Hiển thị các bài đăng có nhãn NHÂN VẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHÂN VẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2023

Ở một nơi ai cũng quen nhau

 

Ở một nơi ai cũng quen nhau

T.Vấn


Phố cũ – Tranh: Thanh Châu

Từ đau đớn và truân chuyên, tôi gởi đến cho mọi người hạnh phúc vững bền của chữ nghĩa. (Hoàng Ngọc Tuấn)

1.

Năm 20 tuổi, tôi già nua theo năm tháng với nỗi ám ảnh của thứ triết lý thời thượng về một đời sống buồn bã. Mỗi ngày qua đi, tôi ngao ngán nhìn cuộc chiến khốc liệt trước mặt như con quái vật đang nhe răng gầm gừ sẵn sàng nuốt chửng lấy mình. Nỗi sợ hãi khiến tôi thu mình lại trong vỏ bọc một đời sống lơ lửng trên mây. Dầu vậy, tôi vẫn khao khát tình yêu (trong mơ) qua những trang văn Hoàng Ngọc Tuấn…

Năm 40 tuổi, tôi mới bắt đầu nhận ra rằng đời sống là có thật sau bao bất trắc của chiến tranh, của tù đày. Quái vật chiến tranh đã biến mất, nhưng để tồn tại trong một xã hội hoà bình mà đằng đằng sát khí ấy thật không dễ dàng gì. Cái buồn bã lúc này là sự buồn bã có thật, đến từ một đời sống có thật, chứ không phải từ những trang triết lý thời thượng ngày nào. Dẫu sao, tôi đã là kẻ sống sót, sau một cuộc chiến, sau một cuộc đổi đời. Và hơn lúc nào hết, tôi khao khát một tình yêu (có thực, chứ không phải hình như) để bắt đầu lại đời mình.

Năm 60 tuổi, tôi có cảm tưởng mình trẻ lại với tình yêu cuộc sống cứ ngày một mãnh liệt hơn. Và biết trân trọng những tình cờ ngọt ngào đến từ đời sống. Biết trân trọng những gặp gỡ, dẫu cho đó chỉ là những gặp gỡ trong một thế giới đầy ắp hoài niệm. Đời sống, đến bây giờ tôi mới hiểu được, đó là một nơi mà, ở đó, ai cũng quen nhau. Và yêu nhau. Sự hiểu biết muộn màng ấy, đến với tôi cũng thật tình cờ. Tình cờ như sự có mặt của chính mình trong đời sống này. Tình cờ như câu chuyện ngọt ngào đến với tôi trong những ngày cuối cùng của tháng Mười Một êm ái dịu dàng một cảm giác biết ơn vì tôi vẫn còn đủ đam mê nâng niu những con chữ ngập tràn hạnh phúc, thứ hạnh phúc thường làm chảy nước mắt, thứ hạnh phúc mà nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn gọi là hạnh phúc vững bền đến từ những đau đớn và truân chuyên.

Cũng từ nhà văn quá cố Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Ở một nơi ai cũng quen nhau, mà tôi tình cờ biết đến một câu chuyện, được nhà thơ Hoàng Xuân Sơn – một người bạn thân của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn – gọi là như chuyện thần tiên.

2.


Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (hình chụp hai tháng trước khi ông qua đời)

Tháng 7 năm 2005, tôi về thăm quê nhà. Một buổi sáng lang thang trên những đường phố bụi bặm một thời quen thuộc của Sài Gòn, tôi đọc được tin trên báo về cái chết của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn ở tuổi 60. Bâng khuâng với cuộc tái ngộ thành phố mà ở đó, tôi đã lớn lên, đã biết yêu lần đầu, đã nhiều lần bỏ đi và nhiều lần trở về, cùng với cái tên nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả của nhiều truyện ngắn tuyệt vời viết về tình yêu, vốn gắn liền với tuổi trẻ Sài Gòn chúng tôi những ngày tháng ấy, tôi đã ghi lại cảm xúc của mình trong bài viết Sài Gòn và Hoàng Ngọc Tuấn, phổ biến ở một số tạp chí và mạng điện tử. Một ngày cuối tháng Mười Một năm 2009, từ hộp thư độc giả trên trang mạng điện tử của tôi (T-Van.Net), tôi nhận được thư của một người, nhân đọc bài viết về nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, tự giới thiệu cũng là một độc giả của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn từ mấy chục năm nay. Chị cho biết, sau khi rời khỏi đất nước vào tháng 4 năm 1975, chị đã về Vịêt Nam vài lần, và cũng để ý dò tìm tông tích của nhà văn, mà một tình cờ của đời sống đã khiến chị đọc được những tác phẩm của ông từ ngày còn rất trẻ. Mãi cho đến chuyến về quê năm 2006, sau khi nhà văn đã qua đời gần một năm, chị mới liên lạc được với gia đình nhà văn. Cùng với phu quân, chị đã đến nhà thắp cho ông một nén hương tưởng nhớ. Sau đó, được sự cho phép của thân nhân nhà văn, quay lại Mỹ chị đã tái bản tác phẩm mà chị yêu thích nhất trong những tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn: Ở một nơi ai cũng quen nhau (1). Qua ấn bản lần này, tôi biết thêm nhiều điều thú vị về mối quan hệ độc giả – tác giả, ở đây là giữa chị và nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn.

“Tôi đọc Ở một nơi ai cũng quen nhau một lần là thương liền… Sau cuốn Ở một nơi ai cũng quen nhau, tôi vừa tiếp tục đọc ông, vừa đọc những tác giả khác. Có những tác giả làm tôi nể phục và kính trọng. Đọc Hoàng Ngọc Tuấn tôi vừa nể trọng, vừa kính phục, vừa thương” (2). Đó là tâm sự của chị trong lời giới thiệu ấn bản Ở một nơi ai cũng quen nhau in ở hải ngoại.

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, trong bài viết mở đầu tập truyện, đã giới thiệu khá chi tiết về mối quan hệ của chị và nhà văn, mà ông cho là “dù bình thường hay khác thường, vẫn nghe ra Như Chuyện Thần Tiên”, như sau:

Hoà Bình là một độc giả trung thành của Hoàng Ngọc Tuấn. Chị đọc không sót một truyện nào của Tuấn. Đọc đi đọc lại nhiều lần, thuộc nằm lòng, mê và thương cảm tất cả nhân vật Hoàng Ngọc Tuấn đã dựng nên.

