Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội trong mắt tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội trong mắt tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2023

1. Nếp nhà

 

Mục lục.

1. Nếp nhà

2. Chúng tôi và bọn hắn

3. Đất kinh kỳ

4. Người vợ

5. Người của ngày xưa

6. Tiền

7. Danh phận

8. Nghệ nhân ở làng

9. Một người Hà Nội

10. Nắng chiều



Nếp nhà

1.

Mỗi lần ra Hà Nội việc đầu tiên là tôi phải tới thăm bà cô tôi. Chẳng có quà cáp gì cả, đến tay không, nhưng vẫn cứ phải đến. Vì bà là cái túi khôn của tôi mà. Năm nay các con bà sẽ làm lễ mừng thọ mẹ tám mươi tuổi. Các cụ nói: Năm mươi tuổi hiểu được mệnh trời. Người tám mươi tuổi lại vẫn minh mẫn, khôn ngoan, không chừng hiểu được cả then máy của Tạo hóa. Nói chuyện với bà tôi vẫn trờn trợn như ngày nào được hầu chuyện cụ Nguyễn. Nghĩa là vẫn phải uốn lưỡi trước khi hỏi, trước khi trả lời. Một ngôi nhà đẹp, một cửa hàng tuyệt vời ngay giữa một đại lộ trung tâm trông thẳng ra hồ Hoàn Kiếm mà chỉ bày bán lèo tèo mấy mặt hàng sơn mài, tượng gỗ thì uổng quá, coi khinh thiên hạ quá. Bà cụ cười: “Anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấy nhỉ?”. Con mắt thương mại thì chả dám nhưng với con mắt của người bây giờ thì ngôi nhà, nói cho chính xác hơn là miếng đất, của bà cô tôi cũng phải đáng giá một triệu…, tất nhiên là triệu đô. Cũng chả phải do mình đặt giá mà là đại diện các công ty nước ngoài tới trả giá. Ngày nào cũng có vài nhóm người tới hỏi nhưng bà cụ chỉ nhã nhặn trả lời: “Tôi không có ý định bán hoặc cho thuê cái nhà này”. Cho thuê cũng nhiều tiền lắm. Đã có người hỏi thuê chỉ mấy chục mét vuông của gian ngoài thôi, mỗi tháng trả năm ngàn đô, trên mười cây vàng. Vẫn là không, không bán mà cũng không cho thuê. Tại sao cụ lại gàn thế? Vì các em anh không muốn thế, cho đến hôm nay chúng nói vẫn đi làm cho nhà nước, không buôn bán gì cả, không mánh mung gì cả. Lương tiêu không đủ thì tôi bù. Bán các mặt hàng vớ vẩn như anh nói nhưng mỗi tháng cũng kiếm được khoảng trên dưới dăm triệu. Này, dăm triệu không phải là ít đâu anh nhá! Theo tôi được biết từ trẻ đến già cô tôi sống theo một số nguyên tắc, thời thế có thể thay đổi nhưng cách sống của bà dứt khoát không thay đổi. Đó là: sống thẳng thắn, sống lương thiện và sống theo pháp luật hiện hành. Những năm Pháp tạm chiếm Hà Nội, chú tôi vẫn mở trường dạy học tư như thời trước, còn cô tôi ấn hành sách giáo khoa cấp tiểu học do chú tôi soạn. Có một tác giả đưa tập thơ “Đồi thông hai mộ” bán cho bà. In tập thơ đó chắc chắn sẽ thu lãi nhiều, bà biết thế nhưng vẫn từ chối. Vì nhà xuất bản Nguyễn Du do bà chủ trương chỉ in có sách giáo khoa, đúng như trong giấy phép. Năm 56, cán bộ thuế tới kiểm tra kho giấy của bà để đánh thuế tồn kho, khoảng hai chục triệu. Chú tôi tính vốn nhát, vui vẻ bằng lòng ngay. Cho đỡ phiền. Nhưng bà vợ không chịu vì giấy in sách giáo khoa xưa nay không phải đóng thuế. Đã được miễn thuế thì làm gì có thuế tồn kho. Bà bướng bỉnh đến nguy hiểm, ai cũng sợ nhưng bà vẫn thản nhiên: “Lý của mình đúng, việc gì phải sợ”. Quả nhiên bà đúng thật. Bà luôn luôn đúng vì bà rất tỉnh táo trong mọi mối quan hệ, chỉ nhận những gì đáng có, có quyền được có, tuyệt đối không để bị dụ hoặc về tiền bạc cũng như về tình cảm. Một cái đầu hơi lạnh, lắm lúc tôi đã nghĩ về bà như thế. Nói cho ngay, nếu không có cái đầu lạnh làm sao bà giữ nổi một ngôi nhà quá ngon lành, quá quyến rũ trong bấy nhiêu năm, không gặp một chuyện rắc rối nào. Cho đến bây giờ đã sang tuổi tám mươi bà vẫn biết từ chối những đồng tiền rất hợp pháp ắt hẳn phải có một tính toán khôn ngoan nào đó. Cái khôn ngoan cao siêu chứ không phải là khôn vặt.

