Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

Cây Sống sót (Survivor Tree)

Cây Sống sót (Survivor Tree): Cây Lê callery kiên cường trụ vững trong ngày 11/9:
Những cái cây đặc biệt của nước Mỹ, biểu tượng nước Mỹ, cây cổ thụ đặc biệt được xem như báu vật của nước Mỹ
(Ảnh: Amusing Planet).


Khi những công nhân dọn dẹp phát hiện ra phần thân đã cháy thành than của cây Lê callery với phần thân đã cháy thành than này dưới đống gạch vụn 1 tháng sau thảm họa 11/9, họ không hy vọng rằng nó có thể sống sót. Chỉ với đúng 1 cành còn có dấu hiệu của sự sống, cây Lê kiên cường này được gửi đi phục hồi dưới sự chăm sóc của Bộ phận Quản lý Công viên và Giải trí thành phố New York.


Sau 9 năm được chăm sóc tại một vườn cây ở Bronx, Cây Sống sót này được đưa về trồng tại Bảo tàng và Đài tưởng niệm 11/9 Quốc Gia. Cảm động trước hình ảnh cây lê kiên cường này, người dân Mỹ trân trọng đặt tên cho nó là Cây Sống Sót (The Survival Tree). Nó đã vươn lên mạnh mẽ ở một nơi trang nghiêm với đầy ắp những kỷ niệm và ngập tràn sự sống này. “Những phiến lá non tơ mọc ra từ gốc cây xương xẩu, tạo ra sự phân chia ranh giới có thể nhìn thấy bằng mắt thường giữa quá khứ và hiện tại”, Bảo tàng viết, “Hôm nay, cái cây này đứng tại đây như một lời nhắc nhở về sức bật, khát vọng sinh tồn và tái sinh !”.



Jean-Marc Ayrault - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp – 
đón nhận giống chiết từ Cây Sống Sót

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

Heracles và Lichas

Phan Lặng Yên


Heracles và Lichas
Heracles đánh vật thắng thần sông Achelous, giành được nàng Deianira về làm vợ. Achelous ban đầu là thần của mọi nguồn nước - các con sông là gân trên người ông, sau này được xem là thần của sông Achelous, sông lớn nhất Hy Lạp, sếp sòng các thần sông khác. Trên đường về Tiryns, ngang qua một dòng sông chảy xiết, nhân mã Nessus nhận cõng giúp nàng Deianira trong lúc Heracles bơi sang. Như mọi nhân mã khác, Nessus tính cuỗm luôn nàng ấy khi lên bờ trước, liền bị Heracles bắn bằng mũi tên tẩm máu độc quái vật 9 đầu Hydra. Trước khi chết, để báo thù, Nessus tặng cái áo thấm máu cho Deianira làm bùa yêu quyến rũ chồng (ngu ngơ tin người vcđ, hết chồng rồi vợ bị con ngựa lừa).
Nhiều năm sau, có tin đồn chồng lăng nhăng với công chúa Iole xứ Oechalia (chuyện quá thường với Heracles, con rơi cả bầy, nửa gene từ ông bố còn gì), Deianira bèn đưa chiếc áo ấy cho chồng, nhờ tay chàng hầu Lichas. Chiếc áo thấm máu độc ấy làm bỏng cháy da thịt Hecrales, đến tận xương. Hiểu nhầm và nổi điên lên, mặc cho Lichas van xin, Heracles túm lấy đầu xoay mất vòng rồi ném thẳng xuống biển. Cú ném quá mạnh, quá cao (lạnh), cùng với nỗi sợ hãi tột độ khiến Lichas đông cứng lại, thành một đảo đá trên biển Euboean. Chưa chết, Heracles lêt lên núi Oeta nhổ cây tự dựng giàn thiêu cho mình, phần hồn được Zeus hốt về Olympus vui thú điền viên.
Bức tượng tráng lệ, bắt lấy sức mạnh, sự điên cuồng và nỗi sợ hãi được Antonio Canova hoàn thành trong 20 năm, cho một thân vương Ý, giữa nhiều biến động từ cách mạng Pháp đến thất bại cuối cùng của Napoleon (xem cận cảnh chi tiết ở bit.ly/2ZofCUO).

 Bức tranh cùng tên được họa sĩ Nga Pavel Sorokin vẽ năm 1849, khi chỉ mới 13 tuổi (!)

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

Mông Cổ, bây giờ lại nhớ

Mông Cổ, bây giờ lại nhớ 

(viết lại)
Bây giờ, hỏi giới trẻ về đất nước Mông Cổ, với chúng câu hỏi kiểu này chắc phải tầm "Đường lên đỉnh Olympia ". Học sinh ta, kiến thức sử như kết quả thi Đại học vừa qua (2011), sẽ ôm từ điển và nói tiếng Ăng lê giọng Mán: nước Món Ngô Lìa (Mongolia). Tôi cũng chỉ biết đất nước này qua học sử. Đầu tiên, nó phải là quân Nguyên mà ta đánh bại ba lần. Lịch sử về những đoàn quân Mông Cổ là một chuỗi những sự việc phi thường. Trong lịch sử loài người chưa từng có một đội quân nào chiến thắng và xâm chiếm nhiều đất đai như họ. Đến nỗi, bản đồ thời Đế quốc Mông Cổ năm 1206 - Thành Cát Tư Hãn, như hình mãnh thú khổng lồ, mồm nuốt châu Âu, đuôi phất phơ vùng viễn đông Nga La Tư, đít lồi ra Cao ly, chân đạp tan nhà Tống, một triều đại mà Trung Quốc sau này tự hào chính thống Đại Nguyên, mà Việt Nam lại "sát Thát" một nhát vào chỗ hiểm. (nhìn vào bản đồ mà xem)
-----
Gần đây, trên mạng xã hội viết nhiều về đất nước này. Phải chăng, Mông cổ gần một nước lớn mà vẫn vươn lên dân chủ; bỏ qua tên Đại Hán bên cạnh. Hãy xem qua để hiểu họ hành xử thế nào.
....

ĐUỔI KỊP MÔNG CỔ
1.
Tôi hỏi 100 người, thì đến 97 người bảo: Mông Cổ ấy à? nghèo lắm hả? Tới làm chi!
Sai.
Khái niệm về một nước Mông Cổ nghèo khó ngự trị trong đầu óc dân Việt Nam từ xa thời cùng phe XHCN. Nhà văn Tô Đức Chiêu bảo tôi: "Tao đã đi Mỹ, Ai Cập, Ả rập xê út, Nga và Đông Âu, không kể châu Á như Tàu, Thái... Tức là gần hết thế giới, nhưng khi đi Mông Cổ, mới thấy mình khám phá ra một thế giới mới, nếu có dịp, tao đi 2 -3 lần nữa".
Tôi thấy thế nên cũng đú theo, đi Mông Cổ một chuyến.
(Mở ngoặc ngay là, khi anh (du lịch) đến đâu, anh phải tự vấn ta đến đấy để làm gì, muốn biết gì. Nói chung là nên đi phượt. Tôi có bài học kinh nghiệm về việc này, có 1 cậu trẻ đi cùng đến thảo nguyên Mông Cổ, cậu thốt lên chán nản: Ơ, đâu cũng như đâu, mênh mông cả, chả thấy cái gì.
Nhưng vấn đề là cái gì?
Sau chuyến đi Mông Cổ, tôi rút ra kết luận, 30 năm nữa (hoặc hơn) không biết Việt Nam mình có đuổi kịp Mông Cổ hay không?)
Mông Cổ diện tích gấp hơn 6 lần nước Việt Nam, dân số hơn 3 triệu người (bằng 1/2 của thủ đô Hà Nội). Mà 1/2 dân số ở thủ đô Ulan Bato. Hãy tưởng tượng hơn 1 triệu người còn lại ở rải rác trên lãnh thổ gấp 6 lần Việt Nam.
Mông Cổ có đặc biệt là có biên giới với Nga và Trung Quốc. Họ bị kẹp giữa 2 nước lớn, nên phải chọn 1, lịch sử đã chứng tỏ họ chọn đúng, chọn nước Nga để tránh nước Tàu kẻ thù. Chính chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vì khuất phục trước chính phủ Stalin mà phải công nhận Mông Cổ độc lập. Chuyện này chính phủ Mao cay cú ra mặt, công khai gọi Mông Cổ là Ngoại Mông, còn phần lãnh thổ Mông Cổ bị mất từ thời Nguyên triều, thì Trung Quốc gọi là Nội Mông (họ vẫn nhận đó là nước họ). Cấp độ cay cú ăn thua và nhòm ngó còn hơn một bậc so với Việt.
Người Trung Quốc chưa gọi Quảng Đông là Nội Việt, mặc dù vẫn dùng từ Việt gọi Quảng, Việt ngữ là tiếng Quảng, họ chưa gọi Việt Nam là Ngoại Việt. Nói thế để biết mức độ nguy hiểm chênh vênh của con ngựa Mông Cổ trước con sói Trung Quốc.
Ở Mông Cổ, tôi được nghe câu chuyện tiếu lâm. Một người Mông Cổ gặp một người Nhật. Người Nhật cám ơn người Mông, vì bài học của Nguyên triều, nên nước Nhật quyết định không chiếm Trung Quốc nữa. Nếu chiếm nó, có lẽ nước Nhật đã thành Trung Quốc rồi. Đó là một câu chuyện tiếu lâm cay đắng mà không thể cười.
Ân oán giang hồ với người Tàu thì rất nhiều. Chỉ kể 1 chuyện. Các công ty xây dựng ở Ulan Bato, và nói chung các công ty khác cần nhân công, thì đều thuê nhân công Trung Quốc, vì người Trung Quốc sinh sôi như cỏ dại, ở đâu họ cũng mò đến. Nên các công ty có quy định, chỉ được thuê dưới 6 tháng, mà trong 1 năm không được thuê quá 1 lần. Nên người làm thuê phải đi về Trung Quốc ngay sau khi hết hợp đồng. Cảnh sát Ulan Bato rất dễ dãi với người Việt sinh sống ở thủ đô của họ, hình như có khoảng 7000 người, còn riêng người Trung Quốc thì phải thống kê rất cụ thể. Người bạn Mông Cổ nói với tôi: Việc lớn nhất của cảnh sát là đuổi người Trung Quốc hết hạn cư trú. Đúng vậy, họ không có tình trạng kẹt xe, không có tệ nạn nhiều, việc chính là không để lọt một cái trứng tu hú. Chuyện này 30 hay 50 năm nữa, Việt Nam cóc làm được, mà cũng chả làm.