Chưa hết, Hoà Bình vẫn âm thầm theo dõi những bước chân của nhà văn mình ngưỡng mộ nếu không muốn nói là thần tượng trên mọi nẻo đường đời. Khi hay tin Hoàng Ngọc Tuấn đi trình diện nhập ngũ ở Trung Tâm 3, chị đã không ngần ngại gói ghém quà cáp, bươn bả tìm thăm, nhưng không được gặp mặt vì không phải là thân nhân trực tiếp! Nhưng rồi trời không phụ người có lòng: Hoà Bình đã được hội diện với nhà văn mình thương mến trong một dịp tiếp tân của Thủy Quân Lục Chiến tại Sài Gòn, khi Hoàng Ngọc Tuấn còn khoác áo binh chủng này. Dù chỉ dăm ba phút hàn huyên, mối hảo cảm giữa người viết và bạn đọc càng đậm đà thêm. Đôi cánh tâm hồn đã cùng nhau bay lượn theo trời xanh cao!” (3).

Đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa nhà văn và độc giả. Nhưng dư âm của nó kéo dài mãi đến hôm nay, kể cả khi nhà văn đã ra khỏi cuộc đời buồn nhiều hơn vui, thiếu thốn nhiều hơn no đủ, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc. Chị lo lắng cho nhà văn:

Ra khỏi Sài Gòn giữa tháng Tư, 1975, tôi có băn khoăn về ông. Đời sống bây giờ làm ông đau khổ nhiều hay ít? Làm thế nào để ông tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn thơ dại, lãng mạn kia? Làm sao ông giữ được tấm lòng chan chứa yêu thương sau những biến cố dồn dập thô bạo? Làm sao ông tiếp tục viết?” (4).

Năm 1972, bị bủa vây bởi những thiếu thốn không đáng thiếu thốn, Hoàng Ngọc Tuấn viết (như một cách tự trào): “Tôi cần một năm rảnh rang và đủ ăn cho một tác phẩm lớn, trị giá khoảng 360 ngàn đồng. Bây giờ ai cho tôi một năm như thế, tôi sẽ trả lại tất cả mọi người một kiệt tác.”. Dù biết nhà văn chỉ đem sự nghèo khổ của mình ra đùa cợt, chị vẫn “Những lần trở lại Sài Gòn sau năm 1975 tôi đi tìm tác giả để mang đến ông “một năm rảnh rang và đủ ăn”. Vậy mà ba chục năm nay tôi chưa bao giờ được dịp thực hiện ước muốn đơn giản và thiết thực đó” (5).

Dầu vậy, mối quan hệ ấy vẫn đơn thuần là mối quan hệ độc giả-nhà văn, từ một độc giả yêu mến và trân trọng chữ nghĩa của nhà văn.

3.

Như tôi đã viết trong Sài Gòn và Hoàng Ngọc Tuấn, tuổi trẻ chúng tôi (bao gồm cả chị Hoà Bình) những ngày ấy binh đao đã đến với những trang truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn để tìm một thế giới không có tiếng súng, không có những cái chết đang rình rập, và để ít nhất giả vờ sống… một thời để yêu trước khi vội vã bước chân vào nơi gió cát. Nếu không có cái tên Hoàng Ngọc Tuấn và những trang truyện ngắn đầy những chất thơ nói về tình yêu, hẳn là tuổi trẻ chúng tôi 40 năm trước chỉ có một thời để chết và một thời để nhớ mãi khôn nguôi.

Điều ấy giải thích được phần nào mối quan hệ khá khác thường giữa nhà văn nay đã quá cố và vị nữ độc giả Hoà Bình. Như chị đã viết “Tôi mang ơn tác giả vì ông đã tặng cho tuổi trẻ tôi những tác phẩm văn chương tạo bằng những gì tinh anh, tươi thắm, cùng với những đớn đau âm thầm trong tâm hồn ông”. Và việc chị đang làm “in lại Ở một nơi ai cũng quen nhau là một cách bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng chữ nghĩa của Hoàng Ngọc Tuấn” (6).

Một người bạn văn của tôi, anh Đỗ Xuân Tê đã nhận xét về việc làm của chị Hoà Bình đối với trường hợp nhà văn quá cố Hoàng Ngọc Tuấn: “Một hiện tượng Khánh Ly-Trịnh Công Sơn trong văn học. Hiếm thấy một khuôn mặt nữ chịu ‘lộ diện’ như xác minh lòng ngưỡng mộ của mình với một tài năng văn học. Càng khâm phục khi người ấy đã có chồng và lại cùng ‘phu quân’ đốt nén hương lòng tưởng niệm người xưa”.

Ngược lại, về phía nhà văn, trong những trang Nhật ký viết năm 1972, ông đã trân trọng “mang ơn tất cả những người nào đã cho tôi nụ cười thân ái, một lời thăm hỏi ân cần, một lời khen ngợi dầu nhỏ nhặt đến đâu đi nữa…Cuộc đời mong manh và ngắn ngủi, nợ ân nghĩa thì nặng nề. Tôi biết làm sao đền đáp hết được, tôi có gì để trả nợ hết được. Cái gì đáng quý nhất ở một con người sáng tạo, nếu không phải là những tác phẩm của hắn” (7).

Dù giã biệt trần gian khá sớm, ông vẫn kịp để lại cho đời nhiều món quà vô giá. Nhà văn đã ra đi, nhưng cái tên của ông và những đứa con tinh thần của ông, thứ đáng quý nhất mà ông có, còn ở lại trần gian. Mãi mãi.

Và những tấm lòng hâm mộ, biết ơn của người đọc trải dài nhiều thế hệ, trải rộng từ trong nước ra đến ngoài nước, điển hình là người nữ độc giả Hoà Bình.▄

T.Vấn

(Trích CÕI NGƯỜI, sắp xuất bản)

Chú thích:

(1) Ở một nơi ai cũng quen nhau – tập truyện ngắn của Hoàng Ngọc Tuấn do Hoà Bình tái bản tại Hoa Kỳ, gồm những truyện ngắn nổi tiếng như: Ở một nơi ai cũng quen nhauBuổi chiều Hạ LanCô bé tuyệt vời trên cao nguyên và nhiều truyện ngắn khác. Đặc biệt, tập truyện còn có phần Phụ Lục: Nhật ký sau một tác phẩm của chính Hoàng Ngọc Tuấn.

(2) (3) (4) Ở một nơi ai cũng quen nhau. Phần Mở Đầu – Không ghi số trang.

(5) (6) (7) Sđd – Phần Phụ Lục – Không ghi số trang.