2.

Mùa xuân ở Hà Nội bao giờ cũng đẹp. Với tôi đã nhiều năm không được sống ở Hà Nội vào mùa xuân lại càng thấy đẹp. Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không. Trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm nhưng mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những màu sắc tươi tắn. Đã có mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố, trong một đám đông. Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục. Giàu hơn trước nhiều, sang hơn trước nhiều, cứ cho là bề ngoài thì cũng vẫn rất đáng mừng. Chỉ có bà cô tôi là ít thay đổi, hầu như không thay đổi. Vẫn mấy chiếc xe máy đã cũ, và vẫn còn nhiều xe đạp, loại xe đạp cà tàng từ những năm nào. Trời nắng các em đi xe máy, trời mưa đi xe đạp, đỡ phải rửa xe. Ăn mặc của bà cụ, của các em cũng chả có gì sang hơn, như trước đây, ngày trước với Hà Nội đã là sang, bây giờ là quá thường. Bây giờ con gái Hà Nội mặc quần chẽn đen, gót xẻ, có dải buộc dưới bàn chân, mặc măng tô lửng, hoặc đi bít tất đen dài, quần cộc, áo vét trùm qua mông. Đàn ông cũng diện lắm, áo vét tông các kiểu, thắt cà vạt đủ màu, giầy đen, cứ như họ từ các đại sảnh bước ra. Không phải đâu, chỉ là quần áo thường ngày thôi, cũng giống như trước kia họ mặc áo bông xanh, quần kaki vàng và đi dép nhựa. Chưa bao giờ tôi thấy người Hà Nội ăn mặc sang trọng như bây giờ. Chưa bao giờ tôi thấy phố xá chói lòa những tủ kính, những bảng hiệu và ánh sáng như bây giờ. Vậy mà một nhà giàu của Hà Nội có dư điều kiện để thay đổi lại không chịu thay đổi. Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn. Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà, một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu tôi, mỗi bên chịu một nửa”. Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra nó, cũng không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống nó thì thôi còn hoạnh họe nỗi gì. Bà chiều quý và tôn trọng các con dâu thật lòng nên cả hai nàng dâu đều tâm sự với mẹ chồng: “Con ở với mẹ còn thoải mái hơn ở nhà với mẹ con”. Con rể và con gái được nhận nhà ở một khu tập thể, nhà chật, lại xa, con còn nhỏ. Nhưng anh con rể không muốn nhờ vả mẹ vợ, tự mình cũng thấy không tiện mà người ngoài nhìn vào càng không tiện. Bà biết thế nên bảo con rể: “Trong cái nhà của tôi có một phòng dành cho vợ anh. Của vợ anh tức là của anh. Cũng như mọi thứ của anh tức là của vợ anh. Chẳng lẽ anh bảo không phải”. Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ chối, khi tôi lại thăm bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười: “Lại khó đến thế sao?”. Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh có học được không?” À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó lại hoàn toàn không dễ.

3.

