Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Thị Kim Cúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Thị Kim Cúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Về thăm nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

 Ngô Thị Kim Cúc - Tháng Tư – Về thăm nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Với nước da trắng muốt trong veo, mái tóc bạc và nụ cười hiền, "người đẹp" tám mươi tuổi Nguyễn Thị Thụy Vũ trông giống bà tiên trong chuyện cổ... ❤ ❤ . Vinh dự theo hầu bà tiên hiền là Kim Cúc Ngô Thị và nhà thơ Ý Nhi...

 Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc

 

Tháng Tư, một đoàn tám người, “cơ cấu tùy hứng”, đã về Lộc Ninh – Bình Phước thăm nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, bởi biết chị bị tai nạn gãy chân trước đó mà chưa lên thăm được.

Trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất của miền nam thời kỳ trước 1975, có ba người gốc Huế: Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng. Người thứ tư gốc Bắc di cư: Trùng Dương. Chỉ có Nguyễn Thị Thụy Vũ là dân Nam bộ rặt. Văn chương của chị cũng đặc sệt chất Nam bộ, từ ngôn phong, từ ngữ chị dùng cho tới lời ăn tiếng nói, tính cách, hành vi của các nhân vật. Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long.

 

Theo thứ tự từ trái qua: Kim Cúc Ngô Thị, nhà báo Thanh Vân, nhạc sĩ  Bạch Cung Thạnh, nhà văn-dịch giả Mai Sơn, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà thơ-nhà báo Ly Doi, họa sĩ Lê Ký Thương, nhà nghiên cứu Khanh Tram Nguyen Thi, nhà thơ Ý Nhi.

Xuất thân là một cô giáo tỉnh nhỏ ở Vĩnh Long nhưng tác phẩm của Thụy Vũ ngồn ngộn chất “đời” của Sài Gòn đô thị, sát sàn sạt những thực-tế-tàn-nhẫn mà không phải người phụ nữ nào cũng có điều kiện để hiểu biết. Đó chính là “vốn sống” mà chị tích lũy được khi vào năm 1965 chị lên Sài Gòn dấn thân vào nghiệp viết lách, bên cạnh đó còn kiêm việc dạy tiếng Anh cho những cô gái bán bar hoặc lấy Mỹ.


Trong 10 năm từ 1965 đến 1975, chị đã xuất bản 10 tác phẩm gồm ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông; và bảy tiểu thuyết: Ngọn pháo bông, Thú hoang, Khung rêu (Giải thưởng Văn học toàn quốc năm 1971), Như thiên đường lạnh, Nhang tàn thắp khuya, Chiều xuống êm đềm, Cho trận gió kinh thiên.


Sau 1975, dù là con gái một cán bộ kháng chiến – nhà văn Mặc Khải – Nguyễn Thị Thụy Vũ vẫn không thể tiếp tục cầm bút do tác phẩm bị quy là đồi trụy, chị phải bươn chải với những công việc cực nhọc để nuôi bốn đứa con, trong đó có một người sống đời thực vật. Chị từng buôn bán vặt, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng cà phê…, những công việc mà trước đó không ai hình dung nhà văn nữ này có thể kham được.


Hiện nay đời sống của chị tương đối ổn định khi chị về dựng nhà trên mảnh đất mà cha mẹ để lại. Đó là sau khi chị nhận được sự giúp đỡ từ những bạn văn cũ qua một bài viết mô tả cuộc sống lây lất khốn khó của mấy mẹ con, vào đầu thập niên 2000. Chị đang sống với gia đình con trai, là một người tu tại gia chuyên việc hộ niệm, và cùng với họ là cô con gái út ngoài bốn mươi tuổi vẫn sống đời thực vật.

“Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc – Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”



“Bốn bể tung hoành ngang với dọc – Ra đi thanh thản tựa như về”.


