Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh dị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh dị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2024

Trại Bồ Tùng Linh. Chương I

 


Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Chúng tôi cho tái bản những tác phẩm của Thế Lữ để đáp lại một phần đòi hỏi của các bạn yêu văn chương, muốn có đầy đủ các tác phẩm  của những nhà văn thời tiền chiến và cũng không ngoài mục đích trình bày với độc giả những tác phẩm đẹp được sáng tác trong khi nghệ thuật còn được tự do phát triển.

Thế Lữ là một văn sĩ kiêm thi sĩ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hiện nay ông còn ở miền Bắc. Dưới chế độ Việt cộng, cũng như bao nhà văn khác ở các nước Cộng sản, Thế Lữ đã phủ nhận văn nghiệp cũ cùa mình, mà chỉ sáng tác những tác phẩm nặng về tuyên truyền, khô khan, không thực với cảm nghĩ.

Thế Lữ đã chối bỏ quá khứ, tư tưởng nghệ thuật và tâm hồn tự do của một con người văn nghệ, bó mình phục vụ văn nghệ đỏ của Việt Cộng trong hỏa ngục miền Bắc.

Truyện  "Trại Bồ Tùng Linh" viết hồi  1930 là vang bóng đáng yêu của một Thế Lữ thời tiền chiến.

Tiếc thay  "Thế Lữ ngày ngay " đã làm sụp đổ công trình văn nghiệp của mình, họa chăng độc giả ngày nay chỉ còn lòng thương hại, nhớ tiếc một Thế Lữ với những tác phẩm đẹp xa xưa...

 

Chương I

Trại Bồ ngày... tháng 9 năm 1930.

"Anh Bình,

"Chỗ tôi đến ở là Trại Bồ. Tôi gọi đùa là Trại Bồ Tùng Linh. Cái tên đặt trong lúc cợt tính đó không ngờ lại hợp với cái cảnh biệt tịnh này đến thế. (Nhất là từ bữa xẩy ra ở đây những việc có thể gọi là rất dị thường).

"Anh thử tưởng tượng một cái trại rộng ngót hai mẫu và rậm như một khu rừng. Cây toàn là cây cỗi. Gần hết là nhãn, mươi gốc mít và mấy thứ cây ăn quả mà người ta không nghĩ đến sự lấy hoa lợi; lại thêm hai gốc đa cỗ kính, buông từng súc rễ chằng chịt xuống lối đi. Trên là bóng lá rườm rà. Dưới là cỏ và hoa. Những thứ cây bụi không biết tên là gì và thường thường chỉ mọc ở những cánh đồng hoang, cũng tìm đến sống ở đây, chen lẫn với những khóm hoa không được chăm bón. Một vài khoảng đất vuông vắn, trên đó cỏ lau đâm lên tự do, có lẽ đã là những thửa vườn cũ. Trên con đường rộng nhất trở vào từ cái cổng xây đã đổ nát và mất cánh cửa, một đoạn còn thấy dấu gạch lát, những gạch chỗ thì lụn, chỗ thì bị bẩy chồi lên vì những rễ ngầm. Một cái ao lớn, bèo tấm xanh lè kín gần khắp mặt, chắc là một chỗ trước kia rất đẹp: vì trên một phía bờ ao, một rặng liễu già rủ lá xuống tận nước, xen lẫn với mấy khóm trúc lá mập và mình vàng. Thêm vào đó một ít cây ngọc lan, hoàng lan và từng vầng lớn mẫu đơn cao um tùm.

Trại Bồ Tùng Linh. Chương II

Mơ - Tranh Nguyen Khac Chinh.

 Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương II

Viết tới đó, Tuấn ngừng lại, ngón tay cầm bút cứng ra vì mỏi: anh đã viết thẳng một mạch cả câu chuyện lạ lùng lên hơn tám trang lớn lúc đó dùng thay cho giấy viết thư.

Trại Bồ Tùng Linh. Chương III

Tranh Nguyen Khac Chinh.

Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ 

Chương III

Bao ý nghĩ vừa rồi về những việc đã qua, vẫn còn xao xuyến sôi nổi trong trí Tuấn. Tinh thần kích thích như giây đàn căng vừa ngắt tiếng sau một khúc, vang âm còn rung động giữa lúc êm lặng đêm khuya. Trên mặt bàn ngay dưới tay Tuấn, tập thư vừa viết còn ghi nguyên tang chứng của "sự thực". Cái bút đặt lên lọ mực, mấy quyển sách gáy in chữ vàng lấp lánh bên chân đèn. Tuấn nhớ rõ những hình ảnh thực hiện đó. Ánh đèn chiếu xuống không đổi sắc. Tuấn nghe thấy tiếng bấc cháy. Đồng hồ nhỏ lách tách những dịp vội vã đều đặn. Giun dế quanh nhà vẫn lích chích kêu như cũ và từ xa lắm, tiếng chó sủa đáp lại nhau qua mấy cánh đồng...

Trại Bồ Tùng Linh Chương IV

Tranh Nguyen Khac Chinh.
 

Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương IV

Bức thư viết cho bạn, Tuấn định sẽ không gửi đi. Anh sẽ chỉ thuật lại vắn tắt trên một bức khác để Bình biết đại khái câu chuyện, còn nguyên bản anh giữ lại để lúc nào cũng có sẵn trước mặt những "dấu tích thực tại" của những việc có đủ các vẻ huyền hồ.

Tuấn ngồi lặng trước bàn giấy đến ngót nửa giờ sau khi nàng ta không còn đó. Anh. kéo tập thư lại, lấy bút định ghi tiếp theo cuộc gặp gỡ sau cùng, Anh sẽ chép lại các cử chỉ, các lời nói và tất cả cảm giác, ý nghĩ của mình, thành thực và rõ ràng như viết những trang nhật ký. Công việc đó thực quan trọng đối với Tuấn. Sự tưởng nhờ của ký ức chưa đủ; anh phải có tang chứng, của những nét chữ kia để có thế tin rằng những việc xẩy ra, quả nhiên đã xẩy ra thực. Tuấn vẫn cho rằng, có lẽ mình mơ.

Trại Bồ Tùng Linh Chương V


Tranh Nguyen Khac Chinh.

 Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương V

Sáng hôm nay Tuấn thức dậy như tự trong một giấc mơ dài. Ánh sảng vàng tươi soi vào tận chỗ gối chăn và bên mình anh không còn chút dấu vết nào của người đẹp. Phảng phất một làn hương thơm mát giấu gần đó. Tuấn chỗi dậy ; ở ngực mình rơi xuống một bông hoàng lan cánh đã hơi se.