Trở lại câu chuyện cũ, tại sao bà cụ không chịu bán nhà, chia tiền cho các con để họ lập cơ nghiệp riêng? Lớn rồi thì phải ở riêng, nó thuận với sự phát triển. Con cái đã trưởng thành vẫn bắt ở chung ăn chung như trại lính, đâu có phải là chuyện tính toán khôn ngoan. Bà cụ nghe tôi nói cười tít cả mắt, ra cái vẻ mọi sự bà đã tính cả rồi, đâu có đợi một thằng nhà văn ngây ngô mách nước. Bà nói, hiện nay các con bà vẫn thích đi làm cho nhà nước bằng cái nghề chuyên môn đã được đào tạo của mình. Ngoài giờ đi làm thì bọn nó đọc sách, dạy con học, bù khú với bạn bè. Họ thích sống như thế và có điều kiện để sống nhàn nhã như thế. Họ không có óc kinh doanh, không có nhu cầu phải kinh doanh. Không cần đến tiền thì không nên một lúc cầm quá nhiều tiền. Đồng tiền do may mắn mà có, do thời thế đổi thay mà có rất dễ là mầm mống của nhiều tai họa. Vì người có tiền chưa kịp học cách tôn trọng đồng tiền, sai khiến đồng tiền. Ở cái nhà này, theo tôi biết, chưa bao giờ họ mua vé số. Cũng không thờ cúng ông thần bà thánh nào, ngoại trừ ngày giỗ để anh em con cháu có dịp gặp gỡ nhau. Họ không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận. Bà cụ vẫn đi lễ các chùa miếu đền phủ với bạn bè nhưng bà không khấn. Bà cũng chưa từng xem tướng, xem bói, xin xăm. Ngày chú tôi mất mọi việc hậu sự chỉ một mình cô tôi lo liệu, không hỏi han bất cứ ai, không xem giờ xem ngày gì cả. Việc cưới xin của các con cũng thế. Đưa con gái đi, đón con dâu về tuyệt đối không có xem tháng xem ngày. Trong một lần trò chuyện, bà hỏi tôi: “Anh có phân biệt được người giàu lương thiện và kẻ giàu bất lương không?” - “Trong bao lâu?” - “Trong một lần tiếp xúc”. - “Thế thì khó!”. Bà bảo, bà vẫn phân biệt được. Những đứa giàu lên do cướp đoạt, lừa đảo nói chuyện một lúc là biết. Bọn họ khinh người rẻ của lắm. Họ không tin một ai cả, càng không tin còn có lòng tốt ở đời. Họ chỉ tin có tiền. Tiền là quân của họ. Một đội quân giặc cướp, sẵn sàng tàn phá tất cả, tiêu diệt tất cả để đạt được những cái đích phù phiếm của chủ nó. Bà nói, bà là người biết quý trọng đồng tiền từ trẻ tới già, nhưng mấy năm gần đây bà lại sợ tiền. Nghe chuyện của thiên hạ mà sợ. Càng ít sờ mó tới tiền càng tốt. Nó có độc đấy! Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa. Vì lẽ đó mà bà chưa muốn bán nhà. Các con bà cũng không ỷ eo, nài ép bà phải bán nhà. Thế là may. Nhưng cái may này còn kéo dài được bao lâu? Bà vốn không tin vào sự may rủi. Bà chỉ tin vào sự chuẩn bị của mình, chuẩn bị trong cái khả năng có thể, chứ liệu hết thế nào được những việc của chục năm sau.

4.