2.
Nhìn trên phim ảnh, thấy thảo nguyên là những dải đất trùng điệp, cây cỏ lưa thưa, nếu chỉ có thế, chưa biết gì về thảo nguyên Mông Cổ cả. Hồi tôi đi tầm tháng 7 dương lịch, là tháng đã hết cỏ rậm. Cỏ rậm thì đến ống chân, đến đầu gối, còn khi chuẩn bị vào đông, cỏ bị đám gia súc gặm gần hết. Chỉ còn cỏ thấp và cỏ tái sinh.
Nói từ "cỏ" với người Việt, cũng không ổn. Cỏ của Việt Nam là thứ chả để làm gì. Điều này lỗi ở các nhà làm ngôn ngữ khoa học, địa lý. Đáng lý nên dùng từ "thảo mộc thân mềm" hay cái gì đó khác với "cỏ". Cúi nhìn xuống, hàng trăm hàng nghìn loài cây gọi là cỏ rất khác nhau, riêng hình lá cũng thiên hình vạn trạng. Nếu vò vài cái lá rồi đưa lên mũi, sẽ thấy nhiều mùi vị rất khác. Mùi thơm thoang thoảng, mùi hắc, mùi nồng... Thực sự đó là một thế giới cây thuốc và loại cây như rau thơm ở Việt Nam, chứ không phải cây cỏ thông thường. Gia súc Mông Cổ từ hàng nghìn năm nay ăn thứ cỏ đó. Sau khi đi thảo nguyên, tôi mới lý giải được việc ở Mông Cổ, người ta ăn rất ít rau, ăn rất nhiều thịt, ngay cả người Việt ở xứ ăn rau, đến Mông Cổ ăn toàn thịt, mà tiêu hóa bình thường, không bị táo bón. Bởi vì lũ gia súc ăn thứ cỏ thiên nhiên hoang dã bổ béo thơm lừng như hàng nghìn năm nay nó vẫn ăn. Không như gia súc ở nơi nuôi công nghiệp.
Mông Cổ ngày nay vẫn du mục và người ta tự hào vì nếp sống du mục này. Ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Mông - Việt nói tiếng Việt sõi như người Việt, bảo tôi, rất may là thảm họa tập thể hóa, định canh định cư xảy ra rất nhanh, rồi thảo nguyên lại có sức sống quay lại nếp xưa.
Nếu ai đã đọc Tô-tem sói, của một nhà văn Trung Quốc (quyển này vang dội một thời trên văn đàn Trung Quốc) thì biết thảo nguyên Nội Mông đã bị tàn phá kinh khủng như thế nào. Họ dồn nén dân du mục vào hợp tác, triệt phá cách sinh hoạt truyền thống, mang hàng sư đoàn quân đội bắn sói. Sói là vật thờ của người Nội Mông, khi người chết, người ta kéo xác cha mẹ để ra một chỗ cho sói ăn. Người Trung Quốc Mao-ít bắn sói, thế là thỏ làm giặc, lại giết thỏ, lạc vào cái vòng quẩn, rồi đưa người Hán đến sinh sống, khiến thảo nguyên Nội Mông bị tiêu diệt. Trong quyển sách ấy, tác giả cũng nói, nhìn sang Ngoại Mông xanh tươi mà tiếc...\



Nhìn thảo nguyên thì mênh mông, nhưng hoang dã hàng trăm thứ thú hoang vẫn ngày đêm sinh sống, tuân thủ cân bằng sinh thái của nó. Người Mông Cổ ngày nay có xe ô tô tải, có điện thoại di động, kéo theo cái nhà, và đàn gia súc, đi lang bạt trên thảo nguyên theo nhu cầu của gia súc. Thảo nguyên mênh mông, mình nhìn đâu cũng như đâu, nhưng chúng tôi đã được một chú bé 12 tuổi đưa từ thị trấn, đi xuyên 25 km đến đúng chỗ lều của bố mẹ chú bé. Hôm đi thảo nguyên, chúng tôi được đón tiếp Chủ tịch huyện đến chơi, cũng vì biết có khách Việt. Ông nói huyện ông có gần 80 hộ, diện tích huyện, khi đó làm phép so sánh, gần bằng tỉnh Hưng Yên cộng với Thái Bình. Chủ tịch huyện biết cả 80 hộ luôn. Quy định của họ chăn thả không giới hạn, nên có lúc có hộ gia đình chăn thả ở huyện khác (miễn là đăng ký vẫn ở huyện này). Chủ tịch người Đảng Dân chủ, alo gọi đồng chí Bí thư huyện ủy Đảng Nhân dân (Đảng Cộng sản cũ) thì đồng chí đang chăn ngựa, bèn cưỡi ngựa về. Bí thư huyện ủy đảng nào cũng làm nông dân cả và chả chức vụ gì, cười hề hề đúng là ông chăn ngựa. Riêng chuyện này, 50 năm nữa Việt Nam có theo kịp không?


3.
Người Mông Cổ có một niềm hãnh diện đã mất, đó là đã từng bá chủ thế giới, và còn một niềm kiêu hãnh vẫn còn, đó là sữa ngựa.
Thế giới văn minh và ở các nước phát triển có chỉ tiêu bao nhiêu lít sữa bò cho đầu người, thứ sữa đó người Mông Cổ chỉ làm lương khô, làm nguyên liệu chế biến, vì họ uống sữa ngựa. Hình như chỉ Mông Cổ dùng sữa ngựa làm thực phẩm chính yếu. Nó là nguồn gốc sức mạnh của các chiến binh từ xưa, và khiến người MC cao lớn.
Ngựa là gia súc chủ yếu ở thảo nguyên. Một hộ thường có vài trăm đến vài ngàn ngựa, thêm cừu và dê. Bao giờ cừu cũng đi kèm dê. Mùa đông cừu nằm trên giữ ấm cho dê moi cỏ chia nhau. Không có cừu dê chết rét, không có dê cừu chết đói. Kiểu chăn thả thiên nhiên ấy khác xa nông trại hiện đại. Kiểu vắt sữa ngựa cũng khác vắt sữa bò. Vì khi vắt sữa, luôn luôn có con ngựa con đứng cạnh. Người Mông Cổ tôn thờ ngựa vì cả đức tính này, không buông tuồng vô cảm như bò, cứ vắt là ra sữa bất kể thế nào. Sữa ngựa làm bia, làm thức uống, nên con ngựa là đầu cơ nghiệp. Bò chỉ là loại thêm. Bò Mông Cổ lông dài như voi mamut. Bây giờ cũng thoái giống, người Mông Cổ buồn vì bò lông ngắn, còn gì là bò nữa.
Gia súc nuôi, thịt là thứ phẩm. Chính phẩm là lấy lông và da. Len Mông Cổ đắt kinh khủng. Hình như hàng lông da là chủ lực xuất khẩu.
Cái lều Mông Cổ thật sự là một thứ thú vị. Cứ nói "lều" thì khó hình dung, đến mới thấy đó là cái biệt thự giữa thảo nguyên. Bây giờ lều có nhiều loại, từ 300 đến 30.000 đô Mỹ. Người Trung Quốc quá khôn, họ làm lều bán cho người Mông Cổ.
Trong cái lều Mông, tài nhất là cái bếp ở chính tâm nhà, tâm vòng tròn. Chất đốt bằng phân gia súc, thông hơi làm nhiệm vụ trụ chống giữa. Vào lều không nhận ra có bếp.
Người nông dân du mục cũng có vấn đề nan giải, đó là sinh ra và nuôi dạy trẻ. Du mục xa trung tâm thị trấn, nên nếu đẻ bất thường thì cấp cứu rất khó. Khi con 6 tuổi, phải cho nó đi học, thì nhà mất 1 người thường là mẹ hay chị lớn phải đưa lên thị trấn làm 1 cái lều ở nuôi con 1-2 năm mới yên tâm gửi con học nội trú. Ở các thị trấn thị tứ cứ thấy các cụm lều, đó là những người đi nuôi con học. Vì vậy, mà nhà nghèo hoặc quan điểm cũ chỉ cần đọc chữ, trẻ thất học.