Nguồn bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

CÓ MỘT TẤM LÒNG NHƯ THẾ


Ông bà Võ Phiến đi bộ qua Hội quán Golf Club(Hình Dân Huỳnh)

Về hưu mới có điều kiện đọc văn học miền Nam trước 1975.
Nhà văn Phạm Thị Hoài, trong bài viết “Tư cách trí thức Việt Nam” được đánh giá thuộc hàng kinh điển có viết:
“Công bằng mà nói thì ở một giai đoạn ngắn của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ 20 trong cả nước, và từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Nam, đã có một cơ hội để cặp bài trùng trí thức và quyền lực có thể tách nhau ra được, và quả thực cũng có tách nhau ra phần nào. Nhưng đấy là một khoá học tiếc thay rất ngắn, quá ngắn để trí thức Việt Nam vượt ra khỏi cái vòng kiềm toả và tự kiềm toả bằng quyền lực chính trị để trở thành một lực lượng độc lập như giới trí thức ở các xã hội dân chủ hiện đại.”

Bài viết của Phạm Xuân Nguyên viết về một nhà văn như thế, nhà văn Võ Phiến. Ta biết tấm lòng của Ông với quê nhà sau bốn mươi năm lại đã xôn xao, phập phồng về hình ảnh đất nước quê hương. Ta biết thêm về tên gọi núi sông thần linh đạo giáo, chứa chan tình yêu con người đất Việt. Dập dìu cánh bay con én mùa xuân hay con chim yến trời Nam.

Diễn giải cũng là một cách để nói lòng yêu.

Tháng Chín rồi
Ngày mỏng quá ngày ơi
Sắc xanh là sắc da trời
Mong manh là khói lặng lời là mây...

CÓ MỘT TẤM LÒNG NHƯ THẾ

Phạm Xuân Nguyên

tranh Lê Thị Quế Hương
Tôi nhớ mãi một bài báo đọc được trên tạp chí Bách Khoa trong quá trình tìm hiểu về văn học miền Nam trước 1975. Bài báo nói chuyện những địa danh ở miền Nam Bộ lại luôn mang tên người, những thôn ấp kênh rạch được gọi là xóm Ông Đồ, ấp Trùm Thuật, sông Ông Đốc, ngọn Ông Trang, rạch Biện Nhan, núi Bà Đen... Núi sông được gọi theo tên con người, mà lại là những người dân chân chất, bình thường, những con người chân lấm tay bùn, không phải những vĩ nhân, nhân vật lịch sử.

Thật lạ lùng. Ở miền Bắc thì con người phải mượn tên sông núi để ghi danh mình như Tam Nguyên Yên Đổ, ông Tú Vị Xuyên, cụ Nguyễn Tiên Điền, còn trong Nam con người cho núi sông mượn tên mình trước bạ. Mới đọc đến đó tôi đã khoái quá. Nhưng tác giả chưa dừng ở đó. Trong Nam tên núi tên sông là tên người, nhưng người Nam lại rất lắm tín ngưỡng, thờ lắm thần, lập lắm đạo. Cớ sao vậy? Câu trả lời của tác giả chốt lại trong một từ: đất mới. Nam Bộ là miền đất mới, người Việt vào đó khai khẩn phải tự tạo ra tất cả mọi thứ cho cuộc sống của mình, từ tên gọi núi sông đến thần linh đạo giáo. Kết luận lại, tác giả gọi đó là “đất của con người”. Và đó cũng là tên của bài báo tôi đọc được.

Toàn bài toát lên một sự ngợi ca con người Việt Nam đi mở đất, nối dài bờ cõi. Toàn bài chan chứa lòng yêu con người Việt Nam tràn trề sức sống và biết sống trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Giọng văn như kể chuyện, một lối văn nói, khiến người đọc thấy gần gũi, chan hòa. Tôi đọc xong bài ngó tên tác giả thấy hai chữ Tràng Thiên. Ngày tháng ghi dưới bài viết là vào năm 1972.

Từ đó tôi chú tâm đọc những bài khác cùng loại của cùng tác giả. Nói thật là càng đọc được càng thích thú, khoái cảm, càng thấy mình hiểu thêm nhiều điều trong cuộc sống quanh mình, ở trên đất nước mình, nhất là về phía Nam, càng kích thích mình chú ý hơn đến những cái thường ngày để mà tìm hiểu. Ông Tràng Thiên đã lấy những cái mắt thấy tai nghe ra để diễn giải, cắt nghĩa, suy luận, phỏng đoán về một từ ngữ, một mùi vị, một món ăn, một tiếng cười, tiếng chửi của người Việt toàn thể, của người Việt miền Nam, đặng để mà hiểu hơn từ đó yêu hơn. Theo ông ta thấy được “những ve vẩy phấp phới của tà áo dài là niềm vui hợp lý chúng ta tự thưởng cho mình bên cạnh những lao tác nhọc nhằn”. Theo ông, ta hiểu vì sao, theo cách hiểu của ông, người Việt lại có “cuộc chiến bằng mồm” tức là chửi, mà là chửi tục. Theo ông, ta mới biết thương con én quá chừng, giống chim gắn với mùa xuân, được nói đến trong thơ ca, vậy mà người ta lại không hề quan tâm đến nó, bằng chứng là nó không có được một cái tên gọi tiếng Việt, “én” chỉ là do “yến” của tiếng Hán đọc chại mà ra. Nghe thế ta giật mình.

Biết bao thứ bình thường quanh ta, ta sống hàng ngày với những thứ đó, ta coi chúng là quen thuộc, gần gũi, vậy mà bỗng chốc ta ngớ ra khi muốn biết ý nghĩa chúng ra sao, tại sao chúng lại có cách gọi tên, cách dùng như chúng. Ta vô tình. Ta thờ ơ. Ta sống buông xuôi mặc lòng. May nhờ có các nhà văn như Nguyễn Tuân, Thạch Lam hồi trước, và Vũ Bằng, Tràng Thiên gần đây, ta mới được cảm nhận đầy đủ, tinh tế những thứ ta sống hàng ngày, những nơi ta từng đến từng qua. Họ để ý quan sát. Quan sát rồi họ chú tâm suy nghĩ. Suy nghĩ rồi họ tìm cách diễn giải. Diễn giải cũng là một cách để nói lòng yêu.

Ông Tràng Thiên yêu lắm đất nước mình là Việt Nam, quê hương mình là Bình Định, cố đô mình là Huế. Vâng, “yêu quá, có thể nào khác được / có thể nào khác được nếu mình yêu” (Thanh Thảo). Những bài viết về quê hương đất nước của Tràng Thiên là được viết ra trong một thời kỳ gian lao, ác liệt trên mảnh đất chữ S khi chiến tranh gầm thét và xé nát đất đai, thể xác, phong hóa, tập tục. Giữa cảnh bom đạn chết chóc, viết về cái ăn cái mặc, cái khóc cái cười, cái cảm cái nghĩ, dường như là cách ông nhà văn này chống chọi với bạo lực, dường như ý ông muốn cất giữ những nét văn hóa riêng của dân tộc cho khỏi bị tàn phá, hủy hoại của vũ khí.

