Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Ngọc Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Ngọc Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

Người đàn bà của gió mưa

 

Người đàn bà của gió mưa

Phạm Ngọc Tiến- (Rút từ tập “Chân dung của ruợu”)

 

 

I

Nghiệp văn chương của tôi bắt đầu từ ruợu. Tôi đến với văn chương khá muộn, ba mươi tuổi mới viết truyện ngắn đầu tiên in ở báo “Người Hà Nội” năm 1985 nhưng ruợu thì đã phải đến chục năm thâm niên có lẻ. Tại sao lại bắt đầu từ rượu?  Hình như mỗi một nhà văn biết uống ruợu thì đó là động lực chủ yếu mà nguồn cơn chính là để giải tỏa sự bế tắc của mình. Với tôi cả ruợu và văn đều có tác dụng như nhau. Những ngày tháng đó dù đã cố thử nhiều nghề nhưng tôi không tài nào thích nghi nổi đành tìm đến văn chương trong một trạng thái tuyệt vọng đầy kích thích của…ruợu. Sau này khi ngày một trưởng thành lên trên con đường văn nghiệp, đến với bạn bè văn chương nghệ thuật thì tất thảy ruợu đều là chất xúc tác đưa tôi đến với họ và ngược lại. Trong số đó Thùy Linh là một người bạn đặc biệt.

 

Nhà văn Thùy Linh

Không chỉ là người bạn “ruợu” đàn bà duy nhất, người gây ảnh hưởng và cảm hứng sáng tạo từ truyện ngắn xúc động “Mặt trời bé con của tôi”, Thùy Linh còn là người có những tác động quyết định đến những ngả rẽ sự nghiệp của tôi ở cả văn lẫn ruợu. Lẽ đương nhiên đó là một “tửu đồ” chính hiệu. Thùy Linh là một “người đàn bà ruợu”, một người bạn chân thành, tôi phải cảm ơn số phận đã mang đến cho tôi sự may mắn không dễ gặp trên đời này.

 

Bây giờ, tôi và Linh đã có hơn chục năm gắn bó với nhau trong công việc làm phim ở Đài truyền hình Việt Nam. Hai người với một căn phòng cả ngày hè nóng nực hay tiết đông căm căm đều đóng cửa im ỉm, hoặc là những cái bóng lặng lẽ, hoặc náo nhiệt ồn ào đến tung trời nổ đất thì tôi và Linh vẫn vậy, một đàn ông, một đàn bà hầu như quên mất giới tính, tuổi tác, ngày này, tháng khác đằng đẵng cùng một công việc vun vén chăm chút cho những kịch bản phim đủ loại. Nhiều lúc tôi tự hỏi, điều gì đã gắn hai chúng tôi có thể làm chung một công việc với khoảng thời gian dài như vậy? Có lẽ đó là một cơ duyên thì phải. Bắt đầu từ truyện ngắn “Mặt trời bé con của tôi”.

 

