Hiển thị các bài đăng có nhãn CẢM NHẬN ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CẢM NHẬN ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 5, 2023

Như Cánh Vạc Bay. Cảm nhận của Hoàng Ngọc Tuấn

Như Cánh Vạc Bay.



NHƯ CÁNH VẠC BAY là nhan đề tuyển tập nhạc tình ca mới nhất của Trịnh Công Sơn, xuất hiện vào cuối năm 1970, đánh dấu một sự trở về với tình yêu và lãng mạn của người nhạc sĩ này sau một khoảng thời gian dài làm nhạc phản chiến và kêu gọi hòa bình.

Từ khi những bài tình ca của hai tập Ca khúc TCS và Tình khúc TCS gây được ảnh hưởng mạnh mẽ và tốt đẹp trong quần chúng, nhất là trong giới trẻ yêu nhạc, nguồn suối tình cảm thơ mộng của tác giả này đã gián đoạn trong một khúc rẽ của chuyển hướng sáng tác cá nhân cùng với biến chuyển của thời cuộc: Da vàng ca khúc, Kinh Việt Nam và gần đây nhất là Ta phải thấy mặt trời là những tiếng hát tạm thời rời bỏ khung trời của cái đẹp vĩnh cửu, của tình ái muôn thuở, để cất lên lời kêu thuong phẫn nộ đầy những nhạc điệu dữ dội và chua xót, của một người nghệ sĩ cảm nhận được sứ mệnh của mình đối với đồng bào và nhân loại. Tiếng ca phản kháng này không còn là một tác phẩm thuần túy được thưởng thức trong giới văn nghệ, mà đã bay xa hơn, như tiếng trống dồn dập thúc quân trên con đường tìm kiếm thanh bình cho đất nước.

Ngày nay, người nhạc sĩ đầy ý thức ấy đã trở lại với tâm hồn trữ tình cố hữu của mình. Trong một cuộc chiến mệt mỏi, tình ca cũng là một cách thế phản kháng bởi vì tình ca nuôi dưỡng tình yêu, vun xới tình người, ca ngợi yên bình và là nguồn nước ngọt tưới lên những đời khô cạn.

Và Như cánh vạc bay ra đời với 15 bài hát được trình bày bởi Khánh Ly, tiếng hát nữ đồng hành đáng yêu và thành công nhất của Trịnh Công Sơn.

15 bài gói ghém trong một cuộn băng nhỏ chưa được phổ biến. Tôi đã nghe nhiều lần những bài ấy, trong một khoảng thời gian ngắn ở 3 nơi chốn khác nhau: Sài Gòn, Đà Lạt và Huế. Vì thế cho đến bây giờ, chỉ cần một phút giây hoài niệm là lời ca tiếng nhạc ấy tràn đầy vào trong người như một tình cảm quen thuộc.

*

Nếu những Diễm Xưa, Mưa Hồng, Nắng thủy tinh… thuở xưa là tiếng nói của những tinh yêu đẹp và thần thánh chứa đầy trong người, thì những bài trong tập NHƯ CÁNH VẠC BAY này lại là vang vọng quãng đời quạnh hiu, trống trải khi những cuộc tình đều đã xa lìa, mất mát.

Một người về đỉnh cao, một người về vực sâu, để cuộc tình chìm mau, như bóng chim cuối đèo” (TÌNH NHỚ)

TÌNH XA là bài hát xô đẩy sự cô độc đến tận cùng rời rã khi “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”.

RU TA NGẬM NGÙI, bài hát lên đến những nốt cao nhất và xuống những nốt thấp nặng nề nhất, nghe buồn bã như một lời ru, lời ru đối với chính tâm trạng chiếc bóng cô tịch của mình.

Âm thanh quấn quýt sự phiền muộn hơn nữa khi diễn tả những tháng ngày tiếp nối dửng dưng vô vị như tiếng chuyển động đều đặn của chiếc đồng hồ.

Một ngày như mọi ngày từng chiều lên hấp hối. Một ngày như mọi ngày bóng đổ một mình tôi.