Phần ngoài cùng của căn nhà, sát mặt đường nhựa là Cửa hàng Cá cảnh Sinh vật biển và Hoa kiểng Trúc Hạc. Phần nhà ở phía trong tương đối rộng, thoáng, với một số đồ gỗ chị đã mang về từ ngôi từ đường của dòng họ, mà sau 1975 cha chị đã hiến tặng nhà nước để làm cơ quan nhưng lại bị sử dụng làm nơi sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Gian thờ thật trang nghiêm với bàn thờ Phật A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí cùng với hai câu “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc – Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”.



Gian kề thờ ông bà, với hình một hoa hồng trắng thật lớn làm nền, trên đó đính tên những người quá cố, cùng với hai câu: “Bốn bể tung hoành ngang với dọc – Ra đi thanh thản tựa như về”.


Câu chuyện giữa chủ khách mới bắt đầu đã rôm rả thân mật dù nhiều người chị mới gặp lần đầu. Mái tóc bạc cắt ngắn có vẻ được chăm chút, bộ quần áo lụa giữa màu lam và màu mỡ gà rất hợp với tuổi tác và nước da trắng trong veo, có lẽ bị cớm nắng sau thời gian dài không ra ngoài được, trông chị thật đẹp, một vẻ đẹp phúc hậu bình yên. Tuy nhiên nụ cười nhuốm chút tinh nghịch mỉa mai cùng những ngôn từ sắc sảo hài hước và trí nhớ mẫn tuệ cho thấy chị vẫn là một Nguyễn Thị Thụy Vũ-ngày xưa, cho dù đã vào tuổi tám mươi.


Đôi chân chị đã có thể bước đi chầm chậm trong nhà dù vẫn chập chững và phải tựa trên gậy chống. Chị đãi khách những trái dừa rất ngọt hái trong vườn nhà, cả loại trà ngon đặc biệt và sau đó ngồi bên khách ồn ào vui vẻ trong bữa trưa món mặn chỉ với vài muỗng cơm chay, bởi từ lâu chị đã ăn chay trường.


Mọi người cứ lo chị mệt nhưng sau bữa trưa chị lại hết sức vui vẻ tiếp tục “hồi ký” không ngừng bao nhiêu câu chuyện về người thân trong gia đình, về các cô gái mà chị dạy tiếng Anh trước 1975, về những tháng ngày xáo trộn kinh hoàng sau 1975, và nhiều nhất về mối tình nổi tiếng giữa chị với nhà thơ Tô Thùy Yên, mối tình đã cho họ ba đứa con chung, nối kết họ với cả một quá khứ đã thay màu đổi sắc của Sài Gòn cũ… Chị khiến mọi người, hầu hết là kẻ hậu sinh, cứ há hốc mồm ra nghe như hút từng lời và phì cười không đừng được khi biết đến vô vàn kỷ niệm có một không hai trong cuộc sống chung của hai người, kể cả việc chị đi thăm nuôi anh khi anh đang “học tập cải tạo”…

Tôi nhớ nhất câu chị nhắc lời anh Tô Thùy Yên từng nói về chị với một bạn gái: “Không phải vợ nhưng là người tri kỷ của anh…”. Hẳn anh đã nói rất trung thực và chính xác. Không ai đem kể cho vợ nghe chuyện bồ bịch của mình như anh thường kể với chị không hề giấu giếm che đậy. Bởi vì, hơn cả người yêu, hơn cả chồng vợ, họ là một cặp trời sinh để gặp nhau rồi nợ nần nhau… Người yêu thì có thể bỏ. Vợ thì có thể ly dị. Nhưng tri kỷ thì không cưới hỏi, không ly dị và không biết làm cách nào để “bỏ” được nhau…

Có lẽ họ là phần “bổ sung/phản biện”, phần-trái-dấu-nên-hút-nhau-theo-định-luật… Họ, những “đôi lứa bên trời lận đận”, vừa giống mà cũng vừa chẳng thể giống với bất cứ lứa đôi nào trong quá khứ chiến tranh dằng dặc của một đất nước/dân tộc Việt Nam bị đày ải…

 

Chiến tranh đã chấm dứt được gần bốn mươi mốt năm rồi sao… Hay thật ra, nó vẫn đang tiếp diễn…?