Đó là năm 1985. Cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ khép lại có hậu bằng sự xuất hiện của một loạt tên tuổi văn chương sau này. Hồ Anh Thái và Thuỳ Linh là hai cái tên ấn tượng nhất lúc đó. Truyện của Linh đoạt giải nhất cuộc thi. Bấy giờ tôi mới tập tọc viết lách nên đọc gần như là đam mê văn chương duy nhất. Tôi đọc như điên như dại hầu như không bỏ sót bất cứ một cái truyện ngắn nào in ra. Phải công nhận lứa tác giả hồi đấy cho ra đời những truyện ngắn rất đỗi xinh xẻo không dữ dội như một loạt truyện ngắn đổi mới sau này (Tướng về hưu- Nguyễn Huy Thiệp, Bước qua lời nguyền- Tạ Duy Anh…) nhưng lại đầy ma lực vừa quyến rũ say đắm vừa nao nức tình người, tình đời. Khó quên được cảm giác khi đọc “Mặt trời bé con của tôi”, một câu chuyện hoàn hảo nhưng dung dị đến độ không thể dung dị hơn và tình người thì thấm đẫm từng câu từng chữ. Có một điều kỳ lạ ở tôi khi đọc truyện ngắn này, ngoài xúc cảm thông thường như những độc giả khác trong tôi xuất hiện thứ tư duy hình ảnh vô cùng sắc nét, điều mà rất lâu sau này khi đã làm công việc của một biên kịch thực thụ tôi vẫn phải khổ luyện mới duy trì được nó. Lúc ấy hiện ra trong khoé mắt nhoè lệ của tôi là hình hài cậu bé Nguyên và cô gái tác giả cô đơn nhân hậu. Hình thành trong tôi sự phân thân dữ dội, một nửa tôi là cậu bé Nguyên nghèo khó nhưng không cam chịu số phận, không chấp nhận sự hèn mọn gắng gượng vươn lên làm người tử tế, nửa khác tôi là cô gái giầu lòng trắc ẩn nhưng đơn độc cố bám víu vào cuộc đời đầy bất trắc để tồn tại. Cũng phải nói thêm bấy giờ sau gần chục năm rời áo lính tôi vẫn là thằng trai độc thân chất chưởng luôn dìm mình vào bể rượu chưa tìm ra được một phương kế mưu sinh khả dĩ đúng với những gì mình có. Những cảm giác của tôi cũng như thứ tư duy hình ảnh lạ lùng kia không ngờ lại là khởi đầu cho mối lương duyên giữa tôi và Linh suốt cả một thời gian dài sau đó. Không chỉ mình tôi, đạo diễn NSND Khải Hưng cũng tìm thấy mình trong truyện ngắn này. Ông đã làm bộ phim đầu tiên của mình (có lẽ đó cũng là bộ phim đầu tiên của công nghệ phim truyền hình Việt Nam) từ “Mặt trời bé con của tôi”. Cái duyên chứ không phải số phận đã run rủi chúng tôi đến với nhau chung lưng đấu cật nếm trải mọi vui buồn sướng khổ trong hành trình cam go của một chặng đường dài của cả đời lẫn nghề. Nhưng đó là chuyện sau này còn lúc đó…

 

Họ đã trở thành đàn ông

Truyện ngắn “Họ đã trở thành đàn ông” của nhà văn Phạm Ngọc Tiến là một câu chuyện chiến tranh, kể về một nữ thanh niên xung phong ở một binh trạm. Điều day dứt và ám ảnh chúng ta chính là sự giằng xé nội tâm nhân vật này khi cô không dám trao thân gửi phận cho người yêu trước khi anh vào mặt trận. Cô đấu tranh với anh, với chính cô để giữ gìn đến ngày cưới. Nhưng, oái ăm thay, cay đắng thay, người lính ấy đã hy sinh, người yêu cô đã nằm lại chiến trường với lời hứa không bao giờ thực hiện được nữa. Cô đau đớn, ân hận, giằng xé tâm can. Và cũng từ đó, nơi chiến trường ác liệt, cô thay đổi. Cô chứng kiến những người lính trẻ măng tơ chưa biết sự đời là gì vì chưa trở thành đàn ông. Họ ra trận và sẽ không bao giờ trở lại. Họ đi vào cái chết một cách trinh trắng. Cô nghĩ, hãy cho họ trở thành đàn ông trước khi vào trận. Dẫu có hy sinh, cũng với tư thế một người đàn ông. Và từ đó, đêm đêm, cô trao tình thương cho các chàng lính trẻ. Ngày qua ngày, làm sao kể hết được bao nhiêu đêm, bao nhiêu lần, bao nhiêu chàng trai được hưởng tình yêu thương, hiến dâng của cô, và họ đã trở thành đàn ông như thế. Tứ truyện lạ, ấn tượng nhưng cứ băn khoăn day dứt. Người phụ nữ Việt Nam có truyền thống “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”, vì đó mà hạnh phúc. Vì đó mà bất hạnh đau khổ nếu bị mất đi. Nhưng chiến tranh, giữa sự sống và cái chết, giữa còn và mất, người phụ nữ đã chọn cách hy sinh, là dâng hiến. (Lời bình của BTV Vân Khánh)