NGƯỜI VỀ BỖNG NHỚ mang đầy nét êm đềm dịu dàng của núi đồi Đà Lạt, và Rừng xưa đã khép với cái coda dồn dập như hồi thúc một cuộc chia lìa. Cho dù hạnh phúc chỉ đến khi có bóng dáng của người nữ: “Ta vẫn mong em về đấy cho đời bày cuộc vui”.

Ba bài hát thành công và rực rỡ sự toàn bích của lời và nhạc nhất, có lẽ lời Như cánh vạc bay, Ru em và Tình xót xa vừa. Ở những tình ca này, hình ảnh tươi đẹp nhất của lời và nhịp điệu lãng mạn u sầu của nhạc đã đến một mức độ cao nhất, mang một tính chất điển hình nhất của tác giả trong cốt cách tài hoa sẵn có đã làm rung động tâm hồn người thưởng ngoạn một cách tuyệt vời.

NÀY EM CÓ NHỚ mang âm hưởng của một bài thánh ca trong đêm Giáng Sinh, nhưng là một đêm Giáng Sinh không có Chúa, không tôn giáo, một Giáng Sinh chỉ có “tôi” và “em”.

Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người. Này em, xin cứu một người.”

RỒI NHƯ ĐÁ NGÂY NGÔ với đoạn chấm dứt lơ lửng, chơi vơi, như tâm hồn chìm đắm trong tưởng nhớ.

Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ. Đôi khi có mưa giữa khuya hồn tôi bỗng vu vơ…

Cuối hết, như cố đem lại một thoáng vui đùa và nụ cười cho đời trống trải, Em đã cho tôi bầu trời và Hãy cứ vui như mọi ngày như những lời an ủi đối với chính mình, thanh thản chấp nhận một đời sống giá lạnh sau khi đã mất mát.

Từ khi Khánh Ly giã từ thảm cỏ hoang và quán cà phê ngoài trời đêm để đi hát phòng trà, nhiều người đã bớt đi cảm tình đối với giọng hát nghề nghiệp của người nữ ca sĩ nổi danh này.

Nhưng có nghe Khánh Ly khi nàng hát những bài tình ca mới NHƯ CÁNH VẠC BAY trong phòng studio lặng lẽ không có tiếng vỗ tay đùa cợt, tiếng ly tách ồn ào chạm nhau và tiếng cười lanh lảnh giả tạo của những em ca ve phất phơ qua lại, tôi mới thấy được những nét độc đáo nhất làm cho Khánh Ly thành công, bây giờ nàng vẫn còn nuôi nấng và càng sâu thẳm hơn trước nữa. Đó là tiếng hát ngây dại, khinh bạc, thảnh thơi như hơi thở, và phiền muộn như tiếng khóc.

Đối với cá nhân tôi, nếu Trịnh Công Sơn là người nhạc sĩ chân thực xứng đáng nhất của tuổi trẻ, thì muôn đời vẫn chỉ có Khánh Ly là tiếng hát trung thực xứng đáng nhất của nhạc anh.

Hoàng Ngọc Tuấn

(Khởi Hành số 98 ngày 1-4-1971)

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

Chiêm ngắm Đoá hoa Vô thường

 Chiêm ngắm Đoá hoa Vô thường




Trịnh Công Sơn

ÐOÁ HOA VÔ THƯỜNG


 I
Tìm em tôi tìm
Mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn
Một cành hoa khôi
Nụ cười mong manh
Một hồn yếu đuối
Một bờ môi thơm
Một hồn giấy mới

Tìm em tôi tìm
Nhủ lòng tôi ơi
Tìm đêm chưa từng
Tìm ngày tinh khôi
Tìm chim trong đàn
Ngậm hạt sương bay
Tìm lại trên sông
Những dấu hài

Tìm em xa gần
Ðất trời rộn ràng
Tìm trong sương hồng
Trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận
Chưa từng tuyệt vọng đâu em

Tìm trong vô thường
Có đôi dòng Kinh
Sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
Dưới chân cội nguồn
Tôi mời em về
Ðêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề
Thơm ngát hương trầm

Trong vườn mưa tạnh
Tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội
Một đoá hoa quỳnh



II

Từ nay tôi đã có người
Có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình
Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

