Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Huy Thiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Huy Thiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

VĂN CHƯƠNG NÓ BẠC LẮM...

 "VĂN CHƯƠNG NÓ BẠC LẮM..."

Nguyễn Tường Thiết.

Tôi quen biết nhà văn Nguyễn Huy Thiệp do duyên văn nghệ. Vào những năm cuối của thế kỷ trước tôi đọc nhiều truyện của anh và tôi rất thích. Theo tôi anh là nhà văn xuất sắc nhất của Việt Nam trong thời kỳ “đổi mới”. Vì vậy năm 2006 khi tôi xuất bản ở Hoa Kỳ cuốn sách “Nhất Linh Cha Tôi” vào dịp 100 năm ngày sinh của ông Cụ tôi (25/7/2006) tôi mang một số sách về Hà Nội với chủ đích tìm gặp anh để tặng sách. Trong lần về nước này không những tôi được gặp anh Thiệp mà tôi còn có dịp tiếp xúc với những nhà văn khác cùng một số người trong giới trí thức Hà Nội và tôi có ghi lại những cuộc gặp gỡ đó trong hồi ký mang tên “Một Trăm Ngọn Nến”.

Mới tháng trước đây vào dịp Tết Tân Sửu cuốn sách thứ hai của tôi “Căn Nhà An Đông của Mẹ Tôi” được ấn hành ở Việt Nam. Trong sách đó có bài “Một Trăm Ngọn Nến” ghi lại cuộc gặp gỡ của tôi với anh và các nhà văn khác ở Hà Nội. Tuần lễ trước tôi còn hy vọng anh đã đọc bài đó, nhưng bây giờ thì tôi biết chắc là anh chưa đọc. Bởi vì qua báo mạng tôi mới được biết anh bị đột quỵ từ tháng 3 năm 2020, từ đó anh chỉ nằm trên giường hoặc ngồi dựa, tất cả tùy thuộc vào vợ con; nhưng từ khi vợ anh qua đời cuối năm ngoái thì tinh thần anh suy sụp hẳn.
Để tưởng nhớ anh tôi xin trích một đoạn trong bài “Một Trăm Ngọn Nến”.



Tôi nhìn ra hồ Tây phía xa. Trong rặng cây xanh bên kia bờ nổi bật mái đỏ của hai gian nhà lớn hai từng. Thấy tôi nhìn phía bên kia hồ cụ Từ chỉ tay về phía ấy nói:
– Bên ấy là làng Thụy Khuê. Rặng cây xanh là vườn Bách Thảo. Hai cái nhà lớn mái đỏ kia là trường Bưởi.
– Thế hả cụ? Cháu cứ nghe mãi tên trường Bưởi bây giờ mới biết nó ở đấy đấy.
Trường Bưởi, cái tên rất thân quen. Chu Văn An ngàn đời treo gương sáng… anh tôi vẫn cất tiếng hát, bài hát của ngôi trường một thuở nào xa xôi anh đã từng in dấu.
Trường Bưởi, cùng với sóng nước hồ Tây, đã đi vào văn chương. Tôi mê đoạn văn sau đây, nhớ mãi. Có thật chăng một cuộc tình não nùng đã từng nẩy nở bên kia bờ nước, sau lùm cây, trên bãi cỏ, phía góc trường kia?
“Hai mươi năm đã qua… Quanh hồ đủ thứ đã đổi thay, song thần thái của hồ vẫn là muôn thuở. Vẫn mênh mang thế, vẫn bình yên, thong dong, lãng đãng thế và say đắm thế. Với sương mờ ban mai. Với vừng ráng chiều tà. Với rặng núi xa. Kiên chưa lần nào vào lại sân trường xưa để vòng sau nhà bát giác tới lùm cây ấy, bãi cỏ ấy. Anh chỉ từ rất xa, mé đường Thanh Niên mà nhìn về góc trường đó, mặt hồ dường như ngước nhìn anh bằng đôi mắt lấp lánh màu nâu của Phương, với vẻ kỳ diệu và nỗi ngậm ngùi của tuổi thơ ấu, của tình yêu đã đi qua, đã xa vời vợi. Và những chiều ngồi bên hồ bao giờ anh cũng ngồi nán lại cho đến khi vừng ráng chỉ còn đọng lại một ngấn đỏ chạy ngang trời. Ấy là ánh hồi quang của cái đêm hai mươi năm trước, bên bờ hồ, sau lùm cây, trên bãi cỏ, phía góc trường…Sóng hồ dập dềnh, ì oạp vỗ vào bờ cỏ. Xa xa, từ chỗ pháo đội cao xạ chốt nổi trên đám bèo neo sâu trong hồ một hồi kẻng khuya chậm rãi dóng lên. Vị thần bảo hộ cứu tinh cho sự trong trắng và trong sạch của đôi bạn, chẳng phải ai khác ngoài chính họ. Gió thở dài. Im lặng lan xa. Hai người như thể vừa từ đáy nước nổi bồng lên để rồi bị cuốn dạt ra mỗi ngả…”(Bảo Ninh – Thân phận tình yêu).
Gió… không thở dài ở đây, bây giờ, mà lồng lộng thổi từ mặt hồ Tây mênh mang phía trước.
Ngày hôm qua tôi nói với Bảo Ninh ngồi đối diện tôi nơi một bàn tiệc:
– Tôi có đọc truyện Nỗi buồn chiến tranh của anh. Không khí truyện này rất lôi cuốn khiến tôi đọc mà muốn ngộp hơi. Đọc xong tôi hiểu vì sao anh bị giằng co trong sự lựa chọn giữa hai nhan truyện “Nỗi buồn chiến tranh” và “Thân phận tình yêu”. Tôi thích nhan đề sau hơn, có lẽ bởi vì tôi bị mê hoặc bởi những đoạn anh viết về những cuộc tình hơn là những đoạn anh viết về cuộc chiến, tôi thích style văn rất mới của anh, cái lãng mạn trong văn phong anh, không phải cái lãng mạn trữ tình êm đềm kiểu Tự Lực Văn Đoàn mà là thứ lãng mạn chua xót và đớn đau. Tôi cho rằng mình đã đọc một truyện rất hay về cuộc chiến tranh mà anh với tôi đã cùng trải qua và trực tiếp dự phần, từ hai phía đối nghịch.
Bên kia bàn Bảo Ninh, trẻ hơn tôi đúng một giáp, mái tóc đã điểm sương bồng lên bù xù, hàng râu quặp trên mép, nhận lời khen của tôi một cách trịnh trọng, hơi kiểu cách: anh nắm chặt hai bàn tay vào nhau để phía trước ngực khẽ cúi đầu nói nhỏ “đa tạ!”.
Trong lúc ăn Bảo Ninh luôn tay với chai rượu whiskey rót thêm vào cốc đưa lên miệng uống. Chả mấy chốc chai thứ hai đã được khui. Bàn tiệc có sáu bảy người. Một mình anh ta có lẽ đã tiêu thụ nguyên gần một chai rượu mạnh.
Ngồi bên trái tôi, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp yên lặng gắp đồ ăn, anh ăn nhỏ nhẹ không đụng tới một giọt rượu.
Bảo Ninh uống. Hết ly này đến ly khác. Mắt anh có một lúc rời tôi nhìn người ngồi cạnh tôi bên phải. Cặp mắt đã mờ say của anh ánh lên một tia nhìn dịu và đằm thắm, hẳn cũng là cái nhìn của nhân vật Kiên với những người nữ trong Nỗi buồn chiến tranh của anh.

Bên cạnh tôi là Đỗ Hoàng Diệu một nhà văn nữ rất trẻ, tác giả một quyển truyện nổi tiếng “Bóng Đè”.
Tiệc tàn. Tôi hơi say. Cả bàn có lẽ chỉ có hai người không đụng tới rượu là Nguyễn Huy Thiệp và Đỗ Hoàng Diệu.
Nguyễn Huy Thiệp quay qua tôi hỏi:
– Để tôi chở anh về. Anh có bận gì không?
– Không.
Anh ghé nói nhỏ vào tai tôi:
– Nhà anh Tô Hoài rất gần đây. Mình ghé thăm anh một lát rồi tôi chở anh về nhà tôi chơi…
Nơi mé hồ gần bờ hướng chùa Trấn Quốc có một người đang bơi, cái đầu chồi ngụp trên mặt sóng. Hình ảnh bố tôi bơi với chú Đinh Hùng lại thoáng trong trí.
Bố tôi đã ra đi bốn mươi ba năm trước… như con bướm trắng bay đi không trở lại. Nếu còn sống thì hôm nay là sinh nhật thứ 100 chúng tôi đã thắp một trăm ngọn nến trên chiếc bánh sinh nhật của ông.
Tôi đứng dậy nhìn đồng hồ tay. Nhớ tới cái hẹn tại nhà anh Nguyễn Huệ Chi tôi nói với cụ Từ xin kiếu về.
Bước ra khỏi đình Yên Phụ tôi ngoái nhìn phía trước căn nhà cây liễu một lần cuối rồi đi rẽ về phía cổng làng.
Mặc dù không dặn nhưng khi bước qua khỏi cổng làng tôi đã thấy bác lái xe ôm ban sáng ngồi chờ tôi dưới một gốc cây. Thấy tôi bác lật đật đứng lên vứt điếu thuốc xuống lề đường. Lúc nẫy tôi đã định bụng không về ngay khách sạn mà tản bộ một lát trên đường Cổ Ngư, nhưng thấy bác ta chờ từ sáng tội nghiệp, tôi đổi ý và để bác ta chở về. Ngồi sau lưng bác tài trên chiếc xe hai bánh chạy ngược trên đường Thanh Niên tôi nhớ ngày hôm qua tôi ôm eo Nguyễn Huy Thiệp trên chiếc xe gắn máy của anh ta và hình như cũng chạy qua con đường này. Không có ý niệm về đường phố ở Hà Nội tôi không biết anh Thiệp đã chở tôi đi những đâu, qua những con phố nào, chỉ biết là anh chở tôi đi xa lắm tôi ngồi lâu trên xe ê cả mông đít.
Từ nhà hàng ăn chúng tôi đến thăm nhà văn lão thành Tô Hoài, tác giả của tập truyện Dế mèn phiêu lưu ký tôi đã mê say đọc từ hồi còn nhỏ. Anh Thiệp sau đó chở tôi đến phố Hàng Trống thăm một xưởng tranh hình như là của người con anh. Chiều đến anh chở tôi về nhà anh ở vùng ngoại thành Hà Nội rất xa khu trung tâm thành phố. Khi chiếc xe rời con đường chính vào một con ngõ tôi đinh ninh sắp đến nhà anh. Nhưng không. Xe còn đi lâu lắm rẽ qua không biết bao nhiêu con ngõ rắc rối rồi cuối cùng mới dừng lại trước căn nhà có bờ tường rêu bao quanh và có cổng gỗ kiến trúc giống như cổng một mái chùa hay một ngôi đình làng.
Nguyễn Huy Thiệp tắt máy xuống xe tra chìa vào ổ khóa đẩy hai cái cánh cửa gỗ nặng nề dắt xe qua cổng. Bên trong mở ra một thế giới khác hẳn bên ngoài. Một khu tuy nằm trong lòng Hà Nội nhưng biệt lập yên tịnh và đặc biệt là rất đồng quê. Qua bóng rợp của một khu vườn cây rộng, toàn cây ăn trái, nào nhãn, nào ổi, nào khế… cây nào cây nấy nặng trĩu những quả, một con đường lát gạch dẫn tôi tới căn nhà hai từng nằm ẩn sau vườn, nơi mà “Không có vua”, “Tướng về hưu…” cùng những tác phẩm khác của anh được thai nghén và sáng tác.
Tối đó anh Thiệp mời tôi dùng cơm tại nhà anh. Tôi nhớ mãi bữa cơm rau ấy vì đã từ lâu lắm rồi tôi không được ăn một bữa cơm rất thanh đạm nhưng đầy mùi vị quê hương. Về khuya anh đưa tôi ra đầu ngõ đón xe về khách sạn. Anh nói trước khi chia tay:
– Văn chương nó bạc lắm anh ạ. Phần thưởng quí nhất có lẽ là qua nó chúng ta có được những người bạn mới ở khắp bốn phương.
*
Văn chương nó bạc lắm anh ạ.
Ôi, câu nói sau cùng của anh với tôi nghe chua xót quá, anh Thiệp ơi!

Nguyễn Tường Thiết
Seattle, 20/3/2021
Bài viết của Nhà văn Nguyễn Tường Thiết - con trai Nhà văn Nhất Linh in trên Tạp chí Người Đô Thị ngày 22/03/2021.
Nguồn: nguoidothi.net.vn
Ảnh: Nguyễn Tường Thiết và Sưu tầm.

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

CHÚ HOẠT TÔI

 

"Nguyễn Huy Thiệp có viết một truyện ngắn mà tôi thích hơn cả bộ ba nổi tiếng “Vàng lửa - Phẩm tiết - Kiếm sắc”. Đó là truyện “Chú Hoạt tôi”, đăng lần đầu trên báo Nông nghiệp Việt Nam.

Lần đó tôi và Thiệp rủ nhau đi Ba Vì chơi thăm danh họa Lưu Công Nhân. Đi bằng xe máy. Chúng tôi đi hai xe. Thiệp chạy chiếc Chaly, tôi chạy Dream. Lần đi đó tôi được cụ Lưu Công Nhân giải thích cụ gốc Hoa có họ kép “Lưu Công”. Vì bố mẹ mong con nên người đã đặt tên cụ là “Nhân”. Hai chữ “Công Nhân” họ kép của cụ không hiểu như những cái tên “tin tưởng” hay “quyết thắng”.

Trên đường đi mệt đâu nghỉ đó. Chúng tôi đã ăn trưa trong một quán bên đường. Bà chủ quán cởi mở vui chuyện với khách.

