Chúng tôi cho tái bản những tác phẩm của Thế Lữ để đáp lại một phần đòi hỏi
của các bạn yêu văn chương, muốn có đầy đủ các tác phẩmcủa những nhà văn thời tiền chiến và cũng không ngoài mục
đích trình bày với độc giả những tác phẩm đẹp được sáng tác trong khi nghệ thuật
còn được tự do phát triển.
Thế Lữ là một văn sĩ kiêm thi sĩ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hiện nay ông
còn ở miền Bắc. Dưới chế độ Việt cộng, cũng như bao nhà văn khác ở các nước Cộng
sản, Thế Lữ đã phủ nhận văn nghiệp cũ cùa mình, mà chỉ sáng tác những tác phẩm
nặng về tuyên truyền, khô khan, không thực với cảm nghĩ.
Thế Lữ đã chối bỏ quá khứ, tư tưởng nghệ thuật và tâm hồn tự do của một
con người văn nghệ, bó mình phục vụ văn nghệ đỏ của Việt Cộng trong hỏa ngục miền
Bắc.
Truyện "Trại Bồ Tùng Linh"viết
hồi 1930 là vang bóng đáng yêu của một Thế Lữ thời tiền chiến.
Tiếc thay "Thế Lữ ngày ngay " đã
làm sụp đổ công trình văn nghiệp của mình, họa chăng độc giả ngày nay chỉ còn
lòng thương hại, nhớ tiếc một Thế Lữ với những tác phẩm đẹp xa xưa...
Chương I
Trại Bồ ngày... tháng 9 năm
1930.
"Anh
Bình,
"Chỗ
tôi đến ở là Trại Bồ. Tôi gọi đùa là Trại Bồ Tùng Linh. Cái tên đặt trong lúc cợt
tính đó không ngờ lại hợp với cái cảnh biệt tịnh này đến thế. (Nhất là từ bữa xẩy
ra ở đây những việc có thể gọi là rất dị thường).
"Anh thử
tưởng tượng một cái trại rộng ngót hai mẫu và rậm như một khu rừng. Cây toàn là
cây cỗi. Gần hết là nhãn, mươi gốc mít và mấy thứ cây ăn quả mà người ta không
nghĩ đến sự lấy hoa lợi; lại thêm hai gốc đa cỗ kính, buông từng súc rễ chằng
chịt xuống lối đi. Trên là bóng lá rườm rà. Dưới là cỏ và hoa. Những thứ cây bụi
không biết tên là gì và thường thường chỉ mọc ở những cánh đồng hoang, cũng tìm
đến sống ở đây, chen lẫn với những khóm hoa không được chăm bón. Một vài khoảng
đất vuông vắn, trên đó cỏ lau đâm lên tự do, có lẽ đã là những thửa vườn cũ.
Trên con đường rộng nhất trở vào từ cái cổng xây đã đổ nát và mất cánh cửa, một
đoạn còn thấy dấu gạch lát, những gạch chỗ thì lụn, chỗ thì bị bẩy chồi lên vì
những rễ ngầm. Một cái ao lớn, bèo tấm xanh lè kín gần khắp mặt, chắc là một chỗ
trước kia rất đẹp: vì trên một phía bờ ao, một rặng liễu già rủ lá xuống tận nước,
xen lẫn với mấy khóm trúc lá mập và mình vàng. Thêm vào đó một ít cây ngọc lan,
hoàng lan và từng vầng lớn mẫu đơn cao um tùm.
Viết tới đó, Tuấn ngừng lại, ngón tay
cầm bút cứng ra vì mỏi: anh đã viết thẳng một mạch cả câu chuyện lạ lùng lên
hơn tám trang lớn lúc đó dùng thay cho giấy viết thư.
Bao ý nghĩ vừa rồi về những việc đã
qua, vẫn còn xao xuyến sôi nổi trong trí Tuấn. Tinh thần kích thích như giây
đàn căng vừa ngắt tiếng sau một khúc, vang âm còn rung động giữa lúc êm lặng
đêm khuya. Trên mặt bàn ngay dưới tay Tuấn, tập thư vừa viết còn ghi nguyên
tang chứng của "sự thực". Cái bút đặt lên lọ mực, mấy quyển sách gáy
in chữ vàng lấp lánh bên chân đèn. Tuấn nhớ rõ những hình ảnh thực hiện đó. Ánh
đèn chiếu xuống không đổi sắc. Tuấn nghe thấy tiếng bấc cháy. Đồng hồ nhỏ lách
tách những dịp vội vã đều đặn. Giun dế quanh nhà vẫn lích chích kêu như cũ và từ
xa lắm, tiếng chó sủa đáp lại nhau qua mấy cánh đồng...
Bức thư viết cho bạn, Tuấn định sẽ
không gửi đi. Anh sẽ chỉ thuật lại vắn tắt trên một bức khác để Bình biết đại
khái câu chuyện, còn nguyên bản anh giữ lại để lúc nào cũng có sẵn trước mặt những
"dấu tích thực tại" của những việc có đủ các vẻ huyền hồ.
Tuấn ngồi lặng trước bàn giấy đến ngót
nửa giờ sau khi nàng ta không còn đó. Anh. kéo tập thư lại, lấy bút định ghi tiếp
theo cuộc gặp gỡ sau cùng, Anh sẽ chép lại các cử chỉ, các lời nói và tất cả cảm
giác, ý nghĩ của mình, thành thực và rõ ràng như viết những trang nhật ký. Công
việc đó thực quan trọng đối với Tuấn. Sự tưởng nhờ của ký ức chưa đủ; anh phải
có tang chứng, của những nét chữ kia để có thế tin rằng những việc xẩy ra, quả
nhiên đã xẩy ra thực. Tuấn vẫn cho rằng, có lẽ mình mơ.
Sáng hôm nay Tuấn thức dậy như tự
trong một giấc mơ dài. Ánh sảng vàng tươi soi vào tận chỗ gối chăn và bên mình
anh không còn chút dấu vết nào của người đẹp. Phảng phất một làn hương thơm mát
giấu gần đó. Tuấn chỗi dậy ; ở ngực mình rơi xuống một bông hoàng lan cánh đã
hơi se.