Từ em tôi đã đắp bồi
Có tôi trong dáng em ngồi trước sân

Mùa đông cho em nỗi buồn
Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
Tàn đông con nước kéo lên
Chút tình mới chớm đã viên thành

Từ nay anh đã có nàng
Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
Mùa xuân trên những mái nhà
Có con chim hót tên là ái ân



III

Sen hồng một nụ
Em ngồi một thuở
Một thuở yêu nhau
Có vui cùng sầu
Từ rạng đông cao
Ðến đêm ngọt ngào
Sen hồng một độ
Em hồng một thuở xuân xanh
Sen buồn một mình
Em buồn đền trọn mối tình

Một chiều em đứng cuối sông
Gió mùa thu rất ân cần
Chở lời kinh đến núi non
Những lời tình em trối trăng
Một thời yêu dấu đã qua
Gót hồng em muốn quay về
Dù trần gian có xót xa
Cũng đành về với quê nhà


IV
Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là
Một chút mây phù du
Ðã thoáng qua đời ta
Từ đó trong hồn ta
Ôi tiếng chuông não nề
Ngựa hí vang rừng xa
Vọng suốt đất trời kia
Từ đó ta ngồi mê
Ðể thấy trên đường xa
Một chuyến xe tựa như
Vừa đến nơi chia lìa

Từ đó ta nằm đau
Ôi núi cũng như đèo
Một chút vô thường theo
Từng phút cao giờ sâu
Từ đó hoa là em
Một sớm kia rất hồng
Nở hết trong hoàng hôn
Ðợi gió vô thường lên
Từ đó em là sương
Rụng mát trong bình minh
Từ đó ta là đêm
Nở đoá hoa vô thường.

*

Nếu chiêm ngắm kĩ, bạn sẽ thấy con người là một bông hoa năm cánh. Một thiền giả Nhật đã có chiêm nghiệm như vậy.

“Giao hưởng thơ” Ðoá hoa Vô thường là một dụ ngôn/ẩn dụ bằng ý thơ nẻo nhạc để kể về cuộc hành hương đi tìm ý nghĩa của tình yêu, nghệ thuật và cái chết. Tương tự như trong truyền thuyết đi tìm Ðoá thiên thanh (Blaue Blume) biểu trưng cho nghệ thuật của thi sĩ Lãng mạn Ðức Novalis -- Một cuộc luyện đan (alchemy) trong tình yêu và nghệ thuật. Hoặc gần với Thiền tông hơn, nó  được luân diễn trong 10 bức tranh chăn trâu, là hình ảnh kẻ mục đồng hay hành giả/lữ khách lạc nẻo giữa đồng hoang nội cỏ, khởi đi tìm cái tâm (chân như) của chính mình đã đánh mất trên siêu lộ mê ảnh trong cõi sinh tử chập chùng mộng mị...

Bốn “chương” (movement) nhạc của Ðoá hoa Vô thường tương ứng với bốn mùa hay bốn tâm cảnh về một đời người, như vòng “quy hồi vĩnh cửu” (eternal recurrence) trong Một cõi đi về. Lối tiến hành âm hình giai điệu của Ðoá hoa Vô thường là một cuộc chuyển hoá liên tục giọng, điệu tính, tiết nhịp, tâm thái... trong từng đoạn, câu hoặc tiết nhạc. Ý thơ dựa trên một chủ đề chính tái hiện nhiều lần là bông hoa xuyên suốt tác phẩm. Sự chuyển hoá sắc thái liên tục này làm gợi nhớ tới ý niệm “giao hưởng thơ”  [symphonic poem của các nhà soạn nhạc Ðức như Franz Liszt thời Lãng mạn] đưa ra tính tự do của một nhạc thể và khả năng sử dụng dàn nhạc như một bảng pha màu, từ đó vẽ ra một bức tranh linh động bằng âm thanh-hình ảnh.