Với nước da trắng muốt trong veo, mái tóc bạc và nụ cười hiền, “người đẹp” tám mươi tuổi Nguyễn Thị Thụy Vũ trong giống bà tiên trong chuyện cổ… Vinh dự theo hầu bà tiên hiền là Kim Cúc Ngô Thị và nhà thơ Ý Nhi…


Nguồn: Đăng lại từ Văn Việt



Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

Bài Hát Chim Nhồng Xanh


Bài Hát Chim Nhồng Xanh

Ngô Thị Kim Cúc


... Bóng trăng ngã lộn bóng tre. Chàng ơi thức dậy mà nghe ta thề... Vườn đào vườn lựu vườn lê. Con ong vô hút nhuỵ con bướm xê ra ngoài. Bạn về nghĩ lại mà coi. Tấm tình ta ở gương soi không bằng...
Nàng hát, nàng hát đi hát lại bài hát ấy trong khi đứa bé hết vật mình sang phải lại sang trái. Tới lúc nàng giơ tay phát vào đít nó, nó mới chịu nằm yên, và yên luôn. Thế mà nàng vẫn hát, hình như quên mất mình đang làm gì.

- Thôi em, nó ngủ rồi.

Giọng anh hơi gắt. Anh chợt nhớ là lần đầu khi nghe nàng hát ru con anh thú vị dường nào. Một cô gái trông rất diện, rất thời thượng mà lại biết hát điệu ru con. Thế nhưng càng về sau, sự thích thú càng vơi đi, thay vào đó là nỗi ngao ngán. Ðứa bé dài ngoẵng, xanh rớt, cứ như một nỗi nhắc nhở đầy trách móc về bổn phận chủ gia đình của anh, của người cha, người chồng. Vì thế, anh không còn thích nghe những bài hát ru con ảo não, đầy vẻ thương thân, trách phận của nàng nữa.

Qua khóe mắt, anh thấy nàng đã nằm thẳng người lại và đang kín đáo liếc anh. Vẻ dò dẫm ấy làm anh bực bội. Thà nàng cứ rằn rực còn hơn.

- Anh ơi, anh nhớ hôm nay ngày gì không? - Vừa ngồi lên, nàng vừa nói bằng giọng tươi tỉnh.

- Ngày gì, ai nhớ nổi - Anh làu bàu trong miệng.

- Ngày một tháng tư... Hai năm rồi... Giọng nàng trải ra, chờ đợi.

Anh đứng lên, chỉ thấy bực dọc hơn. Nghĩa là hai năm ngày họ sống chung, với thằng con trai gần hai mươi tháng. Thế đấy! Sự sa sẩy của anh. Sự thắng thế của nàng. Người ăn mừng ngày ấy là nàng chứ chẳng phải anh đâu. Anh nhìn sững nàng. Không hẳn giận dữ, cũng không hẳn ngạc nhiên. Người từng trải như nàng, lẽ nào để xảy ra chuyện ấy.

- Thì đẻ vậy.

Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021

ĐỌC HỒI KÝ “CÁT BỤI CHÂN AI” CỦA TÔ HOÀI

 ĐỌC HỒI KÝ “CÁT BỤI CHÂN AI” CỦA TÔ HOÀI – Ngô Thị Kim Cúc

 

Bài đọc sách này tôi viết cách đây 21 năm, khi đang là biên tập viên báo Tuổi Trẻ. Do bị Tuổi Trẻ lắc đầu, tôi đã đưa sang in ở báo Phụ Nữ, số thứ Tư 3/3/1993 (lúc ấy Thế Thanh đương là tổng biên tập, trong khi Kim Hạnh đã thôi tổng biên tập báo Tuổi Trẻ từ 1991).