Họ đã trở thành đàn ông 

(Truyện ngắn)


Trời mưa tầm tã hoàn lưu bão đang ngồi soát lại tập truyện ngắn Họ đã trở thành đàn ông vừa tái bản. Thấy vân vi vì có một số lỗi chính tả mà chịu không còn cách sửa. Chợt con gái lớn vào bảo bố chuẩn bị cuối năm con cưới.

Thì cưới chứ sao con gái hai bốn tuổi rồi, ra trường rồi làm cô giáo rồi. Chợt khững lại khi trên tay là dòng mở đầu cái truyện ngắn này. Cô sinh viên Phạm Vân Ngọc trong truyện là tên con gái lúc đó mới 4 tuổi. Ra thế dạo đó mơ ước con mình sau này vào học khoa văn trường Tổng hợp nhưng lớn lên nó lại không chọn ngành văn và học trường Sư phạm. Truyện viết năm 1991. Bây giờ là 2011. Đã 20 năm. Chiến tranh lùi còn xa hơn thế. Và mình cũng bắt đầu già. Thấy xốn xang tâm trạng. Bất chợt nghĩ phải viết được cái gì đó về những ngày đã lùi xa kia. Phải viết. Post lại cái truyện ngắn mà mình thích nhất này dù nó đã có trong blog để khẳng định quyết tâm phải viết. Đây là lần cuối cùng cho đăng lại những cái gì đã cũ. Lần cuối cùng !


Họ đã trở thành đàn ông

I

Tiếng người dẫn chương trình rành rọt vang trên loa phóng thanh:

– Sinh viên năm thứ tư khoa Văn trường đại học X, Phạm Vân Ngọc với tham luận: “Sự hy sinh – Những giá trị đích thực của nó thông qua số phận người phụ nữ trong chiến tranh giữ nước.”.

Đã gần hết giờ buổi sáng của hội thảo khoa học sinh viên khoa Văn các trường đại học. Hội trường ồ lên – Lại chiến tranh, đây có phải văn đàn đâu, lật xới làm gì mảng hiện thực cũ mèm ấy – Rách việc thế, chiến tranh thì  can hệ gì đến hội thảo khoa học này – Mà biết quái gì về chiến tranh – Nữ sinh Vân Ngọc thoáng chút ngập ngừng. Rồi cô mạnh dạn từng bước một, đĩnh đạc tiến lên bục diễn đàn. Dáng vẻ dứt khoát ấy, cộng vào tà áo dài trắng tha thướt và một khuôn mặt đẹp dịu dàng, bất ngờ làm hội trường ồn ã ắng đi. Bằng giọng run run, cô trình bày quan điểm của mình dựa trên các luận cứ khoa học đã được thử thách và một loạt dẫn chứng minh họa. Tham luật rất ngắn. Thoạt đầu chẳng có gì đáng nói. Hội trường im lặng. Thứ im lặng miễn cưỡng và có phần thờ ơ. Vấn đề không mới. Sự hy sinh ấy thời gian đã nghiền ngẫm nó đầy đủ. Chỉ đến phần cuối cùng của tham luận, nữ sinh đặt vấn đề trên nền một dẫn chứng cá biệt, lạ lẫm thì hội trường hoàn toàn sôi động. Có mặt ở cuộc hội thảo, ngoại trừ số ít các nhà văn, nhà lý luận nghiên cứu và giảng dạy văn học, còn đa phần là sinh viên. Cô ta nói gì thế nhỉ? Hơn một nửa số người có mặt rầm lên phản đối. Tham luận kết thúc trong tiếng bàn tán, bất bình. Cô gái sững sờ. Mặt cô từ đỏ bừng chuyển sang trắng bệnh. Phản ứng mạnh mẽ và đột ngột của người nghe khiến cô chôn chân, chết lặng. Phải đến mấy giây cô mới bừng tỉnh được. Giọng nói ai đó căng như loạt liên thanh quất mạnh vào khuôn mặt đang ngơ ngác của cô: “Đảo lộn mọi giá trị. Không cần sự hy sinh nhơ nhuốc ấy. Điên!”. Cô gái rùng rùng người đổ sập xuống. Một tích tắc. Cô bật dậy cũng rất nhanh, ào chạy khỏi hội trường. Vấp. Ngã. Lại vấp. Hội trường ắng đi, ngột ngạt. Không đành được, tôi băng theo. Có một cái gì đó ào ụp trên khuôn mặt ngây thơ của cô gái. Cô lau thật nhanh những giọt nước mắt đang ứa ra. Khoảnh khắc. Giọng cô gấp gáp:

– Chú! Chú từng là người lính, từng cầm bút. Chú trả lời cháu đi. Chiến tranh đã lâu đâu sao mọi người quên nó nhanh đến vậy? Tại sao không chấp nhận sự hy sinh nhiều thua thiệt ấy? Đạo lý ư, chiến tranh mà, tại sao lại coi điều đó làm hoen ố chiến thắng? Trả lời cháu đi, kìa chú!

Im lặng.

– Cha cháu là một trong những người đã trở thành đàn ông khi đi qua cuộc đời cô ấy. Chú đã biết đến điều đó. Sao chú vẫn im lặng. Chú cần phải biết thêm điều này. Mỗi khi gặp khó khăn tưởng chừng phải gục ngã, bao giờ cha cháu cũng gượng dậy bằng được. Vì cái gì? Chính vì người đàn bà năm trước. Cho dù thời gian có qua đi, nhân cách của cô ấy không hề bị hoen ố.

Im lặng.

– Tại sao thế? Không! Không! Chú trả lời cháu đi. Đừng im lặng, chú. Cháu van chú. Sao? Chú nhẫn tâm thế. Độc ác!

Im lặng.

Tôi siết chặt tay cô gái. Bằng một sức mạnh của sự đổ vỡ, cô vằng khỏi tay tôi và vùng chạy thật nhanh. Tôi đứng lặng. Loa phóng thanh lại vang rành rọt:

– Sinh viên năm thứ tư trường đại học Z Nguyễn Trung Hiếu với tham luận: “Thi pháp ảo trong thơ điên của Hàn Mạc Tử”.

Thằng mõ trâu

Có một lần, đâu như khoảng năm 2000 gì đó tôi được một người bạn mời xuống Hải Phòng dự hội chọi trâu. Đó là lần đầu tiên và duy nhất tôi vào xem sới chọi. Ám ảnh khủng khiếp. Khán đài chật người. Từng cặp trâu chọi có đánh số có lí lịch cả trâu lẫn chủ vào sới đấu. Chúng được cởi sẽo dây buộc và ngay lập tức lao vào nhau với tốc độ kinh hoàng. Đa phần là sự giằng co dẫn đến thua thắng nhưng cũng có cặp cả hai con va nhau mạnh đến mức chết ngay tại chỗ phải kéo ra khỏi sới đấu.Sự ám ảnh đó thôi thúc tôi phải viết một cái gì đấy về chuyện này và tôi tình cờ quen được người nuôi trâu chọi. Đó chính là nhân vật Tu trong truyện ngắn. Tôi theo Tu về nhà tìm hiểu mọi cách thức nuôi và luyện trâu. Bám theo nhân vật Tu tôi chợt phát hiện ra sự thật còn kinh hoàng hơn, đó là không chỉ trâu chọi mà là một đám con bạc cuồng khát xung quanh sự thắng thua của trâu. Nhiều bi kịch đã xảy ra từ đây.