Hình như chính việc hiếm người mà du mục có truyền thống quý người. Phụ nữ đẻ con là quý, con ai không quan trọng. Mấy ông Mông Cổ bảo, cộng đồng du mục có lệ, khách quý cao tuổi thì chủ nhà mời đầu dê. Thịt con dê, cái đầu là quý nhất. Còn khách trẻ và trung niên thì chủ nhà bảo con gái sưởi ấm cả đêm. Tôi không ở qua đêm ở thảo nguyên, nhưng nghe kể lại, các nhà văn Trần Nhương, Tô Đức Chiêu, Thúy Toàn có ngủ đêm thảo nguyên và được coi là khách quý trung niên. Vấn đề là các bác ấy có chịu đựng được mùi mồ hôi người ăn thịt cừu, uống sữa ngựa và 3 tuần mới tắm không thôi.
Người Mông Cổ rất có ý thức giữ gìn môi trường thảo nguyên. Tôi khá ngạc nhiên. Mọi người picnic thu dọn rác tống lên xe về bãi rác ngoại ô vứt. Họ nói tivi có nhiệm vụ quan trọng nhất là tuyên truyền giữ sạch thảo nguyên. Và việc này chỉ có từ khi cách mạng dân chủ đa đảng. Người lái xe dẫn chúng tôi mặc dù xe chật, kiên quyết mang bao tải rác trên xe để về đến bãi rác ngoại ô.
Ở Ulan Bator, anh là công chức, lập tức được cấp 0,99 ha ở ngoại ô làm nhà nghỉ. Cuối tuần, chiều thứ 6, lũ lượt xe rời thủ đô ra ngoại ô. Thứ 7, Chủ nhật thủ đô vắng thênh thang. Tối CN, lại rồng rắn về thành phố. Nếu không phát động giữ thảo nguyên thì chả mấy chốc thảo nguyên nghìn đời thành bãi rác. Và họ đã làm được rất tốt. Tương tự thảo nguyên của họ là rừng là biển của người Việt, than ôi, chúng ta đã cư xử như là tự phá hủy cơ thể! Đuổi kịp Mông Cổ ư? Không bao giờ!
Nguyễn Xuân Hưng

-------------


NHỮNG LỰA CHỌN LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI MÔNG CỔ
LỜI GIỚI THIỆU

Chào các bạn thân mến. Phải nói rằng trước khi du học Liên Xô, tôi có định kiến khá tiêu cực về người Mông Cổ. Định kiến này được hình thành qua lời kể của những người Việt từng du học ở Liên Xô. Họ thường kể rằng, so với Việt Nam, đầu óc sinh viên Mông Cổ không mấy sáng láng. rằng thủ đô Ulanbator khi họ đi qua sặc mùi thịt cừu.

Trong những năm học ở khoa Vật lý Moscow State University, một lần tôi đã chứng kiến một GS Nga khi hỏi thi đã trách một sinh viên Mông Cổ, rằng nếu ít khả năng thì không nên theo học ở trường này, vì như vậy là chiếm chỗ của những người khác.
Việc cậu sinh viên Mông Cổ phải lúng túng biện minh, rằng dù khoa học cơ bản ở Mông Cổ chưa phát triển, nhưng đất nước Mông Cổ cũng cần có giáo viên dậy vật lý, chỉ củng cố thêm những định kiến của tôi.
Tôi chỉ bắt đầu thay đổi định kiến này vào đầu những năm 1980, khi có dịp làm việc cùng một số nhà khoa học Mông Cổ tại Dubna, trung tâm vật lý hạt nhân quốc tế của các nước XHCN ở ngoại ô Moskva.
Khác với người Việt Nam thường rất quan tâm đến chuyện “tích cóp” công bố khoa học để làm luận án tiến sỹ, người Mông Cổ có những quan tâm khác hẳn. Trong nghiên cứu khoa học, họ không bao giờ đi vào những lĩnh vực cao siêu trừu tượng như các vấn đề lý thuyết, lý luận thuần túy, những vấn đề dễ “vẽ” ra luận án tiến sỹ.
Mà ngược lại, họ thường quan tâm đến những vấn đề có khả năng ứng dụng cụ thể và triển khai hiệu quả tại Mông Cổ. Đặc biệt là những phương pháp phân tích ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân sử dụng trong công nghiệp và đời sống. Tóm lại, trong việc học hành, so với người Việt Nam người Mông Cổ tỏ ra thực học, thực dụng và rất ít “máu” bằng cấp khoa bảng.
Đặc biệt, trong các cuộc tụ tập, khác với người Việt thường thích nhậu nhẹt và chơi bài, người Mông Cổ thường thích chơi cờ vua và uống trà hơn. Nhìn chung so với người Việt Nam, người Mông Cổ có vẻ chậm chạp ù lì, nhưng thật thà đơn giản, dễ hòa đồng hơn hẳn và không bao giờ ranh vặt.
Kết bạn được với người Mông Cổ là một điều may mắn thực sự. Đa phần họ là những người bạn trung thực, chân thành và đáng tin cậy, nhưng lại thuộc loại như người Việt thường nói “thật thà là cha quỷ quái”.
LỰA CHỌN THỨ NHẤT - THỐNG NHẤT CÁC BỘ TỘC
Dưới áp lực của các bộ tộc Tartar, Khiết Đan, Mãn Châu và Turk, từ thế kỷ 12, các bộ lạc Mông Cổ phân tán đã bắt đầu có ý thức hợp nhất. Sau gần một thế kỷ thăng trầm, cuối cùng năm 1206, trong một cuộc họp toàn thể các bộ tộc Mông Cổ, các thủ lĩnh đã chọn Thiết Mộc Chân (Temujin) và bầu ông làm Đại Hãn (thủ lĩnh tối cao) với danh hiệu Thành Cát Tư Hãn (Genjis Khan).
Sau cuộc nhất thống các bộ tộc Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn và con cháu đã tiến hành nhiều cuộc chinh phạt tàn bạo khắp Châu Á và Châu Âu. Họ đã thành công nhờ sức hành quân bền bỉ vô song, kỷ luật sắt, tổ chức quân đội và chiến thuật giao tranh hiện đại, vũ khí tinh xảo của người Mông Cổ và kỹ thuật phá thành Trung Hoa hiệu quả. Trong các thế kỷ 13-14, một Đế Quốc Mông Cổ mênh mông được hình thành với thủ đô ban đầu ở Karakorum (Trung Á).
Đế quốc Mông Cổ từng có lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử nhân loại, trải dài từ biển Nhật Bản phía Đông đến Đông Âu phía Tây, từ Siberia phía Bắc đến vịnh Oman và Đông Nam Á ở phía Nam, bao gồm phần lớn lãnh thổ Châu Á (China, Nam Siberia, Trung Á, Trung Đông, Tây Tạng, Caucasus) và một phần lãnh thổ Châu Âu.
Tóm lại, việc thống nhất thành công các bộ tộc Mông Cổ và bầu được Đại Hản, không những cho phép người Mông Cổ bảo tồn được dân tộc, mà còn đưa dân tộc Mông Cổ lên một tầm vóc mới về tổ chức chính trị xã hội (chuyển sang chế độ phong kiến, hình thành các đô thị lớn), và văn hóa (tiếp nhận rất nhiều thành tựu văn hóa khoa học kỹ thuật của cả Trung Hoa lẫn Châu Âu).
Mặt khác, phải nói rằng việc hình thành Đế quốc Mông Cổ cũng là sự bắt đầu quá trình suy vong của dân tộc này. Đơn giản là vì việc quản lý một đế quốc như vậy vượt quá xa khả năng của họ. Về sau người Mông Cổ đành phải chấp nhận cơ chế tản quyền tự trị cống nạp.