 


Tôi đã đọc tập hồi ký đầu tiên của Tô Hoài (sau đó có thêm Chiều Chiều và Ba người Khác) với tất cả sự xúc động của một kẻ hậu sinh, mà nhờ tập sách, có thể hình dung được những gì mà thế hệ cha anh mình đã phải trải qua trong đời cầm bút. Và tôi biết ơn tác giả, đã đủ cả dũng cảm lẫn tài năng để vẽ lại bức toàn cảnh một thời ấy. Và tôi cảm thấy những thị phi quanh nhà văn này không còn quá quan trọng. Nếu ông ẩn nhẫn là để có thể viết và lưu lại cho  đời sau những tác phẩm thế này, như một người “thư ký thời đại” đúng nghĩa, ông xứng đáng được vinh danh và yêu quý.

 

NỐT  NHỮNG  GIỌT CUỐI  ĐỜI

 

Hình như cùng với cốc rượu, ông già bảy mươi ấy đang kề cà, rỉ rả, tiện đâu nhớ đó, tiện đâu nhắc đó, thành lời, thành chữ, thành một cuộc gọi hồn tập thể không có đèn hương, chỉ bằng nỗi chân tình. Chẳng phải vô cớ mà hai chân dung ấy bỗng nổi bật đến thế, rõ ràng, sắc nét đến thế. Một Nguyễn Tuân khủng khỉnh, dềnh dàng, tao nhã mà sắc cạnh, kẻ mắc chứng đi, bởi thứ nghiệp chướng  “Ta muốn khi ta chết đi/ Da ta được thuộc làm cái va li”. Nguyễn Tuân, người chỉ nhấm nháp để thưởng thức mọi hương hoa của cuộc sống, người chỉ làm cái gì mình thích, đúng với cung cách của một con nhà danh gia đại thần. Còn Nguyên Hồng, xuềnh xoàng, lếch thếch, gặp đâu hay đó, chẳng phân biệt sang hèn, ngon dở, chấp nhận cuộc đời ở tất cả mọi dáng vẻ.

 

Nguyễn Tuân ghét mùi hoa sữa quá gắt, ngay giữa rừng cũng chỉ ăn thịt bò nấu lần đầu, và đi hát Khâm Thiên cũng chỉ dan díu với giọng ca sang nhất. Nguyễn Tuân  bị lấy cắp xe đạp và từ đấy không đi xe đạp nữa. Nguyễn Tuân chỉ lặng yên ngồi nghe trong những cuộc phê bình kiểm điểm thời 1957, 1958, nhưng trong đêm Nô- en Hà Nội đang đương đầu với bom Mỹ, đã cho chuẩn úy phi công bị bắn rơi Giôn một bài học: “Bao giờ được về thì nhớ học lại địa lý. Không có hai nước Hoa Kỳ, không có hai nước Việt Nam…”. Nguyễn Tuân, người lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm: cái này ông phải viết, cái này tôi phải viết, cái người đã nuốt xương cốt đến cả chục con hổ Lai Châu, hổ Xiêm Lào ấy rồi cũng tới lúc phải chống nạng và uống thuốc trợ tim vì chứng thấp khớp, chấp nhận đứng ngoài những cuộc lên đường. Nguyễn Tuân, người được vẽ như một con sư tử, rồi cũng đến lúc phải từ biệt cuộc đời, để lại bao nhiêu câu nói trứ danh, kiểu “tao ghét đứa nào uống rượu để nhắm thằng Khác uống rượu” hay “bao giờ tao chết, nhớ chôn theo với tao một thằng phê bình”…

 