Chương I

Tìm tình, nhịp thong dong
Khởi đầu bằng thể hát kể đồng dao bốn chữ Tìm em tôi tìm... như nhịp chân rảo bước đi tìm Tình trong vẻ Ðẹp mà hình ảnh thanh tao hiện thân trong mình hạc xương mai. Bước đầu tìm trong cái đơn độc, cái một: tìm trên non ngàn một cành hoa khôi -- hiển hiện trong đoá hoa tinh khôi đó là nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối, một bờ môi thơm mang tấm lòng sơ nguyên của một hồn giấy mới. Khiến chúng ta liên tưởng tới những vần thơ tình tâm linh diễm tuyệt “vì tình tôi phải tìm tình” trong Nhã Ca (Kinh Thánh) hoặc trong Tụng ca Tâm linh [của San Juan de la Cruz] để đi tới chỗ kết hợp huyền nhiệm (unio mystica).

(rộn rã bồi hồi)
Ðường nét “hướng thượng” trong giai điệu này: “Tìm em tôi tìm nhủ lòng tôi ơi...”  là nỗi quyết tâm tìm trong cả những thấp thoáng ảo hoá (maya) của vạn vật đắp đổi; thời gian: tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi. Trên trời: tìm chim trong đàn ngậm hạt sương bay. Dưới đất: tìm lại trên sông...  những dấu hài. Từ thơ bốn chữ giờ còn lại còn ba chữ: những dấu hài...  giọng ngậm ngùi tưởng nhớ.  Ở đây “tình lại gặp tình” lần tìm theo chỉ thấy từng bước in rêu của một hồng nhan bạc mệnh...
(Trầm tưởng).

(Dịu lắng)
“Tìm em xa gần đất trời rộn ràng...” lòng người đi tìm bây giờ đã lắng xuống để quán tưởng mà ôm lấy đất trời xa gần trong cả cái tính phù du, bạc mệnh, tàn và tận của tấn tuồng ảo hoá đó: Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnhtrăng tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em. Thêm hai chữ đâu em như lời nhắn nhủ mãi mãi tới cõi phù sinh này (Ðừng tuyệt vọng tôi/em ơi đừng tuyệt vọng...).

(Rộn ràng)
Từ thể hát đồng dao giờ hoá thành bài kệ (gatha) tụng reo:

Tìm trong vô thường
Có đôi dòng Kinh
Sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
Dưới chân cội nguồn...

Là lúc cảnh giới của đất trời giao hội từ khi câu Kinh đã bước vào đời (Nguyệt ca) -- đôi dòng Kinh Sấm ("Ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm"-Kinh Kim cang) bay rền vang là ánh kim cương chẻ toang bóng tối âm u...  Cũng chính là lúc bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn – cội nguồn của chân như, bản lai diện mục – Người Tình hay cái Tâm sẽ tự hiển hiện cho thấy khi thôi tìm trong hình sắc, âm thanh... Giờ tôi mời em vềtrong đêm thiêng liêng có ơn mưa trời gội rửa tuôn tưới. Em giờ hiện hữu ở khắp bốn bề tẩm hương trầm thơm ngát. [Tiếng đàn... như tiếng mưa nhỏ giọt]. Khi vườn mưa tạnh, tiếng nhạc liền cất lên hân hoan để soạn sửa cho cuộc lễ mạc khải thiêng liêng dưới ánh trăng vàng: một đoá hoa quỳnh trong ngọc trắng ngần lồng với bóng trăng tròn. Cũng từ lòng đoá hoa tố tâm đó mở ra [chỉ trong một đêm thắp sáng] mà vạn vật được phản chiếu và mở phơi như trong một tấm gương trong. Cái nôi vũ trụ tình yêu nhiệm màu đó là những ngón tay xoè bung ôm lấy tất cả làm Một.

Tới đây lời thơ ngưng. [Tiếng đàn... giờ là ánh trăng lung linh tĩnh mặc] để chiêm ngắm vẻ đẹp của đoá ngọc quỳnh. Như cái thị kiến ân sủng (beatific vision) của thi sĩ Dante chói mắt trước ánh sáng tâm linh phát toả từ tình yêu được kết thành đoá hoa hồng trắng.


Chương II

Ðưa tình về, nhịp hớn hở  (Nhạc...)
Thanh thoảng (Nhạc...)