Ông thương Mẹ Việt Nam, bấu víu vào Mẹ; “Gọi Mẹ Việt Nam, Mẹ cúi xuống kiểm điểm từng địa phương, từng phần tử trong đám con đàn cháu lũ Việt Nam chắc chắn Mẹ sẽ không đến nỗi tuyệt vọng đâu. Đã đành, nhiều lúc con trẻ hành động ngông cuồng rồ dại quấy phá Mẹ không ít, làm Mẹ điêu đứng thẫn thờ cũng nên, nhưng Mẹ hãy xem có những gương mặt khả ái, những tấm lòng nhiệt thành, sau hai mươi năm điêu linh vẫn còn những kẻ kiên nhẫn siêng năng, sau nhiều suy sụp ngả nghiêng xã hội vẫn còn những tâm hồn đứng đắn lành mạnh nhờ được hun đúc trong một truyền thống tốt đẹp tự lâu đời”.

Vậy là tôi đã đọc Tràng Thiên ở mảng viết này của ông từ những bài lẻ trên báo chí đến cả tập sách được đặt tên Đất nước quê hương. Ngay khi đọc xong bài “Đất của con người” nói trên tôi đã kể lại cho nhiều người như một phát hiện của tác giả về vùng đất phía Nam và tôi đã rất muốn in lại bài viết đó cho nhiều người cùng đọc. Nay thì không chỉ bài viết đó mà còn nhiều bài viết khác của Tràng Thiên đã được in lại thành tập Quê hương tôi vừa xuất bản.

Tập sách đưa lại nhiều hiểu biết về môn đất nước học, văn hóa học, và cả những kiến thức về du lịch, nhưng trên hết là một tình yêu, một tấm lòng. Cầm tập sách tôi vui mừng gặp lại một người quen chưa từng gặp mặt nhưng đã cho tôi đồng hành trên con đường văn hóa văn chương. Một nhà văn nổi tiếng về tạp bút tạp luận mà Tràng Thiên là bút hiệu được lấy từ câu thơ nổi tiếng của Vương Bột đời Đường:

“Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc”
(Cánh cò bay với chiều sa / Sông thu lẫn với trời xa một màu).

Ở phương trời xa ngoài đất nước trong cõi người đã đi gần chín phần mười thế kỷ Tràng Thiên hẳn mừng khi biết tấc lòng của mình với quê nhà sau bốn mươi năm lại đã xôn xao, phập phồng.

Nhưng Tràng Thiên là ai vậy mà nãy giờ tôi cứ lòng vòng loanh quanh mãi không nói ra? Xin thưa: Tràng Thiên là Võ Phiến, một nhà văn tên tuổi của văn học phía Nam thời đoạn 1954-1975 hiện nay đang sống ở Mỹ. Ông tên thật Đoàn Thế Nhơn, sinh 1925, quê Bình Định. Mẹ Việt Nam đang vui mừng đón những đứa con phiêu tán trở về. Dẫu ra đi trong hoàn cảnh nào, dẫu ở những phương trời nào, đất nước quê hương vẫn là nơi người đi muốn trở về, sau rốt. Võ Phiến được in lại trong nước, dù đang phải dưới bút danh Tràng Thiên, là một tin vui cho tác giả, cho độc giả, là một ích lợi cho văn hóa, văn học nước nhà. Rồi đây những cái có ích như vậy, những cái thực sự là giá trị văn chương, học thuật của cả một đội ngũ những người cầm bút, rộng ra là những người sáng tạo văn học nghệ thuật, của một nửa nước phía Nam thời 1954-1975 chắc sẽ được xuất hiện trở lại nhiều hơn. Văn học còn dè dặt, nhưng âm nhạc thì đã tưng bừng hơn, với sự trở về nước của những giọng ca từng nổi tiếng, quen thuộc, như Chế Linh mới đây, và Khánh Ly tới đây.

“Thì Tổ Quốc chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu
Chúng ta không chung một đoạn đường nhưng chung một tương lai” (Chế Lan Viên).
Và đó là một phúc lớn.


2.9.2012

Một số tác phẩm của nhà văn Võ Phiến trên trang iSach. info

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

Bên lề trang sách Osho

Bên lề trang sách Osho

 Hồ Anh Thái



Tôi chưa thấy cuốn sách nào viết về khía cạnh triết học của tình dục lại thấm thía, có sức thuyết phục như cuốn sách của Osho, Quà tặng của tạo hóa(*). Đây là cuốn sách có thể đọc nhiều lần, và tôi rất muốn mời mọi người đọc lại.
Osho chủ trương một nhân loại mới, một nhân loại hiểu sâu sắc về tình dục, tự do tình dục, không đè nén tình dục, từ đó mà thoát khỏi bị tình dục ám ảnh, hướng đến một đời sống độc thân và sáng tạo. Nhưng để độc thân thì phải hiểu và trải nghiệm đầy đủ tình dục, không bị kiềm chế kìm hãm. Sự trải nghiệm có thể ở kiếp này nhưng cũng có thể là từ nhiều kiếp trước. Bản thân Đức Phật là người cực kỳ mạnh mẽ để rồi sau đó mới tự do vượt lên tình dục, thành một trí tuệ siêu việt.
Nhân loại luôn luôn bị ám ảnh bởi tình dục, bởi vì bị các tôn giáo đè nén. Tôn giáo nào cũng tuyên truyền tình dục là xấu xa tội lỗi. Họ cần tạo cho nhân loại ấn tượng là nhân loại tội lỗi, như vậy nhân loại mới cần đến tôn giáo, cần đến Thượng Đế. Một khi nhân loại trải nghiệm tình dục một cách triệt để, được giải phóng thân thể và tư tưởng, nhân loại không cần đến tôn giáo và Thượng Đế nữa.
Khi con người được giác ngộ về tình dục, một nhân loại mới sẽ ra đời. Đời sống độc thân khi ấy vẫn sinh ra trẻ con, nhưng là cách sinh sản có ý thức để tạo ra nhân loại. Khi ấy trẻ con sinh ra không phải là hậu quả của tình dục, như khách không mời mà đến, mà như một chủ thể được chờ đón, có dự tính hẳn hoi. Nhân loại ấy đã được giải phóng khỏi tình dục, và năng lượng sáng tạo sẽ ở mức độ cao hơn gấp nhiều lần.
Khi tôi đến Ấn Độ năm 1988, đã biết Osho có một thiền viện ở Bombay. Đồ đệ của ông hầu hết đều là người phương Tây mắt xanh tóc vàng. Còn có nhiều người từ Đông Á sang. Họ mặc đồng phục màu vang đỏ boocđô, cả thiền viện đỏ rực như kết thành một giáo phái. Khi ông qua đời năm 1990, ở tuổi 59, môn phái này thông báo: Osho không hề ra đời, không hề chết, mà chỉ đến viếng thăm trái đất hành tinh này từ 11-12-1931 đến 19-1-1990:
OSHO
Never Born
Never Died
Only Visited this
Planet Earth between
December 11, 1931 – January 19, 1990