Bữa tôi sắp trở vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lại chào bà. Cũng như mọi lần tôi nói nửa vui nửa buồn: “Mong cô khỏe mạnh mãi để mỗi lần ra, cô cháu mình có dịp bàn chuyện thế sự, văn chương”. Bà cụ cười rất hồn nhiên: “Nếu được sống thêm mươi năm nữa thì vui lắm đấy. Nhưng mà khó”. Vì biết là khó nên ngay từ năm ngoái bà đã làm chúc thư, phòng khi đột nhiên phải ra đi thì các con đã có cẩm nang hành động. Làm chúc thư là khó lắm, sống làm sao chia của làm vậy. Chia khéo thì trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau. Chia vụng thì xẻ đàn tan nghé ngay tức khắc, càng đông con cháu càng lắm mối họa. Trước hết bà gặp riêng năm người con của mình vào một buổi chiều, con dâu con rể không được tham dự. Nguyên tắc làm chúc thư của bà là công khai và công bằng, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Tài sản chia làm sáu phần bằng nhau, năm con năm phần, mẹ một phần. Phần của mẹ hoặc gửi ngân hàng, hoặc đem kinh doanh, tùy, số lãi hàng năm lại chia làm sáu. Con trai đầu phải giữ việc hương khói được nhận hai phần. Bốn phần còn lại sẽ bỏ vào một quỹ riêng để chi các việc: tu bổ nhà thờ, sửa sang phần mộ, góp giỗ tết với các chi khác và cấp đỡ cho bà con nghèo của hai họ nội ngoại. Đồ gỗ và đồ sứ trong nhà thì cho hai con trai. Đồ trang sức của mẹ thì cho ba con gái. Sau buổi họp bà cụ phân công cho con gái lớn viết lại chúc thư làm sáu bản, viết tay không đánh máy, cả sáu người đều ký, mỗi người giữ một bản, có giá trị trước pháp luật. Từ nay bán nhà hay cho thuê nhà bà cụ coi như không biết, đám thừa kế cứ theo nguyên tắc chia sáu mà xử sự. Bà cụ nói xong, nhìn tôi một lúc lâu rồi bà cười rất ý nhị:

- Con người ta ai cũng có phần thiện phần ác. Muốn dưỡng thiện diệt ác thì trong nhà phải có gia pháp, ngoài xã hội phải có luật pháp. Trong gia pháp có phần truyền thống và danh dự của dòng họ, có phần đạo đức của người trên và nghĩa vụ của kẻ dưới. Gia pháp cũng phải theo thời mà điều chỉnh, quá ngược với thời thế thì con cháu khó theo, quá xu mị thời thế thì bỏ mất gốc rễ. Theo chỗ tôi biết gia pháp của nhiều danh gia vọng tộc ở Hà Nội đang gặp hồi khủng hoảng. Suốt mấy chục năm anh dạy các con anh khinh miệt đồng tiền, lên án tư hữu và những người giàu có đều là phần tử bất hảo. Bây giờ anh tính sao? Bây giờ các con anh đều lao vào kiếm tiền, đều nuôi mộng làm triệu phú tỷ phú trong chớp mắt. Khốn một nỗi chúng lại chưa từng được ai dạy bảo cái cách ăn ở với đồng tiền. Đồng tiền vừa là đày tớ vừa là ông chủ, vừa là bạn đường vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào? Chúng chỉ biết lựa chọn theo trực giác, theo kinh nghiệm tức thì, theo lợi ích trước mắt. Anh nghĩ xem, đã đến thế thì con người và nền văn minh của con người đã bị chúng gạt khỏi mọi sự tính toán rồi.

5.

Mấy hôm trước trời ấm nhưng hơi nồm, chỗ nào cũng lép nhép nhầy nhụa đến khó chịu. Đêm như có mưa, hơi nặng hạt thì phải, hạt mưa gõ trên mái ngói nghe rất rõ. Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ, mặc một cái áo len mỏng, khoác thêm một cái áo ngoài, đạp xe ra đường nhìn vào cái gì cũng đẹp. Huống hồ bây giờ Hà Nội lại đang đẹp, mỗi ngày một đẹp ra, trẻ ra. Lắm lúc nghĩ cũng tiếc đã trót đưa vợ con vào sống trong Sài Gòn. Tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được. Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa. Không còn cả thì giờ để ganh ghét, để hờn giận. Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứ nên làm lành. Văn chương làm lành cố nhiên là không hay rồi, thôi kệ, vì cũng chả còn hơi sức đâu gây sự, dầu chỉ là gây sự vặt.

Tôi đạp xe thong thả dọc đường Phan Đình Phùng bất chợt gặp một ông già khoảng tuổi tôi chạy bộ buổi sáng từ đường Cổ Ngư về. Ông chạy bên kia đường, tôi đạp xe bên này đường, lại có một thằng cha cưỡi xe Dream chạy chậm cùng chiều với tôi. Bỗng thấy hắn hét lên: “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!”. Ông già đứng sững lại, thằng cha vừa hét quay mặt lại nhìn tôi nhăn răng cười. Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! Hàng hóa nhiều tất nhiên rác rưởi phải nhiều chứ nghèo quá, đói quá lấy đâu ra rác.