Vó ngựa chiến binh xưa
LỰA CHỌN THỨ HAI - KỊP THỜI CHẠY KHỎI CHINA
Hốt Tất Liệt cháu Thành Cát Tư Hãn đã chinh phục được China và thành lập nhà Nguyên (1271-1368). Xuất phát từ trinh độ văn minh thấp hơn hẳn China, sau một thời gian ngắn không thành công trong việc “du mục hóa” China, và dưới áp lực của phong trào phục quốc China do Chu Nguyên Chương lãnh đạo, người Mông Cổ lập tức tháo chạy khỏi China.
Phải nói rằng việc “rút chân” kịp thời ra khỏi China, là một sự lựa rất sáng suốt. Sau hơn 80 năm thống trị Trung Hoa người Mông Cổ rất ít bị (chịu) Hán hóa, họ bảo tồn được hầu như nguyên vẹn lãnh thổ, bản sắc dân tộc và phiên hiệu quốc gia của mình.
Điều này hoàn toàn khác với người Mãn Châu một ngoại tộc thống trị China dưới thời nhà Thanh (1644-1912). Cùng xuất phát từ trình độ văn minh thấp hơn hẳn văn minh China như người Mông Cổ, nhưng lại có tham vọng chinh phục China bằng cách “hòa mình” vào văn hóa Trung Hoa, nên họ đã có kết cục khá bi thảm.
Mặc dù từng có những minh quân như Khang Hy, Càn Long, sau 268 năm “nấn ná” ở China, người Mãn Châu đã bị Hán hóa và “hòa tan” hầu toàn phần, nghĩa là đánh mất hết cả lãnh thổ, bản sắc dân tộc và phiên hiệu quốc gia của mình. Điều thú vị nhất, là trong thời kỳ Nhật xâm lược China (1937-1945), người Mông Cổ còn truyền bá kinh nghiệm lịch sử này cho người Nhật.
LỰA CHỌN THỨ BA - CHỌN PHƯƠNG ÁN ÍT XẤU HƠN
Sau triều đại nhà Nguyên sụp đổ, người Mông Cổ rút về phía Bắc thành lập triều đại Bắc Nguyên (1368-1635) trên phần lãnh thổ Mông Cổ và Nội Mông (China hiện nay). Đây cũng là thời kỳ mà Phật giáo Mật Tông (Lamaism) từ Tây Tạng bắt đầu xâm nhập vào Mông Cổ
Triều đại Bắc Nguyên tuy giữ được độc lập đối với nhà Minh và các quốc gia Trung Á khác, nhưng đã mất hoàn toàn hào quang của Đế quốc Mông Cổ và dần suy yếu do những mâu thuẫn nội bộ.
Năm 1635, Đại Hãn Bắc Nguyên chính thức đầu hàng Mãn Châu, và trở thành một bộ phận China từ 1644 khi nhà Thanh chính thức thành lập. Sau đó, dần dần Mông Cổ trở thành một tỉnh ngoại vi lạc hậu của nhà Thanh. Họ chỉ thoát khỏi sự cai trị của China vào năm 1911, khi nhà Thanh sụp đổ trong Cách mạng Tân Hợi.. Sau 1911 ở Mông Cổ đã thiết lập chế độ quân chủ Đại Hãn (1911-1924).
Tượng Damdin Sukhbaatar
Xukhe Bator là người có công lớn nhất trong việc đưa Mông Cổ hoàn toàn thoát khỏi China lạc hậu, nửa phong kiến và nửa thuộc địa lúc đó. Xuất thân là một chiến binh trẻ tuổi (sinh 1893), Xukhe Bator nổi tiếng là một chỉ huy dũng cảm và có học thức trong quân đội Đại Hãn.
Nhận thức được sự vượt trội về mọi mặt của nước Nga, của Liên Xô so với China phong kiến, Xukhe Bator đã cùng với các đồng chí như Choibansan tiếp cận được các lãnh đạo Liên Xô (kể cả Lenin). Được sự giúp đỡ của Liên Xô họ thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (1921) và Quân đội Nhân dân Mông Cổ theo mô hình ĐCS và Hồng quân Liên Xô.
Ông Xukhe Bator là Tổng chỉ huy đầu tiên của quân đội này. Được sự hỗ trợ của Liên Xô, Quân đội Nhân dân Mông Cổ của Xukhe Bator và các đồng chí đã đuổi được Quân đội Quốc dân đảng China ra khỏi Mông Cổ. Ngày 11/07/1921 Mông Cổ chính thức tuyên bố độc lập. Cũng từ đó Mông Cổ chính thức bước vào kỷ nguyên Liên Xô hóa toàn diện, thậm chí cả chữ viết Mông Cổ cũng dùng mẫu tự Kiril.
Trong trong khoảng thời gian kỷ lục bốn mươi năm (1925-1965), Mông Cổ đã từ một nước phong kiến với nền kinh tế nông nghiệp chăn nuôi du mục lạc hậu trở thành một quốc gia nông công nghiệp có nền chăn nuôi khá phát triển, gần như Liên Xô hồi đó.
Thời kỳ Xô Viết, Mông Cổ thường được gọi là nước Cộng hòa thứ 16 của Liên Xô. Thực tế Mông Cổ đã thực sự trở thành một bản sao không tồi về mọi phương diện, và được giúp đỡ toàn diện mọi mặt của Liên Xô. Sau Thế chiến 2, từ khoảng 1950 thủ đô Ulan Bator bắt đấu được quy hoạch, các căn hộ kiểu Xô Viết đã thay thế hầu hết các khu nhà yurt (nhà lều truyền thống Mông Cổ). Liên Xô thường xuyên tư vấn và hỗ trợ kinh phí xây dựng. Hầu hết các công trình tại Ulan Bator hiện nay được xây dựng trong thời kỳ từ 1960 đến 1985.
Vì vậy, tuy đô thị Mông Cổ phát triển gần như từ số không, nhưng nhìn chung cũng khá khang trang. Đặc biệt là tránh được tình trạng nhà ổ chuột, nhà ống, cũng như quy hoạch nhôm nham ở phần lớn các đô thị Châu Á đương thời .

Đa số người Mông Cổ đã được chuyển đến sống trong các khu chung cư có đầy đủ điện nước và các tiện nghi tối thiểu, cũng như được sử dụng các phương tiện công cộng, được biết đến nhà hát, rạp chiếu bóng, nhạc viện …
Đồng thời giống như các nước thuộc Liên Xô thời kỳ đó, giáo dục Mông Cổ phát triển vượt bậc, trẻ em được đi học ở các trường thuộc một nền giáo dục hiện đại bao gồm hệ thống các nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học được trang bị đầy đủ.
Tóm lại, bị “kẹp chặt” giữa China và Liên Xô, giới tinh hoa Mông Cổ luôn nói đùa một cách cay đắng “nếu không có nước Nga, Mông Cổ từ lâu đã là “Nội Mông mở rộng”. Còn nếu không có China, từ lâu Mông Cổ đã trở thành “nước Cộng hòa tự trị Mông Cổ” thuộc LB Nga”.
Tuy nhiên phải nói rằng trong nửa đầu thế kỷ 20 đối với người Mông Cổ, việc ngả về Liên Xô là một lựa chọn thành công. Lựa chọn này vừa tạo cho Mông Cổ khả năng phát triển tăng tốc trong một giai đoạn lịch sử nhất định, vừa tránh cho Mông Cổ nguy cơ bị đồng hóa nếu trở thành một tỉnh của China.