Báo Sunday Times xếp Osho trong số 100 nhà kiến tạo của thế kỷ XX. Nhà văn Mỹ Tom Robbins nói: Osho “là người nguy hiểm nhất kể từ Đức Jesus Christ" (the most dangerous man since Jesus Christ). Nguy hiểm theo nghĩa sự xuất hiện của các vị có thể làm rung chuyển cả thế gian này.
Không phải triết thuyết nào của Osho cũng dễ hiểu, điều đó khiến tôi ngạc nhiên khi thấy sách của ông lại được tiếp nhận khá rộng rãi trong giới trí thức Việt Nam, ở cả phương Tây là nơi nhiều khái niệm triết học Ấn Độ và phương Đông không dễ hiểu.
Khác với nhiều nhà truyền giáo, nhiều bậc thầy dẫn dắt đồ đệ, tư tưởng của Osho ít tính bình dân, không theo tiêu chuẩn dễ hiểu, dễ lôi kéo. Thế mà, tư tưởng ấy lại được tiếp nhận khá rộng rãi. Chỉ có thể tạm nghĩ ngợi rằng trí tuệ của nhân loại đã đạt tới một cái tầm khá lạc quan.

*
*   *
Ấn Độ thời nay vẫn còn duy trì việc sắp đặt hôn nhân. Chỉ trừ những người Âu hóa trong những thành phố lớn, còn thì ở đâu cũng là cha mẹ thu xếp dựng vợ gả chồng cho con cái. Nhờ mối lái đưa tin. Cha mẹ trực tiếp xem mặt và nghe ngóng về đối tượng. Giáo sĩ xem sao tính tuổi. Rất nhiều cặp phải đến đêm tân hôn chú rể gỡ mạng che mặt cô dâu ra mới biết mặt nhau. Ấy thế, tỷ lệ hòa hợp giường chiếu là rất cao. Hòa hợp là cơ sở cho sự bền vững. Một cuộc hôn nhân sắp đặt, đích đến mong ước của nó bao giờ cũng là sự bền vững, trật tự, ổn định. Đích đến của nó không theo tiêu chuẩn tự do của phương Tây: sự chia sẻ tư tưởng, sự cảm thông tinh tế, tự do cá nhân và tính tự quyết.
Tôi từng biết những cặp sinh viên Ấn Độ, đi học xa nhà, khuất mắt phụ huynh, họ có thể tự do yêu đương. Nhưng khi học xong thì chia tay nhau, trở về quê nhà, lấy ai là do cha mẹ sắp đặt. Họ chấp nhận. Họ vừa là người của thời đại mới, lại vừa thuộc về những tập quán hàng nghìn năm.
Trong hôn nhân sắp đặt, người ta lấy nhau trước hết là để đẻ con, mục đích ấy đặt cao hơn mục đích theo đuổi khoái lạc. Còn lâu mới đạt tới chủ trương tạo ra một nhân loại mới như Osho đề cập. Nhưng hôn nhân sắp đặt kiểu Ấn có thể manh nha trong ấy yếu tố làm ra những đứa trẻ theo lối tạo dựng một nhân loại mới, theo chủ ý của cha mẹ, không phải vì tính toán sai.
Thực tế là vẫn có những tính toán sai. Rất nhiều.

*
*    *
Ở phương Đông, nếu là hôn nhân tự do, hôn nhân tự nguyện, tự lựa chọn, thì cuộc hôn nhân đầu tiên thường là do sức ép của tình dục.
Dù là đời sống hiện đại thì con người vẫn lùng nhùng trong đám mạng nhện truyền thống. Vẫn còn đấy những thành kiến lâu đời với tình dục. Một người con trai sau bao đắn đo quyết định lấy vợ là để thoát khỏi tình trạng chăn gối cô đơn và những ám ảnh tình dục. Rất nhiều người chưa thực sự hài lòng với đối tượng, chẳng qua kết hôn là vì tuổi tác đã chín, điều kiện kinh tế đã chín. Cắm sào đợi nước bao giờ mới trong. Thôi thì nhắm mắt đưa chân. Có gì thì đổ cho số phận, đổ cho tạo hóa sắp đặt.
Từ tình trạng giường đơn gối chiếc chuyển sang góp gạo thổi cơm chung. Như vậy là có đồ ăn sẵn trong nhà, nó làm nguôi dịu những ám ảnh tình dục của tuổi sung mãn. Ám ảnh và áp lực ấy từng gây nên những nổi loạn ở tuổi mới lớn. Làm ngược với lời người lớn, xung đột với phụ huynh, muốn bỏ đi thật xa, có xu hướng tự tử… rất nhiều khi là biểu hiện của một cơ thể không được thỏa mãn tình dục.
Ngày trước, người đàn ông có năm thê bảy thiếp. Một ông đồ nho, một bá bác phó mộc đi hành nghề tỉnh này qua tỉnh khác, đến đâu có vợ đấy. Vợ như một thứ cơm nguội, một thứ lương khô, được dự trù, được để dành cho những cơn đói bất chợt.
Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng
Người vợ ngày xưa chỉ dám nhìn nhận thân phận mình như cơm nguội để sẵn trong nhà, đói lên thì ăn, và là ăn tạm. Dù có cao lương mỹ vị ngoài thiên hạ thì vẫn phải giữ lấy cơm nguội trong nhà mình, phòng khi ngày nắng ngày mưa, phòng khi tháng tám ngày ba giáp hạt.
Ngày nay người ta tự do lựa chọn bạn đời. Nhưng như đã nói, hầu như các cuộc hôn nhân đều là hùng hục xông tới, do sức ép của tình dục. Nói nôm na: người ta lấy nhau là vì đói và cần có cơm nguội để sẵn trong nhà. Rất ít cuộc hôn nhân thản nhiên tự nhiên mà đi tới. Càng ít những cuộc hôn nhân trầm tĩnh tính toán rằng đã đến lúc phải tạo ra một nhân loại mới như ý tưởng của Osho.
Như một hệ quả tự nhiên, con cái sinh ra từ những cuộc hôn nhân ấy đều là “những con người do vô ý sinh ra”. Đấy là bắt chước một câu thơ phổ biến một thời.
Những con người do vô ý sinh ra. Tôi nhìn thấy cặp mắt thấu hiểu của Osho đang nhìn chằm chằm vào nhân loại này - không phải cái nhân loại mới mẻ được sinh ra một cách có ý thức, trước khi hoài thai đã được chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng và vật chất. Đây là một nhân loại tùy tiện của hai yếu tố âm dương gặp nhau và cứ thế trôi nổi vào một thế giới vô minh.
Ta không cần hình dung thêm về chặng đường sau đó, trong một thế giới chục tỉ người. Chỉ biết rằng nói đến đây thì biết đang có phản biện, rằng cái nhân loại mới mà Osho chỉ ra đó, nhân loại ấy rất có thể chỉ là sản phẩm của một quan niệm máy móc, của sinh sản kỹ nghệ.
Làm ra cả một nhân loại mới ư? Bao nhiêu tôn giáo đã phấn đấu cho điều này, nhưng con người vốn là cộng đồng chia rẽ thiếu đồng tâm.
Tuy vậy trong phạm vi từng gia đình thì cái dự án nhân loại mới ấy biết đâu cũng có lúc thành tựu. Ở chỗ này có khi cũng cần nói thêm, những cặp vợ chồng muộn con, lấy nhau mãi mà không sinh con được, phải đi cầu tự, phải cúng vái, phải thuốc tây thuốc nam thuốc bắc, phải nghiên cứu kỹ lưỡng những phương pháp sinh con. Những cặp vợ chồng ấy, rốt cuộc sau dăm bảy năm hoặc một vài chục năm cũng sinh được con bằng cách thức tự nhiên. Như vậy, rất có thể chính là họ đã tạo ra một nhân loại mới, một nhân loại không phải do vô ý sinh ra, mà được tính toán kỹ, quá kỹ. 