2. Chúng tôi và bọn hắn

 

Chúng tôi và bọn hắn

1.

Tôi và Phúc là bạn của nhau từ năm tôi mười bốn tuổi. Hai nhà sát cạnh nhau ở phố

Résident Miribel nay là phố Trần Nhân Tông, đi vài bước là ra phố Huế, nhìn sang bên kia đường là Chợ Hôm. Nói là bạn cũng chưa hẳn đúng, anh hơi tôi hai tuổi, học trên hai lớp, tính cách phóng khoáng, mạnh mẽ như một chàng trai đã trưởng thành. Mỗi lần gặp nhau ở cửa, anh mặc quần soọc trắng, áo sơ mi cộc tay trắng, tóc cúp bốc, đi giầy thể thao, đứng dạng chân, hai tay thọc túi quần, hất hàm hỏi tôi chuyện này chuyện kia, mày mày tao tao, ra dáng ông anh lắm. Tôi vốn là người tính cách mềm yếu, dễ bị ngợp trước những người mạnh, tõn tẽn trả lời lúc xưng tôi, lúc xưng em. Cuối năm 44, đột nhiên Phúc bỏ nhà ra đi. Vì sao mà đi và đi đâu thì không được biết. Bọn trẻ con trong phố nói thầm với nhau cái tin đó một cách kính trọng và bí mật. Sau này mới biết Phúc đã là Việt Minh từ cái ngày ấy. Rồi gia đình tôi dọn nhà lên phố Đỗ Hữu Vị, sau lại về Vân Hồ nên không biết tin tức gì về gia đình Phúc nữa. Cuối năm 1949, tôi làm phóng viên cho báo Dân quân Hưng Yên bất chợt gặp Phúc ở Kim Động. Anh ăn mặc giống hệt một cán bộ cấp đại đội hay tiểu đoàn tôi thường gặp, quần áo nâu, áo trấn thủ mặc ngoài, đeo xà cột, túi áo cài bút Oerơvơ, tay đeo đồng hồ và sau đít cộm lên một khẩu súng ngắn. Anh nói đã là chính trị viên đại đội đang trên đường lên Việt Bắc dự hội nghị bí thư chi bộ toàn quốc. Năm 61 tôi lại gặp anh, cùng là cán bộ của Tổng cục Chính trị, cấp bậc như nhau, đại úy. Rồi anh lại đưa vợ con về ở cùng một dãy nhà với tôi trong một khu tập thể của quân đội sát bờ sông Hồng. Anh ở gian đầu, tôi ở gian giữa, sáng tối đều gặp nhau như xưa kia nhưng mối quan hệ đã bình đẳng hơn. Phúc là người rất có tài nhưng cái tài của anh chưa đúng thời, có khi còn nghịch thời nên chỉ được làm anh trợ lý quèn của một phòng vô danh. Nghĩ cũng tội nghiệp. Năm 65 anh được điều vào chiến trường Trị Thiên. Năm 70, anh ốm quá nên lại được gọi ra Hà Nội, người chỉ còn da với xương, nhăn nheo như ông già, hai tay chống hai gậy. Bà vợ bỏ cả việc làm để nuôi chồng lúc ở bệnh viện, lúc ở nhà, mặt mũi sầu não, đi lại hớt hải. Mà lại nghèo quá. Chồng là thiếu tá quân đội, vợ làm ở xí nghiệp may quốc phòng, lương chỉ đủ ăn chứ không đủ tiêu vì họ có những ba con đang ăn học. Lại ốm đau, chồng ốm, vợ cũng hay ốm vì chị mắc bệnh suyễn. Vay hàng xóm từng bơ gạo, từng đồng bạc. Nhìn chị vất vả lắm lúc tôi cũng ngượng. Tôi thì hầu như không đi đâu xa và cũng không đi dài ngày. Đi xa nhất là Vĩnh Linh, ở lâu nhất là một tháng. Viết bài cho các báo thì có tiền nhuận bút. Vài năm lại được một chuyến đi nước ngoài. Đã thế quân hàm mỗi cấp tôi cũng đều được phong trước anh. Có thể cách sống của tôi hợp với thời thế hơn anh. Tôi khuôn mình vào cái trật tự chung vừa vặn, lại có phần thoải mái. Còn anh? Con người anh, cách nghĩ của anh, lối sống của anh hình như hơi rộng hơn cái mẫu đã được quy định thì phải. Cứ sục sặc thế nào ấy. Cứ ngang ngang thế nào ấy. Cứ như người bị ngạt. Có lần đứng với nhau ở vườn ngoài, anh nói một chuyện gì đó, một chuyện không nên nói to, cũng không nên đứng nói ở ngoài đường, tôi đưa mắt nhìn xung quanh theo thói quen rồi bảo nhỏ: “Ông nói be bé chứ”. Anh nhìn tôi với cái vẻ khinh miệt rồi cười khẩy: “Nhà văn chó gì mà nhát thế! Đã nhát thì không nên cầm bút nữa!”. Ờ, mình cũng hèn thật nhưng cái hèn đã ngấm vào máu rồi, làm sao mà sửa.