Bình an
Từ khi có duyên hội ngộ, đã có tình là có đối đáp. Lời thơ chuyển sang thể lục bát trữ tình để bày tỏ khoảng an bình khi cả hai đã có nhau như hình với bóng. Bằng một nhịp thơ liền lạc, vui và đầm ấm: “Từ nay tôi đã có người, có em đi đứng bên đời líu lo...  Từ em tôi đã đắp bồi, có tôi trong dáng em ngồi trước sân.”  

Hát tự do
Giọng chuyển đột ngột chùng xuống thành khúc hoài cảm (melancholy) đượm vẻ nuối tiếc, man mác, buốt lạnh như lời linh cảm trước cho tính bạc mệnh của đoá hoa “mới chớm đã viên thành” như nụ tình ái Kim-Kiều. Mùa đông cho em nỗi buồn, chiều em ra đứng hát kinh đầu sông... chút tình mới chớm đã viên thành.

Và tàn đông con nước kéo lên đợi mùa xuân tới:

Nhịp nhàng thơ thới

Ðiệp từ Từ nay... đã luôn được nhắc lại, cung giọng bây giờ cao và nhấn nhá vui hơn. 
Toàn chương II diễn tả một cuộc “đối đáp” nói–thưa (đối điểm/counterpoint), đắp-bồi giữa hai bè ngôi thứ khởi từtôi-người, tôi-tình sang tôi-em; cho tới đoạn này là anh-nàng để đồng xướng (homophony) một chữ . Ở đoạn này như là giai điệu chim hót trầm bổng cùng với tiếng ca đồng thanh của đất trời sông núiđáp đền tới cuộc hội ngộ từ khi đã có... Từ nay anh đã có nàng, biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca. Mùa xuân trên những mái nhà, có con chim hót tên là ái ân.



Chương III
Bốn mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất
(Nhạc chuyển...  Chậm lại...)

Bình an
Khúc arioso (vịnh tự khúc): “Sen hồng một nụ...” Chuyển từ hình ảnh đoá quỳnh trắng của chương I sang một hoá thân khác là nụ sen hồng đang ngồi đong đưa -- khoảng cách từ “thơ ngây” tới “kinh nghiệm” -- bằng một giọng kể hoài tưởng lại thời thanh xuân êm đềm chuyển sang sắc màu “chín” của tình yêu đã nếm trải từ rạng đông cao đến đêm ngọt ngào. Bảng màu “mùa xuân chín” rõ rệt hơn: Em hồng một thuở xuân xanh... giờ còn lại nỗi buồn hoài niệm để đền trọn mối tình. (Hồng đi nhé xin hồng với nụ. Vàng phai sẽ cuốn đi mịt mù – Vàng phai trước ngõ).
(nhạc chuyển...)

Hiu hắt
Từ đây chuyển đoạn trầm xuống hiu hắt như tiếp nối đoạn hoài cảm ở chương II nhưng đã trở thành thể thơ độc thoại sáu chữ. Một chiều em đứng cuối sông, gió mùa thu rất ân cần chở lời kinh đến núi non, những lời tình em trối trăng...” Cuộc tình đã trải qua cả hạnh phúc lẫn khổ đau, và thân phận lưu lạc hoa trôi bèo dạt, lênh đênh từ đầu sông cho tới cuối sông đoạn trường “tính từ sông nước cát lầm”. Cánh gió mùa thu chở lời Kinh hát về thân phận gửi tới non nước quê nhà. Một thời yêu dấu đã qua. Giờ đây gót hồng (gót sen/đôi chân hồng trần củaThuý Kiều) mong mỏi được quay về. Từ khúchoài cảm ở trên giờ hợp lại trở thành khúc hoài hương (nostalgia) trối trăng rằng: dù trần gian có xót xa cũng đành về với quê nhà.

(Con sóng biển dâu đã mang tình về quê quán cũ)
[Nhạc...]