Còn Nguyên Hồng, mau nước mắt, ngày đêm đi đâu cũng kè kè chiếc cặp đựng bản thảo, có thể chứa từ thịt chó ăn thừa đến miếng giấy dầu để dùng vào cái việc cực gay gắt. Nguyên Hồng uống rượu chợ, nhắm ổi, cà muối xổi, bánh cuốn thì làm luôn cả chục. Nguyên Hồng nằm xoài ra lề đường để thưởng thức tẩm quất dạo, mê từ bà chủ quán bia cho tới chị hàng xén. Nguyên Hồng không đi Sài Gòn đã giải phóng dù chưa từng tới cái xứ sở của chính nhân vật Năm Sài Gòn của mình. Nguyên Hồng khóc khi bị chủ quán người Tàu đuổi vì gói thịt chó, khóc cả khi ăn những đĩa lốc bểu Lạng Sơn bốc khói chạnh nhớ tới Quê hương Hải Phòng. Nhưng lần khóc quy mô nhất có lẽ là vào những buổi kiểm điểm triền miên lúc phụ trách tuần báo Văn của Hội Nhà Văn thời kỳ 1957. Trong những buổi ấy, Nguyên Hồng cứ vuốt đi vuốt lại chồng báo, nước mắt đầm đìa: “Tôi thức đêm thức hôm.. bỏ hết sáng tác… ngày đêm chỉ nghĩ đến tờ báo… Bài này đề tài công nhân… bài về kháng chiến… bài về thống nhất… Tôi không thể… không thể…” . Nguyên Hồng khi đọc bài Tô Hoài viết để đăng báo đã hét vào mặt Tô Hoài: “Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng thì không!… Đủ, đủ lắm rồi. Ông đ. chơi với chúng mày nữa. Ông về Nhã Nam!” .  Nói là làm, vơ chồng con cái dắt díu nhau, mang vác nhau về lại vùng đồi heo hút ngày xưa kháng chiến, chẳng tơ màng gì đến thứ bụi bặm chốn phồn hoa. Nguyên Hồng, người ung dung nơi xó rừng với bàn viết là cái chõng tre và chiếc chiếu trải trên nền đất, người duy nhất đã xin về hưu non với cái cười hả hê thách thức: “Ông đố đứa nào bắt chước được ông đấy!”.

 

Còn nữa. Còn Phan Khôi với cái tính ngang như cua. Mười giờ đêm, khi tướng Nguyễn Sơn đang oang oang kể chuyện trong nhà họp, Phan Khôi ngủ không được đã đi xuống, thò đầu vào cửa phòng quát: “Nói to như thế không sợ bị đứt cổ à?” , rồi quay ra, lại chui vào màn. Còn Xuân Diệu với nước mắt và sự lặng câm trong những tối bị kiểm điểm bởi tư tưởng tư sản trong những mối tình trai không bao giờ được thỏa. Còn Nguyễn Bính với báo Trăm Hoa khi bị phê bình nhắc nhở đã trả lời Tô Hoài: “Trăm Hoa phải thế mới là Trăm Hoa của Nguyễn Bính. Nếu không thì mày làm quách, cho xong!” . Nguyễn Bính với câu chuyện thương tâm về đứa con không mẹ, mà vào một đêm say rượu, người bố ấy đã trao cho một người qua đường tình cờ nào đó, để hàng bao nhiêu năm sau, cứ mỗi lần nhắc đến, lại đầm đìa nước mắt. Còn Nguyễn Huy Tưởng mà ở mỗi người bạn, mỗi cán bộ cấp cao, Nguyễn Huy Tưởng đều tìm ra những ưu điểm và  tô hồng rầm rộ, khi xảy ra sư kiện Hungary 1956 đã nói: “Nước Hungary trong phe xã hội chủ nghĩa, nhưng trước nhất, nước Hungary là nước Hungary đã. Ông thấy thế nào? Tôi không hiểu, tôi không hiểu sao”. Còn đội viên giảm tô Nguyễn Tư Nghiêm cả tuần không xâu chuỗi được bần có nông nào, hoảng quá, phát dại, suốt ngày vơ vẩn ngoài đồng, bắt cào cào châu chấu ăn sống. Còn Ngô Tất Tố ở Chợ Chu, khi bị một kẻ không ra gì lên lớp, đã khóc, quệt nước mũi vào gốc cây, sụt sùi với Kim Lân: “Làm người khó lắm, bác ạ”. Rồi Đặng Đình Hưng bị khai trừ khỏi đảng, Văn Cao bị kỷ luật cảnh cáo, Nguyễn Tư Nghiêm và Dương Bích Liên xin ra khỏi đảng, Hoàng Cầm ra khỏi Ban chấp hành…  Rồi những truyện ngắn về con hổ, con chó xấu xí, cả con rùa con cá cũng trở thành có vấn đề! Chính Tô Hoài cũng phân vân, tự hỏi mình: “Tôi theo đuổi lý tưởng từ những ngày bóng tối. Không có cách mạng, tôi làm sao nên người như bây giờ. Làm sao tôi lại có thể nghiêng ngả, có thể bị lũng đoạn được nhỉ… Tôi không tin tôi đến nỗi đù đờ thế”.