*
*   *
Osho từng hàm ý một nhân loại sinh ra trong bầu khí quyển không kỳ thị tình dục, các tôn giáo không áp chế con người về chuyện tình dục, con người được tự do cởi mở về tình dục. Một nhân loại được giải phóng như vậy thì giao hoan là khi hòa hợp được cả các yếu tố thiên địa nhân. Chỉ một cuộc giao hoan như sấm sét ấy có thể đủ mang đến sự thỏa mãn và khoái cảm cho cả cuộc đời. Từ đấy về sau, người ta không còn vướng bận ám ảnh về tình dục nữa, người ta có thể tập trung năng lượng để sáng tạo. Từ đấy, tình dục, khi cần thiết, chỉ là thứ để tạo ra con người, tạo ra một nhân loại mới. Và cũng chỉ bằng cách ấy mới có một nhân loại thực sự sáng tạo.
Người theo chủ nghĩa hưởng lạc có thể nói rằng, khác với Osho, tình dục là thứ càng uống càng khát càng ăn càng đói. Đấy là một kiểu lập luận suy bụng ta ra bụng người, trong khi nhân loại mà Osho đề cập là một nhân loại khác, với những điều kiện thiên địa nhân khác. Phải là một nhân loại lý tưởng thì mới có thể sinh ra những đứa con từ tính toán tỉ mỉ kỹ càng, không phải từ thăng hoa ngẫu hứng, mà những đứa con ấy khi lớn lên lại càng trưởng thành về trí tuệ và tinh thần sáng tạo.

*
*   *
Hôn nhân do áp lực của tình dục còn có một hệ quả: sớm xảy ra khủng hoảng quan hệ vợ chồng. Thông thường một cuộc hôn nhân sau mười năm thì rơi vào cuộc khủng hoảng tình dục. Con cái đã tương đối cứng cáp, đã bắt đầu đến trường, cái lo cho con đã không còn là quan tâm hàng đầu. Khi ấy bắt đầu sự nhàm chán trong đời sống vợ chồng. Đấy chính là giai đoạn người ta dễ sa vào quan hệ ngoài hôn nhân. Không thế thì cũng có nhiều xích mích va chạm, dễ dẫn đến tan vỡ.
Thời đại mới, yêu nhau dễ dàng, lấy nhau dễ dàng, tan vỡ cũng dễ dàng. Sau cuộc hôn nhân đầu, mục đích sâu xa là để giải tỏa tình dục, thức ăn nhanh và thức ăn sẵn ở trong nhà cũng nhanh chóng gây nhàm chán. Đấy là lý do những cuộc hôn nhân thời nay thường nhanh hợp mà cũng nhanh tan. Cơm nguội đã sẵn có trong nhà nhưng tâm trí người ta luôn hướng ngoại, cuộc đời triền miên là một cuộc hướng ngoại và săn tìm đối tượng mới. Ám ảnh chỉ nguôi đi khi đến tuổi mãn dục, lúc ấy con người mới có thể thôi sôi sục điên cuồng, mọi khát khao đã lắng dịu, để đạt tới một sự trầm tĩnh đầy phẩm hạnh. Sự lắng dịu ấy cần thiết cho nhân loại để tập trung làm những việc lớn lao của cuộc đời. Nhưng lực bất tòng tâm, lúc ấy tinh thần và thể chất đã suy nhược.
Một thế giới mà những cuộc ghép đôi phần nhiều đều do áp lực của tình dục, của hưởng thụ vội vàng, ở thế giới ấy chưa thể đặt ra vấn đề tạo dựng một nhân loại mới. Có lẽ vẫn chỉ là một ý tưởng mà thế giới càng vận động thì nó càng trở nên xa xôi.

*
*    *
Ở cuốn Quà tặng của tạo hóa đã nhắc ở trên, có hai cuộc đối thoại mà tôi xin tóm tắt lại:
Một giáo sĩ hỏi sư phụ:
- Con có thể hút thuốc trong khi thiền định được không?
- Không bao giờ.
Một giáo sĩ khác hỏi:
- Con có thể thiền định trong khi đang hút thuốc được không?
- Đó là ý tưởng tuyệt vời.

Cũng như vậy, Osho dẫn ta đi đến một chân lý: có thể thiền định khi đang làm tình, nhưng không phải là làm tình khi đang thiền định.
Quá trình thiền định được thực hiện như thế nào thì ta phải tự đọc cuốn sách này để trực tiếp nghe Osho diễn giảng.

Nguồn: Văn nghệ quân đội, 7-4-2018


(*) Quà tặng của tạo hóa – Minh triết tình yêu & siêu thức, Lê Tuyên dịch, NXB Văn hóa Dân tộc 2009.

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Sự sinh, sự chết và sự sống: Đọc “Báu Vật Của Đời” của Mạc Ngôn


Phạm Xuân Nguyên


Nhà văn Mạc Ngôn trong một cuộc phỏng vấn
tại nhà riêng ở Bắc Kinh năm 2009 - Ảnh: Reuters

1.

Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Trung Quốc dày 860 trang chữ Việt kể cuộc đời một phụ nữ nhà quê Trung Hoa tên là Lỗ Toàn Nhi, năm 16 tuổi bỏ tục bó chân, lấy chồng là Thượng Quan Thọ Hỷ; chồng bất lực – không có khả năng truyền giống – mẹ chồng khát cháu trai nối dõi tông đường, Toàn Nhi lấy giống đàn ông thiên hạ, sinh cho nhà Thượng Quan một đàn con chín đứa, gồm tám gái, một trai. Trong số đó, Lai Đệ và Chiêu Đệ là giống của ông chú dượng chỉ biết đánh bạc, bắn chim. Vu Bàn và Lãnh Đệ của một anh chàng bán vịt dạo; Tưởng Đệ, của một thầy lang bán thuốc rong; Phán Đệ, của Lão Béo bán thịt chó; Niệm Đệ, giống hòa thượng Trí Thông chùa Thiên Tề; Cầu Đệ, giống của bốn tên lính thất trận; sau chót, cặp sinh đôi Ngọc Nữ và Kim Đồng, của mục sư Malôa.
"Mẹ nhận ra một chân lý nghiệt ngã: là đàn bà không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được. Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khoát phải sinh con trai." (tr.783).
Nhưng Kim Đồng, đứa con trai duy nhất sau chuỗi sinh nở dằng dặc một đời người của Lỗ thị lại suốt đời bám vú mẹ trong khi các cô gái nhà Thượng Quan đều quyết liệt dấn thân vào đời. "Phong nhũ phì đồn" (mông to, vú nẩy ) trước hết là nói cái sự sinh ấy. Lỗ thị trước hết, là số phận người phụ nữ Trung Quốc trong một xã hội phong kiến coi rẻ giá trị, phẩm giá của người phụ nữ. Chuyện ăn nằm, thụ thai, và sinh nở của Lỗ thị trước hết, là sự tung hê, thách thức cái xã hội ấy. Chỉ nội mặt này – cứ tạm gọi là về phương diện phong tục, tập quán – Lỗ thị xứng đáng là một bà mẹ vĩ đại.

Deco phồn sinh
2.

Đàn con của Lỗ thị có đủ mọi thành phần xã hội, nói rộng ra, có đủ mọi giống người. Họ được bà mẹ vĩ đại sinh ra đúng vào lúc đất nước Trung Quốc cũng đang trong cơn quặn đau quặn đẻ. Giặc ngoại xâm, các thế lực chính trị thay nhau đến rồi đi, bao biến thiên, bao bi kịch xảy đến với vùng đất Cao Mật, với gia đình Thượng Quan. Mỗi đứa con chọn một con đường, một cách sống, và một cách chết trên con đường đời đầy gian truân khổ ải. Họ thậm chí còn xung khắc, thù ghét nhau theo sự chọn lựa chính kiến, lý tưởng, nhưng điểm tựa duy nhất, nguồn an ủi duy nhất của họ, là người mẹ Lỗ thị. Đất nước cũng vật vã thăng trầm như đời mẹ. Lỗ thị càng là một bà mẹ vĩ đại. Đó không còn là thân phận người phụ nữ nữa. Đó là thân phận đất nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương. Đau thương và vĩ đại như cơn lốc tràn qua lục địa Trung Hoa mênh mông, xoáy quật thân phận một người phụ nữ như Lỗ thị đến chết vẫn chưa được yên.
Mở đầu truyện, người mẹ sinh Kim Đồng trong cơn ngất lịm. Kết thúc truyện, Kim Đồng thức chong đêm canh mộ mẹ, sợ "ông Chính Phủ" bắt đào lên dù chôn tại một bãi đất hoang. "Anh trông thấy phía sau mộ mẹ, nơi không bị giẵm nát, có rất nhiều hoa đang nở, những bông hoa mầu nhợt nhạt, chỉ một bông giữa là màu đỏ nhờ nhờ. Loại hoa này có mùi thơm. Anh bò lên mấy bước, giơ tay ngắt lấy bông hoa rồi đưa vào miệng. Cánh hoa rất giòn, như thịt tôm sống, nhưng khi nhai thì xộc lên mũi toàn một mùi máu. Vì sao hoa nở có máu? Vì trên mảnh đất này thấm đẫm máu người." (tr. 859).

3.

Xét trên phương diện văn học, Lỗ thị là một nhân vật ghê gớm – một phụ nữ tượng trưng của một đất nước ở cái khả năng thiên phú mà dù con người có chà đạp tiêu diệt đến đâu thì vẫn trường tồn, bởi vì nếu nó mất đi thì mất luôn cả sự sống. Đêm nằm bên mộ mẹ, ngước mắt nhìn lên trời sao, ngẫm về cả cuộc đời đau khổ chất chồng của mẹ mình, Kim Đồng chỉ thấy hiện ra những bầu vú. "Báu vật trên trời là mặt trời mặt trăng và những vì sao. Báu vật của đời là vú to mông nẩy!". Cả lịch sử của đất nước nhà văn tóm lại ở bốn chữ ấy: phong nhũ đồn phì. Mạc Ngôn, do đó, ở phương diện này, là một nhà văn ghê gớm.
Mạc Ngôn là ai? Đọc tiểu sử của ông, qua lời giới thiệu của bản Việt ngữ, chúng ta được biết, ông sinh năm 1935, hiện là sáng tác viên bậc một của Cục Chính Trị, Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc, cuốn "Phong nhũ phì đồn", in năm 1995, và được trao giải thưởng cao nhất về truyện cùng trong năm. Trước đó, ông đã nổi tiếng với cuốn "Cao Lương Đỏ" , và trở thành nổi tiếng trên thế giới cùng với sự xuất hiện của cuốn phim dựa theo tác phẩm do đạo diễn lừng danh Trung Quốc, Trương Nghệ Mưu, chuyển thể; cuốn phim đoạt giải Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim ở Cannes (Pháp) năm 1994.
Những chi tiết trên có gì đáng nói, với độc giả người Việt? Thứ nhất, Mạc Ngôn thuộc lớp nhà văn trẻ ở Trung Quốc. Tiếp đó, ông dám viết về cái hiện thực bề sau, bề sâu, của lịch sử hiện đại nước ông. Thứ nữa, cái viết của ông được chấp nhận, và đón nhận.
4.