Vào những năm 1990, cùng với phong trào dân chủ hóa xã hội và mở cửa sang Phương Tây, trong thế hệ trẻ Mông Cổ khá nhiều người (đặc biệt là những người chưa bao giờ từng phải đốt phân bò khô để sửa ấm lều trại trong mùa đông) đã phủ nhận sự lựa chọn này. Họ cho rằng Liên Xô đã kìm hãm và làm “méo mó” sự phát triển tự nhiên đáng lẽ có thể rất huy hoàng của Mông Cổ, tương tự như trường hợp Cộng hòa dân chủ Đức và Czech (?).
LỰA CHỌN THỨ TƯ - ĐI VÀO DÒNG CHỦ LƯU CỦA NHÂN LOẠI
Như tất cả các nước thuộc Liên Xô thời kỳ TBT Brehznev (1964-1982), ở Mông Cổ đó là một giai đoạn kinh tế trì trệ, đi kèm với sự tha hóa của giới lãnh đạo. Năm 1984, Yumjaagiin Tsedenbal TBT Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (ĐNDCMMC), chiến hữu của Brehznev, người lãnh đạo Mông Cổ hơn 40 năm bị hạ bệ, do phản đối việc Liên Xô bình thường hóa và thắt chặt quan hệ với China.
Được truyền cảm hứng từ những cải cách ở Liên Xô, phái cải cách trong ĐNDCMMC do TBT mới Jambyn Batmönkh dẫn dắt, đã thực hiện hàng loạt cải cách kinh tế.
Tuy nhiên trong con mắt các đảng viên trẻ của ĐNDCMMC, những điều này là chưa đủ. Tháng 11/1989, do ảnh hưởng từ Liên Xô, những cuộc đấu tranh đòi dân chủ hóa xã hội đã bắt đầu. Người khởi xướng của phong trào này là nhà hoạt động trẻ tuổi Tsakhiagiin Elbegdorj, vốn là sinh viên Trường Quan hệ Quốc tế Moskva danh tiếng.
Tsakhiagiin Elbegdorj bắt đầu tuyên truyền các ý tưởng cải tổ kinh tế, chính trị và dân chủ hóa xã hội của Liên Xô. Ông đã cùng 2 người khác là Dari Sukhbaatar và Chimediin Enkhee thành lập Phong trào dân chủ. Ngày 10/12/1989, cuộc tuần hành rầm rộ ủng hộ dân chủ hóa diễn ra trước Trung tâm Văn hóa thanh niên tại Ulan Bator. Tại đây, Elbegdorj tuyên bố thành lập Liên hiệp (Đảng) Dân chủ Mông Cổ.
Trong khoảng từ tháng 12/1989 đến 07/03/1990, tại Ulan Bator và một số thành phố Mông Cổ khác, đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình đòi dân chủ (cả khi ngoài trời là – 30 độ C) với hơn 100.000 người tham dự. Những cuộc biểu tình này đã kết thúc vào ngày 09/03/1990 với việc người cầm đầu Chính phủ của ĐNDCMMC Jambul Batmönkh tuyên bố từ chức. Jambul Batmönkh cũng là người kiên quyết chống lại mọi biện pháp đàn áp đối với những người biểu tình.
Cùng ngày 09/03/1990 đã diễn ra các cuộc đàm phán giữa các lãnh đạo ĐNDCMMC và những người lãnh đạo biểu tình. Chính phủ mới tuyên bố cuộc bầu cử quốc hội tự do đầu tiên tại Mông Cổ sẽ được tổ chức vào 07/1990, mở đường cho cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên tại Mông Cổ.
Những sự kiện này về sau được gọi là Cách mạng Dân chủ Mông Cổ 1990. Đây là một cuộc cách mạng bất bạo động, không đổ máu. Ngày 29/07/1990 cuộc bầu cử quốc hội đa đảng đầu tiên ở Mông Cổ được tổ chức. Trong cuộc bầu cử này, ĐNDCMMC thắng 357/430 ghế tại Đại Hural (Thượng Nghị viện) và 31 trong số 53 ghế tại Tiểu Hural (Hạ Nghị viện). Kết quả của việc ĐNDCMMC có một vị thế rất vững chắc ở các khu vực nông thôn.
Vào tháng 11/1991, Đại Hural bắt đầu thảo luận về một Hiến pháp mới, có hiệu lực từ 12/02/1992. Hiến pháp xác định Mông Cổ là một quốc gia độc lập và có chủ quyền, Hiến pháp đảm bảo một số quyền tự do dân chủ, bao gồm việc bổ nhiệm chính phủ và nhánh hành pháp, việc thiết lập một cơ quan lập pháp đơn viện là Đại Hural Quốc gia.
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992, ứng cử viên đối lập Punsalmaagiin Ochirbat đắc cử. Đó là cuộc bầu cử đầu tiên mà những người dân chủ giành thắng lợi. Từ đó đến nay (2019) trải qua nhiều thăng trầm, Mông Cổ nhịp nhàng chuyển sang chế độ dân chủ đại nghị đa đảng với 18 chính đảng chính thức hoạt động, trong đó ĐNDCMMC là chính đảng lớn nhất.
Khối Liên minh Dân chủ dưới quyền đồng lãnh đạo của Tsakhiagiin Elbegdorj, Chủ tịch Đảng Dân chủ Mông Cổ chỉ giành được đa số trong cuộc bầu cử Quốc hội lần đầu tiên vào năm 1996. Còn bản thân Tsakhiagiin Elbegdorj cũng chỉ trở thành tổng thống Mông Cổ lần đầu tiên năm 2009.
Định hướng đi vào dòng chủ lưu của nhân loại của Mông Cổ càng rõ nét hơn, sau thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 07/2017 của ứng cử viên của Đảng Dân chủ Haltmaagiin Battulga (Hình 4) cựu vô địch thế giới môn sambo (1989) và là một trong những doanh nhân giàu nhất ở Mông Cổ (tài sản cá nhân 1.2 tỷ USD).
Chương trình tranh cử của ông bao gồm việc phát triển sâu rộng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chống tham nhũng và đặc biệt là kêu gọi chống lại sự bành trướng của China trong công nghiệp khai khoáng (ngành kinh tế chính của Mông Cổ) đã mang lại thắng lợi cho Haltmaagiin Battulga.
Sau khi trở thành tổng thống Mông Cổ, ưu tiên hàng đầu trong đường lối chính trị kinh tế đối ngoại của Haltmaagiin Battulga, là mở rộng quan hệ thương mại với Nga, để cân bằng ảnh hưởng của China. Nhưng còn quan trọng hơn, là mở rộng quan hệ với “người hàng xóm thứ ba” (Mỹ, EU, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Turkey, Ấn Độ, Úc, Việt Nam …), để cân bằng ảnh hưởng và giảm phụ thuộc vào cả China lẫn Nga.
Tuy nhiên, Haltmaagiin Battulga và các nhà lãnh đạo Mông Cổ khác không có ý định tham gia vào bất cứ liên minh chính trị quân sự nào nhằm chống lại Nga và China.
VÀI NÉT VỀ MÔNG CỔ HÔM NAY
Mông Cổ có diện tích 1.560.000 km2, dân số 3.17 triệu người với khoảng hơn 50% là cư dân đô thị (riêng Ulan Bator 1.3 triệu người). Mông Cổ là một đất nước toàn núi đồi, thảo nguyên và sa mạc nhưng lại giầu khoáng sản: đồng, thiếc, kẽm, vàng, molibden, volfram, uranium và than đá.
Tổng cộng có khoảng 75 khu quặng mỏ có giá trị khai thác công nghiệp. Tổng giá trị 10 khu mỏ tiềm năng nhất ước lượng là 2750 tỷ USD.
Những năm 2000-2012, Mông Cổ có tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt trội từ 13-15% năm. Từ sau 2012, kinh tế Mông Cổ bắt đầu chững lại. Cụ thể năm 2018, tốc độ tăng trưởng là 5.8%.
Cơ cấu kinh tế (đóng góp GDP): chăn nuôi trồng trọt 16.6% (42% lao động), khai khoáng 20% (4% lao động), gia công chế tạo 7.2% (6% lao động), dịch vụ 44.8% (48%).
Năm 2017, doanh số xuất khẩu của Mông Cổ là 6.201 tỷ USD (đối tác chính gồm có China 73%, Anh và Thụy Sỹ 9.7%, Nga, Ý, Hàn Quốc dưới 1%). Nhập khẩu là 4.335 tỷ USD (đối tác chính gồm có China 31.6%, Nga 27.8%, Nhật Bản 8.7%, Hàn Quốc 4.6% và Mỹ 4.4%).
Như đã đề cập ở trên sự phụ thuộc ngày càng lớn vào xuất nhập khẩu với China dấy lên mối lo ngại và phẫn nộ sâu sắc trong xã hội Mông Cổ, và là tiền để cho thắng lợi của Haltmaagiin Battulga trong cuộc bầu cử tổng thống 07/2017.
Để dễ nhận biết những thành tựu của Mông Cổ hôm nay, tôi xin phép so sánh những thành tựu của Mông Cổ với Uzbekistan, một quốc gia quan trọng ở Trung Á. Thời kỳ Xô Viết Uzbekistan từng phát triển hơn Mông Cổ khá nhiều, và từng là bậc đàn anh, khuôn mấu cho Mông Cổ.
Theo IMF năm 2018, GDP (PPP) TB người của Mông Cổ là 13.447 USD và Uzbekistan là 7665 USD tương ứng. Năm 2018, chỉ số HDI (Human Development Index) của Mông Cổ là 0.741 (xếp hạng 92) và Uzbekistan là 0.710 (xếp hạng 105) tương ứng.
Mông Cổ có thể chế chính trị dân chủ đại nghị đa đảng. Năm 2018, the Democracy Index của Mông Cổ là 6.50 (xếp thứ 62), còn Uzbekistan có thể chế chính trị toàn trị và the Democracy Index của Uzbekistan là 2.01 (xếp thứ 156) tương ứng.
Về tham nhũng, năm 2018, CPI (Corruption Perceptions Index) của Mông Cổ là 37 (xếp hạng 93), còn). CPI của Uzbekistan là 23 (xếp hạng 158) tương ứng. Ngoài ra, Chỉ số thất bại quốc gia (Failed States Index – FSI) của Mông Cổ là 54.1 (xếp hạng 128) – thuộc loại quốc gia bền vững và Uzbekistan là 75.7 (xếp hạng 70) - thuộc loại quốc gia bị cảnh báo.

QUAN HỆ VỚI NGƯỜI CHINA
Như đã nói ở trên, người Mông Cổ rất lo ngại và phẫn nộ trước sự bành trướng của China trong nhiều lĩnh vực, trước hết là trong công nghiệp khai khoáng. Khác với người Nga được tôn trọng, vì nhiều lý do lịch sử và văn hóa, trong đời sống thường nhật, không ít người Mông Cổ công khai bầy tỏ thái độ không thích, kỳ thị với người China.
Chẳng hạn, thường là công dân China bị khám xét kỹ lưỡng hơn rất nhiều khi đi qua các trạm biên phòng và hải quan. Hay là người Mông Cổ thường không chào đón, mặn mà việc kết hôn với người China.
Hiện nay ở Mông Cổ thường xuyên có khoảng từ 20-25.000 lao động nhập cư China làm việc trong các công ty khai khoáng hoặc xây dựng. Nhìn chung Sở di trú Mông Cổ theo dõi rất chăm chú những người này. Trường hợp không có giấy phép lao động, hoặc thị thực nhập cảnh qúa hạn, đối tượng sẽ bị trục xuất cưỡng bức trong vòng 6 giờ.
Chính quyền Mông Cổ có vẻ như kiểm soát được tương đối chặt biên giới Mông Cổ - China (dài tổng cộng 4677km). Vì vậy, biên giới Mông Cổ - China hoàn toàn không phải là “thiên đường” cho buôn bán tiểu ngạch và hàng nhập lậu.
PS. Đương kim tổng thống Mông Cổ Haltmaagiin Battulga có vợ gốc Nga (quốc tịch Mông Cổ), và sử dụng thành thạo tiếng Nga và tiếng Anh. Cả nhà tổng thống sống trong một căn hộ của riêng gia đình ở ngay gần dinh tổng thống. Hàng ngày Haltmaagiin Battulga đi bộ đến Văn phòng làm việc.
Cách tốt nhất để hiểu người Mông Cổ, là đắm mình vào thiên nhiên kỳ vỹ của họ. Lấn đầu tiên tôi đến Mông Cổ vào giữa mùa đông, và lập tức bị mê hoặc, choáng ngợp. Bầu trời mênh mang xanh ngắt không một gợn mây, nắng vàng chói chang trên thảo nguyên, trời lạnh thấu xương (- 40 độ C), mà các cô gái và lũ trẻ má hồng hây hây vẫn thản nhiên từ tốn dạo chơi.