Thiệp chỉ lên vách nơi treo nhiều ảnh gia đình chủ quán rồi nói “Treo nhiều ảnh thế”. Bà chủ mau mồm miệng kể hết từng người trong ảnh. Nào kỵ tôi, nội tôi, bà tôi... vị này dạy học vị kia chánh tổng...

Điều bất ngờ là những chuyện mơ hồ đó đã cho Thiệp liên tưởng viết truyện ngắn “Chú Hoạt tôi”. Nếu ai đã đọc “Chú Hoạt tôi” sẽ thấy truyện đó không hề có cốt truyện kỳ vĩ, những nhân vật xuất chúng hay những người đàn bà đẹp hút hồn người.

Truyện đó không có lòng cao thượng để xúc động ngưỡng mộ học hỏi, cũng không có tội ác ghê rợn trời tru đất diệt. Truyện thật bình dị đọc mà thấy như nhan nhản khắp nơi những gia đình khó khăn mà còn phải làm người tốt, với một người bà con tật nguyền. Một truyện hiện thực tới mức cực thực về hoàn cảnh “lá rách đùm lá nát”.

Trong mớ lá rách nát đùm vào nhau đó chi chít những chi tiết hài hước đen. “Chú Hoạt tôi” là một truyện mà từng chữ cứ như giễu cợt lòng trắc ẩn của người đọc. Một truyện bi hài người đọc không thể cười."

Nguyễn Hồng Hưng

 

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và
họa sĩ Nguyễn Hồng Hưng 

CHÚ HOẠT TÔI

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Quê tôi ở một xóm nghèo vùng đồi trung du, đi quá một chút nữa là đến Chũ. Vâng, ở đấy người ta gọi là đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Thế ông hỏi người ta ăn gì cơ? Thôi thì ăn gì thì ăn miễn là no bụng. Món ăn sở trường ở nhà chúng tôi là món sắn giã. Sắn tươi trên đồi rỡ về, luộc lên, cho vào cối gỗ giã cho nát nhừ ra, chiên thêm tí mỡ lợn cho nó dễ nuốt. Vâng, nếu ông xơi một lần thì cũng thấy ngon bởi vì lạ miệng, nhưng ông thử xơi một tuần, rồi một tháng, rồi hàng năm trời như thế thì ông phát khiếp, phát sốt, phát rét lên chứ! Sau này lớn lên, nói thật với ông, tôi không dám ăn, thậm chí không bao giờ dám nhìn củ sắn. Không biết ai nghĩ ra câu “sống mà ăn sắn”, câu ấy nói ra ở hoàn cảnh nào với ý nghĩa gì không biết nhưng người nghĩ ra câu ấy hẳn là người có những kỷ niệm chẳng thiện cảm gì với sắn cũng giống như tôi.

Vâng, bố tôi là một giáo viên cấp Một. Còn mẹ tôi, khi khai lý lịch trong mục nghề nghiệp thì thường ghi là “nội trợ” nhưng nhà tôi có gì mà phải “nội trợ”? Mẹ tôi làm ruộng, trồng rau, đi chợ, kiếm củi... thôi thì làm tất cả mọi việc để có chút tiền nuôi mấy chị em tôi.

Trên tôi có hai chị đều chỉ học đến hết cấp Một rồi thôi, cũng ở nhà để giúp mẹ tôi “nội trợ”. Em trai bố tôi là chú Hoạt, chú bị thọt chân, cái chân thọt chỉ bé như một thân cây sắn nhỡ. Hàng ngày chú đi chăn bò. Chú Hoạt có tài khoét sáo, thổi sáo hay tuyệt vời. Mẹ tôi bảo chú Hoạt trước đây khi còn ông nội tôi cũng được học hành, chú đã từng đọc khá nhiều sách báo. Sau đó do ông nội tôi sa cơ lỡ vận, do thời thế, do chú Hoạt đau chân, thế là không còn được đi học nữa.

Bố tôi dạy học trong xóm, học trò bữa đực, bữa cái. Ông cũng chẳng có vẻ gì là một giáo viên giỏi. Ông vừa đọc chính tả vừa ho sù sù: “Trong đầm a... gì đẹp a... bằng sen a...” Lũ học trò vẫn gọi ông là con Quạ. Ông có một tay thước dài một mét bằng gỗ gụ, lúc nào cùng lăm lăm trong tay. Vô phúc đứa nào nghịch ngợm mà bị ông gõ thước lên đầu thì nhớ đến già.

Nhà tôi luôn luôn thiếu tiền. Tôi nhớ có lần nhà nước đổi tiền, nhà tôi chỉ có đâu mỗi đồng bạc, tương đương với một nghìn đồng bây giờ. Khi đổi tiền, lại phải xuống tận huyện tức là phải đi hơn năm cây số chứ có ít đâu! Nói thật với ông, với số tiền ấy bây giờ thì tôi vứt mẹ nó đi, đổi với chác quái gì! Nói thế không phải vì bây giờ tôi khinh tiền (nói dại, ai mà khinh tiền được) nhưng một nghìn thì ông bảo mua được cái quái gì đây? ấy thế mà bấy giờ mẹ tôi cũng lặn lội đi đổi bằng được đồng tiền còm cõi ấy. Mang đồng tiền mới về, cả nhà chúng tôi chuyền tay nhau xem, ai cũng trầm trồ khen ngợi đồng tiền vẽ khéo mà tinh vi quá... Chú Hoạt nhận xét hình người trên đồng tiền trông hơi béo tốt khác thường thì bị mẹ tôi giật phắt lấy, lườm cho một cái hết hồn khiến chú nín bặt.

Trong nhà tôi, vì là người cầm chịch chi tiêu nên mẹ tôi luôn đau khổ cau có vì thiếu tiền. Mẹ tôi luôn luôn ca thán, rồi trách Trời, trách số phận hẩm hiu, trách bố tôi bất tài, mẹ tôi coi chú Hoạt và mấy chị em chúng tôi là những “cái tàu há mõm”. Mẹ tôi chắc hẳn chẳng biết “cái tàu há mõm” là cái tàu gì, nhưng nghe người ta nói vậy thì bà nói thế, chắc mẹ tôi hình dung “há mõm” nghĩa là phải ăn uống nhiều kinh khủng! Bố tôi khi nghe mẹ tôi ca thán thì rất đau lòng. Ông ngồi im lặng một chỗ thở dài, loay hoay với cái ống điếu thuốc lào trong tay. “Tọa thực sơn băng, tọa thực sơn băng... ngồi ăn thì núi cũng lơ”. Ông cứ thế nhắc đi nhắc lại. Tôi thấy ông bất lực, hoàn toàn bất lực. A! Nếu như bây giờ nhà tôi đào được một cái hũ vàng! Tôi nhớ trong truyện cổ tích có những phép lạ và nhiều vận may vẫn đến với những người nghèo lương thiện thấp cổ bé họng giống như chúng tôi.

Khi mấy chị em tôi lớn lên nhu cầu về tiền ngày càng khẩn thiết! Tôi thì không sao nhưng hai chị tôi rất khốn khổ vì không có đủ áo quần. Mùa rét đến thường rất đáng sợ với những người nghèo. Mẹ tôi thường chì chiết và nói bóng gió về sự vô tích sự của chú Hoạt, rõ ràng chú là một của nợ, một đồ thừa bám vào một con thuyền nát là gia đình chúng tôi đây. Đương nhiên mẹ tôi chẳng bao giờ chì chiết chú Hoạt trước mặt bố tôi. Thường nghe được những câu mẹ tôi nói bóng gió xa xôi, mặt chú Hoạt bỗng dưng tái nhợt, chú quay phắt bỏ đi lên đồi. Mẹ tôi bảo tôi: “Này Vương, mày đi theo xem sao không nó nhảy xuống sông, xuống vực tự tử nhà mình lại mang tiếng ác... nhưng ngữ ấy lại ham sống lắm kia, mà sống làm gì, sống mà ăn sắn! Thật là tiền oan nghiệp chướng cho cái nhà này...”.

Một lần có đoàn chèo đến lưu diễn ở huyện, bố tôi cho mấy chú cháu chị em chúng tôi đi xem. Trời buốt giá. Chị Nhu, chị Nhã hai chị chỉ có chung mỗi cái áo len cộc tay màu xanh lá cây đã sờn rách, cứ nhường nhau chẳng ai dám mặc, thế là mong manh mỗi người một cái áo cánh mỏng tang hò nhau chạy thoăn thoắt để cho ấm người. Chú Hoạt khập khiễng đuổi theo... Ông bảo cảm động à? Thưa ông, cảm động cái con mẹ gì khi người ta nghèo. Cách nghĩ của ông là cách nghĩ của người no nê nhìn xuống dưới đáy xã hội. Hôm ấy, đoàn chèo diễn tích “Quan Âm Thị Kính”, người xem đông như hội. Đây là lần đầu tiên mấy chú cháu chị em chúng tôi được xem “văn nghệ”. Chúng tôi say mê như điên như cuồng, từ lời ca tiếng hát, từ ánh đèn rực rỡ, từ cả không khí hào hứng của đám đông người. Ông đã bao giờ nghe thấy tiếng thở dài của cả vạn người cùng một lúc chưa? Chưa à? ồ, hay tuyệt vời, thật đấy! Tôi không biết tả thế nào mà chỉ thấy rằng nó hay một cách rùng rợn mà thôi! Thế đấy, hôm ấy chúng tôi xem chèo. Đấy là một thế giới khác với thế giới hàng ngày của chúng tôi. Về sau, những câu hát cứ bám theo mãi ở trong tâm trí không dứt ra được. Ông hỏi bây giờ tôi còn nhớ được câu nào không ư? Nhớ chứ: “Nữ tử Thị Kính thủ bút: Ơn sơn hải chút gì báo đáp. ở sao đành đi cũng sao đành. Phận liễu bồ mười có cũng là không (tức là ý nói “thập nữ viết vô”, mười người nữ cũng là không). Sống cũng tủi, dẫu thác thời cũng tủi... Cực lòng kẻ ở, đau lòng người đi. Ngộ phải cơn gia biến bất kỳ!”.

Tôi nhớ câu hát ấy vì nó vận vào cảnh nhà chúng tôi. Sau đêm xem hát chèo ấy, chị Nhã tôi bỏ nhà đi. Chị Nhã thông minh nhất nhà, chị đã nhận ra một thế giới khác ở chân trời khác dưới tấm áo xanh đỏ tím vàng của đám diễn viên sân khấu kia. Bố mẹ tôi điếng người vì không ngờ tới. Sau lần ấy bố tôi già sọp hẳn đi. Mẹ tôi mắng bố tôi vô dụng, lại không sốt sắng đi tìm con gái... Chắc bố tôi cũng hiểu nếu chị Nhã tôi ở lại thì còn khốn khó hơn nhiều. Năm ấy, chị Nhã tôi vừa tròn 18 tuổi, chị bỏ nhà đi nhường lại cái áo len cộc tay màu xanh lá cây cho người chị cả. Xin ông cho tôi một cốc nước lọc... Mẹ khỉ, sao bây giờ tự dưng tôi lại trở nên đa cảm thế này, thế là hơn 30 năm qua rồi mà tôi chẳng biết chị Nhã tôi bây giờ ở đâu, đúng là “sống cũng tủi, dẫu thác thời cũng tủi”.

Tất cả những nỗi phiền muộn ở nhà tôi từ đấy bắt đầu trút cả lên đầu chú Hoạt. Mẹ tôi cũng chẳng nể nang gì nữa, mẹ tôi riếc móc, mắng chửi chú Hoạt ngay cả trước mặt bố tôi. Nói của đáng tội, chú Hoạt cũng là người vô tích sự và vụng về thật, chú thường xuyên lóng ngóng làm đổ bát đĩa, chai lọ là những thứ thường ở nhà khác thì người ta vứt cho hàng đồng nát từ lâu nhưng ở nhà tôi lại là gia bảo.