Tâm trí Tuấn bàng hoàng, nhưng không! không thể là một sự mơ hồ được.

Anh còn nhớ rõ quá. Hơi thở ấm áp của người thiếu nữ với nhịp tim hồi hộp... hơn thế nữa, bao nhiêu ái ân dữ dội tuy thầm lặng còn để lại cho anh một kỷ niệm mê cuồng. Người đàn bà trong tay ôm ấp đêm qua là cả một tấm tình - là cả một thân thể đa tình bừng cháy. Trong bóng dịu mơ, cái nhan sắc nghiêng ngả kia đã khiến anh mừng rỡ kiêu căng giữa lúc ngạc nhiên. Trên khuôn mặt đỏ say, bồng bềnh thả trong đám sóng tóc tối đen đôi mắt còn lạ lùng thỉnh thoảng lại mở nhìn anh một vẻ lặng lẽ rùng mình: Tuấn tưởng chừng lại thấy những tia lửa chìm dấu trong đó.

Trại Bồ Tùng Linh Chương VI

Tranh Nguyen Khac Chinh.

 Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương VI

Tuấn mong rằng mình nghĩ lầm.

Mấy hôm đầu, một chút hy vọng còn vấn vương song chỉ như thứ hương khói mong manh, lòng càng cố tình luyến giữ càng thấy mau tan biến. Ban ngày vào những giờ quen làm việc, Tuấn thường ngừng bút giữa đoạn, thẫn thờ nghĩ những chuyện xa hẳn đầu đề. Phần thứ nhất thiên tiểu thuyết của anh gần xong, kết thúc một cách uể oải. Tuấn không ham viết như trước. Anh thấy người mỏi mệt, và cho đó là tại mấy đêm vừa qua anh trằn trọc thâu canh.

Trại Bồ Tùng Linh Chương VII

Cõi mộng- Tranh Lê Cù Thuần

 Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương VII

Trưa hôm đó Tuấn đã chịu ăn uống hơn mấy bữa trước.

Tên đầy tớ của anh vẫn kín đáo hầu hạ gần đấy và lo ngại rình xem thái độ của anh. Có lần Tuấn bắt chợt thấy nó kinh ngạc nghe thấy anh khẽ cười. Tự anh cũng ngạc nhiên khi thấy mình lẩm nhẩm đọc những lời thơ Liễu Trai và có một ý mong đợi bâng quơ và êm nhẹ.

Trại Bồ Tùng Linh Chương VIII


Cõi mộng- Tranh Lê Cù Thuần

 Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương VIII

Tuấn lượng trước cái buồn của mình trong những ngày dài dặc sau này. Anh không thể đành lòng ngay với sự đoạn tuyệt đột nhiên và kỳ dị của người thiếu nữ. Cái phen tái hợp ngắn ngủi kia chỉ khiến anh thêm tiếc thương, thêm ham muốn ngườl đẹp. Lòng anh mắt hẳn cả mối hy vọng của sự nghi ngờ. Thôi từ nay trở đi, Lan Hương sẽ không khi nào còn đến với anh nữa.

Trại Bồ Tùng Linh Chương IX

 

Cõi mộng- Tranh Lê Cù Thuần

Trại Bồ Tùng Linh

Thế Lữ

Chương IX

Mặc dầu bao công tìm kiếm về sau, Tuấn và Bình đành chịu nhận Hoàng Lan Hương là sự bí mật không thể khám phá được. Một lần, cách đó tám năm, Tuấn nghe một vị bác sĩ chuyên chữa về thần kinh nói đến một bệnh nhân có những triệu chứng giống như trong giả thuyết của Bình. Đó là một người đàn bà. Người ấy khi tưởng mình là đủ các nhân vật trong tiểu thuyết, khi tin mình là công chúa trong cung cấm, khi là người kỷ nữ sông Hương ca những câu ai oán, lại cũng có khi tự nhận là một vai đào hát trứ danh Nam Kỳ. Bệnh không thể nào chữa được. Người điên mất hết lý trí, đã giao trả về nhà hình như đã chết.

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

Tiếng hú ban đêm

 

Tiếng hú ban đêm

 

Thế Lữ

Tiếng hú đưa từ phía rừng Sam Na lại. Đêm nào mưa gió thì nghe rõ từng hồi một: trước còn thấp, sau bổng cao, kéo dài ra, rồi chìm biến vào trong bốn bề rừng núi. Trời đất âm thầm lạnh, vì hồi ấy về cuối thu. Tiếng hú đưa lên ai oán thảm thê, tưởng như giọng ba bốn đứa trẻ xác xơ đang ngồi trên bãi vắng hay bờ lau mà gào mẹ chết.

Người Mán Khao-la ngủ không yên giấc, đêm đêm nằm trong khiếp sợ mà lòng mê tín của họ làm tăng mãi lên.

Bởi vì trước đó không lâu, trong làng có nhiều điều quái dị xảy ra như đi  trước đón đường cho tiếng hú bí mật. Rừng Sam Na là một khu rừng lớn, người Mán thường ngày vào săn bắn những cầm thú nhỏ và khai phá những của thiên nhiên. Bỗng dưng đã một tháng nay có một con hổ cái hung dữ lạ thường, chẳng biết từ đâu về rừng đó ở. Con hổ to lớn khỏe mạnh lắm, giữa ban ngày cũng dám ra bắt súc vật của dân Mán – có khi lại vồ cả người. Đến những thiện xạ xưa nay vẫn làm tai làm họa cho thú rừng cũng nhiều lần bị khốn vì con hổ cái. Họ tìm đủ mọi phương kế: nào vây đón, nào bẫy cạm mà không tài nào bắt được – lần nào hổ cũng thoát rất dễ, lại còn tha được cả mồi đi. Người Mán thường coi hổ báo chỉ như một con chó dữ mà bây giờ nghe tiếng nó gầm cũng phải run sợ. Cùng một thời kỳ hiện ra cái nạn rừng ghê gớm này, một người đàn bà với một cô con gái làng khác đến ở ngụ. Xem chừng là hai mẹ con. Hai người dựng một cái lều tận đàng xa, bên một cái cụm cây lớn, ở ngay cửa rừng. Như thế hình như nhà này muốn cách biệt hẳn với thôn xóm ở đây. Cả một làng dăm ba mươi nóc, chen xít nhau trong đám cây cối dưới sườn một quả núi thấp và quay mặt hướng về Sam Na. Dân cư vẫn giúp đỡ nhau, thân cận nhau, nay đột nhiên có người ở đâu đến, lại ra ý tỵ hiềm chia rẽ, thì ai cũng phải cho là những nhân vật lạ lùng.

