Hiển thị các bài đăng có nhãn Yoshitoshi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Yoshitoshi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

Streetwalker Moon

 

Streetwalker Moon (Tagato aru Hitotose)

Họa sĩ: Tsukioka Yoshitoshi (1839-1892)

Tiêu đề: Streetwalker Moon

Series: One Hundred Aspects of the Moon (Tsuki hyakushi)

Ngày: 1887

Một tsujigimi (gái bán hoa) ngước nhìn trăng, khuôn mặt trắng muốt của cô phản chiếu khuôn mặt trắng muốt của trăng, cả hai đều bị che khuất một phần. Cô dùng răng giữ chặt khăn trùm đầu (giúp che đi khuôn mặt) khi nó bị gió giật tung. Cô gái được khắc họa là một người phụ nữ xinh đẹp, nhân hậu, và toát lên vẻ thanh lịch, mặc dù cuộc đời thực của cô chắc chắn sẽ rất buồn. Đây được coi là một trong những thiết kế xuất sắc nhất trong bộ truyện. Bài thơ của nữ thi sĩ Hitotose được dịch như sau: "Như hình ảnh phản chiếu trên cánh đồng lúa, khuôn mặt của những cô gái bán hoa trong bóng tối, được ánh trăng thu soi sáng".

Nguồn






Thứ Năm, 17 tháng 10, 2019

Trăm vẻ Trăng: Tsukioka Yoshitoshi, Trăng nơi ổ địch.

Tsukioka Yoshitoshi, Trăng nơi ổ địch.



Tranh này là tranh số 2 trong bộ Trăm vẻ trăng. Yoshitoshi vẽ về nhân vật huyền thoại là hoàng tử Yamato Takeru. Yamato Takeru là vị hoàng tử con của Thiên hoàng đời thứ 12 của Yamato (và ông cũng là cha của Thiên hoàng đời thứ 14). Ông được phái đến vùng phía Đông và sau đó là phía Nam ở đảo Kyūshū để bình định các thị tộc đối địch với tộc Yamato. Tộc Yamato sau đó đã trở thành thị tộc lớn mạnh nhất quần đảo Nhật, và vua của tộc này đã trở thành Thiên hoàng, dòng dõi truyền đến nay.

Trong tranh là cảnh Yamato Takeru ở kinh đô của thị tộc Kumaso. Ông giả trang nữ nhi, đột nhập vào nơi ở của vua Kumaso để giết ông. Kuma nghĩa là gấu, tộc Kumaso là tộc mặc áo da gấu. Vùng đất kinh đô của tộc này ngày nay chính là thành Kumamoto, tức vùng đất gấu. Sử chép về hành trình Yamato Takeru đến Kumaso, và ghi chép về tộc Kumaso là quyển Cổ sự kí và Nhật Bản thư kỉ. Hai quyển sử này đều là sử chính thống do tộc Yamato viết nên.

Tranh cổ Nhật Bản: Tsukioka Yoshitoshi với “Trăng ở phố đèn đỏ”

Tranh cổ Nhật Bản: Tsukioka Yoshitoshi với “Trăng ở phố đèn đỏ”




Đây là tranh thứ 94 trong bộ “Trăm vẻ trăng” của Tsukioka Yoshitoshi. Tên của tranh là kuruwa no tsuki, nghĩa là trăng ở khu thành ngoại (kuruwa, viết bằng chữ khuếch 廓). Và “khu thành ngoại” ở đây ta hiểu là khu kỹ nữ Yoshiwara ở Edo, khu “phố vui” (du khuếch) nổi tiếng của phố thị Edo.

“Trăng ở phố đèn đỏ”. Các bạn bấm vào hình để xem bản to hơn nhé
Yoshiwara chính là một chủ đề nổi bật, một chủ đề “phù thế” của tranh ukiyo-e mà chúng ta đã gặp qua hai lần ở tranh mèo và tranh cá trê trong loạt bài Tranh cổ.
Theo đúng phong cách tranh tự sự của mình trong bộ “Trăm vẻ trăng”, ở bức tranh này, Yoshitoshi lại tiếp tục kể một câu chuyện.
 Nội dung bức tranh này thật ra không có trong tuồng xưa tích cổ gì như phần lớn tranh khác của bộ. Ở đây chỉ đơn giản là một cô kỹ nữ cùng bé gái theo hầu đứng lặng trong đêm trăng tỏ.

Chi tiết bé hầu gái
Hoa anh đào trong đêm, tiếng Nhật gọi là yozakura, là một quý ngữ của thơ haiku. Vào tháng Ba âm lịch, các kỹ viện ở Yoshiwara có tục lệ cho kỹ nữ ra ngoài vào buổi đêm để ngắm hoa anh đào. Nếu bạn đang trầm trồ: “Ồ nhã quá”, thì cũng xin nói luôn, thật ra đây là trò hút thêm khách cho các kỹ viện. Anh đào nở rộ hai bên phố, đèn lồng thắp sáng dọc đường đi, trà quán tửu lâu mở cửa tưng bừng, cộng thêm kỹ nữ áo xống xinh tươi đi ngoài phố, chính là một cách quảng cáo không thể tốt hơn.