Chương IV

(Nhạc chuyển... ) Rộng rãi
Dồn dập vừa
Mênh mông

Tình đi, người ở lại -- (Ðoạn cuối)
Êm đềm, xa vắng

Khúc 1: “Từ đó trong vườn khuya, ôi áo xưa em là một chút mây phù du, đã thoáng qua đời ta...”.
Khúc bi ca (elegy) u huyền này bằng thể thơ tự sự năm chữ, là tiếng thở dài mênh mang khi tình đã đi, người ở lại.  Có thể diễn tả lại bằng lời thơ trong Lửa Thiêng:
Bóng đêm toả không lấp niềm thương nhớ, 
Tình đi mau, - sầu ở lại lâu dài.
Ta đã để hồn tan trong tiếng thở
Kêu gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai.
                                               (“Bi ca” – Huy Cận)

Từ cảnh vườn đêm hội ngộ có ánh trăng vàng mạc khải của chương I tới cảnh vườn khuya cô tịch trong chương cuối này, là nỗi thấu cảm tính phù du của chữ tình, của vẻ đẹp mong manh là hình ảnh chính cái chết. Từ đó trong hồn ta, ôi tiếng chuông não nề...Nỗi tuyệt vọng mênh mang, nhịp tim xao động trong lòng là tiếng chuông não nề văng vẳng như tiếng chuông cầu hồn. Tiếng ngựa hí vang rừng xa vọng suốt đất trời kia, mang tính ẩn dụ đầy âm-hình (audio-visual) loan báo cho giờ phút khởi hành chuyến xe cuối cùng của đời người. Từ đó ta ngồi mê, để thấy trên đường xa, một chuyến xe tựa như, vừa đến nơi chia lìa.

(Tình do tâm mà sinh, có khi tình mất mà tâm còn động vọng. Ðến lúc tâm bình an thì tình kia cũng đoạn nỗi).
[Nhạc] Mạnh và liền nhau

Êm dịu lại
Khúc 2: “Từ đó ta nằm đau, ôi núi cũng như đèo, một chút vô thường theo...”
Bài tự tình khúc cuối này như bức tranh thuỷ mặc của cõi tâm bao la vô cùng.
Từ đó... từ chốn vô thuỷ vô chung để mà chiêm nghiệm toàn cảnh lộ trình đã qua của người nghệ sĩ – kẻ hành hương -- giờ nằm đau dạt dào bi cảm trước cái như tính của vẻ đẹp, của sự vật; chẳng còn biện biệt nữa không gian (ôi núi cũng như đèo) với thời gian (từng phút cao giờ sâu) để rồi nhập vào với trạng thái tịnh mặc (samadhi) ngay trong nỗi đau – [ở một nghĩa nào đó] là đang trải qua kinh nghiệm về cái chết. Ði vào cõi chết như một âm điệu ngân vang rồi cũng sẽ chìm trôi vào với cái tịch lặng: cõi đi về thiết yếu của âm nhạc, của chính đời người.

Từ đó -- tình yêu là hoa nở hồng ban sớm nở hết trong hoàng hôn, vẫn còn mãi khát mong, lại phải nhờ tới ngọn gió vô thường thổi qua để tiếp tục hoá thân thành sương tinh khiết rụng mát trong bình minh.
Vườn khuya đoá hoa nào mới nở,
Ðời ta có ai vừa qua...
                      (Ðêm thấy ta là thác đổ)
Từ đó ta là đêm, nở đoá hoa vô thường.
Từ đó -- người đi hành hương nhập thể vào với bóng đêm vô tận (là cõi chân không) để nở ra đóa hoa vô thường: người chiêm ngắm [đoá hoa] đã trở thành cái [đoá hoa] mà mình chiêm ngắm. Vẻ đẹp của đoá hoa vô thường là nở ra nụ cười khúc khích trên lưng đài gương của cái dục mang hương sắc hoa tình của cái chết.

Từ đó -- đoá hoa là biểu hiện rõ nhất về sự vô thường: hiện, hiển và biến:
Mùa mưa tới cành hoa trắng ngần
Ðã ra đời đùa vui phút giây
Sau một lần đến bên người
Khép lại tấm lòng nghìn năm nhớ ai...
            (Chuyện đoá quỳnh hương)
Từ đó -- đoá hoa ấy đã khép lại những cánh mong manh trước cả lúc trăng tàn nguyệt tận.

Từ đó --
Chìm dưới sương thu là một đoá thơm tho.
                                       (Chìm dưới cơn mưa)
Nhưng từ đó, để kết tinh nên một đoá mong manh, thơm tho ấy dâng cho đời, đã là sự cưu mang và hi hữu kể từ trăm năm trong cõi người ta...