Tâm trí Tuấn bàng hoàng, nhưng không!
không thể là một sự mơ hồ được.
Anh còn nhớ rõ quá. Hơi thở ấm áp của
người thiếu nữ với nhịp tim hồi hộp... hơn thế nữa, bao nhiêu ái ân dữ dội tuy
thầm lặng còn để lại cho anh một kỷ niệm mê cuồng. Người đàn bà trong tay ôm ấp
đêm qua là cả một tấm tình - là cả một thân thể đa tình bừng cháy. Trong bóng dịu
mơ, cái nhan sắc nghiêng ngả kia đã khiến anh mừng rỡ kiêu căng giữa lúc ngạc
nhiên. Trên khuôn mặt đỏ say, bồng bềnh thả trong đám sóng tóc tối đen đôi mắt
còn lạ lùng thỉnh thoảng lại mở nhìn anh một vẻ lặng lẽ rùng mình: Tuấn tưởng
chừng lại thấy những tia lửa chìm dấu trong đó.
Mấy hôm đầu, một chút hy vọng còn vấn
vương song chỉ như thứ hương khói mong manh, lòng càng cố tình luyến giữ càng
thấy mau tan biến. Ban ngày vào những giờ quen làm việc, Tuấn thường ngừng bút
giữa đoạn, thẫn thờ nghĩ những chuyện xa hẳn đầu đề. Phần thứ nhất thiên tiểu
thuyết của anh gần xong, kết thúc một cách uể oải. Tuấn không ham viết như trước.
Anh thấy người mỏi mệt, và cho đó là tại mấy đêm vừa qua anh trằn trọc thâu
canh.
Trưa hôm đó Tuấn đã chịu ăn uống hơn mấy
bữa trước.
Tên đầy tớ của anh vẫn kín đáo hầu hạ
gần đấy và lo ngại rình xem thái độ của anh. Có lần Tuấn bắt chợt thấy nó kinh
ngạc nghe thấy anh khẽ cười. Tự anh cũng ngạc nhiên khi thấy mình lẩm nhẩm đọc
những lời thơ Liễu Trai và có một ý mong đợi bâng quơ và êm nhẹ.
Tuấn lượng trước cái buồn của mình
trong những ngày dài dặc sau này. Anh không thể đành lòng ngay với sự đoạn tuyệt
đột nhiên và kỳ dị của người thiếu nữ. Cái phen tái hợp ngắn ngủi kia chỉ khiến
anh thêm tiếc thương, thêm ham muốn ngườl đẹp. Lòng anh mắt hẳn cả mối hy vọng
của sự nghi ngờ. Thôi từ nay trở đi, Lan Hương sẽ không khi nào còn đến với anh
nữa.
Mặc dầu bao công tìm kiếm về sau, Tuấn
và Bình đành chịu nhận Hoàng Lan Hương là sự bí mật không thể khám phá được. Một
lần, cách đó tám năm, Tuấn nghe một vị bác sĩ chuyên chữa về thần kinh nói đến
một bệnh nhân có những triệu chứng giống như trong giả thuyết của Bình. Đó là một
người đàn bà. Người ấy khi tưởng mình là đủ các nhân vật trong tiểu thuyết, khi
tin mình là công chúa trong cung cấm, khi là người kỷ nữ sông Hương ca những
câu ai oán, lại cũng có khi tự nhận là một vai đào hát trứ danh Nam Kỳ. Bệnh
không thể nào chữa được. Người điên mất hết lý trí, đã giao trả về nhà hình nhưđã
chết.
Tiếng hú đưa từ phía rừng
Sam Na lại. Đêm nào mưa gió thì nghe rõ từng hồi một: trước còn thấp, sau bổng
cao, kéo dài ra, rồi chìm biến vào trong bốn bề rừng núi. Trời đất âm thầm lạnh,
vì hồi ấy về cuối thu. Tiếng hú đưa lên ai oán thảm thê, tưởng như giọng ba bốn
đứa trẻ xác xơ đang ngồi trên bãi vắng hay bờ lau mà gào mẹ chết.
Người Mán Khao-la ngủ
không yên giấc, đêm đêm nằm trong khiếp sợ mà lòng mê tín của họ làm tăng mãi
lên.
Bởi vì trước đó không
lâu, trong làng có nhiều điều quái dị xảy ra như đi trước đón đường cho
tiếng hú bí mật. Rừng Sam Na là một khu rừng lớn, người Mán thường ngày vào săn
bắn những cầm thú nhỏ và khai phá những của thiên nhiên. Bỗng dưng đã một tháng
nay có một con hổ cái hung dữ lạ thường, chẳng biết từ đâu về rừng đó ở. Con hổ
to lớn khỏe mạnh lắm, giữa ban ngày cũng dám ra bắt súc vật của dân Mán – có
khi lại vồ cả người. Đến những thiện xạ xưa nay vẫn làm tai làm họa cho thú rừng
cũng nhiều lần bị khốn vì con hổ cái. Họ tìm đủ mọi phương kế: nào vây đón, nào
bẫy cạm mà không tài nào bắt được – lần nào hổ cũng thoát rất dễ, lại còn tha
được cả mồi đi. Người Mán thường coi hổ báo chỉ như một con chó dữ mà bây giờ
nghe tiếng nó gầm cũng phải run sợ. Cùng một thời kỳ hiện ra cái nạn rừng ghê gớm
này, một người đàn bà với một cô con gái làng khác đến ở ngụ. Xem chừng là hai
mẹ con. Hai người dựng một cái lều tận đàng xa, bên một cái cụm cây lớn, ở ngay
cửa rừng. Như thế hình như nhà này muốn cách biệt hẳn với thôn xóm ở đây. Cả một
làng dăm ba mươi nóc, chen xít nhau trong đám cây cối dưới sườn một quả núi thấp
và quay mặt hướng về Sam Na. Dân cư vẫn giúp đỡ nhau, thân cận nhau, nay đột
nhiên có người ở đâu đến, lại ra ý tỵ hiềm chia rẽ, thì ai cũng phải cho là những
nhân vật lạ lùng.