Sau lần đi xem hát chèo, thỉnh thoảng chú Hoạt lại xin tôi giấy bút loay hoay làm cái gì đó. Độ mấy tháng sau, một hôm tôi thấy chú Hoạt cầm tập giấy ghi kín đặc chữ gặp riêng bố tôi rụt rè: “Anh ạ, em muốn nhờ anh xem thử cái này...” Chú Hoạt đọc cho bố tôi nghe những câu thơ vần vè gì đó về bầu trời và sông núi. Bố tôi tím mặt lại, tôi chưa bao giờ thấy ông lại mất tự chủ đến thế. Ông văng tục: “A... hóa ra mày làm thơ viết văn! Giời ạ! Thật là đồ chó... Hóa ra nhà tôi lại có một văn nghệ sĩ nữa kia! Rõ phúc nhà tôi to quá... Mày định viết văn làm thơ dạy ai kia chứ?”. Chú Hoạt vặn vẹo hai bàn tay khổ sở, nước mắt trào ra: “Anh ơi, anh hiểu nhầm rồi! Em đâu có định dạy ai mà em bộc bạch!”. “Lại còn bộc bạch nữa kia - Bố tôi cười nhạt - mày định ca thán, oán trách chúng tao chứ gì? Mày định chê bai chúng tao chứ gì. Giời ơi, thật là nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà... Vô phúc! Thật là vô phúc cho cái nhà này!”. Bố tôi xé tập giấy, di xuống đất, rồi lại nhặt ném vào mặt chú Hoạt. Từ bé đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy bố tôi nổi giận điên cuồng như vậy! Hình như việc làm dại dột của chú Hoạt động đến một cái gì sâu thăm từ trong lòng bố tôi, ta vẫn gọi là từ sâu trong “thâm căn cố đế”, ở đấy có cả lòng căm hờn sâu sắc của đêm với ngày, của nước với lửa, có cả sự xúc phạm đố kỵ, có cả nỗi buồn tủi chán chường, có cả sự ê chề đau đớn, trên hết là nỗi sợ hãi - vâng, chính xác là nỗi sợ hãi ghê gớm, với một thế giới khác thường, một đối thủ khác thường mà mấy dòng chữ vớ vẩn kia chỉ là một bức thông điệp giao chiến chết chóc đầu tiên gửi tới. Bố tôi dạy học, suốt đời ê a những con chữ như người tụng kinh gõ mõ, ông cũng chưa bao giờ đặt ra câu hỏi về cuộc sống này... Nay chú Hoạt, cái thằng thọt chân, một gã chăn bò, một đồ thừa lại đi vần vè về bầu trời và sông núi, đặt ra câu hỏi cho toàn bộ cuộc sống của ông, của cả gia đình! Như người ta nói, thế là “cốc nước đã tràn”, bố tôi thẳng thừng đuổi chú Hoạt đi. Mẹ tôi sợ hãi, ngày thường mẹ tôi vẫn ca thán về chú Hoạt, nhưng lần này mẹ tôi lại đứng ra bênh vực chú, mẹ tôi cầu xin bố tôi xem lại, mẹ tôi xin bố tôi rằng chớ có nhẫn tâm như thế, rằng tình anh em máu mủ ruột già... Bố tôi dứt khoát không chịu. Thế là chú Hoạt quay đi, chú quỳ trước sân vái vọng vào nhà. Bố tôi ném cả cái điếu cày vào chú... Mẹ tôi nức nở chạy theo: “Hoạt ơi, em ơi... Chị dâu có lỗi với em! Chú đừng giận chị, chú đừng bỏ đi như thế...” Chú Hoạt gỡ tay mẹ tôi ra, nước mắt lưng tròng rồi khập khiễng chạy vào trong đêm tối... Hôm ấy cũng vào một ngày đầu tháng giống như hôm nay, trăng lưỡi liềm lơ lửng lạnh lùng ở trên không trung như một nét vẽ buồn thảm... Ông bảo đẹp ư? Sao ông lại chỉ chú ý đến những cái đẹp vớ vẩn, cảnh giả như thế? Ông là một người ở đẳng cấp trên, ăn sung mặc sướng quen rồi nên mới có những thứ tình cảm kiểu này. Với người nghèo, cái đẹp phải là cái gì tựa như sự phồn thực, trăng phải tròn, cây đầy trái, túi đầy tiền, nghĩa là cái gì cũng phải đầy đặn như cốc bia này, một trăm phần trăm ông ạ...

Sau khi chị Nhã và chú Hoạt đi, nhà tôi như thể có tang. Mọi người còn lại đều cảm thấy như mình có lỗi, ai cũng tránh nói to, tránh cả nhìn mặt nhau. Chị Nhu tôi héo quắt người đi, lưng bố tôi còng xuống. Mẹ tôi từ xưa đến nay không bao giờ ốm, không bao giờ dám ốm thì nay suốt ngày lử khử lừ khừ. Bố tôi bàn với mẹ tôi chuyển nhà về một nơi nào “gần gũi với văn minh hơn, có nhiều khuôn mặt người hơn” như vậy mới có điều kiện cho tôi ăn học, mở mang sự nghiệp sau này. Thế là chúng tôi chuyển về thị trấn X... nơi mà tôi đang ngồi tiếp chuyện ông đây. Chúng tôi bán cơm, bán rau, đi chợ, rồi loay hoay dựng được ngôi nhà cạnh chợ... Tôi được đi học, chị Nhu tôi lấy một ông già góa vợ. Ông anh rể tôi tuy có tuổi nhưng là một tay cóc vàng giàu có và cũng hào hiệp, thôi thế cũng là xong việc. Chị Nhu tôi cũng xây được một tổ ấm, có được chỗ dựa về già. Cuộc sống đô thị thay đổi con người, thú thực với ông là tôi vẫn thích vùng đồi núi trung du nghèo khổ ngày xưa nhiều hơn, bố mẹ tôi đã thật sai lầm khi chuyển đến nơi ở mới này. Đây đâu phải là “nơi văn minh với có nhiều khuôn mặt người” như bố tôi nghĩ. Nhưng thôi, đấy lại là chuyện khác không can hệ gì đến chuỵện mà tôi kể đây. ở đây tôi đang kể chuyện cho ông nghe về chú Hoạt tôi cơ mà...

Cũng chẳng ai biết chú Hoạt tôi đi đâu và làm việc gì. Bỗng có một lần bố tôi nhặt ở đâu được một tờ báo có in hình và một bài thơ của chú Hoạt kèm theo cả lời bình luận. Bài thơ nói gì đó về phân bón ruộng và sâu bọ, tôi thì tôi thấy nhảm nhí, buồn cười mà vô bổ nữa, nhưng bố tôi lại reo lên như bắt được vàng: “Trời ơi, chú Hoạt đã thành nhà văn - nhà thơ đây này! Cả lời bình luận hẳn hoi in bằng kiểu chữ i-ta-líc nữa”. Bố mẹ tôi rối rít vui mừng. Mẹ tôi xuýt xoa nói: “Đấy! Ngày xưa ông cứ bảo chú ấy là vô tích sự nữa đi! Bây giờ thì chú ấy giàu to rồi! Tiền tiêu chắc là không hết!”. Bố tôi đọc đi đọc lại bài thơ rồi ngẩn người ra ngạc nhiên: “Giỏi! Giỏi quá! Thật tôi không ngờ kia đấy. Hóa ra chú ấy là người vốn có tài ngầm, văn chương là thứ khó nhất trần đời mà chú ấy thành thì tôi phục quá!”. Bố tôi vuốt ve tờ báo, bố tôi sai gọi anh Phục tức là ông anh rể cóc vàng của tôi đến để uống rượu khoe bài thơ. Anh Phục đầu hói, lơ thơ có vài sợi tóc trên đầu, cứ thế gục đầu xuống gật gù: “Cũng được! Cũng hay! Kể ra chữ tái mà đổi thành chữ chín thì thâm thúy hơn”. Bố tôi có vẻ coi thường anh Phục chỉ là một tay trọc phú phàm phu tục tử tầm thường. Bố tôi bảo: “Chữ tái nó hay vì chưa chín, nó chỉ gợi cho người ta nghĩ đến chữ chín mà thôi. Nếu không có chữ tái thì tôi hỏi anh, anh có nghĩ được chữ chín hay không?) Anh Phục thừa nhận: “Đúng là không có chữ tái thì trình độ con không thể nghĩ đến chữ chín kia được”. Bố tôi cười: “Đấy! Cái ảo diệu của văn chương là đấy! Thế người ta mới coi văn chương là đệ nhất ở trong các môn nghệ thuật!”.

Quả thật, tôi không tin gì lắm về chuyện văn chương với những hư vinh tầm phào của nó. Ngày xửa ngày xưa, ở nước mình người học văn chương gắn với thi cử đỗ đạt và bổ dụng quan lại. Đỗ đạt nhỏ thì làm quan nhỏ, đỗ đạt lớn thì làm quan lớn. Văn chương thời đó gắn với quan trường nên ghê gớm lắm. Về sau, khi chữ quốc ngữ thay thế chữ Nôm, chữ Hán, người ta làm văn làm thơ theo lối Tây phương, nói thật với ông, tôi lại thấy toàn bọn ăn không ngồi rồi dị dạng với bọn lưu manh đi theo nghề này. Cũng có nổi lên dăm ba khuôn mặt trí thức đại gia có tư tưởng nhưng đấy đều là những nhà cách mạng xã hội còn thì toàn vứt đi cả. ở thời nay, nhiều người vẫn coi văn chương như một phương tiện, như cái cần câu để mà câu danh kiếm lợi. ừ thì danh lợi cũng hay, cũng cần nhưng phải là thứ danh lợi thế nào mới đáng. Nhưng thôi, tôi cũng không bàn chuyện ấy nữa. Đây là tôi đang nói đến chú Hoạt với những bài thơ phân gio và sâu bọ của chú ấy cơ. Bố tôi đã nhầm vì ông chẳng hiểu biết gì về văn chương cả, xin ông đừng cười, văn chương là thứ chẳng ai hiểu gì có phải không nào? Nói như Homère: “Chắc chắn có một Thượng đế ở đó”.

Cứ thế thỉnh thoảng, độ dăm ba tháng, bố tôi lại lục đâu ra được một bài thơ, bài vè gì đó của chú Hoạt ở trên một tờ báo lẻ. Bố tôi theo dõi rất kỹ các báo. Tiền mua báo ở nhà tôi cũng thành một khoản chi tiêu kha khá nhưng được cái ông anh rể cóc vàng của tôi bao tất. Anh Phục bảo tôi: “Cứ để ông cụ ham chuyện ấy vì nó vô bổ, chứ nếu ông già lại ham chuyện khác thì chết con cháu chúng mình”. Tôi không thích lắm cách nghĩ của ông anh rể thực dụng nhưng vì anh lớn xuýt soát bằng tuổi bố tôi mà lại cũng hay cho tôi tiền nữa nên tôi cũng nể.

Dần dần, không hiểu tại sao bố tôi dứt khoát tin rằng chú Hoạt là người thành đạt lắm ở trong xã hội, còn mẹ tôi thì chắc mẩm chú Hoạt nay đã rất giàu. Bố mẹ tôi suốt ngày nhắc đến chú Hoạt. Mẹ tôi nói với bố tôi: “Này ông! Hay là ông đi Hà Nội một chuyến thăm chú ấy xem! Vợ chồng mình có lỗi đối với chú ấy. Bây giờ chú ấy là người đã có tên tuổi địa vị hẳn hoi. Thật tình tôi áy náy quá! Mà còn cả tương lai thằng Vương nhà mình, biết đâu chú ấy chỉ nói một tiếng là nó nên người? Chú ấy thiếu gì những nơi nhờ vả... Thế chẳng nhẽ cứ để thằng Vương ăn chơi lêu lổng như thế này sao?”. Bố tôi gật đầu: “Bà nói cũng phải... Tôi phải xin lỗi chú ấy thì tôi có chết mới yên, mới nhắm mắt được! Rồi phải nhờ chú ấy xem chuyện tương lai thằng Vương nhà mình thế nào”.

Bố mẹ tôi tính toán xong lại mời anh Phục đến để bàn tiếp. Anh Phục bảo: “Tùy bố thôi! Theo con thì bố nên đi... Nhưng con đã từng đi Hà Nội con biết, đấy là một nơi ăn thịt người nghèo, nó nhẫn tâm lắm, chẳng có thương xót ai đâu”. Bố tôi bảo: “Tôi định bán con lợn 20 cân giắt lưng ít tiền cho nó chắc chắn. Tôi sẽ cho thằng Vương đi cùng với tôi”. Anh Phục bảo: “Cũng được! Nhưng đi Hà Nội thì món tiền bán lợn của bố chỉ đủ để ăn một bữa tráng miệng sơ sài chẳng thấm tháp gì. Thôi được! Con sẽ cho cậu Vương mượn con dao nhíp Mỹ của con mang đi cho nó chắc dạ. Ngày xưa khi mới làm giàu bằng tuổi cậu ấy, con cũng chỉ có mỗi một cái phi tiêu mà thôi!”. Anh Phục đưa cho tôi một con dao nhíp nặng chịch. Anh Phục bảo: “Con dao này có chín chức năng, lưỡi dao lại có lò xo đẩy tự động, nếu có phải đâm ai thì cậu cứ ấn vào cái nút này một cái, lưỡi dao tự động phụt ra với sức đẩy chừng 5 cân đủ giết chết một người lực lưỡng. Cậu xoay ngang cổ tay như thế này là máu sẽ ộc ra liền. Mẹ tôi thở dài: “Thôi thôi, anh nói ghê quá, nếu đi Hà Nội mà phải đánh nhau giết người thì đi làm gì?”. Bố tôi bảo: “Nói thế là để phòng xa. Con nó có ý dè chừng bảo bố con tôi đi Hà Nội đừng để bị nhục đấy thôi”.

Hai bố con tôi ra ga mua vé xe lửa để đi Hà Nội. Chúng tôi tìm đến tòa báo đăng bài chú Hoạt để hỏi thăm xem chú Hoạt ở đâu nhưng người ta chẳng biết gì nhiều: “Có! Có một ông để râu tóc dài, chân đi khập khiễng thỉnh thoảng có đến đưa bài nói tên là Hoạt, thỉnh thoảng lại ký bút danh là Độc Cước nữa. Ông ấy vẫn hay uống bia khoảng tầm giờ chiều ở mấy quán bia quanh hồ Hoàn Kiếm”. Bố tôi thở dài, lời chỉ dẫn có vẻ hơi phóng túng quá làm ông ngần ngại. Bố tôi là một nhà giáo quê mùa, đối với ông những gì liên quan đến chữ nghĩa là thiêng liêng lắm không phải trò đùa. Hai bố con tôi đi quanh hồ Gươm ba vòng chăm chú nhìn từng người một khiến cho mấy nhân viên bảo vệ ở đây tỏ ý nghi ngờ, họ gọi bố con tôi lại để hỏi giấy tờ tùy thân. Bố tôi phân bua về việc đi tìm chú Hoạt. Họ nói: “Nếu như người nhà của bác vẫn thường xuyên uống bia ở xung quanh đây thì phải hỏi bọn du thủ du thực với đánh giày bán báo thì mới biết được”. Anh đội trưởng bảo vệ đeo băng đỏ chặn một người đeo kính, mặc áo ca-rô đi ngang qua hỏi: “Này Sói, mày có biết một người tên là Hoạt thọt chân vẫn hay uống bia tầm giờ chiều ở quanh đây không?”. Người kia giật nảy mình, cúi đầu chào, sợ hãi nói: “Dạ thưa, tên ấy đã đi khỏi đây chừng một tháng rồi, bị vỡ vòm, nghe nói dạt xuống Nam Định”. Anh đội trưởng bảo vệ bật tay cho người kia đi chỗ khác rồi bảo bố tôi: “Người nhà của bác không còn ở đây nữa đâu. Chắc nó sợ công an nên bỏ chạy xuống Nam Định cả tháng nay rồi”. Bố tôi trợn tròn mắt, rất hoang mang, ông nói với anh đội trưởng bảo vệ: “Chắc các anh nhầm! Chú em tôi là người đàng hoàng mà hiền lành lắm cơ mà. Chú ấy lại còn viết văn, viết báo hẳn hoi”. Anh đội trưởng bảo vệ mỉm cười: “Thế mới chết! ở Hà Nội cái gì cũng có thể cả! Thằng Sói nó đã nói là không hề sai bao giờ! Thôi bác nên đi về nhà mà nghỉ!”.