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

TRẠI SÚC VẬT



Theo FB Thai Ba Tan
TRẠI SÚC VẬT
Trại súc vật (tên tiếng Anh là Animal Farm) là một tiểu thuyết trào phúng chỉ trích sự tha hóa của giới lãnh đạo chính trị của nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ tên là George Orwell (1903-1950).
Tác phẩm xuất bản ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau được in ở Mỹ. Trước đó George Orwell đã có 9 đầu sách xuất bản với tổng số bản in cả ở Anh và Mỹ là 195.500 cuốn.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai số bản in bị hạn chế do thiếu giấy. Tuy vậy cho đến khi Orwell mất vào tháng 1 năm 1950 đã có 25.500 cuốn Animal Farm được in ở Anh và 590.000 cuốn được in ở Mỹ. Điều đó nói lên thành công to lớn và ngay lập tức của tác phẩm.
Tên nguyên gốc của truyện là Animal Farm: A Fairy Story (Trại súc vật: Một truyện cổ tích), nhưng A Fairy Story đã bị các nhà xuất bản Hoa Kỳ bỏ đi trong lần xuất bản năm 1946.
Trong số tất cả những bản dịch khi Orwell còn sống, chỉ bản tiếng Telugu là giữ tên nguyên bản. Các biến thể khác của tên truyện gồm: Một chuyện châm biếm và Một chuyện châm biếm đương đại. Orwell đề nghị dịch tên cho bản tiếng Pháp là Union des républiques socialistes animales, một lối chơi chữ bởi từ này viết tắt là URSA, có nghĩa "gấu" trong tiếng Latinh, cũng là tên một loài vật.
Sau hơn 50 năm từ lần xuất bản đầu tiên, tác phẩm đã được dịch ra 68 thứ tiếng trên thế giới kể cả tiếng Telugu, tiếng Ba Tư, tiếng Iceland và tiếng Ukraina và thường xuyên được tái bản. Tạp chí Time đã chọn cuốn sách này là một trong 100 tiểu thuyết hay nhất bằng tiếng Anh (1923 tới 2005); nó cũng đứng ở vị trí 31 trong Danh sách Tiểu thuyết hay nhất thế kỷ 20. Nó cũng giành một Giải Hugo năm 1996 và cũng có mặt trong Những cuốn sách hay của thế giới phương Tây.
*
Có những người cho rằng George Orwell đã dùng hình tượng những con gia súc trong trang trại để thể hiện những tiên đoán của ông về một nhà nước Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực ra không phải vậy, tác phẩm được hoàn thành năm 1945, vào thời điểm đó phương Tây không có thông tin đầy đủ về những nhà nước này, như Liên Xô, và hệ tư tưởng Xã hội Chủ nghĩa đang ở thời kỳ thịnh vượng nhất chưa bộc lộ những yếu kém của mình. Orwell đã nói rằng tác phẩm của ông không ám chỉ bất cứ quốc gia hoặc hệ thống chính trị nào, những gì tác phẩm mô tả có thể xảy ra ở mọi nơi tại mọi quốc gia, trong mọi giai đoạn lịch sử.

Tiểu thuyết không chỉ đề cập tới sự tham nhũng bởi các lãnh đạo bị tha hóa mà còn cả việc làm sao sự đồi bại, dửng dưng, lãnh đạm, ham danh lợi và thiển cận có thể tiêu diệt bất kỳ khả năng nào của một xã hội mới tốt đẹp và bình đẳng hơn. Tuy tiểu thuyết này thể hiện giới lãnh đạo tham nhũng như là sai lầm của cách mạng, nó cũng cho thấy nguy cơ để sự dửng dưng và lãnh đạm, dân trí thấp kém của những người dân bên trong một cuộc cách mạng có thể dẫn tới sự thất bại của nhà nước mới nếu sự chuyển tiếp êm đẹp sang một chính phủ với những người xứng đáng không được diễn ra.
Tóm tắt
Thủ lĩnh (Old Major), chú lợn đực già tại Trại Manor (hay "Willingdon Đẹp đẽ" như nó tự gọi mỗi khi xuất hiện) kêu gọi các loài vật khác trong Trại tới một cuộc họp, tại đó nó so sánh con người với những kẻ ăn bám và dạy các con vật một bài hát cách mạng, "Beasts of England" (Những súc vật của nước Anh).
Khi Thủ lĩnh chết ba ngày sau đó, hai con lợn trẻ, Snowball và Napoleon, nắm quyền chỉ huy và biến giấc mơ của Thủ lĩnh thành một triết lý đầy đủ. Các con vật nổi dậy và đuổi Ông Jones khỏi trang trại, đổi tên từ "Trại Manor" thành "Trại súc vật."
Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật được viết trên tường của một nhà kho để tất cả mọi con vật có thể đọc được. Điều thứ 7 là quan trọng nhất, "Mọi con vật đều bình đẳng." Tất cả các con vật đều phải làm việc, nhưng chú ngựa thồ, Boxer, làm việc nhiều hơn những con khác và nhận câu châm ngôn - "Tôi sẽ làm việc nhiều hơn nữa."
Chú lợn Snowball tìm cách dạy các con thú khác đọc và viết (dù ít con muốn học đọc và viết cẩn thận, và điều này đã góp phần vào việc những con lợn trở thành kẻ cầm quyền); thức ăn thừa mứa; và trang trại hoạt động êm thấm. Những con lợn tự nâng cấp chúng lên các vị trí lãnh đạo, thể hiện sự ưu tú của mình bằng các đặt bên cạnh các loại thức ăn đặc biệt phục vụ cho sức khoẻ cá nhân của chúng. Trong lúc đó, Napoleon bí mật lấy những chú chó con từ các con chó trong trang trại và tự mình huấn luyện chúng. Khi Ông Jones tìm cách lấy lại trang trại, các con vật đánh bại ông trong cái chúng gọi là "Trận Cowshed." Napoleon và Snowball bắt đầu một cuộc cạnh tranh quyền lãnh đạo.
Khi Snowball tuyên bố ý tưởng về một cối xay gió, Napoleon nhanh chóng phản đối nó. Snowball thực hiện một bài phát biểu nồng nhiệt để ủng hộ cối xay gió, trong khi đó Napoleon triệu tập chín con chó của mình, và chúng đã đuổi Snowball đi. Với sự vắng mặt của Snowball, Napoleon tuyên bố mình là lãnh đạo và thực hiện những thay đổi. Những cuộc hội họp sẽ không còn được tổ chức nữa, và thay vào đó là một uỷ ban của những con lợn sẽ quyết định điều gì sẽ xảy ra với trang trại; vì thế tạo ra một thứ giống với một xã hội chuyên chế độc tài
Napoleon, dùng một chú lợn trẻ tên là Squealer làm người phát ngôn của mình, thông báo rằng Snowball đã ăn cắp ý tưởng về cối xay gió của Napoleon. Nhân vật Squealer trong trường hợp này có thể coi là một sự ám chỉ tới một nhân vật thêu dệt (spin doctor) chính trị. Các con vật làm việc nhiều hơn với lời hứa hẹn về một cuộc sống dễ dàng hơn với chiếc cối xay gió.
Sau một cơn bão mạnh, các con vật thấy thành quả lao động của chúng đã biến mất. Napoleon và Squealer sau đó tìm cách thuyết phục các con vật rằng Snowball là người đã phá huỷ cối xay gió, dù theo những lời bàn luận miệt thị từ các trang trại xung quanh thực tế cối xay gió bị phá huỷ bởi những bức tường được xây quá mỏng. Khi Snowball trở thành kẻ giơ đầu chịu báng, Napoleon bắt đầu thanh trừng trang trại, giết nhiều con vật mà nó buộc tội là đi lại với Snowball. Trong lúc ấy, Boxer được dạy châm ngôn thứ hai: "Napoleon luôn luôn đúng."
Napoleon ngày càng lạm dụng quyền lực, vì thế cuộc sống trở nên khó khăn hơn cho các con vật; những con lợn áp đặt thêm nhiều biện pháp kiểm soát trong khi vẫn giữ các ưu tiên cho chúng. Những con lợn viết lại lịch sử để kể tội Snowball và vinh danh Napoleon, ví dụ bằng cách nói rằng Snowball đã chiến đấu cho loài người trong Trận Cowshed, và rằng Napoleon đã đánh Snowball, trong khi trên thực tế Snowball bị trúng một viên đạn từ khẩu súng của Jones. Squealer sửa chữa mọi tuyên bố do Napoleon đưa ra, thậm chí cả sự thay đổi Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật của những con lợn. "Không con thú nào được uống rượu" nhanh chóng được đổi thành "Không con thú nào được uống rượu quá mức" khi những con lợn phát hiện ra nơi cất giấu rượu whiskey.
Bài hát "Beasts of England" cũng bị cấm vì lý do nó không thích hợp, bởi theo Napoleon giấc mơ của Trại súc vật đã trở thành hiện thực. Nó được thay thế bằng một bài hát ca ngợi Napoleon, và nó có vẻ đã chấp nhận cách sống của một con người. Các con vật, dù lạnh, đói khát và phải làm việc quá sức, vẫn tin tưởng theo tuyên truyền tâm lý rằng chúng vẫn đang sống tốt đẹp hơn so với cuộc sống trước kia với Ông Jones, người chủ Trang trại Manor. Squealer lợi dụng trí nhớ kém của các con vật và sáng tác ra các con số để thể hiện sự cải thiện của chúng.
Mr. Frederick, một trong hai trại chủ láng giềng, đã lừa Napoleon bằng cách 
mua gỗ xẻ bằng tiền giả, và sau đó tấn công trang trại, dùng thuốc nổ để phá huỷ chiếc cối xay gió mới được làm lại. Dù những con vật của Trại súc vật cuối cùng đã giành chiến thắng, chúng phải trả một giá đắt, bởi nhiều con thú, kể cả Boxer, đã bị thương. Squealer biến mất một cách bí ẩn khỏi trận đánh. Boxer tiếp tục làm việc nhiều và nhiều hơn, cho tới khi cuối cùng nó ngất đi khi đang làm việc ở cối xay gió.
Napoleon điều một chiếc xe bán tải tới chở Boxer tới bác sĩ thú y, giải thích cho những con vật đang lo lắng rằng Boxer sẽ được chăm sóc tốt ở đó. Tuy nhiên, Benjamin đã nhận ra khi Boxer được tống lên xe rằng thực tế chiếc xe thuộc về "Alfred Simmonds, Kẻ giết Ngựa và Nấu Hồ", và cố gắng lên tiếng phản đối, nhưng những nỗ lực tuyệt vọng của các con thú không mang lại kết quả. Squealer nhanh chóng thông báo rằng chiếc xe đã được bệnh viện mua lại và giấy của người sở hữu trước vẫn chưa được viết lại. Nó kể lại một câu truyện cổ tích kịch tính và đầy nước mắt về cái chết của Boxer trong tay những bác sĩ giỏi nhất. Trên thực tế, những con lợn đã gửi Boxer tới chỗ chết để đổi lấy tiền mua thêm whiskey. Và vì thế lũ lợn lại tiếp tục say mèm.
Nhiều năm trôi qua, và những con lợn học đi thẳng, mang theo roi da, và mặc quần áo. Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: "Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác."
Napoleon tổ chức một bữa tiệc cho những con lợn và người ở trong vùng (trong Trại Foxwood bên cạnh, của Ông Pilkington), người đã chúc mừng Napoleon vì có những con vật làm việc nhiều nhất nước với lương thực ít nhất. Napoleon thông báo liên minh của mình với loài người, chống lại các tầng lớp lao động của cả hai "thế giới". Sau đó nó xoá bỏ các hành động và truyền thống liên quan tới Cách mạng, và đổi lại tên trang trại trở về ban đầu là "Trại Manor".
Các con vật, nghe được về việc đó, nhận ra khuôn mặt của những con lợn cầm quyền đã bắt đầu thay đổi. Trong một ván poker, một cuộc tranh cãi nổ ra giữa Napoleon và Ông Pilkington khi cả hai đều chơi quân bài Át Bích, và các con vật nhận ra rằng những bộ mặt của những con lợn khi đó hầu như đã giống với mặt người và rằng không ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng.