Nhà thơ Phạm Đình Ân, tác giả công trình nghiên cứu “Thế Lữ - tác gia và tác phẩm” khẳng định: "Truyện kinh dị Thế Lữ là những tác phẩm văn xuôi mang tính nghệ thuật, có một vẻ đẹp riêng và hấp dẫn, cho thấy một khía cạnh khác đáng lưu ý ở tài năng Thế Lữ. Truyện kinh dị Thế Lữ cũng có chất thơ, chất lãng mạn, xen kẽ các chi tiết và ẩn vào bên trong, không cần theo đuổi những yêu cầu của thể loại. Tác giả không nghiêng về việc tìm hiểu, mô tả, khoe hay giãi bày kiến thức."
MỘT TRUYỆN GHÊ GỚM
Tác giả Thế Lữ
- Phải, thực là truyện
ghê gớm, truyện dị thường mà ghê gớm nhất là vì có thật, không huyền hồ như những
truyện cổ tích yêu quái lạ thường nghe kể lại hay thường đọc thấy trong những tập
truyền kỳ.
Ông cụ ngồi tiếp truyện
mây ông khách người làng, ngừng lại để rót thêm nước. Trên khuôn mặt rắn rỏi,
đăm đăm một vẻ trang trọng ưu tư. Hút tàn mồi thuốc lào, uống cạn một bát chè
tươi, ông hắng giọng rồi lại nói:
- Tôi bình sinh biết
đã nhiều truyện kỳ dị mà không hề có thấy kinh lạ sợ hãi, vì mình đã biết trước
là những điều hoang đường không đáng tin. Nhưng đến câu truyện này thì lại
khác. Chính tôi phải một phen hút chết ở câu truyện này đây. Các ông ạ, mỗi lần
một bóng một mình trong lúc đêm khuya mưa gió sùi sụt, mà nghe thấy tiếng ễnh
ương nó ỳ oặc, tiếng ếch nhái nó nghiến răng bốn bề, tôi lại nhớ ngay đến truyện
trước. Bên tai như vang những tiếng người chết nó cười, nó kéo từng đoàn từng
lũ đến đầu giường tôi nằm mà tranh nhau nguyền rủa tôi. Cố tình quên cũng không
thể được. Tôi đã trải một bước nguy hiểm quá, phải một phen khiếp sợ thái quá,
hầu như lạc mất hồn vía, còn sống lại chỉ như để mà nhớ mãi, tâm trí như cái
kho tích chứa bao nhiêu điều quái gở đã qua.
Năm Minh Mệnh thứ
sáu, tôi hỏng kỳ thi hội lần thứ ba. Bấy giờ tuy mới hăm hai tuổi, nhưng khí
khái càng mạnh thì thất vọng càng sâu, uất cho phận mình lại càng khinh những
tài học non nớt mà gặp vận. Ba kỳ thi lạc đệ, nhà lại nghèo thêm, sinh ra chán
ghét đường công danh, lấy cớ không đủ lực theo đuổi khóa sau mà coi rẻ việc đèn
sách. Nhân vẫn tập tành mấy món võ nghệ, sở đắc về đường quyền kiếm cũng không
đến nỗi thiếu kém, nên cái lòng ưa mạo hiểm bốn phương được thể ngày một thêm
hào hùng. Tôi bèn quyết chí bỏ làng, viết một bài ca từ gửi cho mấy người trong
chỗ thân bằng gọi là đáp lại những lời khuyên can, mà cũng là để từ biệt hẳn cái
đời văn chương kinh sử.
Rồi “bán kiên hành lý
nhất thân khinh”, cuộc đời giang hồ kể lắm bước gian truân nhưng cũng đem lại cho
mình nhiều cái thú đột ngột.
Hồi đó, mấy khúc trường
hành của tôi làm từ ngày còn ham mê đường khoa hoạn, vẫn được cái may là gợi
hào hứng những bạn tri kỷ không quen biết ở nhiều nơi. Vì thế mà có được những
cuộc gặp gỡ thực bất ngờ, nhân mới nhận ra rằng mỗi bước đường đi lại khiến
mình sợ hãi thay cho cái lúc do dự toan ở lại với nơi quê quán. Mỗi bước đường
đi, lòng được quyến luyến thêm một cảnh lạ người mới, trí được phong phú thêm
những tư tưởng đằm thắm, những kinh nghiệm không thường.
Nay đó mai đây, khi
lưu luyến hằng năm ở một miền sơn thôn bình tịch, khi thì ngày ngày lận đận qua
những miền thâm u thưa vắng bóng người. Bất cứ ở đâu, dù xa xôi hiểm trở đến
đâu cũng mặс, hễ nghe có tiếng bậc ẩn sĩ hay có tay võ nghệ cao siêu, thì thế
nào tôi cũng phải tìm gặp. Đó là hữu ý mà đến, những cũng có những phen tình cờ.
Một lần, người ta chỉ lầm đường, tôi lạc vào sào huyệt của một bọn cường khấu.
Ngót nửa năm trời, mình phải làm một hảo hán bất đắc dĩ, qua được những tai
nguy là nhờ có phần quyền thuật đã thêm vững chãi, mà trốn được thoát cuộc đời
hung bạo ấy, lại là nhờ ở phần mưu trí nhà nho. Kể cái hồi gian hiểm sống chung
với bọn cướp rừng này cũng lắm trặng ly kỳ. Nhưng so với câu truyện dưới đây
thì cái tính mệnh của tôi lần trước chỉ như mới vướng phải bụi gai, còn lần sau
thực như sa vào cạm ác thú.
Cũng vì cái tai tiếng
là đã đi với kẻ cướp mà tôi không ở yên được một chỗ. Người đời đã hay nghi kỵ,
lại nhân cái tính tình phóng lãng của mình không hợp với thói lệ thường ngày,
ác cảm dễ sinh, rồi do thế, một lời đắc ý ngang tàng hóa thành những lời võng
ngạo. Tôi đang ngồi dạy lũ trẻ ở nhà một người riêng có bụng mến mình thì được
tin có trát nã gấp. Một ông bạn tâm phúc đến bảo mình rằng những bài ca từ của
tôi súc tích những ý phạm thượng, mà cái hình trạng ban nghịch đã lộ rõ ở thái
độ của tôi, ở cuộc đời của tôi, nhất là ở hồi gần đây tôi “đã từng giao thông với
quan giặc cướp”. Tôi biết trước, một án cữu như thế chỉ có mọt hình pháp, mà những
người đã kết án, tôi lại biết là một vài người đồng học với tôi trước kia… Tìm
cách minh oan tức là làm việc tối vô ích. Tôi chỉ còn một kế là lại đi. Bước
giang hồ chỉ như mở rộng thêm, xa thêm. Chỉ khác là cuộc đời lữ thứ của tôi từ
đó lại canh cánh một nghĩa nữa là đời phóng trục. Mình tự phóng trục mình, mà
đi là không hẹn ngày về.