2.

Vợ Phúc là con gái Hà Nội, con một gia đình công chức nhỏ. Khi bộ đội tiến vào giải phóng thủ đô, chị cùng các bạn gái xô nhau ra đường vẫy cờ vẫy hoa, hoan hô những người chiến thắng vừa đẹp vừa hùng như trong các truyện cổ tích bước ra. Rồi chị gặp chàng Phúc của tôi, anh đang ở tuổi 25, là hoàng tử của nhiều cô gái dậy thì vào cái thời ấy. Họ quen nhau, yêu nhau được nửa năm thì cưới nhau. Ngày ấy chị đã nghĩ, được lấy Phúc là may mắn lớn nhất của đời chị. Chứ ai ngờ chị sẽ phải chịu bao nhiêu cay đắng với ông hoàng tử đời thường suốt mấy chục năm sau. Phúc sinh ra là để hoạt động xã hội, xã hội không dùng anh thành kẻ bất đắc chí. Chưa bao giờ anh là người của gia đình, anh gắn vào nó một cách hờ hững, gắng gượng. Anh thích ăn ngon, lại thích mời bạn bè đến nhà ăn những bữa cơm rất ngon, khổ cho người vợ lắm nhưng chị vẫn cố xoay xở được. Khốn nỗi, ông anh tôi còn thích cả bồ bịch nữa, cái tật ấy từ trẻ đến già vẫn chưa sửa được. Thời ấy còn ăn gạo sổ, mỗi lần chỉ lĩnh được dăm cân, mười cân, xếp hàng mất cả buổi, thiếu gạo thì phải mua chợ đen, tiền đâu mà dám ăn gạo chợ đen. Suất gạo của Phúc được mua đủ một lần ở bếp quân đội nhưng anh không đưa về nhà mà lại đưa đến nhà người tình. Hình như người tình của anh cũng đông con. Con trai anh nhìn thấy và nói lại với tôi. Nó rất buồn, tôi cũng buồn, vợ anh chỉ còn biết khóc thầm khóc lén. Chị là con nhà gia giáo, được giáo dục theo kiểu cổ, chồng phụ chỉ biết khóc chứ không dám đến cơ quan chồng tố cáo, kiện tụng. Chị thì một ngày một gầy yếu vì bệnh suyễn, vì hầu hạ con cái, vì lo tiền. Còn ông chồng càng già càng to lớn, dềnh dàng, khỏe khoắn về đủ mọi phương diện. Hai nhà ở cùng một dãy, thỉnh thoảng đi qua đi lại, chưa lúc nào tôi thấy chị ngơi tay. Làm ở xí nghiệp may về nhà có máy khâu, để có thêm chút ít tiền cho các con ăn học. Năm con gái lớn sinh đứa con đầu nhưng đẻ khó, phải mổ rồi băng huyết, cứu được con, con trai, nhưng người mẹ gần như đã rơi vào tình trạng hấp hối. Chị ôm lấy đứa con gái bất hạnh, gào lên: “Trời ơi, người ta thì được cháu còn tôi thì mất con!” Trong ba tháng chị giành giật lại con trong tay thần chết bằng quyết tâm sắt đá của mình. Chị không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì, không còn biết gì, chỉ gầm gào có một câu: “Mẹ sẽ cứu con! Nhất định mẹ sẽ cứu được con!”. Chị bán hết những gì có thể bán được, bỏ việc làm, thức cả ngày và cả đêm, quên ăn quên uống, người khô đét, mắt ngầu đỏ, môi trắng lợt, ngón tay dài ra như móng vuốt để níu giữ bằng được con gái lại. Và chị đã thắng. Rồi chị nghỉ hưu để hầu hạ một ông chồng lúc hiện lúc biến như một ông khách và ba con, một rể, thêm một cháu ngoại được mấy tháng tuổi. Cuộc sống ổn định dần, các con đều có việc làm, cháu ngoài đã đi mẫu giáo. Tất cả đều béo tốt, khỏe mạnh nhưng bà mẹ kiêm vú già, kiêm vú em thì không còn ra hồn người, đi lại lêu nghêu mà vẫn cười rất tươi, lại còn hãnh diện nữa, nhân một lần chị gặp tôi: “Độ này nhàn lắm rồi ông ạ, bây giờ chúng nó đã nuôi được tôi rồi”. Tôi nghe chị nói mà muốn ứa nước mắt. Chị là vàng mười, là kim cương, là báu vật, là sự may mắn lớn nhất mà chồng con chị đã có được ở cõi đời này. Các con thì biết, tôi nghĩ thế, nhưng anh Phúc của tôi liệu có biết không? Nghe nói vẫn có bồ. Ông đã ngoài sáu mươi thì tình nhân của ông là 50 hay 20. Chịu!

