá bùa lớn vẽ mấy nét ngoằn ngoèo như con rồng. Hồ sợ nói "Hòa thượng ác thật ta không vào được", bèn lui lại bỏ đi.


Ất mon men tới gần thì có con rồng thật từ vách nhô ra, ngẩng đầu muốn bay tới, sợ quá cũng lui lại. Đó là họ Tôn tìm được một nhà sư nước ngoài nhờ trấn yểm hồ, nhà sư mới trao cho lá bùa về trước dán chứ chưa tới. Hôm sau nhà sư tới, lập đàn làm phép, hàng xóm kéo qua xem, Ất cũng trà trộn trong đó, chợt biến sắc bỏ chạy về nhà, tới cửa thì ngã xuống đất biến thành con hồ, chân tay còn mặc quần áo người. Nhà sư toan giết, vợ con Ất lạy lục năn nỉ, nhà sư bèn sai trói Ất lại, hàng ngày cho ăn uống, được vài hôm thì chết.