Tôi theo đường tắt
qua Lạng Giang. Ở Yên Thế ít ngày, rồi đi ngược sâu mãi vào trong cảnh sơn lâm,
đổi họ đổi tên, nhưng tính danh dù để nguyên cũng vô hại. Bọn Nùng, Thổ man dã ở
các nơi tôi đến trú ngụ là những người chất phác, tôi có đem hết nỗi bất hạnh của
mình nói thực ra, họ cũng vẫn quý mình như lúc họ mới biết.
Sống chung với người
sơn dã, quen phong tục, thuộc ngôn ngữ, tôi dần dần cũng thấy tâm tư đơn giản
như họ, rồi thành yêu chung trọng lẫn, tôi nhiều lúc coi mình là người đường rừng
mà vẫn lấy làm vui. Trước còn ở miền dưới cũng thừa thấy yên thân. Nhưng lâu
ngày quên cả truyện trước, tính thích xông pha lại đến giục giã, tôi cứ lần hồi
đi ngược mãi lên. Mỗi bước như một kích thích thêm lòng hiếu kỳ. Trong cái phong
thổ rừng thiêng nước độc, còn chứa chất không biết bao nhiêu sự dị thường lẩn
quất ở bóng tối vòm cây, ở giải nước sâu váng xanh, ở những trận gió ồn ào như
có rất nhiều thanh âm gở lạ. Tiếng chim kêu cũng phảng phất thành những lời
nói. Những tên đất, tên làng là những tên, những tiếng khác tai. Mỗi cảnh vật đều
có một sự tích oan khiên, hay khủng khiếp. Tôi từng nghe tiếng ngọn suối ban
đêm như than khóc, người thổ nói là tiếng kêu khóc của đôi trai gái bị hại ở
lưng bờ. Hang núi, mạch rừng, thác, đèo... mỗi nơi có một tên phát tích ở một
truyện thảm khốc hay rùng rợn. Bóng oan khuất như gây ra các sự kinh hoàng, người
ta dù cứng bóng vía đến đâu cũng không thể không thấy một thứ ghê rợn lạnh lùng
rất khó nói. Đâu đâu cũng toàn là những truyện kinh người hết. Nào truyện ma
gà, truyện hùm tinh, truyện lợn biết hát, truyện thần rắn, truyện Mán làm mắm
trẻ son... Họ thuật lại cho tôi nghe như những việc hiển nhiên, sự khủng khiếp
lộ ra trên nét mặt kính cẩn đạng đột.
Tập truyện đầu tiên của Thế Lữ, Vàng và máu (1934) là tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất của ông ở thể loại kinh dị, đã trở thành một hiện tượng mới lạ ngay từ khi ra đời và để lại dư âm đến nhiều năm sau. Với tác phẩm này, Phan Trọng Thưởng đánh giá Thế Lữ là "tác giả đạt đến đỉnh cao nghệ thuật" của loại truyện ly kỳ rùng rợn, Lê Huy Oanh gọi đây là "một trong những tác phẩm thuộc loại truyện rùng rợn có giá trị lớn trong kho tàng tiểu thuyết Việt Nam". Gồm một truyện vừa (Vàng và máu) và ba truyện ngắn (Một đêm trăng, Con châu chấu tre, Ma xuống thang gác), trong đó đặc sắc nhất là Vàng và máu và Một đêm trăng, tập truyện này được đánh giá cao ở lối kể chuyện hấp dẫn, li kỳ, gây tò mò và xúc động cho độc giả, xây dựng giản dị, có kết giải, lối văn gọn gàng, thanh thoát, trí tưởng tượng và khiếu phân tích phong phú, những đoạn tả cảnh vừa tỷ mỉ lại rùng rợn mà có thi vị. (vi.wikipedia)
Hoa Mộc lan trắng- Tranh Hoàng Bá Linh
Bottom of Form
VÀNG VÀ MÁU
Tác giả: Thế Lữ
Kể từ châu Kao Lâm ở
phía đông và miền bản Slay ở phía tây mà đến, từ mạn bản Pắc đi xuống, và từ bản
Hạ trở lên, cách non mười dặm chung quanh chỉ có quả núi đá Văn Dú là cao lớn
nhất.
Sừng sững giữa trời,
bao quát đồi cây gò đất, núi ấy trông đường bệ hách dịch như đứng làm chúa tể
cho cả một vùng phong cảnh hoang vu. Dân Thổ ở các làng gần đó, ngày nào cũng
trông thấy ngọn núi mù mù lam tím, nhô lên trên những hàng rừng xanh chi chít
um tùm.
Những buổi hoàng hôn
bóng chiều soi riêng một phía cũng như các ngày ủ dột âm u, Văn Dú lại hiện ra
với một vẻ riêng oai linh và mầu nhiệm.
Đối với ngọn núi lớn,
người Thổ không chỉ có tấm lòng kính cẩn phảng phất đối với mọi cảnh bát ngát
cao cả, họ còn sợ hãi Văn Dú như một vật có tri giác, có quyền phép làm hại người.
Ở những miền quanh đó và trong thời bấy giờ, ai nói tới Văn Dú là một sự gở lạ.
Họ chỉ gọi đến tên quả núi trong những khi tức giận nhau mà chửi rủa hay những
khi thề bồi. Một người say rượu lớn tiếng xúc phạm đến Văn Dú cũng đủ làm cho
khắp cả một châu biết đến tên mình; họ thuật lại những lời nói và cử chỉ của
anh ta một cách e dè, nhưng đó là thứ chuyện họ ưa nghe ưa kể nhất.
Núi Văn Dú có một cái
hang lớn. Đó là nơi chứa những tai hoạ ghê gớm cho giống người Thổ và là cái
nguồn những sự khủng khiếp và những chuyện kinh hoàng. Người ta gọi hang là
hang Thần, vì đó là chỗ thần núi ở.