Ra Hà Nội lần này tôi khao khát được gặp Lộc, con trai của anh chị, nghe nói đã là giám đốc một xí nghiệp của một Bộ trong chính phủ. Vợ chồng nó có nhà riêng, có điện thoại riêng. Nhưng quay số gọi mãi không thấy ai trả lời, lại gọi đến nhà thằng rể út là thư ký tòa soạn một tờ báo ở Hà Nội để hỏi tin tức. Người bốc máy lại chính là chị Phúc. Tôi ngạc nhiên: “Nghe nói bà đến ở với vợ chồng thằng Lộc kia mà?”. Chị cười: “Từ lúc vợ nó đẻ là tôi đã xin đến bế con cho chúng nó ngay nhưng tôi mới bị bà chủ đuổi việc”. - “Là thế nào?” Chị vẫn cười: “Là bị đuổi chứ còn thế nào”. - “Chắc mẹ chồng lắm lời quá?” - “Không ạ, tôi biết phận tôi lắm ạ, bảo gì làm nấy, trung thành, tận tụi, tuyệt đối không cãi một lời mà vẫn bị vợ nó ghét. Trông con nó đã được gần một năm bỗng dưng một hôm nó thuê đâu một con bé đem về, bảo bà đưa cháu cho con bé kia bế, rồi tự nó đi làm cơm, cho bà ngồi chơi, hỏi không nói, gọi không thưa, thành thử tôi biến thành cái hồn ma trong nhà, ông bảo không đi thì còn biết làm gì”. Lại cười nhưng giọng cười lòe nhòe như có nước mắt. Tội nghiệp chị, tội nghiệp cô gái Hà Nội, tội nghiệp cho người vợ một anh bộ đội, bà mẹ của mấy đứa con một thời nghĩ lại vẫn còn kinh. Chị lại nói: “Bữa nọ tôi về ngủ với thằng cháu ngoại, nó lên mười rồi, học lớp bốn rồi, mà khôn lắm. Nó bảo: “Cậu ấy đuổi bà thì bà về cháu nuôi”. Tôi lại hỏi: “Thằng Lộc nói sao?” Chị ngập ngừng một lát rồi nói: “Nó chả bảo sao cả”. Bây giờ chị lại có việc làm rồi. Đứa con gái út sắp đẻ, chồng nó liền mời bà mẹ vợ đang thất nghiệp tới trông nom giùm. Cũng mới được vài ngày nay. Hỡi ôi!…

3.