Chúng tôi chào mấy người bảo vệ rồi đi chỗ khác. Loanh quanh một lúc, hai bố con tôi suýt bị lạc đường. Bỗng có một đoàn xe loang loáng chạy qua, bố tôi reo lên khi thấy một người ngồi trên ô-tô thò đầu ra ngoài vẫy tay. Bố tôi bảo: “Chú Hoạt! Đúng là chú Hoạt kia rồi!” Tôi cũng cảm thấy người trên xe ô-tô đúng là chú Hoạt, hình như trông chú cũng không khác lắm so với khi còn hàn vi. Bố tôi cứ đứng nhìn theo và ngơ ngẩn mãi.

Cuối giờ chiều, bố con tôi rẽ vào một ngôi chùa nhỏ. Lúc ấy đang có một hòa thượng ngồi thuyết pháp, có khoảng hơn ba, bốn chục người nghe, thấy có cả một số sinh viên cầm bút ghi chép, có cả người nước ngoài xem nữa. Hòa thượng đang nói gì đó về văn chương và đạo. Ông nói:

- Văn chương thật gần gũi với đạo vậy. Có mà không. Không mà có. “Hữu” và “không” là hai phạm trù của ý thức. Nếu người ta bên ngoài mê chấp vào tướng thì tà kiến phát sinh: “Người này mà làm văn chương ư? Người kia mà có đạo ư?” Nếu người ta bên trong mê chấp vào “không” thường hay chê bai văn chương kinh văn, cho rằng Phật pháp chỉ dùng lời nói thẳng chứ không lập văn tự rườm rà, không cần đến văn chương văn tự làm gì. Đã nói không cần đến văn chương văn tự thì hóa ra con người ta cũng không cần dùng đến cả lời nói nữa ư? Chúng ta biết rằng lời nói chính là tướng của văn tự. Tạo hóa đã sinh ra thế. Tự mình mê chấp thì không kể gì nhưng chê bai kinh văn cũng là tội chướng. Cũng cần phân biệt văn chương của phàm phu và của thánh nhân. Đừng chê mắng vội mà nên phân biệt để xem nên phải đọc gì, học gì. Nhiều kẻ mê chấp hình tướng bên ngoài, dùng cách này hay cách khác truy cầu chân lý, cứ biện luận suông về “hữu” và “vô”, coi thường trước tác kinh văn thì cũng không thể sáng tâm thấy tính. Nếu coi văn chương cũng là hình thức tu luyện, cũng là một trong muôn pháp thì người ta cũng không phải quá rối lòng...

Ngồi nghe một lúc, bố tôi bảo tôi: “Hóa ra chú Hoạt theo nghiệp văn chương cũng là một kiểu tu hành mà thôi, mà đã tu hành thì việc dứt bỏ trần tục là thường, ta cũng không nên truy tìm rốt ráo... Thôi thôi, cầu mong sao để cho chú ấy an lạc sáng tâm thấy tính, đi theo chân lý lựa chọn của mình.” Ra khỏi chùa, hai bố con tôi đi mua vài thứ lặt vặt sau đó về nhà. Từ đấy, ở nhà tôi cũng không ai nhắc gì đến chú Hoạt nữa... Chuyện ấy xảy ra cách đây hơn chục năm rồi.

- Ông uống bia đi! Đấy! Ông hỏi về cái chân dung mờ mờ treo trên tường kia là ai thì đấy chính là chú Hoạt... Nào! Một trăm phần trăm! Xin ông uống cạn hết cốc bia này!

*     *

*

Tôi đã nghe câu chuyện trên trong một lần đi qua Bắc Giang. Hôm ấy trời mưa, tôi rẽ vào một quán ăn ven đường, chủ quán là một người niềm nở và khá hay chuyện. Trên vách quán ăn có treo một vài bức ảnh gia đình. Tôi chỉ hú họa vào một bức ảnh chụp hình một người mắt sáng, có cái nhìn khá chăm chú, có phần căng thẳng và đau đớn. Cái nhìn cứ ám ảnh tôi không dứt. Tôi hỏi chủ quán người ấy là ai. Anh ta nói:

- A... Đấy là chú Hoạt tôi. Ông có muốn nghe chuyện hay không? Vậy xin ông gọi mấy chai bia và món nhắm rồi tôi sẽ kể ông nghe. Với thời tiết này cũng chẳng thể đi đâu được.

Tôi đã ghi lại nguyên văn lời kể của người chủ quán. Trong bản ghi chép, tôi có sửa tên vài ba nhân vật và có thêm bớt ít dấu chấm phẩy để cho dễ đọc.

Nhân dịp ngày Xuân, vậy xin hiến tặng bạn đọc thân mến gọi là món quà mừng năm mới.

2002

CHUYỆN BÀ MÓNG

 

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và
họa sĩ Nguyễn Hồng Hưng 

CHUYỆN BÀ MÓNG

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Bà Móng tên thật là Dương Thị Hợp, hồi nhỏ ở với bố mẹ ở xóm núi Bò, sau đường Đội Cấn Hà Nội bây giờ.

Bốn chục năm trước, xóm núi Bò phong cảnh vẫn còn tiêu tao giống như ở vùng sơn cước chứ không hề bề bộn nhà cửa khang trang như bây giờ. Trên núi là những cây mít mật mọc hoang chĩu chịt quả. Dưới chân núi là những ruộng rau muống, mưa xuống là ễnh ương, chão chuộc gầm gào suốt thâu đêm. Gia đình cô Hợp làm nghề bán chim. Họ có cửa hàng ở chợ Giảng Võ. Cô Hợp cất chim ở các tỉnh về: nào cu gáy, sáo sậu, chích choè than, chích choè lửa, hoạ mi, yến phụng, nhồng, bạc má, chiền chiện, gà nước, cuốc lủi, đa đa, cưỡng, vàng anh, khướu, yểng, vẹt, quạ, thậm chí có cả đại bàng.

Cô Hợp có tài dạy chim, tài bẫy chim. Nghề dạy chim là nghề khó nhất trần đời, ông Móng chồng cô Hợp sau này có ví nghề đó “khó như nghề đào tạo gián điệp”. Nếu ai hiểu biết về nghề nuôi chim sẽ thấy ông Móng ví von có lý.

Cô Hợp thừa hưởng ở ông cụ thân sinh tài nghệ bắt chước đủ loại tiếng chim. ở trong xiếc người ta gọi đây là trò khẩu thuật. Bạn đã bao giờ xem biểu diễn trò khẩu thuật chưa? Diễn viên chúm miệng lại bắt chước tiếng chim, tiếng chó sủa, tiếng dê kêu, tiếng còi tàu, tiếng máy bay gầm rú, thậm chí cả tiếng của lãnh tụ đang đọc diễn văn vô cùng ngoạn mục. Từ nhỏ, tôi đã hết sức khâm phục những người có tài bắt chước, tôi nghiệm thấy ở trong cuộc sống họ vẫn thường thành công hơn những người tự phụ lúc nào cũng khăng khăng giữ lập trường độc đáo cho riêng mình.

Phải nhìn cô Hợp dạy chim, bẫy chim mới thấy công phu của nghề nghiệp này. Trong tay cô Hợp có chừng hơn chục con chim mồi. Đây là những con chim cốt cán, nó vừa khôn, lại vừa dữ. Đào tạo được nó là cả một quá trình công phu không sao tả xiết. Thỉnh thoảng cô Hợp lại mang lũ chim mồi đi về các tỉnh giăng lưới bắt chim hoang dã. Con chim mồi được đặt vào ở trong lục, tức là một cái bẫy có lưới rập. Cô Hợp nấp ở trong bụi cây kín đáo gần đó ngồi chén bánh mì và uống nước lọc cầm hơi. Xong xuôi, cô chúm miệng lại bắt chước tiếng chim hót để thúc chim mồi. Chủ và tớ rất hiểu ý nhau. Nghe cô Hợp và con chim mồi ríu rít, bọn chim rừng lêu lổng quen thói giang hồ tưởng bở có món nhắm tốt hoặc có kẻ lân la gây sự bèn sà xuống xem xét. Chim chóc là loài có thói sân si, ích kỷ và hay đố kỵ ghen tuông kinh khủng. Chim mồi khôn ngoan ra sức hót thúc, hót căng để dụ địch quân vào bẫy. Không thể ngờ được sự hóc hiểm của trường đời, bọn chim rừng thật thà chất phác, quen thói cư xử nghĩa khí giang hồ mười con thì tới chín con sập bẫy. Chim “tù binh” gọi là chim bổi. Cô Hợp cho chim vào lồng, trùm ra bên ngoài một tấm vải gọi là áo lồng, chuyển về trại núi Bò huấn luyện.

Chim bổi bị bắt, cũng giống như khi chúng ta bị công an mời vào đồn làm việc, ta sẽ hết sức hoang mang, hoảng sợ. Luyện cho chim bổi quen dần là cả một nghệ thuật tâm lý. Cô Hợp cho chúng vào lồng, hé áo lồng dần dần từng tí một để cho chúng quen dần, đến một lúc nào đấy mới gọi là “sếch-xy” cả lồng hoàn toàn để chim bổi làm quen với môi trường. Có con chim bổi tuyệt thực không chịu ăn gì, thậm chí lao thẳng lên nóc lồng tự tử hết sức thương tâm. Khi ấy, cô Hợp lại khéo léo “gài” vào lồng chim bổi một con chim đã được huấn luyện, ta có thể gọi đó là chim chân gỗ. Bọn chân gỗ có nhiệm vụ lung lạc ý chí phản kháng của con chim bổi, dạy cho chúng biết thế nào là “ngộ biến phải tòng quyền”. Ta biết rằng để bắt được một con châu chấu, cào cào, bọn chim giang hồ thường vẫn phải âm mưu, rượt đuổi đứt hơi; nay bỗng dưng lại được người ta mời ăn cao lương mỹ vị tử tế thì vô lý quá, chúng bỗng sinh nghi và không phải một sớm một chiều quen được. Mỗi loại chim lại có thức ăn riêng, nhiêu khê, phức tạp vô cùng. Nhồng (yểng), sáo, cưỡng thích gạo trộn trứng gà và chuối. Chích choè thích bột đậu trộn trứng gà với cào cào, sâu tươi, trứng kiến. Cu gáy (một loài chim lúc nào cũng tỏ ra ngớ ngẩn, bộc trực, thật thà nhưng thật ra lại rất bạc bẽo, bất nghĩa) lại chỉ thích ăn thóc mà thôi… Chim chóc cũng hệt như người, “thực bất tri kỳ vị”, phải ở trong nghề mới tường tận được.

Cô Hợp biết tất cả kỹ thuật dạy chim hót, chim nói và chim chọi. Các giống chim biết nói tiếng người thì đứng đầu bảng là nhồng (yểng), sau đó là đến két (vẹt), cà cưỡng, sáo, quạ. Mối tình của ông Móng với cô Hợp thực ra lúc đầu cũng do một con nhồng biết nói đứng ra làm mối.

Lần ấy, ông Móng mới ở quân đội phục viên về. Thất nghiệp, không có việc làm, gã lính cựu thất thểu bèn đi xin việc. Qua chợ Giảng Võ, Móng sững sờ trước một khu vực dày đặc lồng chim. Một con vẹt xoè đôi cánh sặc sỡ ra làm lễ triều kiến khiến hắn vừa giật mình vừa vô cùng thích thú. Ngay sau đó, con nhồng cất giọng ồm ồm hỏi hắn:

- Khoẻ không ông bạn?

Móng giật lùi, há miệng ra, hết sức ngạc nhiên. Hắn đến gần lồng chim xem xét. Con nhồng liếc mắt nhìn hắn với vẻ khinh bỉ, lại cất cái giọng ồm ồm lúc nãy bình luận:

- Đời cũng chó nhỉ?

Móng phá lên cười. Đến nước này thì không tài nào chịu nổi. Con nhồng từ bố lồng nhảy lên cần lồng lại cất tiếng bình luận tiếp:

- Cười hở mười cái răng!

Ngay lúc ấy cô Hợp xuất hiện trước Móng. Nụ cười của cô gái thấp lùn, da bánh mật, có hai cái răng cửa trông như răng thỏ trông rất hiền lành đôn hậu. Móng hỏi:

- Nó biết nói à?

- “Vưỡn”!

- Thế đằng ấy dạy nó nói à?

- Thì cũng “vưỡn”!

Móng phì cười. Thiện cảm của hắn với lũ chim, với con nhồng chuyển hết sang cả cô gái. Ai tình – theo các nhà tâm lý học, nó là tác động tức thì của những thiện cảm vô hình, có sức mạnh bùng nổ, bột phát, ghi dấu ấn trực tiếp lên vỏ đại não, nó khiến cho người ta nảy sinh tình cảm trìu mến và phát lộ dục vọng. Tình yêu sét đánh từ một cái nhìn đầu tiên chính là như thế, thiện cảm là vị tiên tri, là vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền, là tên lính kèn báo hiệu cho hôn nhân giường chiếu, cho những đứa con, cho nợ nần và những cuộc cãi vã bất phân thắng bại, cho cái mà ta gọi là “hạnh phúc trần gian”.