Thần núi Văn Dú linh
thiêng lắm, lại rất độc ác và hay nghi ngờ. Người nào hoặc vô tình, hoặc cả gan
đến gần thần núi là bị thần hang bắt vào giết đi. Cho nên từ Văn Dú trở ra chừng
hai ba dặm chỉ toàn thấy rừng xác, đất hoang; người Thổ không dám đến khai phá
để cày cấy.
Trong một năm có nhiều
khi trời đất đang yên bỗng đùng đùng một cơn sấm sét. Trên không gió vù, chớp
loáng như gươm thiêng vung tít; cây cối vật vã tan nát, người vật lo sợ mất hồn.
Khắp mọi nhà đều khua gõ inh ỏi cùng với các bà then thầy pháp kêu khấn cho đến
khi nguôi cơn. Nhưng thế mới đỡ tai hoạ.
Lại nhiều khi, sau một
hồi giông tố dữ dội, mây đen biến hết, ánh nắng lại soi xuống; bấy giờ trên đỉnh
núi chập chờn một tầng khói phủ dần dần bay đi. Trong đám hơi trắng mà người ta
bảo là nộ khí của thần hang, có người nói rằng thường trông thấy những hình
bóng kỳ dị.
Trong trí tưởng tượng của
người Thổ thì cửa hang Thần trông như mồm con yêu hay hổ quái gở. Cái mồm ấy
phun ra những hơi độc làm thành dịch tễ, gió bão để phá huỷ các làng. Trước cửa
hang Thần, người thì bảo có toàn đầu lâu, người thì bảo có đủ các rắn rết. Lại
có người khoe đã nằm mơ vào tận trong hang xem. Qua khỏi những chỗ nguy hiểm rồi
thì đến nơi ruộng nương tươi tốt, suối chảy thong dong, cây lá rườm rà, bò lợn
từng đàn ăn trên những bãi cỏ xanh non, lại có các nàng tiên nhởn nhơ chăn dắt.
Song cái tấm ảnh đào nguyên kia, người tả cũng cho là một cảnh mai mỉa không thể
làm dịu được vẻ độc ác của núi Văn Dú gây nên bởi những truyện phao truyền từ
trước đến giờ.
Những người già cả
trong làng thì cho rằng hang Thần hoá thiêng là vì trong đó chôn cất không biết
bao nhiêu thây của quân giặc Khách. Bọn giặc này sang tàn phá nước Nam khi trước
bị quân ta đuổi riết, túng thế ẩn vào Văn Dú rồi bị hãm chết đói trong hang. Đứa
nào cũng mang theo rất nhiều vàng đã cướp của dân lành. Nay những của ấy hãy
còn, nhưng chúng thành thần để giữ lấy.
Về đời ông cha họ thì
dân cư vẫn thường cấy cầy được ở gần hang Văn Dú; bấy giờ những tai hoạ chưa có
mấy, nhưng mỗi khi sụt sùi mưa gió lại văng vẳng như có tiếng khóc thảm thiết lẫn
với tiếng cười gằn; chốc chốc một cơn gió là là mặt đất chạy qua, cửa hang bỗng
gầm rít lên một cách giận dữ.
Gần làng kia thuộc châu
Kao Lâm có một cái suối chảy đến. Suốt phát nguyên từ Văn Dú và chạy ngang mặt
đông bắc quả núi, là phía hang Thần trông ra. Như thế là một sự nguy khốn cho
làng ấy. Đã có một hồi, muốn phòng những tai nạn, người ta đặt ra lệ tế thần
Văn Dú hàng năm. Vật hy sinh là một người con gái đẹp. Tiếng oán khóc của các
cha mẹ những người gái trinh bị giết quăng xuống suối nghe bi thảm đầy trời đất,
nhưng không hề cảm được lòng những dân làng độc ác vì ngu dại kia.
May sao được mấy năm
sau, có một ông quan trấn người Kinh nghiêm cấm không cho giết người như thế nữa.
Về sau họ thấy trong
châu động dữ và đã mấy phen toan giữ lại lệ xưa nhưng đều không thành.
Đường quanh co ở giữa hai bên rừng núi phần nhiều là hẹp và
xấu lắm, chúng tôi phải cho ngựa dàn hàng một tiến lên.
Ở Pakha, chỗ nghỉ sau cùng tới đây, từ mười hai giờ trưa đến
bây giờ gần sáu giờ chiều, mà chỉ đi được chừng ba mươi cây số. Hồi ấy vào trung
tuần tháng 2. Trời về tiết xuân, nhưng gặp được lúc ấy cùng ấm áp dễ chịu.
Chúng tôi dừng ngựa lại trước một cái nhà lều rộng lớn, làm
trên một khoảng đất san phẳng, lấn vào khu rừng phía tay trái độ bốn năm sào. Lều
dựng theo lối ta, mái lợp tranh, ba phía vách bằng phên nứa hãy còn xanh tươi;
cửa cũng bằng phên, nhưng đan chưa xong, còn đặt dưới đất. Chỗ này dựng lên để
cho những người đi xa nghỉ chân và nhân thể cho bọn người Thổ săn bắn ở vùng
này làm nơi tạm trú. Cái lều cao rộng hơn nhà ta ở nhiều lắm, nhưng trống hơn,
không có bầy biện gì. Ở mặt đất giữa lều, chỉ thấy một đống củi gỗ dấm, một tia
khói đưa lên thong thả, với năm ba chiếc ghế thấp vứt bỏ chung quanh. Áp theo cả
chiều dài bức vách trong cùng và bức vách phía trái, còn có một thứ tầng cũng
đan bằng nứa, rộng ngót một thước tây, cao lên tới ngực, buộc vào những cột chống
là mấy khúc cây nhỏ mới đẵn về. Thấy có hai người Thổ đang thõng chân nằm ngủ ở
trên, tôi đoán đó là một thứ chõng hay một thứ giường phên mới ứng chế.