MỘT TRUYỆN GHÊ GỚM

Nhà thơ Thế Lữ ngày trẻ

Nhà thơ Phạm Đình Ân, tác giả công trình nghiên cứu “Thế Lữ - tác gia và tác phẩm” khẳng định: "Truyện kinh dị Thế Lữ là những tác phẩm văn xuôi mang tính nghệ thuật, có một vẻ đẹp riêng và hấp dẫn, cho thấy một khía cạnh khác đáng lưu ý ở tài năng Thế Lữ. Truyện kinh dị Thế Lữ cũng có chất thơ, chất lãng mạn, xen kẽ các chi tiết và ẩn vào bên trong, không cần theo đuổi những yêu cầu của thể loại. Tác giả không nghiêng về việc tìm hiểu, mô tả, khoe hay giãi bày kiến thức."

MỘT TRUYỆN GHÊ GỚM

Tác giả Thế Lữ

- Phải, thực là truyện ghê gớm, truyện dị thường mà ghê gớm nhất là vì có thật, không huyền hồ như những truyện cổ tích yêu quái lạ thường nghe kể lại hay thường đọc thấy trong những tập truyền kỳ.

Ông cụ ngồi tiếp truyện mây ông khách người làng, ngừng lại để rót thêm nước. Trên khuôn mặt rắn rỏi, đăm đăm một vẻ trang trọng ưu tư. Hút tàn mồi thuốc lào, uống cạn một bát chè tươi, ông hắng giọng rồi lại nói:

- Tôi bình sinh biết đã nhiều truyện kỳ dị mà không hề có thấy kinh lạ sợ hãi, vì mình đã biết trước là những điều hoang đường không đáng tin. Nhưng đến câu truyện này thì lại khác. Chính tôi phải một phen hút chết ở câu truyện này đây. Các ông ạ, mỗi lần một bóng một mình trong lúc đêm khuya mưa gió sùi sụt, mà nghe thấy tiếng ễnh ương nó ỳ oặc, tiếng ếch nhái nó nghiến răng bốn bề, tôi lại nhớ ngay đến truyện trước. Bên tai như vang những tiếng người chết nó cười, nó kéo từng đoàn từng lũ đến đầu giường tôi nằm mà tranh nhau nguyền rủa tôi. Cố tình quên cũng không thể được. Tôi đã trải một bước nguy hiểm quá, phải một phen khiếp sợ thái quá, hầu như lạc mất hồn vía, còn sống lại chỉ như để mà nhớ mãi, tâm trí như cái kho tích chứa bao nhiêu điều quái gở đã qua.

Năm Minh Mệnh thứ sáu, tôi hỏng kỳ thi hội lần thứ ba. Bấy giờ tuy mới hăm hai tuổi, nhưng khí khái càng mạnh thì thất vọng càng sâu, uất cho phận mình lại càng khinh những tài học non nớt mà gặp vận. Ba kỳ thi lạc đệ, nhà lại nghèo thêm, sinh ra chán ghét đường công danh, lấy cớ không đủ lực theo đuổi khóa sau mà coi rẻ việc đèn sách. Nhân vẫn tập tành mấy món võ nghệ, sở đắc về đường quyền kiếm cũng không đến nỗi thiếu kém, nên cái lòng ưa mạo hiểm bốn phương được thể ngày một thêm hào hùng. Tôi bèn quyết chí bỏ làng, viết một bài ca từ gửi cho mấy người trong chỗ thân bằng gọi là đáp lại những lời khuyên can, mà cũng là để từ biệt hẳn cái đời văn chương kinh sử.

Rồi “bán kiên hành lý nhất thân khinh”, cuộc đời giang hồ kể lắm bước gian truân nhưng cũng đem lại cho mình nhiều cái thú đột ngột.

Hồi đó, mấy khúc trường hành của tôi làm từ ngày còn ham mê đường khoa hoạn, vẫn được cái may là gợi hào hứng những bạn tri kỷ không quen biết ở nhiều nơi. Vì thế mà có được những cuộc gặp gỡ thực bất ngờ, nhân mới nhận ra rằng mỗi bước đường đi lại khiến mình sợ hãi thay cho cái lúc do dự toan ở lại với nơi quê quán. Mỗi bước đường đi, lòng được quyến luyến thêm một cảnh lạ người mới, trí được phong phú thêm những tư tưởng đằm thắm, những kinh nghiệm không thường.

Nay đó mai đây, khi lưu luyến hằng năm ở một miền sơn thôn bình tịch, khi thì ngày ngày lận đận qua những miền thâm u thưa vắng bóng người. Bất cứ ở đâu, dù xa xôi hiểm trở đến đâu cũng mặс, hễ nghe có tiếng bậc ẩn sĩ hay có tay võ nghệ cao siêu, thì thế nào tôi cũng phải tìm gặp. Đó là hữu ý mà đến, những cũng có những phen tình cờ. Một lần, người ta chỉ lầm đường, tôi lạc vào sào huyệt của một bọn cường khấu. Ngót nửa năm trời, mình phải làm một hảo hán bất đắc dĩ, qua được những tai nguy là nhờ có phần quyền thuật đã thêm vững chãi, mà trốn được thoát cuộc đời hung bạo ấy, lại là nhờ ở phần mưu trí nhà nho. Kể cái hồi gian hiểm sống chung với bọn cướp rừng này cũng lắm trặng ly kỳ. Nhưng so với câu truyện dưới đây thì cái tính mệnh của tôi lần trước chỉ như mới vướng phải bụi gai, còn lần sau thực như sa vào cạm ác thú.