Hôm ấy, cô Hợp chỉ dẫn cho Móng về các loại chim. Trước đây, Móng gần như mù tịt về nó. Đối với hắn, tất cả những con chim biết bay đều là “con quéc”. Cô Hợp, với bản tính hiền lành, nhẫn nại và kiên trì của một nhà huấn luyện tài ba đã khai mở cho Móng những kiến thức sơ đẳng về chim và hắn hân hoan thu nhận những kiến thức ấy.

Ngày nào Móng cũng lân la đến chỗ cô Hợp bán hàng. Dưới mắt cô Hợp, Móng đúng là một con chim bổi man rợ lì lợm. Mũi tên của thần ái tình không phải một sớm một chiều khoan thủng được lớp da dày dạn sương gió kia. Để cho hắn tự nguyện chui vào lục, tức là dấn thân vào cuộc hôn nhân mà cô Hợp mong ước là chuyện hết sức công phu. Nhưng rồi “những gì phải đến cũng đến”, đám cưới của cặp tình nhân chất phác ấy đã được tổ chức đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng vào đúng một năm sau cái ngày mà con nhồng khôn ngoan kia tiên tri:

- Đời cũng chó nhỉ!

Đêm tân hôn, Móng và cô Hợp gác chân lên nhau trò chuyện. Cô Hợp bảo:

- Hôm đầu, em cứ tưởng mình là ông khách đến để mua chim.

Ông Móng cười:

- Rốt cuộc, tớ lại là thằng bán chim cho mình!

Cô Hợp mắng yêu:

- Đồ phải gió!

Rồi cô mỉm cười ở trong bóng tối:

- Mình là con chim lớn nhất mà em bẫy được!

Ông Móng và cô Hợp sống hạnh phúc bên nhau. Cửa hàng bán chim của họ khá phát đạt. Trước kia, ở Hà Nội người ta phần lớn chỉ nuôi chim hót, chim làm cảnh, người ta muốn đưa một phần nhỏ của thiên nhiên tươi mát vào trong phố thị chật hẹp vốn dĩ có nhiều sức ép; nhưng về sau này không hiểu vì sao người ta chỉ thích nuôi chim chọi mà thôi. Những con chim hoạ mi vốn có tiếng hót thánh thót mê ly lại được huấn luyện thành các chiến binh, chúng có thể đánh nhau đến chết. Người ta bỏ tiền ra cá cược cho các trận chiến. Nghề nuôi chim không còn tuân theo các phương pháp cổ truyền tao nhã ngày xưa, người ta ép nó ăn những thức ăn công nghiệp, họ cho chim dùng cả tân dược, cả doping. Gần đây, dịch cúm gà và dịch cúm gia cầm xuất hiện nên cũng ít người dám nuôi chim làm cảnh.

Ông Móng và bà Hợp vẫn cố gắng cầm cự với nghề nuôi chim cổ truyền của họ. Những khi rỗi rãi, ông ngồi chép lại những kinh nghiệm nuôi chim mà bà Hợp kể ra. Cuốn sách của ông thiên về kỹ thuật nên có phần rắc rối, khó hiểu. Ông có cho tôi xem cuốn sách này, nhưng quả thật về kỹ thuật nuôi chim thì tôi mù tịt. Tôi có nói với ông về một bài kệ của thiền sư Ngoạ Luân ở Trung Quốc ngày xưa, vị thiền sư này rất chú trọng đến các kỹ năng ứng xử cũng như trong học thuật. Bài kệ như sau:

Ngọa Luân có kỹ năng

Dừng ngắt trăm tư tưởng

Đối cảnh tâm chẳng vương

Bồ đề ngày tháng trường.

Khi nghe thấy bài kệ này, Lục Tổ Huệ Năng (sinh năm 638 mất năm 713) có nói:

- Bài kệ ấy tỏ ra chưa thấy bản tâm tự tính, chưa rõ thế nào là tâm địa, nếu theo đó mà thực hành thì chỉ tăng thêm trói buộc.

Nhân đó, Lục Tổ đọc bài kệ này:

Huệ Năng chẳng kỹ năng

Chẳng dứt trăm tư tưởng

Đối cảnh tâm nhiều vương

Bồ - đề nào đoạn trường!

Sau này, những đệ tử của Lục Tổ giải thích bài kệ như sau: “Nói Huệ Năng không có bất cứ kỹ năng màu nhiệm nào cũng như nói ý thức tư tưởng vốn không có, cho nên dù có trăm nghìn ý nghĩ cũng chẳng cần phải đoạn tuyệt, dụng tâm không tạp nhiễm, không có tâm phân biệt “người – ta”, hãy như tấm gương phản chiếu vạn vật. Vì vậy, đối với mọi tình huống ngoại cảnh tựa hồ như tâm ý khơi lên rất nhiều nhưng thực ra đều ứng theo tâm, đã đạt tới trình độ vô lượng tri kiến. Người học Phật không cần phải dứt bỏ ý nghĩ vì như thế là mê chấp vào ý nghĩ phải “dứt bỏ ý nghĩ” rồi. Phải như hang núi dội lại tiếng vang, tự nhiên như nước chảy thành ngòi. Đạo lớn Bồ - đề có gì đáng gọi là lâu dài mà nói”.

Ông Móng và bà Hợp ngồi nghe, bèn bảo tôi:

- Nghề nuôi chim của chúng tôi, giống như nghề viết văn của anh – cũng có lẽ chẳng gì gọi là lâu dài mà nói!

Có lẽ thế chăng? Có lẽ vậy chăng? Nghề nào mà chẳng bạc với người… Người nào mà chẳng bạc với ta? Chỉ có lòng ta không bạc với nghề, với người vậy.

2004

 

 

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2023

KHÔNG CÓ VUA




KHÔNG CÓ VUA

1. GIA CẢNH

Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô Sinh mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh.

Cậu Cấn chồng cô Sinh là thương binh. Họ quen biết nhau trong dịp tình cờ. Hai người cùng trú dưới hiên nhà trong một trận mưa. Chuyện này đã có người viết (thế mới biết nhà văn ở ta xông xáo!) Theo đồn đại, đại để đấy là một “xen” (scène) về tình yêu giản dị, trong sáng, không vụ lợi cuộc sống là duy vật biện chứng, hài hòa, đẹp, đáng yêu, v.v....

Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học, Tốn, con út bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng.

Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông. Bà Nhớn, vợ lão Kiền, mất đã mười một năm, lúc đó lão Kiền năm mươi ba tuổi, cái tuổi oái ăm, lấy vợ nữa cùng dở, không lấy vợ nừa cũng dở. Lão Kiền chọn cái dở ít hơn, ở vậy... Nhà lão Kiền trông ra mặt đường. Lão làm nghề chữa xe đạp. Cấn làm nghề cắt tóc (khi mới quen Sinh, anh nói làm nghề dịch vụ). Được tiếp thu một nền giáo dục gia đình bình dân (cha dạy học, mẹ buôn gạo), Sinh không phải là người có nhiều định kiến hẹp hòi. Hơn nữa, trong tính cách, thậm chí ở cô có phần phóng túng. Trình độ văn hóa hạn chế (Sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở) nhưng điều đó không can hệ gì. Với phụ nữ, học vấn giữ vai trò thứ yếu tạo nên sức mạnh thần thánh ở họ, điều này không phải chứng minh. Về làm dâu, lúc đầu Sinh khá ngỡ ngàng với không khí tự do trong nhà. ăn cơm chẳng ai mời ai, sáu người đàn ông, ai cũng cởi trần, mặc quần đùi cười nói thản nhiên, chan chan húp húp như rồng cuốn. Sinh phục vụ cơm nước ba lần một ngày. Dược cái việc nặng Sinh không phải làm, có Tốn giúp đỡ. Tốn suốt ngày lau nhà, giặt giũ. Nó không có khả năng làm việc gì khác. Cứ cái xô nhựa với tấm giẻ lau, khoảng vài tiếng nó lại ìau nhà một lần. Nó không chịu được bẩn. Quần áo ai thay ra, nó cũng giặt mà giặt rất sạch, phơi phóng cẩn thận. Tốn ít nói, nếu ai hỏi gì, chỉ cười bẽn lẽn, trả lời nhát gừng. Vừa làm, nó vừa ti tỉ hát, không hiểu học được khi nào bài hát của bọn bợm rượu:

A ha... Không có vua
Sớm đến chiều say sưa
Tháng với ngày thoi đưa
Tớ với mình dây dưu,
Tình với tính hay chưa

Tốn hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến. Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú. Nửa đêm, nếu Sinh buột miệng "có ô mai thì thích" là sẽ có ngay ô mai. Không biết Tốn lấy tiền ở đâu, đi mua lúc nào, chuyện này chịu.

Ở trong nhà Sinh hãi nhất lão Kiền, sau đến Khiêm. Lão Kiền suốt ngày cau có. Mọi người không ai thích lão. Lão kiếm ra tiền, lão cãi nhau với mọi người như cơm bữa, lời lẽ độc địa. Như với Đoài, lão bảo: "Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!" Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai: "Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”. Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhưng lời khen lại quá lời chửi: "Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền!!l Riêng với Khiêm, lão ít gây sự.

Khiêm to lớn, lừng lững, tính nóng nẩy. Hàng ngày đi làm vể (Khiêm hay làm ca đêm), Khiêm đều mang về khi cân thịt, khi bộ lòng. ít hôm Khiêm về không. Đoài hay nói (cũng là nói sau lưng Khiêm): "Trước sau cũng vào tù thôi. Cái thằng ấy tôi đã thấy trước tương lai của nó. ít cũng sáu năm tù. Kể cũng lạ. Một năm nó ăn cắp đến nửa tấn thịt mà người ta để yên cho nó! "

Khiêm có vẻ khinh hai ông anh. Với Cấn, nếu Khiêm cắt tóc bao giờ Khiêm cũng trả tiền. Khiêm bảo: "Anh đừng làm bộ với tôi. Tôi bắt anh phục vụ tôi có quyền trả tiền”. Cấn nhăn nhó: "Chú làm anh như người ngoài ấy". Khiêm bảo: "Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi... Kìa, cẩn thận con dao. Đừng cạo của tôi bộ ria mép dấy". Cấn chẳng biết trả lời ra sao, phải nhận tiền. Sinh bảo chồng: "Anh nhận tiền chú ấy khinh cho". Cấn bảo: 'Tôi là anh cả, nó khinh tôi thế nào dược".

Với Đoài, Khiêm coi như kẻ thù. Nhưng Đoài khôn, Khiêm không nói gì được. Khi đi làm, Đoài bao giờ cũng lấy cơm vào cặp lồng, cho vào mấy miếng thịt, mấy miếng lòng. Đoài bảo: "Có chút đạm này là đủ hai nghìn calo để làm việc cả ngày đây Cũng là nhờ chú Khiêm nhà mình vừa khéo vừa nhanh". Khiêm hỏi: “Khéo với nhanh cái gì?" Đoài bảo: "ấy là tôi nói chú khéo xử sự với người, mà nhanh xử sự với lợn”. Khiêm tức nghẹn họng, sùi bọt mép.

Sinh lọt vào gia đình nhà này tựa như cơn mưa rơi xuống đất nẻ. Không khí dịu lại. Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gì với con cái. Cấn là người hạnh phúc nhất. Anh cầm kéo cắt tanh tách, đối xử với khách hết sức nhã nhặn. Cấn quyết định nâng giá cắt tóc từ ba chục lên năm chục, ngoáy tai từ một chục lên hai chục, gội đầu từ hai chục lên ba chục, cạo râu từ một chục lên hai chục. Doanh thu tăng vọt. Mức chi tiêu gia đình chủ yếu do Cấn cầm cân nảy mực có phần rộng rãi. Đoài thấy mức chi tiêu tăng lên, ban đầu hoảng sợ nhưng không thấy ai hỏi han gì về khoản đóng góp thường lệ của mình nên bình tâm hơn. Còn Khiêm, vẫn y như tháng trước, tháng trước nữa, không chi ra một hào nhưng đều đặn góp vào mỗi hôm một cỗ lòng hoặc một hai cân thịt. ăn lòng lợn hơn chục hóm liền, Sinh phát sợ, bảo chồng: "Mai chú Khiêm có mang lòng về thì tôi đưa ra chợ để đổi thứ khác đấy". Cấn cười, mắt ve vuốt thân hình mềm mại của vợ, bảo rằng: "Tùy ái khanh".


1. BUỔI SÁNG

Thường thường, ở nhà thì Khiêm là người hay dậy sớm nhất. Khiêm để đồng hồ báo thức một giờ sáng. Khi chuông reo, Khiêm dậy ngay, dánh răng súc miệng rồi dắt xe đi. Tốn ra khóa cửa. Đoài bị mất ngủ, càu nhàu: "Thật là giờ làm việc của quân đạo tặc". Ba giờ sáng, lão Kiền dậy, cắm bếp điện đun nước pha chè. Cái ổ cắm bếp điện bị hở, chữa nhiều lần nhưng cứ ít hôm lại có người bị điện giật đến thót, lão Kiền bị điện giật, bèn chửi: "Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông. Chúng mày mong ông chết, nhưng trời có mắt, ông còn sống lâu". Đoài nằm trong giường nói vọng ra: "ở đâu không biết, chứ ở nhà này thì lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống là chuyện thường tình". Lão Kiền chửi: "Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à? Tao không hiểu thế nào người ta lại cho mày làm việc ở Bộ giáo dục! " Đoài cười: "Họ xét lý lịch, họ thấy nhà mình truyền thống, ba đời trong sạch như gương". Lão Kiền lẩm bẩm: “Chứ không à? Chúng mày thì tao không biết, nhưng từ tao ngược lên, nhà này chưa có ai làm gì thất đức". Đoài bảo: " Phải rồi. Một miếng vá xăm đáng một chục nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy". Lão Kiền bao: "Mẹ cha mày, thế mày nâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày có nghĩ không?" Khảm rên rỉ: "Thôi thôi, anh Đoài ơi anh thương em với, hôm nay em phải thi vấn đáp môn triết học đây". Đoài bảo: "Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách. Chú có thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không. Nó là triết học đấy" Khảm không trả lời. Căn nhà lặng im được độ một tiếng đồng hồ thì lại nhộn nhịp. Đấy là bốn rưỡi sáng, Sinh dậy nấu cơm.