Gởi người buộc ngựa rồi, chúng tôi vào lều giở bánh tây,
cơm nắm, lạp sường và giò chả ra ăn với nhau. Trong lều không có đèn, chúng tôi
ngồi quây lấy đống củi bấy giờ đã thổi cháy to lên cho sáng. Những chuyện Mán
Thổ núi rừng tất nhiên được dịp đem ra nói. Người thì khoe những cảnh lạ, những
điều kỳ quái ghê sợ mà mình đã trải qua; người thì thuật những phen thập tử nhất
sinh ở chốn ma thiếng nước độc; nhưng đậm đà nhất là chuyện trăng gió đường rừng,
những chuyện hát đúm ở các chợ phiên. Mỗi người đều có một chuyện "tìm hoa"
trong làng để nhắc lại.
Nhân đó một người bạn kể cho tôi nghe những bước phiêu lưu
của một người đàn ông mà thỉnh thoảng tôi được gặp trong cái thì giờ đứng uống
bát nước ở một hàng quán. Ông này là người Kinh, nhưng nét mặt với tiếng nói
thì y như người Thổ; vóc trông đẫy đà lực lưỡng, bao giờ cũng mặc một bộ quần
áo bằng vải ka-ki. Ông ta rất táo tợn; trong bọn đi rừng đến cả người Thổ cũng
phục ông ta là người thạo và xông pha nhất. Họ gọi ông là Ba-đi-ghệt nhưng cái
sính đi ghệt ông ta đã bỏ, chỉ còn lưu lại cái tên hiệu thôi - Ông Ba chẳng ở
lâu được một chỗ nào; gặp việc gì ở đâu cũng nhận làm ngay, thấy cái gì cũng
buôn: gỗ, vải vóc, thuốc phiện lậu, xương hùm, nấm hương, nhung hươu, đủ mọi thứ.
Có một điều ai cũng chú ý nhất mà ông vẫn đem khoe với bất kỳ người nào muốn
nghe chuyện, là đến đâu, ở đâu ông ta cũng tìm được một người con gái kết duyên
hờ với mình. ở với nhau được ít ngày rồi một hôm, người con gái Thổ thấy ông ta
đi không bao giờ trở về nữa. Tôi chưa ngồi nói chuyện với ông Ba-đi-ghệt bao giờ
nên không biết rõ tâm địa của người đàn ông ấy. Nhưng tôi xem ra thì không mấy
người ưa. Họ bảo rằng ông ta bạo dạn thì không ai hơn, nhưng mà giảo quyệt nham
hiểm cũng không ai bằng nữa.
Ăn uống xong, tôi để các bạn ngồi đó, rải áo khoác lên chiếc
chõng bên cạnh một cái cửa sổ mắt cáo rồi nhẩy lên ngả lưng. Tôi duỗi thẳng
chân ra nằm, vươn vai mà thở một hơi thực dài đuổi hết những cái mệt nhọc nặng
nề từ trước. Không gì khoái bằng được nghỉ ngơi sau một cuộc treo non lội suối
đường trường.
Hai người Thổ vẫn ngủ say, tiếng ngáy rờn rợn. Các bạn đi
đường thì bàn nhau vào ngủ trong làng, nhân tiện để tìm mấy đoá hoa rừng. Hôm ấy
có cuộc hát thi, vì gặp ngày làng mở hội.
Tôi lẳng lặng nhắm mắt không trả lời ai hết, vì tôi không
muốn theo họ và để phí mất lúc khoan khoái dễ chịu bấy giờ. Tâm hồn tôi thấy
bâng khuâng như nằm ở trên mây, trí tưởng tượng chập chờn... rồi giấc ngủ dịu
dàng dần tới.
Tôi mở mắt ra thì trăng xuyên qua khung cửa sổ mắt cáo đã đặt
trên mình tôi những mảng sáng vuông nhỏ. Bấy giờ có lẽ đã nửa đêm, hai người Thổ
không còn ngủ gần tôi, mà các bạn người Kinh cũng đi cả.
Tôi không muốn ngồi dậy, cứ để nguyên giầy mà nằm yên đó,
hai mắt lim dim.
Nhưng tôi không buồn ngủ thêm nữa.
Trong mình thấy tỉnh táo vui lắm. Huyết mạch lưu thông như
gió thổi; tôi tưởng chừng có thứ thuốc tiên trong thân thể, khiến cho người tôi
bỗng chốc thành khinh khoái như bay...
Tôi lắng tai nghe, một dải suối róc rách ở gần, tiếng sóng
như thuỷ tinh reo vào trong thứ giọng rù rì tối tăm của những côn trùng dưới cỏ.
Sau lều thì khu rừng cây yên lặng như ngủ kỹ, nhưng ở trong đưa những tiếng bí
mật, khiến cho mình cảm thấy được cái sinh hoạt của nó trong lúc đêm khuya. Một
con hươu đang ngẩn ngơ nhìn cái lều vắng không. Những tiếng rất nhẹ của con sóc
chạy trên cành; những tiếng lá cựa dưới mình một con vật đang nằm, một tiếng vỗ
cánh nặng nề của con chim lớn. Từng trận gió thổi qua, một loạt lá rơi rào rạt,
rồi tát cả lại im lặng như ngóng đợi, như nín hơi. Xa xa, rõ thực xa, giọng
thác ào ào, để ý thì mỗi lúc thấy gần thêm, rồi lại xa dần, rồi lại như biến mất.
Có khi nghe như tiếng muôn nghìn người ồn ào đưa từ đâu tới; phảng phất trong
trí não tôi hình dung ra cảnh chợ búa xe pháo ở chốn thị thành.
Tôi cứ nằm đó nghe hoài. Nghe càng lâu muôn tiếng càng hỗn
độn. Sau cùng thành một thứ giọng rì rào mờ ám mỗi khắc một nhạt dần.
Thần trí lại chịu một sức thôi miên ma tuý đưa lại đâu từ
chốn bồng lai. Văng vẳng trên không, chỉ còn những tiếng nhạc gần rồi lại xa, với
những hơi sáo rất nhỏ, rất trong và cao tít.
Bỗng đâu, một cơn gió lạnh thổi qua làm tôi hơi rùng mình.