Cũng vì cái tai tiếng là đã đi với kẻ cướp mà tôi không ở yên được một chỗ. Người đời đã hay nghi kỵ, lại nhân cái tính tình phóng lãng của mình không hợp với thói lệ thường ngày, ác cảm dễ sinh, rồi do thế, một lời đắc ý ngang tàng hóa thành những lời võng ngạo. Tôi đang ngồi dạy lũ trẻ ở nhà một người riêng có bụng mến mình thì được tin có trát nã gấp. Một ông bạn tâm phúc đến bảo mình rằng những bài ca từ của tôi súc tích những ý phạm thượng, mà cái hình trạng ban nghịch đã lộ rõ ở thái độ của tôi, ở cuộc đời của tôi, nhất là ở hồi gần đây tôi “đã từng giao thông với quan giặc cướp”. Tôi biết trước, một án cữu như thế chỉ có mọt hình pháp, mà những người đã kết án, tôi lại biết là một vài người đồng học với tôi trước kia… Tìm cách minh oan tức là làm việc tối vô ích. Tôi chỉ còn một kế là lại đi. Bước giang hồ chỉ như mở rộng thêm, xa thêm. Chỉ khác là cuộc đời lữ thứ của tôi từ đó lại canh cánh một nghĩa nữa là đời phóng trục. Mình tự phóng trục mình, mà đi là không hẹn ngày về.

Tôi theo đường tắt qua Lạng Giang. Ở Yên Thế ít ngày, rồi đi ngược sâu mãi vào trong cảnh sơn lâm, đổi họ đổi tên, nhưng tính danh dù để nguyên cũng vô hại. Bọn Nùng, Thổ man dã ở các nơi tôi đến trú ngụ là những người chất phác, tôi có đem hết nỗi bất hạnh của mình nói thực ra, họ cũng vẫn quý mình như lúc họ mới biết.

Sống chung với người sơn dã, quen phong tục, thuộc ngôn ngữ, tôi dần dần cũng thấy tâm tư đơn giản như họ, rồi thành yêu chung trọng lẫn, tôi nhiều lúc coi mình là người đường rừng mà vẫn lấy làm vui. Trước còn ở miền dưới cũng thừa thấy yên thân. Nhưng lâu ngày quên cả truyện trước, tính thích xông pha lại đến giục giã, tôi cứ lần hồi đi ngược mãi lên. Mỗi bước như một kích thích thêm lòng hiếu kỳ. Trong cái phong thổ rừng thiêng nước độc, còn chứa chất không biết bao nhiêu sự dị thường lẩn quất ở bóng tối vòm cây, ở giải nước sâu váng xanh, ở những trận gió ồn ào như có rất nhiều thanh âm gở lạ. Tiếng chim kêu cũng phảng phất thành những lời nói. Những tên đất, tên làng là những tên, những tiếng khác tai. Mỗi cảnh vật đều có một sự tích oan khiên, hay khủng khiếp. Tôi từng nghe tiếng ngọn suối ban đêm như than khóc, người thổ nói là tiếng kêu khóc của đôi trai gái bị hại ở lưng bờ. Hang núi, mạch rừng, thác, đèo... mỗi nơi có một tên phát tích ở một truyện thảm khốc hay rùng rợn. Bóng oan khuất như gây ra các sự kinh hoàng, người ta dù cứng bóng vía đến đâu cũng không thể không thấy một thứ ghê rợn lạnh lùng rất khó nói. Đâu đâu cũng toàn là những truyện kinh người hết. Nào truyện ma gà, truyện hùm tinh, truyện lợn biết hát, truyện thần rắn, truyện Mán làm mắm trẻ son... Họ thuật lại cho tôi nghe như những việc hiển nhiên, sự khủng khiếp lộ ra trên nét mặt kính cẩn đạng đột.

VÀNG VÀ MÁU

Tập truyện đầu tiên của Thế Lữ, Vàng và máu (1934) là tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất của ông ở thể loại kinh dị, đã trở thành một hiện tượng mới lạ ngay từ khi ra đời và để lại dư âm đến nhiều năm sau. Với tác phẩm này, Phan Trọng Thưởng đánh giá Thế Lữ là "tác giả đạt đến đỉnh cao nghệ thuật" của loại truyện ly kỳ rùng rợn, Lê Huy Oanh gọi đây là "một trong những tác phẩm thuộc loại truyện rùng rợn có giá trị lớn trong kho tàng tiểu thuyết Việt Nam". Gồm một truyện vừa (Vàng và máu) và ba truyện ngắn (Một đêm trăng, Con châu chấu tre, Ma xuống thang gác), trong đó đặc sắc nhất là Vàng và máu và Một đêm trăng, tập truyện này được đánh giá cao ở lối kể chuyện hấp dẫn, li kỳ, gây tò mò và xúc động cho độc giả, xây dựng giản dị, có kết giải, lối văn gọn gàng, thanh thoát, trí tưởng tượng và khiếu phân tích phong phú, những đoạn tả cảnh vừa tỷ mỉ lại rùng rợn mà có thi vị. (vi.wikipedia)

Hoa Mộc lan trắng- Tranh Hoàng Bá Linh

                                                                                                                                     

Bottom of Form



VÀNG VÀ MÁU

Tác giả: Thế Lữ

Kể từ châu Kao Lâm ở phía đông và miền bản Slay ở phía tây mà đến, từ mạn bản Pắc đi xuống, và từ bản Hạ trở lên, cách non mười dặm chung quanh chỉ có quả núi đá Văn Dú là cao lớn nhất.

Sừng sững giữa trời, bao quát đồi cây gò đất, núi ấy trông đường bệ hách dịch như đứng làm chúa tể cho cả một vùng phong cảnh hoang vu. Dân Thổ ở các làng gần đó, ngày nào cũng trông thấy ngọn núi mù mù lam tím, nhô lên trên những hàng rừng xanh chi chít um tùm.

Những buổi hoàng hôn bóng chiều soi riêng một phía cũng như các ngày ủ dột âm u, Văn Dú lại hiện ra với một vẻ riêng oai linh và mầu nhiệm.

Đối với ngọn núi lớn, người Thổ không chỉ có tấm lòng kính cẩn phảng phất đối với mọi cảnh bát ngát cao cả, họ còn sợ hãi Văn Dú như một vật có tri giác, có quyền phép làm hại người. Ở những miền quanh đó và trong thời bấy giờ, ai nói tới Văn Dú là một sự gở lạ. Họ chỉ gọi đến tên quả núi trong những khi tức giận nhau mà chửi rủa hay những khi thề bồi. Một người say rượu lớn tiếng xúc phạm đến Văn Dú cũng đủ làm cho khắp cả một châu biết đến tên mình; họ thuật lại những lời nói và cử chỉ của anh ta một cách e dè, nhưng đó là thứ chuyện họ ưa nghe ưa kể nhất.