Sinh dậy nấu cơm, lấy sáu bò rưỡi gạo. Cấn lúi húi nhặt rau. Khảm bảo: "Đẹp đôi thật. Có việc gì để em làm giúp". Sinh bảo: "Chỗ mỡ lòng hôm qua đầy kiến, chú làm sao chắt được hết kiến thì làm". Khảm bảo: "ở nước mình, mật độ lòng lợn trên đầu người thì nhà mình là nhất. Em đã thử thống kê, một năm anh Khiêm mang về hai trăm sáu mươi bộ lòng". Đoài bảo: " Em giai ơi, thằng ấy là phúc thiện tinh của nhà mình đấy. Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá trị gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày”. Lão Kiền mở cửa hàng. Một bà cắp thúng xôi đi qua ngó vào: "Mời bác xơi quà sáng”.

Lão Kiền xua tay quầy quậy: "Giời ơi, nhà làm ăn, mới sáng ra đàn bà con gái đã ám thế này thì làm ăn gì”. Bà bán xôi bảo: "Chẳng bao giờ tôi bán được một hào xôi cho lão già này". Cấn cầm dao mài soàn soạt vào miếng da bò, lẩm bẩm: “Hôm nay cắt được chục cái đầu thì hay".

Cơm dọn ra, Sinh với Khảm ngồi hai đầu nồi. Khảm xới cơm, Sinh bảo: "Cơm nóng, chú lèn thế thì ai ăn được?” Khảm bảo: "Chị đừng lo. Họ Sĩ nhà này toàn miệng gang miệng thép". Sinh bảo: "Mời bố ăn cơm, mời anh Cấn và các chú ăn cơm". Đoài bảo: "Nhập gia tùy tục, ở nhà này không có lệ mời. Khảm xới tao một bát”. Khảm bảo: "ăn nhanh thế, em mới được hai và". Đoài bảo: "Tao ăn cơm tập thể từ mười bốn tuổi, ăn nhanh quen rồi. Hồi học đại học, có thằng bạn ăn sáu bát cơm trong một phút rưỡi. Thế có kinh không?" Lão Kiền bảo: "Quân trí thức bây giờ toàn phường phàm phu tục tử" Khảm cười: "Các cụ ngày xưa chẳng dạy: "Có thực mới vực được đạo" là gì?” Lão Kiền hỏi: "Bọn chúng mày bây giờ thì vực đạo gì?" Đoài ăn xong đứng lên vươn vai: " Cái này phải tranh luận đấy. Tôi đang ngờ cái ông ngày xưa nói ra câu ấy chẳng hiểu quái gì về đạo. Đáng ra phải nói "Có thực mới vực được tình". Tức là tình người đấy, đồng bào ạ". Cấn cười tủm tỉm: "Chú thì lắm tình lắm". Đoài nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ: "Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ". Sinh đỏ mặt, một lát sau lén cài khuy áo.

Sinh dọn mâm bát. Lão Kiền ngồi uống nước. Khảm mặc quần áo, quần bò, áo phông, trên áo có ghi dòng chữ "Walt Disney Productions”. Khảm bảo: "Anh Cấn ơi, anh cho em năm chục". Cấn bảo: "Tiền đâu mà cho" Khảm bảo: "Bố cho con năm chục". Lão Kiền bảo: "Mày ngồi vá cho tao cái xăm để góc kia kìa, rồi tao cho tiền". Khảm nhăn nhó: "Thế thì muộn giờ học còn gì". Lão Kiền không trả lời, mở tủ dồ nghề lúi húi làm việc. Khảm dắt xe ra cửa, nghĩ thế nào lại dựng xe ôm cặp vào nhà. Khảm mở cửa buồng, trông trước trông sau không thấy ai, mở thùng gạo xúc ra bò rưỡi vào cặp rồi lẻn đi ra.

Sinh cất nồi dưới bếp. Đoài đi theo, lấy cơm vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đoài bảo: "Người chị tôi cứ mềm như bún". Sinh lùi lại, hốt hoảng: "Chết, chú Đoài, sao lại thế" Đoài bảo: "Gớm, đùa một tý đã run bắn người". Nói xong đi lên nhà.

Tốn xách xô nước, cặm cụi lau sàn, ti tỉ hát: "A ha... không có vua... " Có người đến cắt tóc, Cấn hỏi: "Bác cắt tóc kiểu gì?" Khách bảo: "Chú cắt thấp cho tôi. Cẩn thận, tôi mọc cái đầu đanh gần chỗ đỉnh đầu”.

Đoài mặc xong quần áo, dắt xe đi. Đoài đến cửa quay lại bảo Cấn: "Ngày kia giỗ mẹ, anh Cấn bảo chú Khiêm mai kiếm cho được cân thịt ngon ngon. Em đưa chị Sinh một trăm rồi đấy!!. Cấn bảo: "Nhớ rồi".


3. NGÀY GIỖ

Giỗ bà Nhớn, lão Kiền làm năm mâm. Bên ngoại có ông Vỹ, em ruột bà Nhớn ở Phúc Yên về dự. Ông Vỹ là công chức về hưu, hưởng lương chuyên viên ba một trăm phần trăm. Ông Vỹ đông con, nhà nghèo, về mang theo mỗi chục quả tai chua với chai rượu trắng làm quà. Trên phố xuống có vợ chồng cô em gái lão Kiền, bà này bán hàng khô, chồng tên là Hiển, làm thợ thiếc. Ông Hiển có năm đứa con vừa trai vừa gái. Khách dự có anh Minh, trưởng phòng, cùng cơ quan với

Đoài. Khảm dẫn về ba bạn học cùng lớp, một cô tên là My Lan, một cô tên là Mỹ Trinh. Cậu con trai tên là Việt Hùng, đeo kính trắng, có đôi môi đỏ như môi con gái. Khoảng mười giờ, khách đến đông dủ. Cấn bưng một mâm đặt trước bàn thờ, thắp ba nén hương rồi quay ra bảo: "Bố vào cúng". Lão Kiền mặc quần bảo hộ lao động, áo cộc tay trắng ba túi, đầu chải nước lã rất mượt, ra trước bàn thờ chắp tay, lầm rầm khấn: "Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm thứ... Lạy Trời, lạy Phật, lạy tổ, lạy tiên, lạy vợ tôi là Ngô Thị Nhớn. Mời tất cả chư vị về dự cơm nhạt với tôi. Tôi, Nguyễn Sĩ Kiền, sáu mươi tư tuổi, ngụ ở 129 phố... Các con trai là Cấn, Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn. Con dâu là Sinh. Tất cả dều lòng thành, xin chư vị phù hộ độ trì, cho sức khỏe dồi dào, làm ăn tấn tới”. Cúng xong, lão Kiền quay ra bảo ông Vỹ: "Cậu vào lạy chị cậu một cái”. Ông Vỹ mặc áo đại cán kiểu Tôn Trung Sơn, cài khuy đến cổ, trông rất trịnh trọng. Ông Vỹ bảo: "Cán bộ chúng em vô thần. Bốn chục năm nay em theo cách mạng, nhà không có bàn thờ, chẳng biết khấn vái thế nào". Lão Kiền im lặng, mắt đỏ hoe. Ông Vỹ đến trước bàn thờ, đứng nghiêm, gục đầu như mặc niệm. Lão Kiền lau mắt, bảo: "Bây giờ thứ tự, người nào vào cúng thì cúng". Bà Hiển bày lên bàn thờ năm trăm vàng, một xếp tiền âm phủ, một bộ quần áo giấy rồi quỳ thụp xuống, chống. tay, lạy ba lạy, đầu chạm sát dất. Ông Hiển đến trước bàn thờ vái ba vái. Cấn cũng vái ba vái. Cấn bảo: " Chú Đoài vào lễ đi". Đoài đang chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ vái lia lịa. Đoài bảo: "Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub". Ông Vỹ cười: "Cháu đi nước nào?” Đoài bảo: - Cái đấy còn phụ thuộc cái ông để ria mép mặc áo ca rô kia kìa". Anh Minh nghe thấy bảo: “Đi hay không sao lại phụ thuộc vào tôi?" Đoài bảo: "Gì thì gì, anh là sếp trực tiếp, anh quay lưng lại thì em rồi đời". Anh Minh bảo: "Cậu cứ làm việc cho tốt. Tớ ủng hộ". Đoài bảo: "Công việc nhà nước biết thế nào là tốt xấu? Chỉ xin anh nhớ thằng Đoài lúc nào cũng tốt với anh".

Sinh lúi húi dưới bếp. Trong buồng Sinh, Khảm đang giới thiệu với ba người bạn tập anbum có chụp những ảnh củá Khảm, có cả ảnh hồi bé tập lẫy. Cô My Lan bảo: "Anh Khảm hồi bé bụ ghê". Khảm bảo: "Con anh sau này cũng bụ thế, nhưng xinh hơn, có cái nốt ruồi ở cằm”. My Lan đỏ mặt, sờ vào cái nốt ruồi cằm mình, đấm thùm thụp vào lưng Khảm. Việt Hùng hỏi: "ảnh này chụp hồi đi thực tập phải không?" Khảm bảo: "ừ!”. Việt Hùng khen: "Nét lắm". My Lan hỏi: "Có phải hồi ấy anh ăn trộm khoai, bị dân quân bắt không"' Khảm đỏ mặt bảo: "Toàn nói lăng nhăng, mắc tội nói xấu đồng đội. Thế nào tớ cũng bắt đền". My Lan hỏi: 'Bắt đền gì?" Khảm bảo: "Đợi tối thì biết". Mọi người cười.

Đoài ngó vào, vẫy tay gọi Khảm. Đoài bảo: "Dọn mâm". Khảm hỏi: “ăn rồi à?" Đoài không trả lời Khảm đi theo Đoài xuống bếp. Đoài hỏi: " Cô có cái nốt ruồi là người yêu mày đấy à?" Khảm bảo: "Vâng". Đoài hỏi: "Thế cái vị anh hùng thơm nức kia là thế nào?" Khảm cười: "Đấy là Mỹ Trinh, bố cô ấy là ông ánh sáng ban ngày, chủ hiệu điện". Đoài hỏi: "Thằng kia với nó thế nào?" Khảm bảo: “Chưa có gì". Đoài bảo: "Tao chim nó đấy". Khảm bê mâm, Sinh bảo: "Thiếu cái gì thì gọi". Đợi Khảm đi khuất, Đoài bảo: "Thiếu một tý tình thôi, Sinh cho tôi xin một tý tình". Sinh bảo: "Nỡm. Lên nhà trên mà bảo hai cô bạn của chú Khảm ấy" Đoài bảo: “Hai con ôn vật ấy bằng thế nào được Sinh". Sinh bảo: "Đi ra đi". Đoài bảo: “Cái lão Cấn của Sinh như con cua bấy mà lại hách dịch". Sinh bảo: "Tôi mách anh Cấn đấy". Đoài bảo: "Đây chẳng sợ". Nói rồi xán lại, hôn chút lên má Sinh. Sinh đẩy ra, Đoài hổn hển: "Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần". Nói xong đi ra, Sinh bật khóc.

Cấn đi vào, thấy mắt vợ đỏ hoe, hỏi: “Sao thế?" Sinh bảo: "Tại cái bếp nhà mình khốn nạn quá”. Cấn bảo: “Cô cho mấy ấm nước lên đi, trên nhà hết cả nước sôi". Sinh bảo: “Tôi có ba đầu sáu tay đâu?" Cấn trừng mắt: "Nói năng thế à? Nhà này không có lệ thế! Mấy cái bát này sao chưa rửa?”. Nói rồi, xô chồng bát, đi ra. Chồng bát vỡ. Sinh khóc òa lên. ăn đợt đầu ba mâm. ăn xong khách ra về. Lại ăn đợt sau hai mâm. Lúc ấy cũng hơn hai giờ chiều. Đang ăn, Khiêm đi làm về, lầm lầm lì lì chẳng chào hỏi ai. Khảm bảo: "Anh Khiêm ngồi cùng mâm với chúng em cho vui". Hai cô My Lan, Mỹ Trinh cũng ríu rít mời. Cả mâm chống đũa chờ.

Lão Kiền say rượu, nằm ngủ lơ mơ trên giường, nước dãi đọng trên chiếu. Đoài chào mọi người để đưa ông Vỹ ra bến ô tô cho kịp chuyến xe Phúc Yên buổi chiều. Khiêm hỏi: "Thằng Tốn đâu?" Khảm bảo: "Nó loanh quanh đâu đấy, anh ra ăn cơm, chúng em chờ". Khiêm bảo: "Cứ ăn đi". Khảm bảo: "Ta ăn thôi. Ông ấy khó tính bỏ mẹ". Cô Mỹ Trinh bảo: “Anh ấy trông như Tácdăng".

Khiêm xuống bếp hỏi Sinh: "Thằng Tốn đâu?" Sinh bảo: "Tôi bận bịu từ tờ mờ sáng cũng quên khuấy. Không biết chú ấy đâu?" Khiêm vứt vào chạn bát một bao tải nặng. Sinh hỏi: "Lại lòng à?" Khiêm không trả lời, đi lên nhà, ngó vào buồng Sinh thấy Cấn đang ngáy khò khò. Khiêm xô cửa bước vào hỏi Cấn: "Thằng Tốn đâu?" Cấn ngồi dậy hỏí: "Mấy giờ rồi?"