Chi tiết kỹ nữ ngắm hoa anh đào… trong đêm, dưới trăng
Hoạt động này cũng tự nó trở thành quý ngữ cho thơ haiku, Yoshiwara no yozakura (Anh đào đêm ở Yoshiwara), chỉ thời điểm cuối xuân (tầm tháng ba âm lịch). Nó cũng trở thành một chủ đề cho tranh phù thế. Và đến kịch Kabuki cũng có một vở lấy bối cảnh hoạt động này (vở Kagotsurube sato no eizame).
Hoa anh đào luôn tượng trưng cho cái đẹp chóng tàn và mong manh. Chỉ một cơn gió đã khiến hoa rụng lả tả. Và khi hoa rụng, người Nhật gọi là mưa hoa, thì cái chết của hoa tạo nên một cảnh tượng đẹp say lòng. Ở đây hoa rơi lên trên cô kỹ nữ, dụng ý gì thì sau khi phân tích như trên, ai cũng thấy quá rõ.

Chi tiết hoa rụng lên cô kỹ nữ
Tùy theo bản in mà áo khoác ngoài của cô kỹ nữ mang màu tím hay xanh. Tóc cô vấn cao bằng chiếc trâm to, để chừa phần gáy (gáy phụ nữ là nơi gợi dục, theo người Nhật). Cô mang guốc rất cao, mục đích là để tránh làm lấm áo.

 Chi tiết guốc cao
Có lẽ đây là cảnh khi đêm đã về khuya. Phố phường không còn nhộn nhịp. Hoa đào rơi lên cô kỹ nữ. Bé gái theo hầu đứng lặng nhìn cô (hay là nhìn tương lai?). Cô đứng lặng nhìn trăng. Và trăng dĩ nhiên không nói. Một câu chuyện không mở đầu và không hồi kết.

Tranh cổ Nhật Bản: Tsukioka Yoshitoshi với “Tào Tháo ngắm trăng lên sau núi Nam Bình”


Tranh cổ Nhật Bản: 
Tsukioka Yoshitoshi với “Tào Tháo ngắm trăng lên sau núi Nam Bình”



Đây là bức trong bộ “Trăm dáng trăng” (Nguyệt bách tư, Một trăm dáng vẻ của Mặt trăng) của Yoshitoshi.
Yoshitoshi là họa sĩ ukiyo-e sống vào buổi giao thời, khi nước Nhật bắt đầu bước chân hiện đại hóa. Tuy nhiên, là học trò của Utagawa Kuniyoshi, tranh của ông chủ yếu vẽ về chủ đề tích cổ và lịch sử.


(Các bạn bấm vào đây để xem hình to hơn)
Không chỉ vẽ về các chủ đề thần thoại hay lịch sử Nhật Bản, một chủ đề nữa hay gặp trong ukiyo-e là các điển tích của văn học Trung Hoa. Người Nhật đặc biệt thích Tam Quốc Diễn Nghĩa và Tây Du Ký.
Đêm trước trận Xích Bích, Tào Tháo mở yến uống rượu cùng chư tướng trên sông Dương Tử ngắm trăng. Đằng xa, dáng núi Nam Bình hiện lên lồ lộ. Có hai con quạ bay qua, cất tiếng kêu. Ông đã ngà ngà say, cắp ngọn giáo, mang một chén rượu ra mũi thuyền, làm nên bài Đoản ca hành nổi tiếng, với những câu nói lên chí mình (“vì đời người như sương sớm có được bao lâu“):
Ô thước nam phi,

Nhiễu thụ tam tạp,
Vô chi khả y.
Sơn bất yếm cao,
Thuỷ bất yếm thâm.
Chu Công thổ bộ,
Thiên hạ quy tâm.

Quạ bay về Nam

Liệng quanh cây ba vòng
Không cành nào đậu được.
Núi không hiềm cao
Nước không hiềm sâu
(Nếu ta như) Chu Công nhả cơm (để ra cổng tiếp hiền tài)
Thiên hạ sẽ quy tâm.



.
Nhân vật chính trong tranh là Tào Tháo, nhưng vầng trăng lại là nhân vật chính của cả một bộ tranh. Từ Tào Tháo, Tôn Ngộ Không, cho tới Hideyoshi hay chư tướng nhà Takeda thất trận, tất cả đều chỉ là cái cớ để Yoshitoshi dùng để vẽ trăm vẻ trăng. Bao nhiêu chuyện trôi qua, bao nhiêu tấn trò đời, bao nhiêu thịnh suy lên xuống, trăng vẫn vậy, điềm nhiên từ trời nhìn xuống nhân gian.
Chợt nhớ câu thơ Nôm của Nguyễn Trãi:
Nước mấy trăm thu còn vậy

Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay


Tranh cổ Nhật Bản: Tsukioka Yoshitoshi và ba bức tranh trăng

Tranh cổ Nhật Bản: Tsukioka Yoshitoshi và ba bức tranh trăng


Tsukioka Yoshitoshi có thể coi là họa sĩ và nhà chế tác tranh in ván gỗ bậc thầy theo lối cựu truyền cuối cùng của Nhật Bản. Khi ông bước vào giai đoạn cuối của sự nghiệp cũng là lúc cuộc Minh Trị Duy Tân đang tăng tốc. Trong khi các họa sĩ ukiyo-e khác đang đổi mới phong cách thì ông vẫn tiếp tục giữ bút pháp cũ, với những chủ đề cổ. Tuy vậy, không phải cứ cổ là hỏng, bằng sáng tạo và tư duy nghệ thuật của mình, ông đã đem lại cho những chủ đề ukiyo-e cổ một khía cạnh tự sự mới lạ và ít gặp. Ông có thể được xem là “ánh chớp vinh quang cuối cùng” của ukiyo-e cựu truyền thời Minh Trị (John Stevenson).
Tsukioka Yoshitoshi nổi tiếng nhất với bộ tranh trăng, không biết vô tình hay hữu ý vì tên ông cũng có chữ “trăng” (tsuki). Đó là bộ “Trăm vẻ trăng”, đã có nói đến với bức tranh Tào Tháo ngắm trăng ở núi Nam Bình. Trăng trong bộ tranh là một motif lặp lại, đóng vai trò khung nền, là người chứng kiến những sự kiện lịch sử, những câu chuyện nhân sinh. Bài này sẽ giới thiệu thêm 3 tranh của bộ:
1. Trăng trên núi Kê Minh
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
.
Tích này là tích “Tứ diện Sở ca”. Trương Lương bên phe Hán, vào một đêm, ông lên núi Kê Minh mà cất tiêu thổi Sở nhạc, cho quân lính hát vang Sở ca. Quân Sở lương cạn, nhớ nhà, ý chí chiến đấu không còn, bèn đào ngũ. Ngày hôm sau, quân Hán chiếm được thành Cai Hạ. Hạng Vũ phải tự vẫn ở sông Ô.
Nếu nhìn kĩ sẽ thấy bản in này của bức tranh làm rất kĩ. Các họa tiết trên áo Trương Lương như nổi bật lên khỏi mặt phẳng tranh. Màu tím của tay áo rất tươi. Gió từ đằng sau thổi đến và Trương Lương, với tư cách của người thắng trận, đang hiên ngang cất tiếng tiêu thổi khúc ca quê nhà của quân địch.
Chi tiết hoa văn trên áo và tay áo màu tím
2. Ta chờ đêm nay từ đêm trăng mồng ba

Đây là bức cuối cùng trong bộ tranh. Ở đây, Matsuo Basho, trên một chuyến hành trình của mình, với bộ trang phục của một cư sĩ Phật giáo, đang đứng lại trò chuyện với hai người nông dân uống trà (không phải rượu, vì có ấm trà rõ ràng) thưởng trăng bên vệ đường.
Chi tiết trang phục cư sĩ Phật giáo của Basho

Chi tiết ấm trà của người nông dân
Tiêu đề tranh là một bài haiku ngắn, có lẽ của Basho, vì trên tranh có ghi chữ 翁 (okina, đây là chữ “ông“, thường là tên do Basho tự gọi mình).

Bài thờ haiku trên tiêu đề tranh
三日月の 頃より待ちし今宵かな
mikazuki no
koro yori machi shi
koyoi kana

Từ đêm trăng mồng ba (trăng lưỡi liềm)
Ta đã chờ
Đến đêm trăng hôm nay.

3. Trăng vào đêm cõng mẹ lên núi
Người đàn ông trong tranh cõng mẹ già lên núi để làm gì? Đây là cảnh trong một câu chuyện cổ của Nhật nói về tục lệ Ubasute, tức là việc bỏ người già lại ở nơi hoang vắng (núi cao), mỗi khi làng lâm vào cảnh hạn hán hay mất mùa, đói kém.
Tục lệ này được kể nhiều trong các câu chuyện cổ, chuyện Phật giáo, không chỉ ở Nhật mà còn ở cả Việt Nam hay Trung Quốc. Trong cổ tích phương Tây cũng có chi tiết tương tự khi cha và mẹ kế của Hansel và Gretel đưa hai bé vào rừng bỏ mặc khi làng mất mùa.
Chi tiết người con cõng mẹ
Truyện cổ kể: Khi người đàn ông đưa mẹ già lên núi, bà bẻ cành cây dọc đường rải xuống đất. Khi lên đến đỉnh, bà mẹ dặn dò, con về nhớ đi theo đường cây rải để khỏi lạc. Anh xúc động vì tình thương của mẹ, bèn cõng mẹ trở về nhà.
Và trăng trên cao, như mọi lần, vẫn bình thản chứng kiến mọi việc.
Chi tiết trăng sau tán cây