Núi Văn Dú có một cái hang lớn. Đó là nơi chứa những tai hoạ ghê gớm cho giống người Thổ và là cái nguồn những sự khủng khiếp và những chuyện kinh hoàng. Người ta gọi hang là hang Thần, vì đó là chỗ thần núi ở.

Thần núi Văn Dú linh thiêng lắm, lại rất độc ác và hay nghi ngờ. Người nào hoặc vô tình, hoặc cả gan đến gần thần núi là bị thần hang bắt vào giết đi. Cho nên từ Văn Dú trở ra chừng hai ba dặm chỉ toàn thấy rừng xác, đất hoang; người Thổ không dám đến khai phá để cày cấy.

Trong một năm có nhiều khi trời đất đang yên bỗng đùng đùng một cơn sấm sét. Trên không gió vù, chớp loáng như gươm thiêng vung tít; cây cối vật vã tan nát, người vật lo sợ mất hồn. Khắp mọi nhà đều khua gõ inh ỏi cùng với các bà then thầy pháp kêu khấn cho đến khi nguôi cơn. Nhưng thế mới đỡ tai hoạ.

Lại nhiều khi, sau một hồi giông tố dữ dội, mây đen biến hết, ánh nắng lại soi xuống; bấy giờ trên đỉnh núi chập chờn một tầng khói phủ dần dần bay đi. Trong đám hơi trắng mà người ta bảo là nộ khí của thần hang, có người nói rằng thường trông thấy những hình bóng kỳ dị.

Trong trí tưởng tượng của người Thổ thì cửa hang Thần trông như mồm con yêu hay hổ quái gở. Cái mồm ấy phun ra những hơi độc làm thành dịch tễ, gió bão để phá huỷ các làng. Trước cửa hang Thần, người thì bảo có toàn đầu lâu, người thì bảo có đủ các rắn rết. Lại có người khoe đã nằm mơ vào tận trong hang xem. Qua khỏi những chỗ nguy hiểm rồi thì đến nơi ruộng nương tươi tốt, suối chảy thong dong, cây lá rườm rà, bò lợn từng đàn ăn trên những bãi cỏ xanh non, lại có các nàng tiên nhởn nhơ chăn dắt. Song cái tấm ảnh đào nguyên kia, người tả cũng cho là một cảnh mai mỉa không thể làm dịu được vẻ độc ác của núi Văn Dú gây nên bởi những truyện phao truyền từ trước đến giờ.

Những người già cả trong làng thì cho rằng hang Thần hoá thiêng là vì trong đó chôn cất không biết bao nhiêu thây của quân giặc Khách. Bọn giặc này sang tàn phá nước Nam khi trước bị quân ta đuổi riết, túng thế ẩn vào Văn Dú rồi bị hãm chết đói trong hang. Đứa nào cũng mang theo rất nhiều vàng đã cướp của dân lành. Nay những của ấy hãy còn, nhưng chúng thành thần để giữ lấy.

Về đời ông cha họ thì dân cư vẫn thường cấy cầy được ở gần hang Văn Dú; bấy giờ những tai hoạ chưa có mấy, nhưng mỗi khi sụt sùi mưa gió lại văng vẳng như có tiếng khóc thảm thiết lẫn với tiếng cười gằn; chốc chốc một cơn gió là là mặt đất chạy qua, cửa hang bỗng gầm rít lên một cách giận dữ.

Gần làng kia thuộc châu Kao Lâm có một cái suối chảy đến. Suốt phát nguyên từ Văn Dú và chạy ngang mặt đông bắc quả núi, là phía hang Thần trông ra. Như thế là một sự nguy khốn cho làng ấy. Đã có một hồi, muốn phòng những tai nạn, người ta đặt ra lệ tế thần Văn Dú hàng năm. Vật hy sinh là một người con gái đẹp. Tiếng oán khóc của các cha mẹ những người gái trinh bị giết quăng xuống suối nghe bi thảm đầy trời đất, nhưng không hề cảm được lòng những dân làng độc ác vì ngu dại kia.

May sao được mấy năm sau, có một ông quan trấn người Kinh nghiêm cấm không cho giết người như thế nữa.

Về sau họ thấy trong châu động dữ và đã mấy phen toan giữ lại lệ xưa nhưng đều không thành.

MỘT ĐÊM TRĂNG

 

Nude in a Black Armchair - Pablo Picasso

Vàng và máu

Top of Form

                                                                                                                                             


MỘT ĐÊM TRĂNG

Bottom of Form

Đường quanh co ở giữa hai bên rừng núi phần nhiều là hẹp và xấu lắm, chúng tôi phải cho ngựa dàn hàng một tiến lên.

Ở Pakha, chỗ nghỉ sau cùng tới đây, từ mười hai giờ trưa đến bây giờ gần sáu giờ chiều, mà chỉ đi được chừng ba mươi cây số. Hồi ấy vào trung tuần tháng 2. Trời về tiết xuân, nhưng gặp được lúc ấy cùng ấm áp dễ chịu.

Chúng tôi dừng ngựa lại trước một cái nhà lều rộng lớn, làm trên một khoảng đất san phẳng, lấn vào khu rừng phía tay trái độ bốn năm sào. Lều dựng theo lối ta, mái lợp tranh, ba phía vách bằng phên nứa hãy còn xanh tươi; cửa cũng bằng phên, nhưng đan chưa xong, còn đặt dưới đất. Chỗ này dựng lên để cho những người đi xa nghỉ chân và nhân thể cho bọn người Thổ săn bắn ở vùng này làm nơi tạm trú. Cái lều cao rộng hơn nhà ta ở nhiều lắm, nhưng trống hơn, không có bầy biện gì. Ở mặt đất giữa lều, chỉ thấy một đống củi gỗ dấm, một tia khói đưa lên thong thả, với năm ba chiếc ghế thấp vứt bỏ chung quanh. Áp theo cả chiều dài bức vách trong cùng và bức vách phía trái, còn có một thứ tầng cũng đan bằng nứa, rộng ngót một thước tây, cao lên tới ngực, buộc vào những cột chống là mấy khúc cây nhỏ mới đẵn về. Thấy có hai người Thổ đang thõng chân nằm ngủ ở trên, tôi đoán đó là một thứ chõng hay một thứ giường phên mới ứng chế.