Khiêm hỏi: "Thằng Tốn đâu? " Cấn bảo: 'Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện. Tôi nhốt nó trong cái buồng ở cạnh nhà xí". Khiêm cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu "ối" một tiếng rồi ngã lăn ra. Khiêm xô vào đạp túi bụi. Khảm chạy vào đẩy Khiêm ra. Sinh chạy lên hốt hoảng nói: " Sao lại thế" Khiêm gạt Sinh ra..

Căn phòng cạnh nhà xí trước là chuồng lợn, nay để than củi. Cánh cửa bằng gỗ thùng đóng ghép. Có ai mới làm thêm chiếc khóa bên ngoài, hôm qua chưa có. Khiêm giật khóa, không được. Khiêm cầm xà beng phá khóa. Cửa mở ra. Tốn chân tay mặt mũi đen nhẻm đang nhe răng cười. Khiêm quát: "Đi ra". Tốn lết đôi chân què đi lên nhà. Thấy nhà bẩn, nó xách ngay cái xô nước với tấm giẻ lau.

Mấy người bạn của Khảm chào lí nhí rồi về, Khảm dắt xe ra theo. Trước khi đi, Khảm rút vội mấy điếu thuốc lá trên bàn cho vào túi áo. Lão Kiền tỉnh rượu, thấy nhà vắng tanh, hỏi: “Chúng mày đâu cả?" Sinh lấy miến cho Tốn ăn. Tốn đói, ăn ba bốn bát liền, sợi miến lòng thòn vương ra đất. Khiêm dắt xe ra cửa, không ăn uống gì. Cấn ôm ngực ho sù sụ, nhổ ra một chiếc răng gãy, máu dây bên khóe mép. Cấn giơ nắm đấm trước mặt bố, bảo rằng: "Ông liệu tống thằng ấy ra khỏi nhà này, không tôi giết nó". Lão Kiền bảo: " Chúng mày cứ giết nhau đi, tao càng mừng". Nói rồi cầm chiếc khóa hỏng trên tay, lẩm bẩm: "Mất cả sáng lắp được chiếc khóa. Thế là toi trăm bạc".



4. BUỔI CHIỀU

Sinh rửa mâm bát xong thì ba giờ chiều. Sinh lên buồng lấy quần áo tắm. Bỗng Sinh hốt hoảng gọi Cấn. Cấn hỏi: "Cái gì?” Sinh bảo: "Buổi sáng, tôi bỏ cái nhẫn vào hộp kim chỉ, anh có cầm không?" Cấn bảo:”Không".

Sinh hỏi: "Có ai vào buồng này?" Cấn bảo: "Không". Đoài dắt xe về nhà, thấy đồ đạc lung tung hỏi: "Chuyện gì thế?" Cấn cau có: “Chú có vào trong buồng này không?" Đoài bảo: "Không". Cấn bảo: "Chị Sinh mất cái nhẫn". Đoài bảo: "Hỏi bố xem". Lão Kiền chửi: "Mẹ cha mày. Thế mày nghi tao lấy cắp chứ gì?" Đoài im, nghĩ một lát rồi bảo: “Buổi sáng thằng Khảm với ba đứa bạn ngồi trong phòng này. Tôi ngờ cái thằng đeo kính, môi đỏ như son. Mắt nó rất gian".

Vừa may lúc Khảm về. Cấn bảo: "Thằng bạn mày lấy cắp nhẫn của chị Sinh". Khảm tái mặt hỏi: "Ai bảo thế?" Cấn bảo: "Mắt tao trông thấy". Khảm bảo: ' "Sao không bắt ngay? Vừa rồi đi chơi nó cứ nằng nặc đòi về. Phải đến nhà nó mà đòi. Không trả thì đánh bỏ mẹ nó đi". Cấn bảo: “Tao đi với mày". Hai người dắt xe đi. Lão Kiền bảo: "Mang theo cái búa! Đừng đánh vào đầu. Nó chết thì tù mọt gông". Đoài lên giường giở báo ra đọc. Sinh dọn dẹp một lúc rồi xuống đi tắm. Sinh xách hai xô nước vào trong buồng tắm, khép cửa lại.

Lão Kiền loay hoay dưới bếp, nghe tiếng dội nước ở trong buồng tắm, thở dài, bỏ lên nhà. Đi vài bước, lão Kiền quay lại, vào trong bếp, bắc chiếc ghế đẩu, trèo lên nín thở ngó sang buồng tắm. Trong buồng tắm, Sinh đứng khỏa thân.

Đoài đang lim dim ngủ, thấy Tốn giật áo ngồi dậy hỏi: “Cái gì?" Tốn xua tay, dắt Đoài xuống bếp, chỉ lão Kiền đang đứng kiễng chân ở trên ghế đẩu. Đoài cau mặt tát Tốn rất đau. Tốn ngã vập mặt xuống cái xô đựng nước, trên có tấm giẻ lau. Lão Kiền vội tụt xuống ghế, nép ở cánh cửa, lát sau chạy ra hỏi: "Sao đánh nó?" Đoài bảo: "Nó vô giáo dục thì dánh". Lão Kiền chửi: "Thế mày có giáo dục à?" Đoài nghiến răng nói khẽ: "Tôi cũng vô giáo dục nhưng không nhìn trộm phụ nữ cởi truồng". Lão Kiền im.

Đoài lên nhà, rót rượu uống. Lão Kiền đỡ Tốn dậy. Tốn xách xô nước, ngồi thụp xuống lau nhà. Lão Kiền đi lên bảo Đoài: "Rót tao một cốc”. Uống cạn cốc rượu lão Kiền bảo: "Mày có học mà tệ. Bây giờ tao nói chuyện đàn ông với mày”. Đoài bảo: "Tôi không tha thứ đâu". Lão Kiền bảo: “Tao chẳng cần. Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b...” Đoài ngồi im, uống thêm một cốc rượu nữa, rồi bỗng thở dài: "Kể cũng phải". Lão Kiền bảo: “Làm người nhục lắm". Đoài hỏi: “Thế sao không lấy vợ lẽ?” Lão Kiền chửi: "Mẹ cha mày, tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày được thế này à?" Đoài rót ra một cốc rượu nữa, tần ngần: "Bố uống rượu nữa không?”. Lão Kiền quay mặt về phía bóng tối, lắc đầu. Đoài nói: "Con xin lỗi bố". Lão Kiền bảo: “Bây giờ mày như đào kép diễn trên tivi".

Tốn lau nhà, thấy cái nhẫn rơi dưới gầm tủ bèn đưa cho Sinh. Sinh mừng quá. Đoài cầm chiếc nhẫn soi ra ánh đèn, bảo: "Được độ nửa chỉ là cùng". Sinh bảo: "Đây là của hồi môn mẹ tôi dành dụm vất vả cả đời người đấy". Lão Kiền bảo: “Chết thật, chỉ sợ thằng Cấn gây sự với nhà người ta thì xấu cả mặt”. Chập tối, Cấn với Khảm về. Cả hai trông như hai thằng móc dưới cống lên, nhếch nhác bẩn thỉu. Đoài cười: "Chắc ăn đòn hả?" Cấn không trả lời. Khảm bảo: "Nhà ấy nuôi hai con chó bécgiê không sao vào được". Đoài bảo: "Cho chết, ai bắt chưa chi đã định giở thói côn đồ”. Lão Kiền bảo: "Tìm thấy nhẫn rồi”. Cấn hỏi: "ở đâu?" Lão Kiền bảo. "Vợ mày giấu trong cặp quần chứ đâu". Cấn bảo: “Đồ khốn nạn". Nói rồi tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt. Cấn định đánh thêm, Đoài xô Cấn ra, đứng chắn ở trước mặt Sinh, tay cầm con dao lăm lăm rít khẽ: "Cút đi! Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền! " Sinh úp mặt vào thành giường, khóc nức nở: “Trời ơi... Sao cái thân tôi nhục nhã thế này?"

Lão Kiền hỏi Khảm : " Có mang búa về không?" Khảm cáu : "Tí nữa mất mạng với hai con chó bécgiê còn búa với lại kìm gì?" Lão Kiền bảo : 'Thế lại toi trăm bạc".


5. NGÀY TẾT

Thấm thoắt đến Tết. Rằm tháng Chạp, lão Kiền đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm được tám nghìn đồng. Lão Kiền mua cho Tốn cái áo sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn. Khảm bảo: “Bố chỉ quý con dâu, con út".

Khiêm phải theo xe đi các tỉnh mua lợn, vắng nhà mấy ngày liền. Công việc chắc vất vả , hôm nào Khiêm cũng đi làm từ mười một giờ đêm đến trưa hôm sau mới về, người toàn mùi phân lợn. Về nhà vật ra ngủ liền, thế mà mắt cứ lõm sâu vào, vằn tia máu đỏ.

Cấn cũng đông khách . Từ sáu giờ sáng đến mười giờ đêm lúc nào cũng có người chờ cắt tóc. Buổi trưa Cấn ngủ, Khảm ra cắt tóc thay anh. Hôm đầu chưa quen, Khảm cắt phải tai một ông khảch làm chảy máu. Ông này tức, tiền cắt tóc hết bảy mươi đồng chỉ trả có hai mươi đồng. Cấn lấy bút chì ghi tiền làm được hàng ngày vào một cuốn sổ, một trăm đồng thì ghi dấu cộng, hai trăm đồng dấu khuyên tròn, lại vẽ những hình tam giác trong chấm một cái chẳng biết là ký hiệu gì. Đoài bảo: “Sổ sách kế toán của ông này thật như gián điệp" . Ngày 23 tháng Chạp ăn Tết ông Táo lên trời. Sinh nấu miến, mọi người ăn no căng bụng. Khảm hỏi : "Sao gọi là ông Táo?" Đoài bảo : "Chuyện thế này. Ông Táo là ba ông đầu rau. Ngày xưa có hai anh em cùng lấy một vợ. Người này một hôm ngủ với anh , một hôm ngủ với em . Khi họ chết, Ngọc Hoàng cảm động mối tình khăng khít của họ, biến mỗi người thành một ông đầu rau để lúc nào cũng gần gặn. Ta gọi là thần Bếp, hay ông Táo”.

Sinh bưng mâm xuống bếp. Khảm bảo : "Ngày xưa được phong thần dễ nhỉ?" Lão Kiền bảo : "Đừng nghe nó". Đoài bảo: "Lại có chuyện thế này. Nhà kia có cô con dâu, bố chồng bóp vú cô ta . Đứa con trai hỏi: " Sao ông bóp vú vợ tôi?" Ông bố bảo : "Để trừ nợ. Thế hồi xưa sao mày bóp vú vợ tao?”. Nghe nói những người này cũng được phong thần". Cấn bảo: “Chuyện của chú, tôi chẳng hiểu gì" . Lão Kiền bảo : “Đừng nghe nó" .

Ngày 27 , lão Kiền gói bánh chưng. Gói một yến rưỡi nếp, được hăm tám chiếc bánh. Bánh có hai loại, loại nhân đỗ, loại nhân đường, loại nhân đường đánh dấu bằng sợi lạt nhuộm phẩm đỏ.

Sinh luộc bánh chưng. Đoài quanh quẩn ở bếp. Đoài hỏi : "Sinh biết nhà này tương lai thuộc về ai không?" Sinh bảo: "Không". Đoài cười : "Về tôi”. Sinh hỏi : “Sao thế ?" Đoài bảo: "Bố già bố chết. Thằng Khiêm trước sau cũng vào tù. Thằng Khảm ra trường không đi Tây Bắc thì cũng Tây Nguyên. Thằng Tốn không nói làm gì, vô tích sự". Sinh hỏi: "Thế còn anh Cấn?" Đoài bảo: "Phụ thuộc vào Sinh. Nến Sinh yêu tôi, tôi sẽ gây sự tống cổ ra đường". Sinh bảo: "Dễ thế?" Đoài bảo: "Sinh còn quyến luyến cái gì? Lão Cấn vừa ngu vừa hèn, lại yếu, bác sĩ bảo bị lãnh tinh, lấy Sinh hai năm mà có con cái gì đâu?" Sinh ngồi yên, nồi bánh chưng sôi sùng sục.

Đoài bảo: "Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé! "

Sinh vớ con dao, nói khẽ: "Cút đi. Anh đến gần đây là tôi giết đấy! " Đoài cười nhạt, đi giật lùi, bỏ lên nhà, vừa đi vừa lẩm bẩm: "Đàn bà là giống ác quỷ".

Hai chín Tết, lão Kiền đi chợ mua về một cành hoa đào. Đến chiều ba mươi, Khiêm mang về một chậu quất to ba tầng quả với bánh pháo cối dài sáu mét. Khảm bảo: "Chơi sang quá đấy”. Đoài bảo: "Nó cậy lắm tiền". Khảm bảo: "Hai anh em mình mang tiếng có học mà Tết nhất đến, một bộ quần áo hẳn hoi không có". Đoài bảo: "Chỉ có con đường lấy vợ giàu thôi. Tối nay mày đưa tao đến con ông ánh sáng ban ngày đấy nhé". Khảm bảo: "Được thôi. Nếu anh tán được thưởng em cái gì?” Đoài bảo: "Thưởng cái đồng hồ". Khảm bảo: "Được rồi. Anh ghi cho em mấy chữ làm bằng". Đoài hỏi: "Không tin tao à?" Khảm bảo: "Không". Đoài ghi vào giấy: “Ngủ được với Mỹ Trinh, thưởng một đồng hồ trị giá ba nghìn dồng. Lấy Mỹ Trinh, thưởng 5% của hồi môn. Ngày... tháng... năm... Nguyễn Sĩ Đoài". Khảm cười cất mảnh giấy vào túi rồi nói: "Cám ơn".