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

 Dỗ dành cũng khác
Tản văn
Nguyễn Ngọc Tư


Thằng em họ bán đất bỏ xứ đi sau bốn mùa tôm thất bát, không phải tự dưng bạn nghĩ cái kết cuộc cả nhà nó đùm gói lên xe đò đi miền đông làm mướn cũng có phần lỗi của mình. Mùa đầu nó trắng tay, bạn bảo không sao đâu. “Rồi xui rủi sẽ qua, ngày mai là ngày mới”, bạn nói vậy ở mùa hai. Mùa ba em trắng tóc với những món nợ như thòng lọng treo trước mặt, bạn vẫn khăng khăng trời đâu phụ người ta hoài.
Bây giờ nhớ lại, cái gọi là động viên, lại giống như ru thằng em ngủ quên trong ảo tưởng. Bởi lúc nói những lời hời hợt đó, cả hai ngồi ngay dưới bến, ngó dòng sông vẫn cợn phù sa, nhưng sắc nước bầm lại, xanh xám như con bịnh lâu ngày. Đồng tôm của thằng em chỉ cách những ống xả thải của mấy nhà máy chế biến thủy sản chừng chục cây số, và khoảng cách chừng đó về phía Bắc, là chợ, nơi còn hàng ngàn căn nhà dầm chân trên quãng sông nhuộm nước đen trong bao nhiêu tắm giặt, rác rến.
Lạc quan cho mấy, cũng biết con sông mà chị em bạn từng tắm mát của ba mươi năm trước, nơi những người đàn bà xóm Lá giặt áo gội đầu, dòng nước tinh sạch ấy không bao giờ trở lại. Giờ rửa chân còn ngại, nói gì đến lấy nước đó làm chỗ sống cho tôm, vốn là loại đỏng đảnh khó chiều. Vậy mà bạn vẫn bỏ qua thực tại, dỗ lấy được, giống hệt dân xóm Lá động viên nhau sau những rằm những ba mươi giở lú chỉ thấy toàn rác và bọt nước, rằng không sao đâu, biết đâu mùa tôm đang chờ ở con nước tới.
Cũng những con người này, hồi còn làm lúa vụ một vụ hai, có năm mưa dầm nhấn chìm ruộng sạ, họ nói có sao đâu, còn chút lúa đít bồ, nay mai nước rút ủ giống lại. Có quãng bắn nhau dữ quá, họ phải bỏ xóm ra chợ tản cư, tự nhủ không sao đâu, bom đạn rồi cũng tạnh (nghe nói bom mắc lắm, tiền đâu mà mua dội xuống hoài), chừng ngừng chiến lại về vườn lên liếp trồng rau. Còn đất còn sông là còn hy vọng.  
Những lời khích kệ kiểu đó bắt rễ từ đáy lòng, nở trên môi, như một cách đỡ nhau đứng dậy, khi căn nhà trong xóm bị bom vùi, khi người đổ xuống vì đạn lạc, khi cơn bão đi qua, mùa giáp hạt quá dài. Mấy chữ “không sao đâu”, “kệ nó, tính sau, sớm mai mặt trời lại mọc” mang tinh chất của hy vọng, cơ hội làm lại, tin vào sự từng trải trước bất trắc ở đời. Ông trời đâu có xéo xắt con người ta mãi được, ý nghĩ ấy như đức tin.
Coi lại, dân xứ mình dễ dỗ. Mấy cuộc chiến qua, xương thịt mất đi được yên ủi bởi tấm bằng tổ quốc ghi công treo vách, một chút tiền cho người thân, buổi thăm chớp nhoáng nhân ngày lễ. Bên thất trận, vẫn những bó xương buồn hiu, được vỗ về bằng một vài đại lễ cầu siêu, rất lâu sau. Và người bị bứt, bị nhổ khỏi rừng ruộng, bị ru ngủ trong những khu tái định cư sực mùi vôi mới quét, để thức dậy thấy mắt cay chẳng biết sinh kế ra sao, kiếm ăn cách nào với cuộc đời phía trước.      
Chỉ trẻ con mới khiến người lớn biến dỗ dành thành nghệ thuật. Đứa trẻ tập xe đạp xước gối sẽ nhớ ba nó vừa thổi vào vết thương vừa nói, “cái thẹo này chắc tự hào lắm, nhờ nó mà cu Tí biết chạy xe”, hay cậu học trò yếu đuối không quên điểm mười của ông thầy thể dục dù cậu về đích sau cùng, “bởi vì em đã không bỏ cuộc”. Cũng là một cách bảo con nín đi, mẹ lại nói có muốn uống chút sữa không, khóc nhiều thì phải bù nước.
Bạn từng nghĩ cuộc san sẻ khó nhằn nhất là với ai đó vừa tiễn người thân về đất. Nói với bà mẹ vừa mất con rằng thôi cứ nghĩ duyên nợ với nhau chỉ chút này, hay “thằng nhỏ vẫn ở đâu đây, chỉ cần mình tin là có”, thực chất là sáo mòn. Rồi nhận ra, với một số nỗi đau, góp mặt đã là vỗ về, ngồi im lặng bên họ, nghe tổn thương lên tiếng, không nhất thiết phải nói gì, nhất là những lời vô nghĩa.
Từ biển bị bức tử, lại thấy dỗ dành những con người bị mất biển kia cũng khó kém gì. Tới với họ, ngồi nghe nỗi mặn, không xoa dịu là bao. Nói “đêm rồi sẽ qua”, có khi bị đánh chảy máu mũi, bị phỏng rát dưới bao ánh nhìn thù nghịch, “rốt cuộc thì mi chọn bên nào?”. Bởi những con người đó, kể cả đứa trẻ vừa mới chào đời kia, sẽ không chờ được ngày biển hồi sinh, trở lại như hồi chưa bị đầu độc.
Bảo “không sao đâu” là lừa gạt, “sẽ có cách” là trì hoãn (thực chất là chẳng có cách nào), nhưng nói “khổ gì cũng trải qua rồi, cố chịu thêm chút nữa” thì đã bước qua ranh ác. Họ còn phải cố tới chừng nào, trên mảnh đất nhàu nát bởi bão lũ. Nhưng cuộc biển bị bức tử, sông chết mòn này đâu phải bởi trời. Thật không biết an ủi gì cho phải với những người trước mặt là núi chắn, biển chết sau lưng, chỉ còn những đám mây trên đầu, lủ khủ nhưng không ăn được.
Đời sống dời đổi không ngừng, nên vỗ về nhau cũng không thể xài cách cũ. Ngoài những ưu phiền tự nhiên như tuổi già, bệnh tật, quanh bạn ngó đâu cũng thấy người cần được dỗ, như thanh niên xóm Lá lần lượt bỏ xứ đi làm mướn, thằng bạn bị lọt hố ga gãy mấy cọng xương sườn, bên nhà em chồng trận mưa nào cũng ngập vì nước ngoài đường tràn vào.
Tới lúc nào đó, mạnh ai nấy tự dỗ mình, chứ còn sức đâu mà ủi an nhau. Khi ấy người ta ru tổn thương bằng gì khi “không sao đâu” đã hoàn toàn vô dụng. Nhưng cách nào thì dỗ dành ai đó đang đau, tuyệt đối, không thể nào, bằng bạo lực.