Tôi thở dài rồi hé mắt; trên lông mi những phấn bụi ánh sáng đang nhẩy nhót rập
rờn. Tôi lại thấy như không phải nằm đó một mình... Hình như có ai đứng bên
tôi. Mà "ai" đó hình như là một người thiếu nữ. Tôi chức đó chỉ là
hình ảnh của sự mơ màng thôi, nên cứ lặng yên, bỗng thấy một bàn tay, một bàn
tay nhỏ bé dịu dàng, êm ái để lên vai tôi:
- Đêm trăng sáng đẹp như thế này mà không đi nghe hát một
lúc chơi, lại nằm đây ngủ!...
Câu nói tiếng Thổ, giọng dẻo dang trong trẻo nghe rất hay.
Chưa nhìn cũng chắc người đứng đó là đẹp lắm. Tay người thiếu nữ lại lay tôi lần
nữa.
Tôi mở hẳn mắ nhìn thì cô ta nhoẻn miệng cười:
- Đi dậy đi anh. Dậy đi chơi một tí!
Cô ta đứng trước cái cửa sổ vách liếp và ngảnh mặt ra phía
rừng. Người trạc mười chín, hai mươi, hai mắt tinh anh, đẹp lạ thường, đôi má đầy,
mơn mởn đào non, nhỏ và mướt.
Trời ơi! Con gái thổ mà có người nhan sắc đến thế này ư?
Tôi mơ hay tỉnh?
Truyện Con châu chấu
tre cũng là một truyện hay. Truyện dựng lên một vụ án mạng đầy bí ẩn mà đến cả
cậu bé chứng kiến sự rùng rợn ấy cũng cho là bí hiểm, ma quái. Thế nhưng, khi
màn sương huyền ảo được chính cậu bé nhà quê ấy phát hiện ra, rằng cái chết của
người đàn ông là một tai nạn không may do chính ông ta tự gây nên thì người ta
lại không tin, lại vẫn cho rằng có yếu tố ma quái trong đó. Thì ra, cái ấn định
về sự rùng rợn, kinh hãi không thuộc về thế giới dương gian vẫn luôn làm người
ta khiếp sợ. Và những chuyện khiếp sợ như vậy đi vào văn chương lại muôn đời
khiến độc giả say mê mới lạ kỳ.
Vàng và máu
Top of Form
1919-1926 Vieillard annamite entouré de sa fille et de ses petits enfants
CON CHÂU CHẤU TRE
Bottom of Form
Quá trưa hôm đó, thằng
cu Tân con ông lý Bằng mặc áo cộc trắng quần đùi nâu, đi thơ thẩn trong làng.
Nó là một đứa trẻ tươi cười nhanh nhẹn, mà nay sao lại rầu thế kia ? Là vì nó
không tìm được ai chơi với.
Ở nhà, thầy u nó đi vắng,
em bé ngủ trên cái võng đu cót két, vú già vừa ngủ gật vừa nghêu ngao ru; trong
lúc ấy thì tiếng mọt cứ gậm mãi chân bàn thờ, và tiếng trang cứ lê hoài trên lớp
thóc phơi ngoài sân: cái gì nghe cũng buồn tênh, cũng chán ngắt. Nó đã ra đình
chơi: ngoài hiên đình, hai người đàn ông phơi bụng ra ngáy ở một góc chiếu;
trên cây soan tây hoa đỏ sặc sở tiếng ve cứ réo rắt gào trong ánh nắng ngày hè
gay gắt. Nó đến nhà thằng Tý con ông Hương, nhưng thằng Tý phải đi chăn trâu
thay cho thằng Cam; mà nhà ông Hương chỉ có người lớn thôi, nó không chơi được
với ai hết.
Cả làng đều vắng yên
một cách nặng nề đè nén, không khí thì oi ả và chói lòa. Cái vẻ tịch mịch của một
buổi trưa mùa hè, cùng với cái buồn của đứa trẻ như kéo dài ra... Thỉnh thoảng
một cơn gió nồng nao nao ồ đến, làm cho những dặng cây tre lá sắc, thở dài lên
những tiếng khô khan.
Chúng tôi tất cả có
tám người, họp nhau ở nhà anh Đình, một cái nhà gạch hai tầng ở gần vùng quê,
chung quanh toàn ruộng vườn mênh mông và những ao chuôm đang lấp dở. Nhà này
ngoảnh mặt ra con đường đá nhỏ; Bên kia đường là một rặng dâu cằn cỗi; Sau vườn
dâu, có một nhà lá lụp xụp, vắng vẻ như không bao giờ có người.
Chỗ nào cũng như bỏ
hoang, cả đến cái nhà chúng tôi đang họp cũng thế. Anh Đình thì chỉ ở trên gác.
Tầng dưới không có ai thuê. Nếu chúng tôi không mkê lại cái phản gãy chân với
đem mấy cái bàn ghế của anh Đình xuống thì dưới nhà không có chỗ nào ngồi. Một
cái đèn vách treo trên tường, lại phải thêm hai cây nến nữa mới đủ sáng. Lúc ấy
đã mười giờ rưỡi. Cửa ngoài và cửa sổ hai bên đều khép, chỉ để ngỏ cái cửa sổ
trông vào sân sau.
Năm ấy, tỉnh Hồ Bắc phải chịu một nạn đói ghê gớm, đấy là một thiên tai tệ hại nhất, trong số ba “nạn giời” mà các nhà du lịch thường vẫn nói: nước Tầu thường vẫn bị đe dọa luôn luôn bởi nạn thủy lao của sông Hoàng Hà, nạn dịch tả và nạn đói!
Thì năm đói ấy, tỉnh Hồ Bắc gặp nạn trầm trọng hơn cả. Toàn dân trong tỉnh phải ăn rau, ăn củ và trừ những trường hợp bất thường lắm, người ta mới dám dùng đến gạo, coi như quý chẳng kém gì châu bảo.
Khổ nhất là những người già nua tuổi tác, rụng răng, trơ lợi mà phải cố nhai những thứ rễ cây rắn như đá. Mà khổ hơn nữa, lại là lão già họ Phương.