Tác phẩm trên của Mạc Ngôn, xét về nghệ thuật viết tiểu thuyết, không hẳn là xuất sắc. Trong chừng mực nào đó, nó vẫn thuộc truyền thống của lối kể chuyện mang tính cổ truyền của Trung Quốc. Người đọc có cảm tưởng, ở phần cuối, tác giả có vẻ lan man, khi tản mạn về vùng đất Cao Mật bước vào thời kỳ mở cửa. Có vẻ như tác giả hơi tham nữa. Nhưng tôi thích ở đây, là cái nhìn nghệ thuật-lịch sử tỉnh táo và sắc sảo của nhà văn. Ông không nương nhẹ, không xuê xoa quá khứ. Mạch văn của ông cũng gây ấn tượng đối với tôi ở chỗ, nó cho thấy được dòng chảy của cuộc đời như vốn dĩ thể, không đứt đoạn, không tách bạch, dù các sự kiện rất khác nhau xoay vần cuộc đời nhân vật theo các nẻo số phận khác nhau. Tính liên tục lịch sử – đây là điều theo tôi, ở dạng truyện như thế này, các nhà văn ta thường bị gãy. Ví như ở hai thời điểm hai đội quân của Tư Mã Khố và của Lỗ Lập Nhân thế nhau về lại Cao Mật, nhà văn ta trong trường hợp này dễ phết lên bức tranh hiện thực hai màu tương phản theo chủ quan, còn Mạc Ngôn vững tay để chỉ có một màu phủ lên cuộc đời của mẹ con Lỗ Thị, như khách quan nó phải như thế.

5.

Đọc Mạc Ngôn ở Phong nhũ phì đồn tôi nghĩ nhiều đến Lỗ Tấn. Có lẽ, bởi cả hai nhà văn Trung Quốc này, một đầu và một ở cuối thế kỷ 20, đã có sự gặp nhau trong suy nghĩ về đất nước mình. Nhân vật người điên của Lỗ Tấn thấy ai cũng muốn ăn thịt mình; nhân vật người không rời vú mẹ của Mạc Ngôn thấy bông hoa bốc mùi máu; hai hoàn cảnh lịch sử, hai chế độ chính trị khác nhau giữa hai thời kỳ sống của hai nhà văn. Nhưng có một cái không khác, đó là tình yêu nước, và trách nhiệm nhà văn của hai người, và không chỉ của riêng họ. Nhà văn, cũng như người phụ nữ vậy, phải có niềm vui và nỗi đau của sự mang thai và sinh nở những giá trị mới, nhận thức mới cho người đọc. Và xã hội phải có tinh thần làm bà đỡ mát tay cho những cuộc sinh nhọc nhằn và không ít nguy hiểm đó.

2001
Phạm Xuân Nguyên
Sưu tầm nhân Nhà văn Mạc Ngôn nhận giải thưởng Nô ben văn học 2012 (vanthekt)

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Mẹ đưa em qua phủ Tây Hồ.


Ông bạn Phạm Hoài Nhân ra Bắc, ổng là... chuyên gia tin học. Có một ngày chớm thu, dự buổi ra mắt tiểu thuyết Sông của người miền Tây Nguyễn Ngọc Tư. Bạn Hai Ẩu là một VIP, (nghĩa là Very Important Patient- Bạn mới mổ tim). Ra Bắc, được Chuồn chuồn và mẹ Bụ dẫn đi Hà Nam, Phủ Lý, thăm nhà Bá Kiến (vì đất nhà anh Chí đã vào dự án) và loanh quanh Phủ Tây Hồ. Rất tiếc anh em không gặp được nhau. Bài viết này kể lại một lần trong những ngày đó.

Mẹ đưa em qua phủ Tây Hồ.


Khăn quàng cũ cuối mùa thu,
Mẹ đưa em qua phủ Tây Hồ

là lời ca bài Phố nghèo của nhạc sĩ Trần Tiến. Bài hát gợi lên một không gian đậm chất Hà Nội. Hà Nội nghèo chứ không phải Hà Nội sang, Hà Nội lãng mạn của Phú Quang, Trịnh Công Sơn...

Phủ Tây Hồ là gì? Ở đâu? Thật ra thì không cần biết điều này vẫn cảm được bài hát qua giọng ca da diết của Trần Thu Hà. Thế nhưng biết vẫn thích hơn. Vì thế, ra Hà Nội lần này lúc chớm thu, tôi đưa tôi ra phủ Tây Hồ....

 Hồ Tây, nhìn từ phủ Tây Hồ

Tôi đọc rất kỹ Sơn Nam, ông già Nam bộ giải thích rất chi tiết về các nơi thờ cúng như đền, chùa, miếu, đình...  Có cả dinh (như dinh Cô ở Long Hải, Vũng Tàu), nhưng tuyệt nhiên không thấy ông nhắc đến phủ. Nói đến phủ, tôi nghĩ đến dinh thự, như phủ tổng thống, phủ thủ tướng... Và như vậy phủ Tây Hồ phải chăng là một dinh thự của vị quan nào đấy trên bờ hồ Tây?

Không, không phải vậy! Chùa là nơi thờ Phật, đền là nơi thờ các bậc danh nhân, miếu là nơi thờ các vị thần thánh, cònPhủ là nơi thờ Mẫu, mà tiêu biểu là Mẫu Liễu Hạnh. Giáo sư Vũ Ngọc Khánh giải thích chữ phủ ở đây nghĩa là cõi. Miền Nam không có phủ thờ mẫu nên Sơn Nam không có giải thích điều này.
Phủ Tây Hồ là nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh, và tuy cùng nằm ven bờ hồ Tây nhưng phủ nằm tận bên kia hồ, chứ không phải chỗ chùa Trấn Quốc nơi du khách thường lui tới.

 Phủ Tây Hồ

Truyền thuyết kể rằng thuở xưa quan trạng Phùng Khắc Khoan cùng hai bằng hữu dạo chơi trên Hồ Tây đã tao ngộ chúa Liễu. Đôi bên xướng họa cùng nhau. Phùng Khắc Khoan cho lập phủ Tây Hồ tại nơi gặp gỡ để thờ bà chúa Liễu và nhớ nơi hội ngộ.

Thành tâm khấn nguyện
  
Phủ Tây Hồ trở nên một chốn linh thiêng, người dân thường đến đây cầu tài cầu lộc, nam nữ đến đây cầu duyên cầu tình.

Níu giữ cây si cổ thụ, buông rể xuống ven hồ
Ngày nọ, ở phủ Tây Hồ, có một gã trung niên từ Nam ra, ngắm hồ Tây mênh mang sương mờ, tưởng nhớ cuộc tao ngộ lung linh năm nào giữa người và tiên, ngắm khách thập phương thành tâm khấn nguyện.
 Suy tư- Phạm Hoài Nhân



Thoảng đâu đây qua làn sương mỏng lời ca:
Khăn quàng cũ cuối mùa thu,
Mẹ đưa em qua phủ Tây Hồ 


Nhờ mẹ Bụ ngắm trời, thoáng heo may xứ bắc.