(Nhạc để chấm dứt...)


Khúc kết
Những phương trời gió loạn nào đã đi qua,
Còn lại đoá hoa vô thường
Phất phơ giữa tuế nguyệt không thời.


Hà Vũ Trọng, Toronto, 6.2001

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

HƯƠNG XƯA


HƯƠNG XƯA là một tác phẩm âm nhạc kinh điển được viết theo phong cách thính phòng của nhạc sĩ Cung Tiến. Ông là một trong số những nhạc sĩ hiếm hoi chọn cho mình lối viết nhạc cổ điển và lãng mạn thời tiền chiến. Với Hương Xưa, Cung Tiến đã tỉ mỉ đặt từng ca từ sao cho tinh tế theo từng nốt nhạc để kể về những câu chuyện dĩ vãng. Nhạc sĩ nói: Bài “Hương Xưa”, viết sau khi lần đầu tiên được nghe giàn nhạc giao hưởng đầu tiên của Việt Nam trình diễn “sống” trong một dịp kỷ niệm 200 năm sinh của nhạc sĩ Mozart. Mê đến bỏ học, để đến nghe giàn nhạc tập dợt...
Nhưng Hương xưa lấy theo giai điệu bài dạ khúc của Schubert mà không có âm hưởng Schubert trong đó.
-----
Mỗi khi đêm về nghe bài dạ khúc của Schubert do Cung Tiến đặt lời, tiếng dương cầm lướt trên phím đuổi theo từng nốt nhạc, tiếng réo rít của vĩ cầm, hòa lẫn theo tiếng trầm bổng của cello. Khi mà từng lời ca rót nhẹ vào tâm hồn trầm ngâm, lắng đọng cho từng cung nhạc.
Hương xưa cho ta cảm giác mình không còn bơi trên con sông nào ở trần gian mà đã lên tận ngân hà huyền ảo... để nỗi mộng đi đến chỗ hư hư thực thực và rồi lòng có chút quyến luyến, chút băn khoăn khi vụt thoát trở về với vòng tục lụy…

Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa?
Ngươi ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò.
Còn đó tiếng tre êm ru,
Còn đó bóng đa hẹn hò,
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu


Như những mong manh, lãng mạn, những xa vắng lạnh lùng, một nỗi u hoài dĩ vãng thấm sâu vào lòng người. Một thời tuổi trẻ trở về quay về chầm chậm, ta bắt gặp lại mình trên con đường hoa mộng của ngày xưa. Có lẽ Cung Tiến muốn gửi vào đây những đau đớn xót xa khi nhớ về những kỷ niệm, những chia ly, một nỗi nhớ bâng khuâng  len lén nhen lên từ sâu thẳm tâm hồn trong cảnh chiều tà hiu quạnh!

Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?
Tình có ghi lên đôi môi
Sầu có phai nhòa cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui.
  
Cố nhân ơi! Nỗi cô đơn tràn ngập trong tâm thức, những nốt nhạc mong manh, những ý, những tình, lòng thấm thía.





PS. Những điển tích trong bản nhạc Hương Xưa của NS Cung Tiến

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

Liang Zhu 梁祝 Butterfly Lovers (phần 1)


Trời nóng, mệt, ở nhà nghe nhạc, gặp bản Lương Chúc, nay biên tập lại để nghe. Khi xưa còn nhỏ, chị gái hay ru tôi bằng truyện thơ này. Giờ vẫn còn nhớ: “Chuyện Trung Quốc ngày xưa kể lại/ một mối tình mãi mãi còn vương…/ Tỉnh Chiết Giang có nhà giầu có/ Lại sinh dòng là họ Chúc Anh, Hiếm hoi cây có một cành…” (tôi chỉ còn thuộc vài chục câu đầu)

Thôi bỏ qua mối tình trong câu chuyện nỉ non ấy, ta già rồi. Hãy thưởng thức một biến tấu của bản Violin concerto này, lắng nghe tiếng vĩ cầm réo rắt.
Mở đầu tiếng piano chậm rãi đưa ta vào câu chuyện. Violon solo, lời tiểu thư họ Chúc tươi tắn kể về một khung cảnh êm đềm, tuổi thơ nhung lụa. Tiếng sáo cất lên, một vùng quê thanh bình miền Chiết Giang, nước Việt thịnh vượng xưa. Tiếng violon solo vẳng tiếng đàn hạc chứa chất đầy tâm trạng. Trước mắt ta có thể hình dung được một khung cảnh êm đềm của bức tranh mùa xuân - những ngày tháng hạnh phúc, xen lẫn những giai điệu chậm và lắng sâu, như thể tâm tình thiếu nữ.