Người ta thường vẫn gọi lão là Phương ngũ gia vì họ chỉ biết lão họ Phương và là con thứ năm trong nhà thì phải. Lão đến tỉnh Hồ Bắc này đã lâu lắm. Và cùng đến với lão là tất cả những sự chém giết gớm ghê. Vì lão chính là một tên giang hồ luân lạc, khó biết được rằng hắn đã làm tướng cướp hùng cứ những phương nào hoặc đã chịu bao nhiêu án đi đầy biệt xứ? Người ta chỉ biết rằng ngày ấy, giữa mấy huyện giáp giới địa đầu Hồ Bắc có những vụ tranh chấp đất đai ghê gớm lắm. Dân chúng đã kiện nhau chán chê, đã chửi rủa nhau hết lời và chỉ còn độc một phương cách giải quyết vấn đề tương tranh này bằng võ lực, lẽ phải tự muôn đời bao giờ cũng thuộc về phần kẻ khỏe.
Dân chúng từng cá nhân trong địa phương đánh nhau chán, lại rủ từng bè lũ gây hấn, kết quả chẳng bên nào là khỏi bị thiệt hại: kẻ bị thương, người mất mạng… Và khi đã đem ra tranh chọi hết kẻ tài ba hẳn chúng lại đi tìm kiếm những tay giang hồ võ sĩ tứ phương về đàn áp nhau, các cuộc đấu tranh mỗi lúc một thêm lớn và lan rộng…
Phương ngũ gia đến Hồ Bắc chính là vào dịp cuối cùng của cuộc hiềm khích lưu huyết này. Lão đến cùng dăm tên thủ hạ, đứa nào cũng mạnh khỏe gan dạ, thân đầy chạm trổ, đầu mặt đầy vết sẹo.
Chúng đến là do dân huyện Thanh Kỳ mời về, để đối phó với bọn giặc Ngọa long cương ghê gớm, có tài dùng dao tẩm thuốc, phóng ra trăm phát không sai một. Rồi cuộc thách thử khiêu khích bắt đầu. Bọn sáu thầy trò Phương ngũ gia há phải là những người sợ chết. Họ coi thường lưỡi dao tẩm thuốc của lũ giặc Ngọa long cương cũng như họ đã coi thường dao kiếm lợi hại của anh hùng trong thiên hạ.
Cuộc giao đấu thực là gay go. Trước tiên, họ còn biểu diễn các món tài nghệ để dọa dẫm nhau hòng đối phương thấy ghê gớm mà tự xin rút lui một cách hòa bình, trật tự. Nhưng rồi sau, bên tám lạng kẻ nửa cân, chẳng ai chịu phục ai và những trận tỉ thí bắt đầu. Họ đánh nhau đây mục đích chính chỉ là vì tiền. Nhưng họ cũng thi thố tài năng để bảo toàn danh dự. Bởi vậy cho nên mỗi một đường quyền, lưỡi kiếm của họ là một mong muốn cho địch thủ phải bại vong dù có phải chính mình thiệt mạng. Bên này có kẻ chết thì rồi bên kia cũng có kẻ thở hơi cuối cùng! Và kết cuộc thì đôi bên không còn một người nào, riêng chỉ có còn lại trơ độc một lão già họ Phương với một vết thương của dao tẩm thuốc ở trên cánh tay phải.
Đồng bọn đã mạng vong, cuộc giao tranh giữa hai địa phương hiềm khích cũng tạm thời đình chỉ… Phương ngũ gia chán nản trước cuộc kết liễu đau đớn của mình, đành ở lại đây để chữa thuốc. Cánh tay phải của lão từ nay thành ra tê liệt, cái danh tiếng bách chiến bách thắng từ thời xưa đến nay không còn đem ra dùng được việc nữa.
Con hổ xám dữ tợn của rừng thiêng từ nay đành thúc thủ ở một huyện nhỏ, với cái nghề chỉ dẫn cho dân làng tập luyện vũ nghệ. Phương ngũ lão, cũng không thể làm được một võ sư nữa, vì cánh tay bị tê liệt hẳn rồi, còn có thể biểu diễn - phải, chỉ biểu diễn thôi - quyền thuật được nữa đâu!
Nhưng thời bình trở lại, võ nghệ đối với dân làng cũng không cần thiết cho lắm nữa, người ta đua nhau học hành văn chương thi phú, và những kẻ dùng đến võ biền không ngoài mấy bọn tuần đinh có nhiệm vụ canh gác cho dân hàng huyện.
Danh vọng của Phương ngũ lão vì thế cũng mỗi ngày một xuống. Nhưng lão không phải vì thế mà không đủ sinh nhai… Lão còn có một nghề nữa mà mỗi khi ta dùng đến thì lại thuê tiền bạc lão, một số tiền lớn khả dĩ có thể chi dùng hàng năm sáu tháng.
Trước mặt
hắn là cả một bộ “đồ lề” của họa sĩ nếu chúng ta không muốn làm mếch lòng hắn
mà mệnh danh cho hắn một cách nôm na là… anh thợ vẽ! Điều này, đối với hắn,
quan trọng lắm, vì sự thực, hắn có quyền được ngồi vào chiếu nghệ sĩ như ai!
Mặc dầu,
bây giờ, hắn chỉ là một anh thợ vẽ chuyên môn vẽ hổ, cái thứ hổ thờ mà người ta
vẽ rất nhiều trong dịp Tết!
Hắn nguệch
ngoạc mấy nét vào bộ ria của ông ba mươi trước mặt, rồi bỗng quăng bút mà bảo
tôi rằng:
- Không
hiểu có phải là vì tất niên năm Hổ mà cái món hàng Hổ cuối năm nay, nghe chừng
chạy lắm! Trong mấy phiên chợ Tết, có lẽ tôi vẽ đến hơn trăm ông rồi, thôi thì
đủ các mầu sắc: bạch hổ, thanh hổ, hoàng hổ và… vân vân hổ!
Sẽ nhún
vai, hắn lạnh lùng tiếp:
- Thôi,
nhỡ thời thì phải chiều thời, qua đình làng nào, thì ta chào đình làng ấy vậy.
Bây giờ làm cái nghề vẽ hổ, đối với khách hàng, tôi phải hết sức cung kính mà gọi
là các ngài chứ thời xưa chính các ngài ấy bằng xương và bằng thịt, tôi cũng chỉ
coi là muỗi tép!
Hắn có một
cái nhìn mơ mộng, xa xôi và giọng nói nhẹ nhàng như giọng nói một cô con gái,
đượm chút buồn rầu.