Gởi người buộc ngựa rồi, chúng tôi vào lều giở bánh tây, cơm nắm, lạp sường và giò chả ra ăn với nhau. Trong lều không có đèn, chúng tôi ngồi quây lấy đống củi bấy giờ đã thổi cháy to lên cho sáng. Những chuyện Mán Thổ núi rừng tất nhiên được dịp đem ra nói. Người thì khoe những cảnh lạ, những điều kỳ quái ghê sợ mà mình đã trải qua; người thì thuật những phen thập tử nhất sinh ở chốn ma thiếng nước độc; nhưng đậm đà nhất là chuyện trăng gió đường rừng, những chuyện hát đúm ở các chợ phiên. Mỗi người đều có một chuyện "tìm hoa" trong làng để nhắc lại.

Nhân đó một người bạn kể cho tôi nghe những bước phiêu lưu của một người đàn ông mà thỉnh thoảng tôi được gặp trong cái thì giờ đứng uống bát nước ở một hàng quán. Ông này là người Kinh, nhưng nét mặt với tiếng nói thì y như người Thổ; vóc trông đẫy đà lực lưỡng, bao giờ cũng mặc một bộ quần áo bằng vải ka-ki. Ông ta rất táo tợn; trong bọn đi rừng đến cả người Thổ cũng phục ông ta là người thạo và xông pha nhất. Họ gọi ông là Ba-đi-ghệt nhưng cái sính đi ghệt ông ta đã bỏ, chỉ còn lưu lại cái tên hiệu thôi - Ông Ba chẳng ở lâu được một chỗ nào; gặp việc gì ở đâu cũng nhận làm ngay, thấy cái gì cũng buôn: gỗ, vải vóc, thuốc phiện lậu, xương hùm, nấm hương, nhung hươu, đủ mọi thứ. Có một điều ai cũng chú ý nhất mà ông vẫn đem khoe với bất kỳ người nào muốn nghe chuyện, là đến đâu, ở đâu ông ta cũng tìm được một người con gái kết duyên hờ với mình. ở với nhau được ít ngày rồi một hôm, người con gái Thổ thấy ông ta đi không bao giờ trở về nữa. Tôi chưa ngồi nói chuyện với ông Ba-đi-ghệt bao giờ nên không biết rõ tâm địa của người đàn ông ấy. Nhưng tôi xem ra thì không mấy người ưa. Họ bảo rằng ông ta bạo dạn thì không ai hơn, nhưng mà giảo quyệt nham hiểm cũng không ai bằng nữa.

Ăn uống xong, tôi để các bạn ngồi đó, rải áo khoác lên chiếc chõng bên cạnh một cái cửa sổ mắt cáo rồi nhẩy lên ngả lưng. Tôi duỗi thẳng chân ra nằm, vươn vai mà thở một hơi thực dài đuổi hết những cái mệt nhọc nặng nề từ trước. Không gì khoái bằng được nghỉ ngơi sau một cuộc treo non lội suối đường trường.

Hai người Thổ vẫn ngủ say, tiếng ngáy rờn rợn. Các bạn đi đường thì bàn nhau vào ngủ trong làng, nhân tiện để tìm mấy đoá hoa rừng. Hôm ấy có cuộc hát thi, vì gặp ngày làng mở hội.

Tôi lẳng lặng nhắm mắt không trả lời ai hết, vì tôi không muốn theo họ và để phí mất lúc khoan khoái dễ chịu bấy giờ. Tâm hồn tôi thấy bâng khuâng như nằm ở trên mây, trí tưởng tượng chập chờn... rồi giấc ngủ dịu dàng dần tới.

Tôi mở mắt ra thì trăng xuyên qua khung cửa sổ mắt cáo đã đặt trên mình tôi những mảng sáng vuông nhỏ. Bấy giờ có lẽ đã nửa đêm, hai người Thổ không còn ngủ gần tôi, mà các bạn người Kinh cũng đi cả.

Tôi không muốn ngồi dậy, cứ để nguyên giầy mà nằm yên đó, hai mắt lim dim.

Nhưng tôi không buồn ngủ thêm nữa.

Trong mình thấy tỉnh táo vui lắm. Huyết mạch lưu thông như gió thổi; tôi tưởng chừng có thứ thuốc tiên trong thân thể, khiến cho người tôi bỗng chốc thành khinh khoái như bay...

Tôi lắng tai nghe, một dải suối róc rách ở gần, tiếng sóng như thuỷ tinh reo vào trong thứ giọng rù rì tối tăm của những côn trùng dưới cỏ. Sau lều thì khu rừng cây yên lặng như ngủ kỹ, nhưng ở trong đưa những tiếng bí mật, khiến cho mình cảm thấy được cái sinh hoạt của nó trong lúc đêm khuya. Một con hươu đang ngẩn ngơ nhìn cái lều vắng không. Những tiếng rất nhẹ của con sóc chạy trên cành; những tiếng lá cựa dưới mình một con vật đang nằm, một tiếng vỗ cánh nặng nề của con chim lớn. Từng trận gió thổi qua, một loạt lá rơi rào rạt, rồi tát cả lại im lặng như ngóng đợi, như nín hơi. Xa xa, rõ thực xa, giọng thác ào ào, để ý thì mỗi lúc thấy gần thêm, rồi lại xa dần, rồi lại như biến mất. Có khi nghe như tiếng muôn nghìn người ồn ào đưa từ đâu tới; phảng phất trong trí não tôi hình dung ra cảnh chợ búa xe pháo ở chốn thị thành.

Tôi cứ nằm đó nghe hoài. Nghe càng lâu muôn tiếng càng hỗn độn. Sau cùng thành một thứ giọng rì rào mờ ám mỗi khắc một nhạt dần.

Thần trí lại chịu một sức thôi miên ma tuý đưa lại đâu từ chốn bồng lai. Văng vẳng trên không, chỉ còn những tiếng nhạc gần rồi lại xa, với những hơi sáo rất nhỏ, rất trong và cao tít.

Bỗng đâu, một cơn gió lạnh thổi qua làm tôi hơi rùng mình. Tôi thở dài rồi hé mắt; trên lông mi những phấn bụi ánh sáng đang nhẩy nhót rập rờn. Tôi lại thấy như không phải nằm đó một mình... Hình như có ai đứng bên tôi. Mà "ai" đó hình như là một người thiếu nữ. Tôi chức đó chỉ là hình ảnh của sự mơ màng thôi, nên cứ lặng yên, bỗng thấy một bàn tay, một bàn tay nhỏ bé dịu dàng, êm ái để lên vai tôi:

- Đêm trăng sáng đẹp như thế này mà không đi nghe hát một lúc chơi, lại nằm đây ngủ!...