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

Portugal cổ kính



Lisbon nổi tiếng đẹp và cổ kính bên bờ sông Tagus. Lisbon là một thành phố có nhiều cảnh đẹp, có nhiều cung điện cổ kính, nhiều lâu đài tráng lệ với kiến trúc độc đáo. Lisbon bình dị với mầu nâu đỏ của những mái ngói lô xô, hiếm thấy lấp lánh xanh trắng của những vách kính cao ốc. Nhìn từ trên cao, thành phố rực rỡ sắc màu bên dòng sông Tagus xanh trong. 
Với ba ngày ở Lisbon, ngoài lang thang phố xá mua sắm thì bọn mình chỉ đến thăm quan được lâu đài cổ St. Jorge và tháp Belem. 
Castelo de São Jorge là một lâu đài lịch sử với một vị trí trên cao nhìn xuống thành phố Lisbon và sông Tagus. Lâu đài từ thời Trung cổ nằm trên đỉnh đồi cao nhất ở trung tâm, là một trong những di tích lịch sử của Lisbon. Mặc dù công sự đầu tiên trên đỉnh đồi Lisbon được biết không sớm hơn thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên, nghiên cứu khảo cổ học đã cho thấy rằng con người đã cư trú tại địa điểm này từ thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên. Từ thế kỷ 12, lâu đài đã phục vụ đa dạng như một cung điện hoàng gia, doanh trại quân đội, kho lưu trữ quốc gia, và bây giờ là một di tích và bảo tàng quốc gia.
Khuôn viên của lâu đài gần như vuông vắn, và ban đầu được tường bao quanh để tạo thành một tòa thành. Quần thể lâu đài bao gồm lâu đài chính, một số tòa nhà phụ trợ (bao gồm phếtích của cung điện hoàng gia), khu vườn và quảng trường bậc thang từ đó có thể nhìn thấy toàn cảnh ấn tượng của Lisbon. Lối vào chính của tòa thành là một cánh cổng từ thế kỷ 19 được trang trí bởi quốc huy của Bồ Đào Nha, tên của Nữ hoàng Maria II và năm 1846. Cổng này dẫn vào quảng trường chính, được trang trí với những khẩu pháo cổ và một bức tượng đồng của Afonso Henriques, là quốc vương Bồ Đào Nha đã giành lại lâu đài từ người Moors. Phế tích của cung điện hoàng gia nằm gần quảng trường chính, nhưng tất cả những gì còn lại là những bức tường và một vài phòng được xây dựng lại như Casa Ogival. 

Lâu đài thời trung cổ nằm phía tây bắc của thành cổ, tại điểm cao nhất. Theo giả thuyết, trong một cuộc bao vây, nếu những kẻ tấn công tìm cách vào thành cổ, lâu đài là thành trì và nơi ẩn náu cuối cùng. Lâu đài hình chữ nhật với mười ngọn tháp. Một bức tường và một cánh cửa kết nối chia sân trong lâu đài thành hai nửa. Một loạt các cầu thang cho phép du khách leo lên các lối đi trên tường giữa các tòa tháp, từ đó có thể ngắm nhìn cảnh quan tuyệt vời của Lisbon. 


St. Jorge Castle nhìn từ xa



Góc nhìn từ St. Jorge Castle


St. Jorge Castle



Góc nhìn từ lâu đài


Tháp Belem xây dựng vào thế kỷ 16 dưới bàn tay điệu nghệ của một trong những kiến trúc sư bậc thầy Francusco de Arruda, đã trở thành biểu tượng của đất nước xinh đẹp Bồ Đào Nha. Tháp Belem có 2 phần: Phần pháo đài có hình lục giác và phần tháp canh 5 tầng nằm ở bên trên của pháo đài. Tháp có chiều cao khoảng 30m và rộng khoảng 12m xây dựng bằng vật liệu chính là đá. Tầng hai có phần ban công rộng để du khách có thể đứng từ trên ngắm sông Tagus và phong cảnh thơ mộng nơi đây. Tầng ba là một nhà thờ nhỏ cho các hoạt động cầu nguyện. Tầng trên cùng có thể ngắm nhìn bao quát hết thành phố và đại dương bao la. Công trình trông như một con tàu kiên cố bằng đá sừng sững trên cảng Lisbon. Belem cũng là một tác phẩm nghệ thuật biểu tượng cho kiến trúc Gothic độc đáo của Bồ Đào Nha. Năm 1983, Belem đã được UNESCO công nhận Di sản Văn hóa thế giới.



Tháp Belem



Ngày thứ ba ở Bồ Đào Nha là Sintra-Cascais trip đi về trong ngày rất thú vị và tuyệt đẹp. Bạn Tour Guide với cái xe minibus đón đoàn mình ở trung tâm Lisbon khởi hành chuyến đi trong ngày đến Sintra và Cascais. Điểm đầu tiên là Công viên Pena với cây cối cỏ hoa xanh mướt bên những con đường mòn tuyệt đẹp. Sau đó là hành trình lên đỉnh ngoạn mục đến Cung điện Quốc gia Pena, di tích nổi tiếng nhất của Sintra, nằm trên đỉnh núi Sintra. Lâu đài lãng mạn thế kỷ 19 này trông giống như lâu đài trong chuyện cổ tích. Bên trong lâu đài là những phòng ngủ xa hoa được sử dụng làm nơi ở mùa hè cho gia đình hoàng gia. Cung điện Pena nằm trên một đỉnh đồi cao, từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn thấy Lisbon. Với tháp vàng mái vòm và màu đỏ gạch của tháp chuông nhà thờ, cung điện là một tổ hợp kiến trúc phức hợp tuyệt đẹp, được coi là một trong những kiến trúc ấn tượng nhất của trường phái lãng mạn thế kỷ 19 ở châu Âu. Sau đó lang thang ăn trưa và khám phá Sintra, thành phố di sản thế giới được UNESCO công nhận. Nằm trên bờ biển, Sintra có những ngọn đồi xanh tươi, những cung điện và lâu đài cổ kính, các tu viện cổ xưa tuyệt đẹp. Sintra được coi là viên ngọc về kiến trúc Bồ Đào Nha, là nơi mà các kiến trúc sư trên thế giới đều muốn đặt chân đến một lần. 


Pena National Palace


Như lâu đài cổ tích


Bên trong lâu đài

Trên đường từ Sintra đến Cascais, thích nhất điểm dừng chân với những bức ảnh tuyệt vời tại bãi đá Roca Cape (Cabo da Roca), đây cũng là điểm cực tây của Bồ Đào Nha và châu Âu. 


Roca Cape (Cabo da Roca), điểm cực tây của châu Âu.



Roca Cape (Cabo da Roca), điểm cực tây của châu Âu.



Một ngôi làng ven bờ biển



Cascais beach

Trên đường về Lisbon, dừng chân ở Cascais, khu nghỉ mát ven biển nổi tiếng. Lang thang bờ biển chụp hình ngắm cảnh dọc theo những con đường hẹp và những ngôi nhà xinh xắn. 


Phấn khích với cảnh đẹp bờ biển cực tây của châu Âu