Câu chuyện còn tiếp theo ở bản đầy đủ hơn.



Tham khảo.
1- Anh Đài, con gái nhà họ Chúc ở Thượng Ngu, cải trang thành nam tử, cùng học với Lương Sơn Bá đến từ Cối Kê. Sơn Bá không biết Anh Đài là gái nên xem là bạn thân, hai người ở cùng phòng với nhau. Học xong, Anh Đài quay về nhà. Hai năm sau, Sơn Bá đến thăm nhà nàng, chỉ khi đó mới biết nàng là gái. Lương Sơn Bá muốn cầu hôn nhưng gia đình nàng đã gả nàng cho nhà họ Mã. Sơn Bá nhậm chức huyện lệnh tại huyện Ngân, sau đó chết và được chôn cất tại phía tây thành Mậu. Khi Chúc Anh Đài được hộ tống đến nhà họ Mã bằng đường thủy thì thuyền cứ dừng lại trước mộ, không thể di chuyển được vì gió to và sóng cả. Sau khi biết rằng đó là mộ của Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài lên bờ kêu gào khóc thương, đất bỗng tự mở ra; Chúc Anh Đài vì thế cũng được chôn cất trong mộ. Tạ An, khi đó là thừa tướng nhà Tấn, tấu biểu cho đề lên mộ câu "義婦塚" (Nghĩa Phụ Trủng – mộ người vợ có nghĩa).

2- Chiết Giang ở ven biển phía đông Trung Quốc, tên cũ con sông Tiền Đường chảy qua Hàng Châu.
Bắt đầu từ thời Xuân Thu, nước Việt nổi lên ở phía bắc Chiết Giang, định đô ở Cối Kê. Đến đời Việt vương Câu Tiễn, nước Việt cực thịnh và năm 473 TCN đã đánh bại nước Ngô ở phía bắc.
Dưới thời Tần Hán, dù Chiết Giang thuộc quyền kiểm soát của đế quốc Trung Hoa, nhưng vẫn là biên ải và vùng Nam Chiết Giang chỉ thuộc quyền kiểm soát trên danh nghĩa do các tộc Bách Việt sinh sống. Thời mạt Hán, tướng Nghiêm Bạch Hổ và Vương Lãng cai quản Chiết Giang, hai người này đã thua trước hai anh em Tôn Sách - người lập nên nước Ngô, thời Tam Quốc.
Trong thời Bắc Tống (khoảng năm 960), sự giàu có thịnh vượng của miền Nam bắt đầu vượt miền Bắc. Khi miền Bắc bị người Nữ Chân xâm chiếm vào năm 1127, Chiết Giang tiến vào thời cực thịnh: Hàng Châu trở thành kinh đô của Nam Tống. Nổi tiếng vì vẻ đẹp và sự giàu có, thành phố này có thể đã là thành phố lớn nhất thế giới vào thời đó. Kể từ đó đến nay, trong văn hóa Trung Hoa, cùng với vùng Nam Giang Tô lân cận, vùng Bắc Chiết Giang đã đồng nghĩa với sự xa hoa và giàu có. Chiến thắng của quân Mông Cổ và việc thành lập nhà Nguyên năm 1279 đã kết thúc vai trò quan trọng về chính trị của Hàng Châu, tuy nhiên, thành phố này vẫn tiếp tục phát triển thịnh vượng; Marco Polo đã đến thăm Hàng Châu, ông gọi thành phố này là "Kinsay" và gọi đây là "thành phố sang trọng và đẹp đẽ nhất" trên thế giới.
Với lịch sử Bách Việt như vậy, sao ta lại không thấm đọng những tích xưa.