Nhân vật Tu của tôi trắng tay sau một canh bạc lớn bị bại trận. Và thế là tôi viết...

                                                                                 Nhà văn PHẠM NGỌC TIẾN

Các bác có biết thịt trâu chọi ngon nhất thứ gì không? Mà này phải gọi là ông trâu đấy nhá, có thế mới thiêng, mới thành. Ngon nhất, bổ nhất là dái, tinh lực của “ông” trâu dồn cả vào đấy các bác ạ! Kế đó là bộ vó, lúc “ông” trâu xung trận, khí huyết dồn tụ xuống dưới, ngon lắm. Còn ba cái thứ thịt bắp này, cũng được nhưng phải biết làm.

Miệng nói, tay khua, gã làm cả mâm nhậu của chúng tôi ngơ ngác hết lượt. Hôm đó, một người bạn văn ở Hải Phòng, nhân hội chọi trâu, đãi chúng tôi món thịt trâu chọi ngay tại một quán ăn sát biển Đồ Sơn. Nãy giờ không ai để ý đến gã. Quán vắng, gã ngủ gục ở một chiếc bàn gần đó. Có lẽ vì cánh chúng tôi to tiếng bàn luận món ẩm thực lạ lùng độc nhất vô nhị này, khiến gã động nhĩ chăng?

Đúng vậy, gã gắp một miếng thịt sống đã ướp gia vị, đưa lên ngửi, vứt toẹt xuống, mũi nhăn lại, miệng phán xanh rờn:
- Rởm?
- Hả?
Anh bạn Hải Phòng bật lên hỏi. Gã vẫn điềm nhiên:
- Đây là thịt rởm! Thịt trâu cày, đám con buôn độn vào bịp các bác. Mua ngoài chợ chứ gì? Hố mất mấy lần tiền rồi.

Bạn tôi ngồi ngay đơ không nói thêm được một tiếng. Chủ quán ăn đứng kề bên gật gù xác nhận:
- Tôi ngờ ngợ không rõ thực hư nên không dám nói. Anh Tu đây, dân chơi trâu chọi cự phách, nói không sai đâu.
Mặt gã vẫn tỉnh bơ, tay quào quào, bới đĩa thịt:
- Nghe các bác nói, em biết ngay mà. “Ông” trâu cuối cùng hóa tận từ tối hôm qua. Nhưng không sao, cho chục lòng đỏ trứng gà đi.

Như thể gã mới là chủ tiệc. Gã quấy đều bát lòng đỏ trứng, giật điếu thuốc từ miệng tôi, rít mạnh một hơi dài rồi lại cắm trả:
- Thịt trâu các bác ăn nướng thì còn đếch gì thú. Dai ngoách! Cho chảo mỡ ra đây! Khẩn trương!
Gã dùng đũa ném thịt trâu ướp vào bát trứng. Sau đó đợi chảo mỡ sôi, gã liên tục tương thịt trâu đã ướp trứng vào chảo. Xèo xèo, mù mịt khói mỡ, lừng lựng hương vị thơm lạ, xộc tràn khứu giác.
- Kìa, các bác ăn đi. Nóng sốt mới ngon. Sang năm, muốn xơi thịt trâu chọi phải xuống sớm, phải có thổ công, đảm bảo với các bác đã ăn, nghiện đếch dứt được.

Sang năm, sang năm nữa, tôi đều đặn ra Đồ Sơn. Quả thật, thịt trâu chọi ngon khó lòng quên, nhưng sức hút tôi đến với miền đất đó với dịp lễ hội chọi trâu vào ngày mồng chín tháng tám âm lịch hằng năm, không phải từ thú ẩm thực này mà chính là từ gã, một con người quái dị với đam mê hoang dại, không thể cắt nghĩa.