Câu nói tiếng Thổ, giọng dẻo dang trong trẻo nghe rất hay. Chưa nhìn cũng chắc người đứng đó là đẹp lắm. Tay người thiếu nữ lại lay tôi lần nữa.

Tôi mở hẳn mắ nhìn thì cô ta nhoẻn miệng cười:

- Đi dậy đi anh. Dậy đi chơi một tí!

Cô ta đứng trước cái cửa sổ vách liếp và ngảnh mặt ra phía rừng. Người trạc mười chín, hai mươi, hai mắt tinh anh, đẹp lạ thường, đôi má đầy, mơn mởn đào non, nhỏ và mướt.

Trời ơi! Con gái thổ mà có người nhan sắc đến thế này ư? Tôi mơ hay tỉnh?

CON CHÂU CHẤU TRE

 
Truyện Con châu chấu tre cũng là một truyện hay. Truyện dựng lên một vụ án mạng đầy bí ẩn mà đến cả cậu bé chứng kiến sự rùng rợn ấy cũng cho là bí hiểm, ma quái. Thế nhưng, khi màn sương huyền ảo được chính cậu bé nhà quê ấy phát hiện ra, rằng cái chết của người đàn ông là một tai nạn không may do chính ông ta tự gây nên thì người ta lại không tin, lại vẫn cho rằng có yếu tố ma quái trong đó. Thì ra, cái ấn định về sự rùng rợn, kinh hãi không thuộc về thế giới dương gian vẫn luôn làm người ta khiếp sợ. Và những chuyện khiếp sợ như vậy đi vào văn chương lại muôn đời khiến độc giả say mê mới lạ kỳ.


Vàng và máu

Top of Form

                                                                                                                         

1919-1926 Vieillard annamite entouré de sa fille et de ses petits enfants

                                                                                                                                                                                                                                                                                              

 

CON CHÂU CHẤU TRE

Bottom of Form

Quá trưa hôm đó, thằng cu Tân con ông lý Bằng mặc áo cộc trắng quần đùi nâu, đi thơ thẩn trong làng. Nó là một đứa trẻ tươi cười nhanh nhẹn, mà nay sao lại rầu thế kia ? Là vì nó không tìm được ai chơi với.

Ở nhà, thầy u nó đi vắng, em bé ngủ trên cái võng đu cót két, vú già vừa ngủ gật vừa nghêu ngao ru; trong lúc ấy thì tiếng mọt cứ gậm mãi chân bàn thờ, và tiếng trang cứ lê hoài trên lớp thóc phơi ngoài sân: cái gì nghe cũng buồn tênh, cũng chán ngắt. Nó đã ra đình chơi: ngoài hiên đình, hai người đàn ông phơi bụng ra ngáy ở một góc chiếu; trên cây soan tây hoa đỏ sặc sở tiếng ve cứ réo rắt gào trong ánh nắng ngày hè gay gắt. Nó đến nhà thằng Tý con ông Hương, nhưng thằng Tý phải đi chăn trâu thay cho thằng Cam; mà nhà ông Hương chỉ có người lớn thôi, nó không chơi được với ai hết.

Cả làng đều vắng yên một cách nặng nề đè nén, không khí thì oi ả và chói lòa. Cái vẻ tịch mịch của một buổi trưa mùa hè, cùng với cái buồn của đứa trẻ như kéo dài ra... Thỉnh thoảng một cơn gió nồng nao nao ồ đến, làm cho những dặng cây tre lá sắc, thở dài lên những tiếng khô khan.

 

MA XUỐNG THANG GÁC

 


MA XUỐNG THANG GÁC

Tác giả Thế Lữ.

Tối hôm ấy sáng trăng.

Chúng tôi tất cả có tám người, họp nhau ở nhà anh Đình, một cái nhà gạch hai tầng ở gần vùng quê, chung quanh toàn ruộng vườn mênh mông và những ao chuôm đang lấp dở. Nhà này ngoảnh mặt ra con đường đá nhỏ; Bên kia đường là một rặng dâu cằn cỗi; Sau vườn dâu, có một nhà lá lụp xụp, vắng vẻ như không bao giờ có người.

Chỗ nào cũng như bỏ hoang, cả đến cái nhà chúng tôi đang họp cũng thế. Anh Đình thì chỉ ở trên gác. Tầng dưới không có ai thuê. Nếu chúng tôi không mkê lại cái phản gãy chân với đem mấy cái bàn ghế của anh Đình xuống thì dưới nhà không có chỗ nào ngồi. Một cái đèn vách treo trên tường, lại phải thêm hai cây nến nữa mới đủ sáng. Lúc ấy đã mười giờ rưỡi. Cửa ngoài và cửa sổ hai bên đều khép, chỉ để ngỏ cái cửa sổ trông vào sân sau.

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2023

BÁT CƠM SIẾU MẪU







BÁT CƠM SIẾU MẪU

Phạm Cao Củng

Năm ấy, tỉnh Hồ Bắc phải chịu một nạn đói ghê gớm, đấy là một thiên tai tệ hại nhất, trong số ba “nạn giời” mà các nhà du lịch thường vẫn nói: nước Tầu thường vẫn bị đe dọa luôn luôn bởi nạn thủy lao của sông Hoàng Hà, nạn dịch tả và nạn đói!

Thì năm đói ấy, tỉnh Hồ Bắc gặp nạn trầm trọng hơn cả. Toàn dân trong tỉnh phải ăn rau, ăn củ và trừ những trường hợp bất thường lắm, người ta mới dám dùng đến gạo, coi như quý chẳng kém gì châu bảo.

Khổ nhất là những người già nua tuổi tác, rụng răng, trơ lợi mà phải cố nhai những thứ rễ cây rắn như đá. Mà khổ hơn nữa, lại là lão già họ Phương.