Khảm bảo: “Hôm qua em nghe anh Khiêm kể chuyện, thế là đến tối gặp phải giấc mơ kinh quá". Đoài hỏi: " Chuyện gì?" Khảm bảo: "Anh Khiêm kể về công việc giết lợn. Hai tay cầm hai cực điện dí vào thái dương từng con. "éc" phát là chết. Bị mất điện, anh Khiêm phải dùng xà beng quật vào gáy lợn. Gặp con lợn khỏe, quật chục cái không chết, gáy toét cả ra, buồn ngủ quá, anh Khiêm quật cả vào chân. Một ca anh Khiêm giết được hơn nghìn con lợn, được khen thưởng”. Đoài hỏi: "Thế giấc mơ gì?" Khảm bảo: "Em mơ thấy đi giết lợn, giết mãi không chết, con lợn cứ nhe răng cười, thế là bị đuổi đi dọn cả một bể cứt. Bể cứt xây xi măng, kích thước 10x 6 x l, 5 mét, dung tích 90 khối. Mưa bão đến, bể cứt trôi phăng phăng, em ngập trong ấy, cứt vào cả mồm, cả lỗ tai". Đoài bảo:”Giấc mơ tốt đấy còn công việc để ý làm gì. Mà y chơi xổ số đi, thế nào cũng trúng. Các cụ bảo giẫm vào cứt là có lộc về. Mày chìm cả người trong bể cứt, có khi mày trúng xổ số độc đắc cũng nên". Khảm bảo: "ừ nhỉ. Anh không nói thì em không biết". Nói rồi hớn hở chạy ra phố.

Lúc giao thừa, ở nhà khi ấy chỉ có Khiêm, Tốn với Sinh. Ông bà Hiển cho con rể đi xe máy xuống mời lão Kiền với Cấn lên phố chơi từ chập tối, chắc uống rượu say chưa về được. Đoài với Khảm dẫn hai cô Mỹ Trinh và My Lan đi chùa Ngọc Sơn hái lộc.

Khiêm bày lên bàn thờ con gà mái tơ Sinh luộc từ chiều, mỏ ngậm một bông hoa hồng. Lại mở hộp mứt, lấy rượu rót ra ba cốc, pha một ấm chè, bày cả lên đấy. Khiêm bảo: " Chị Sinh ra lễ". Sinh thoa tí son, mặc quần côn, áo len dài bên trong, bên ngoài khoác áo len cộc đan kiểu gilê, không cài khuy, cổ choàng một chiếc voan mỏng màu hoàng yến, trông khác hẳn ngày thường vẫn mặc bộ đồ trong nhà. Sinh bảo: "Chú lễ đi. Tôi đàn bà con gái biết khấn thế nào". Khiêm bảo: "Chị là bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn". Sinh bảo: " Cũng được". Nói rồi ra trước bàn thờ vái ba vái, đứng lẩm nhẩm một lúc, lại vái ba vái nữa, không phải là người không biết nghi thức.

Khiêm bảo Tốn: "Tao treo bánh pháo ở cửa, lúc nào tao khấn xong thì châm lửa đốt". Nói rồi châm điếu thuốc đầu lọc cắm vào miệng Tốn. Khiêm bảo: " Cầm điếu thuốc dí thế này này". Tốn gật đầu.

Khiêm vái ba vái, nói: " Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm thứ..." Tốn đốt pháo. Cả ba nét mặt rạng rỡ. Trời đất giao hòa, lòng người cảm động.

Khiêm bảo: "Năm mới, chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để cho có lộc". Sinh rớm nước mắt: “Cho tôi nhiều thế” Tôi cũng chúc chú mạnh khỏe, bằng năm bằng mười năm ngoái. Anh Cấn giữ hết cả tiền, tôi chẳng có gì mừng tuổi cho chú. Chị mừng tuổi Tốn một trăm. Đây là lộc của chú Khiêm". Tốn cầm tiền giơ lên ánh đèn, hỏi: "Tiền à?" Khiêm bảo: "ừ" Tốn hỏi: "Tiền là gì?" Khiêm bảo: "Là vua".

Một giờ sáng lão Kiền với Cấn về. Một lúc sau, Đoài với Khảm cũng về. C ả nhà ngồi ăn uống đến ba giờ, chợp mắt được nửa tiếng, lại lục đục dậy làm cỗ, khấn vái qua loa, lại ăn uống. Đến tám giờ, lão Kiền bảo: "Tao đi chúc Tết hàng xóm, vợ chồng thằng Cấn đi theo tao. Khiêm ơi, mày cho bố ít tiền để đi mừng tuổi".

Lão Kiền và vợ chồng Cấn đi chúc Tết. Lão Kiền mặc quần bảo hộ lao động, áo dạ len, đội mũ len trùm đầu. Cấn mặc bộ quần áo may kiểu quân phục cấp úy, bộ quần áo này mua trên chợ Giời, có một vết thủng ở ống tay áo do tàn thuốc rơi vào. Sinh mặc quần bò nhung, áo lông Đức. Khảm bảo: “Chị Sinh trông như Hoàng hậu".

Nhà hàng xóm sang chúc Tết, Đoài ra tiếp. Chúc mừng xong xuôi ngồi uống nước nói chuyện phiếm. Đoài bảo: "Xin lỗi bác, cháu chẳng biết nhà bác có bao nhiêu người, tên là gì? " Ông hàng xóm cười: "Thì tôi cũng thế". Đoài bảo: "Ngày xưa bọn ăn trộm có luật chia ra bốn loại mà chúng không lấy: một là nhà hàng xóm, hai là nhà bạn bè, ba là nhà đang có chuyện buồn, bốn là nhà đang có chuyện vui. Cứ thế này, cháu đi ăn trộm, lơ mơ phạm luật". Ông hàng xóm cười: "Thì các con tôi cũng thế". Uống nước xong, mọi người ra về. Đứa con ông hàng xóm bảo: " Cái tay Đoài có học mà ăn nói linh tinh". Ông hàng xóm bảo: "Loạn".

Ba ngày Tết trôi qua, lòng đường đầy xác pháo. Ai cũng có cảm giác ngày Tết trôi nhanh! Ngày nào mà chẳng trôi nhanh, hở giời?


6. BUỔI TỐI

Cuối tháng ba, Sinh tắt kinh, thèm ăn của chua, thỉnh thoảng lại nôn oẹ, người cứng đơ, triệu chứng có thai.

Tháng năm xảy ra việc lão Kiền ốm, đầu tiên tưởng nhẹ, ai ngờ cứ nặng dần. Đầu tiên lão Kiền chỉ hoa mắt, nhìn một hóa hai, cửa không đi cứ đâm sầm vào tường. Cả nhà lo sợ, đưa đi bệnh viện Tây y. Bác sĩ chẩn đoán rối loạn chức năng thần kinh, cho uống B6. Bác sĩ bảo: "Đây này, dây thần kinh thế này, hai dây chập vào nhau, thế là trông một thành hai, trông gà hóa cuốc”. Cấn hỏi: "Thưa bác sĩ, vậy làm thế nào?" Bác sĩ bảo: "Y học đang nghiên cứu". Nằm một tuần, mắt lão Kiền mờ đi. Đoài bảo: "Tôi ngờ đoán nhầm bệnh" Đoài sang nhờ người quen ở bệnh viện Đông y. Người này bảo: "Tây y ra quái gì. Chú về đưa ông cụ đến đây”. Đoài về, xin cho lão Kiền chuyển viện. Bác sĩ bảo: "Đi là không trở lại đâu nhé”.

Lão Kiền điều trị Đông y, không khỏi, người rạc đi, đầu đau nhức. Dến tháng mười phát hiện tháy có u não. Bác sĩ bảo: "Để thì chết, mổ may ra cứu được". Cấn về họp gia đình, Cấn bảo: "Làm thế nào? Từ khi bố ốm nhà mình tiêu nhiều tiền lắm”. Cấn giở quyển sổ kế toán ra đọc: "Chú Khiêm đưa một lần một nghìn, một lần tám nghìn, một lần năm nghìn. Chú Đoài đưa một lần một trăm, một lần sáu chục, một lần một nghìn mốt. Chú Khảm đưa một lần ba trăm nhưng hôm tôi đưa một nghìn đi lấy thuốc ông lang Toại, chú Khảm mua hết có năm trăm, còn năm trăm vẫn cầm. Tiền thức ăn thế này... thế này... Ai chi gì tôi ghi cả".

Đoài bảo: "Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn". Tốn khóc hu hu. Cấn hỏi: "ý chú Khảm thế nào?" Khảm bảo: "Các anh thế nào thì em thế". Cấn hỏi: "Chú Khiêm sao im thế?" Khiêm hỏi: “Anh định thế nào?" Cấn bảo: "Tôi đang nghĩ”. Đoài bảo: "Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé".

Hôm lão Kiền mổ não, trừ Sinh với Tốn, mấy anh em đều kéo nhau lên bệnh viện. Ca mổ kéo dàì bốn mươi hai phút. Ngồi ngoài phòng chờ, Đoài bảo Khảm: "Ông cụ không viết di chúc mới gay, sau này tài sản biết chia thế nào?" Khảm bảo: "Lão Cấn tham lắm, anh em mình rồi ra đường thôi". Đoài bảo: "Sang năm tao cưới Mỹ Trinh, ông ánh sáng ban ngày hứa cho một cây. Mày bảo một cây mua nổi nhà không?” Khảm bảo: "Vào tay em, em nhân nó lên vài cây ngay". Đoài bảo: "Có năng khiếu kinh doanh thích thật, còn các năng khiếu như văn chương, nghệ thuật, v. v... đều vô dụng cả”.

Cấn vào gặp bác sĩ. Một lúc sau đi ra lắc đầu: "Bác sĩ bảo khoảng một tháng nữa thì đưa bố về". Hôm đưa lão Kiền về, lão Kiền đầu quấn băng, hỏi gì cũng không nói, mắt lờ đờ. Vào trong nhà, Sinh tháo gỡ băng ra. Đầu lão Kiền trọc lốc, nổi lện một khối u to như. quả trứng gà. Nửa tháng sau, khối u này to bằng nửa quả bưởi, lấy ngón tay ấn vào thấy như có chứa bã dậu ở trong, ấn mạnh thì lõm sâu, ấn nhẹ thì lõm ít. Sinh phục vụ, săn sóc, rất khổ sở.

Khảm hỏi Đoài: "Bệnh này có lây không?" Đoài bảo:”Có kiêng có lành. Tao khuyên mày cẩn thận. Vợ chồng lão Cấn còn có tiền. Thằng Khiêm còn có tiền. Tao với mày lở bệnh, tiền đâu mà chữa?" ít lâu sau, lão Kiền mê sảng, cứ rên rỉ: “Cho tôi chết đi, đau đớn lắm". Không khí trong nhà u ám, ai cũng buồn rầu. Đến ngay Tốn cũng bỏ lau nhà, suốt ngày ngồi thu lu trong cái buồng vẫn để than củi cạnh nhà xí.

Bà Hiển trên phố xuống, thấy anh mình vật vã đau đớn, khóc: "Anh ơi, tiền oan nghiệp chướng gì mà anh chết khổ, chết sở thế này”. Bà Hiển bảo: "Chúng mày xem thế nào chứ? Để thế này à?” Cấn bảo: "Cô bảo làm thế nào nữa?" Bà Hiển bảo. "Cô có người bạn, bà ấy có bài kinh Vô thường, bây giờ xin chép về đọc, may ra ông ấy sẽ đi yên ổn". Đoài bảo: "Lại thế nữa".

Bà Hiển bắt Khiêm đèo lên phố, đến nhà bà bạn để chép kinh Vô thường. Khiêm mang về bảo Đoài: "Anh giỏi chữ, anh đọc đi". Đoài cầm tờ giấy, xoay ngang xoay dọc rồi lắc đầu: "Chữ nghĩa chú viết thế này thì tôi xin chịu, thật quá sổ sách kế toán ông Cấn".

Khiêm vào đọc kinh. Lúc ấy là chập tối. Bà Hiển thắp hương ngồi cạnh. Lão Kiền lúc đầu vật vã, rồi nằm yên. Mười một giờ đêm, mọi người đi ngủ. Khiêm vẫn ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng. Đến bốn giờ sáng hôm sau, lão Kiền tắt thở, trên môi thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành, trung hậu. Khiêm vuốt mắt bố rồi vào gọi Cấn. Cả nhà dậy. Đoài bảo: "Ông cụ đi rồi. Thật may quá. Bây giờ tôi đi mua quan tài".


7. NGÀY THƯỜNG

Sau hôm giỗ lão Kiền một trăm ngày, Sinh đẻ con gái. Đón Sinh về, mọi người làm tiệc mừng. Cấn với Khảm đi chợ. Khiêm nấu nướng. Đoài với Tốn dọn nhà. Hai cô My Lan và Mỹ Trinh đến dự, mua cả hoa.

Vào tiệc, mọi người để Sinh ngồi giữa, hai cô My Lan và Mỹ Trinh ngồi hai bên. Sinh đẹp lộng ìẫy Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói: "Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống. Rượu vừa ngọt vừa cay. Ai chấp nhận cuộc snng thì cầm lên cho. Cuộc sống dù khỉ gió nhưng đẹp tuyệt vời. Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó". Mọi người nâng cốc, Đoài bảo: "Khoan đã. Nhưng nó tên gì nhỉ?" Mọi người cười. Cùng uống rượu vui, Khiêm bảo: "Chị Sinh ơi về làm dâu họ Sĩ nhà này chị có khổ không?" Khảm bảo: "Chị phải nói thế nào cho hai cô My Lan, Mỹ Trinh khỏi sợ". Sinh cười: "Cứ thế này thì không thấy khổ". Cấn hỏi: "Thế ngày thường thì thấy khổ à?" Sinh bảo: "Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm”. Tốn mỉm cười ngô nghê nhắc lại: "Thương lắm!"

Người đưa thư qua cửa ngó vào: "Nhà 129 phải không? Có điện đấy". Cấn ra nhận điện, bảo: "Cậu Vỹ ở Phúc Yên mất lúc tám giờ sáng hêm qua". Đoài bảo: "Cứ gác lại đã. Các bác già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi. Nào, xin mời chư tướng!"