 

Tô Hoài gắn bó với những chốn đèo heo hút gió nhất của rừng Việt Bắc, có mặt ở Cửa Tùng, Vĩnh Linh, lặn lội trong thành phố Hà Nội ngày đêm chống trả bom Mỹ, có mặt ở bao nhiêu miền đất khác trên khắp các châu lục. Tô Hoài nhậu nem rán với nhân nhau đàn bà đẻ cùng Nguyên Hồng, cũng lại cùng bàn với rượu rom thượng hạng Pháp. Tô Hoài ở giữa họ, giữa tất cả những bè bạn ấy, trong những câu dạy bảo, nhiếc mắng. Của Như Phong: “Thằng ngoại ô láu cá, văn chương đẽo gọt”. Của Nguyễn Tuân: “Tao chúa ghét cái thằng bợm bia rượu mà hàng ngày lại uống nước lạnh… Chó biết cái thằng này thế nào là thật! Tao ghét cái cười mủm mĩm hiền lành không hiền lành của mày”.

 

Tô Hoài tự nói về mình: “Tôi sinh ra nơi thành phố làng mạc lẫn lộn, túi bạc đâm toạc tờ giấy, có tiền là có tất cả, bấy lâu tôi lăn lóc trong khóe đời ấy”. Để rồi khi Nguyễn Tuân đã bỏ đi, Tô Hoài tưởng như mình vẫn ngồi uống một mình, để bật khóc khô mấy tiếng: “Ô hô, Nguyễn Tuân! Nguyễn Tuân ôi!”.

 

Cả một đám đông tài hoa, yêu nước, đầy hào khí mà cũng không thiếu những tai ương, đau khổ. Những nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ họa sĩ…  ấy, công dân của một đất nước trải qua bao chìm nổi, cũng chẳng thể nào từ chối được thân phận ba chìm bảy nổi của mình. Chỉ có điều là dù ngoài mặt cố gượng cười thì trong lòng vẫn cứ héo dần đi.

 

Hầu hết những người Tô Hoài nhắc tới đều đã ra người thiên cổ. Nhưng dưới những lời kể miên man tưởng chừng chợt nhớ chợt quên của Tô Hoài, họ bỗng sống lại, đi đứng, nói năng với tất cả những gì riêng tư sâu kín nhất mà chỉ những người đồng cảnh mới có đủ yêu thương để thấu hiểu và Chia sẻ. Mà nếu không hiểu được con người họ, thì người đời sau cũng chẳng bao giờ hiểu được hết giá trị của tác phẩm, cũng như cái giá họ phải trả để mang nặng đẻ đau và che chắn những đứa con tinh thần đã ra đời trong hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo gian khó ấy.