Người ta thường vẫn gọi lão là Phương ngũ gia vì họ chỉ biết lão họ Phương và là con thứ năm trong nhà thì phải. Lão đến tỉnh Hồ Bắc này đã lâu lắm. Và cùng đến với lão là tất cả những sự chém giết gớm ghê. Vì lão chính là một tên giang hồ luân lạc, khó biết được rằng hắn đã làm tướng cướp hùng cứ những phương nào hoặc đã chịu bao nhiêu án đi đầy biệt xứ? Người ta chỉ biết rằng ngày ấy, giữa mấy huyện giáp giới địa đầu Hồ Bắc có những vụ tranh chấp đất đai ghê gớm lắm. Dân chúng đã kiện nhau chán chê, đã chửi rủa nhau hết lời và chỉ còn độc một phương cách giải quyết vấn đề tương tranh này bằng võ lực, lẽ phải tự muôn đời bao giờ cũng thuộc về phần kẻ khỏe.

Dân chúng từng cá nhân trong địa phương đánh nhau chán, lại rủ từng bè lũ gây hấn, kết quả chẳng bên nào là khỏi bị thiệt hại: kẻ bị thương, người mất mạng… Và khi đã đem ra tranh chọi hết kẻ tài ba hẳn chúng lại đi tìm kiếm những tay giang hồ võ sĩ tứ phương về đàn áp nhau, các cuộc đấu tranh mỗi lúc một thêm lớn và lan rộng…

Phương ngũ gia đến Hồ Bắc chính là vào dịp cuối cùng của cuộc hiềm khích lưu huyết này. Lão đến cùng dăm tên thủ hạ, đứa nào cũng mạnh khỏe gan dạ, thân đầy chạm trổ, đầu mặt đầy vết sẹo.

Chúng đến là do dân huyện Thanh Kỳ mời về, để đối phó với bọn giặc Ngọa long cương ghê gớm, có tài dùng dao tẩm thuốc, phóng ra trăm phát không sai một. Rồi cuộc thách thử khiêu khích bắt đầu. Bọn sáu thầy trò Phương ngũ gia há phải là những người sợ chết. Họ coi thường lưỡi dao tẩm thuốc của lũ giặc Ngọa long cương cũng như họ đã coi thường dao kiếm lợi hại của anh hùng trong thiên hạ.

Cuộc giao đấu thực là gay go. Trước tiên, họ còn biểu diễn các món tài nghệ để dọa dẫm nhau hòng đối phương thấy ghê gớm mà tự xin rút lui một cách hòa bình, trật tự. Nhưng rồi sau, bên tám lạng kẻ nửa cân, chẳng ai chịu phục ai và những trận tỉ thí bắt đầu. Họ đánh nhau đây mục đích chính chỉ là vì tiền. Nhưng họ cũng thi thố tài năng để bảo toàn danh dự. Bởi vậy cho nên mỗi một đường quyền, lưỡi kiếm của họ là một mong muốn cho địch thủ phải bại vong dù có phải chính mình thiệt mạng. Bên này có kẻ chết thì rồi bên kia cũng có kẻ thở hơi cuối cùng! Và kết cuộc thì đôi bên không còn một người nào, riêng chỉ có còn lại trơ độc một lão già họ Phương với một vết thương của dao tẩm thuốc ở trên cánh tay phải.

Đồng bọn đã mạng vong, cuộc giao tranh giữa hai địa phương hiềm khích cũng tạm thời đình chỉ… Phương ngũ gia chán nản trước cuộc kết liễu đau đớn của mình, đành ở lại đây để chữa thuốc. Cánh tay phải của lão từ nay thành ra tê liệt, cái danh tiếng bách chiến bách thắng từ thời xưa đến nay không còn đem ra dùng được việc nữa.

Con hổ xám dữ tợn của rừng thiêng từ nay đành thúc thủ ở một huyện nhỏ, với cái nghề chỉ dẫn cho dân làng tập luyện vũ nghệ. Phương ngũ lão, cũng không thể làm được một võ sư nữa, vì cánh tay bị tê liệt hẳn rồi, còn có thể biểu diễn - phải, chỉ biểu diễn thôi - quyền thuật được nữa đâu!

Nhưng thời bình trở lại, võ nghệ đối với dân làng cũng không cần thiết cho lắm nữa, người ta đua nhau học hành văn chương thi phú, và những kẻ dùng đến võ biền không ngoài mấy bọn tuần đinh có nhiệm vụ canh gác cho dân hàng huyện.

Danh vọng của Phương ngũ lão vì thế cũng mỗi ngày một xuống. Nhưng lão không phải vì thế mà không đủ sinh nhai… Lão còn có một nghề nữa mà mỗi khi ta dùng đến thì lại thuê tiền bạc lão, một số tiền lớn khả dĩ có thể chi dùng hàng năm sáu tháng.

Đó là nghề… chém người!

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2023

BUỔI DIỄN TẤT NIÊN CỦA NGƯỜI HỔ

 


BUỔI DIỄN TẤT NIÊN CỦA NGƯỜI HỔ

Phạm Cao Củng


Trước mặt hắn là cả một bộ “đồ lề” của họa sĩ nếu chúng ta không muốn làm mếch lòng hắn mà mệnh danh cho hắn một cách nôm na là… anh thợ vẽ! Điều này, đối với hắn, quan trọng lắm, vì sự thực, hắn có quyền được ngồi vào chiếu nghệ sĩ như ai!

Mặc dầu, bây giờ, hắn chỉ là một anh thợ vẽ chuyên môn vẽ hổ, cái thứ hổ thờ mà người ta vẽ rất nhiều trong dịp Tết!

Hắn nguệch ngoạc mấy nét vào bộ ria của ông ba mươi trước mặt, rồi bỗng quăng bút mà bảo tôi rằng:

- Không hiểu có phải là vì tất niên năm Hổ mà cái món hàng Hổ cuối năm nay, nghe chừng chạy lắm! Trong mấy phiên chợ Tết, có lẽ tôi vẽ đến hơn trăm ông rồi, thôi thì đủ các mầu sắc: bạch hổ, thanh hổ, hoàng hổ và… vân vân hổ!

Sẽ nhún vai, hắn lạnh lùng tiếp:

- Thôi, nhỡ thời thì phải chiều thời, qua đình làng nào, thì ta chào đình làng ấy vậy. Bây giờ làm cái nghề vẽ hổ, đối với khách hàng, tôi phải hết sức cung kính mà gọi là các ngài chứ thời xưa chính các ngài ấy bằng xương và bằng thịt, tôi cũng chỉ coi là muỗi tép!

Hắn có một cái nhìn mơ mộng, xa xôi và giọng nói nhẹ nhàng như giọng nói một cô con gái, đượm chút buồn rầu.