Cứ nhìn vào con mình và con cái của bạn bè là biết ngay thời thế đã thay đổi. Chúng là những nhân vật chính của một vận hội mới, một thời buổi mới, thời mở cửa, thời làm giàu, làm giàu cho mình và làm giàu cho nước, cái sự riêng chung này ly kỳ lắm, còn phải nói nhiều. Là thời mà các giá trị cũ đã mất tính tuyệt đối. Còn những giá trị mới thì lòe nhòe, bảo là phải cũng được, bảo là trái cũng được. Nó là những giá trị của buổi giao thời. Nghĩa là còn phải gạn lọc chán những giá trị ấy mới trở thành giá trị thật để chấn hưng một dân tộc. Cuộc sống sẽ chọn lọc, sự phát triển sẽ chọn lọc, nên nó sẽ lâu, không thể sốt ruột. Mọi sự nóng vội từ trước đến nay nói chung là hỏng cả. Ví dụ, con một ông anh tôi là giám đốc một công ty liên doanh của nhà nước. Nhưng đó chỉ là một vế hay chỉ là một tay, tay phải. Còn tay trái nó cũng ôm một công ty riêng, vốn của nó, gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ tổng hợp. Gọi tắt là công ty Divutôhô. Bố nó đã tám mươi tuổi, vốn là một viên chức của nhà nước, đã nghỉ hưu từ hai chục năm nay, làm chủ tịch hội đồng quản trị, còn em ruột nó làm giám đốc. Ông chủ lớn là nó thì ngồi phía sau điều hành. Nó buôn một phần còn một phần thì cho mượn bảng hiệu để người khác buôn. Thượng vàng hạ cám nó buôn tất. Nó nói với tôi, đã đội cái mũ ấy cứ tha hồ mà múa. Cái sự múa của nó thì rùng rợn lắm, còn hơn cả truyện trinh thám. Bảo là phải ư? Hình như là không phải, lắm trò ma quỷ quá. Bảo là trái ư? Cũng chưa hẳn, nó nộp thuế đầy đủ, buôn bán lương thiện, đúng pháp luật hiện hành. Thế thì là gì? Chịu! Nó chỉ là một cách làm ăn của lúc giao thời. Tôi đến chơi nhà một người bạn, anh chị đã ngót nghét bảy mươi nên coi tôi như em. Mỗi lần đến thăm anh chị đều giữ lại ăn cơm, gặp đúng bữa chỉ thêm bát thêm đũa là đủ. Người nhà mà. Lần này tôi đến vào lúc 10 giờ sáng. Ngồi đến 10 giờ 30 chả thấy ông bà bảo sao. Tôi đã tính cứ ngồi gan cho đến 11 giờ xem họ có mời cơm mình không nào. Không phải vì bữa cơm, cơm bụi Hà Nội rẻ lắm, ăn phè phỡn cũng chỉ hết dăm nghìn, mà tự do. Chỉ là muốn gây khó chơi, xem họ phản ứng thế nào, vì sao mà thay đổi. Mà tội lắm, ông liếc mắt nhìn bà, bà cúi mặt đưa mắt nhìn tôi, rồi lại nhìn chồng, như người có lỗi. Tôi nhìn họ thích thú một cách độc ác, có chuyện rồi, chỉ chưa hiểu nó là chuyện gì. Đúng 11 giờ, nghe có tiếng còi xe hơi ngoài cổng, bà vợ chạy vội ra. Một lát sau ông con trai lớn của họ, bạn vong niên của tôi, nhon nhón bước vào, comlê đen sọc, cavát, kính màu, chân râu xanh mướt như một thương nhân ngoại quốc. Nó chào tôi rồi bảo ngay: “Chú ở đây dùng cơm với bố mẹ cháu. Có rượu rất ngon. À, mà chú đâu có biết uống rượu”. Lúc ấy cả hai ông bà già mới dám mời tôi ở lại. Trong lúc ăn, với người thân tình tôi hay nói sỗ nên vừa cười vừa bảo: “Khi nãy tao thấy thương hại bố mẹ mày quá”. - “Sao vậy?” - “Ông bà muốn mời tao ăn cơm nhưng vì chưa có lệnh của mày nên chưa dám mời. Tao cứ ngồi gan trêu hai cụ chơi”. Bà mẹ cười gượng: “Chú cứ nói quá, làm gì đến thế”. Nó cũng cười: “Mấy ông nhà văn cũng đểu thật”. Rồi nó nói ngay: “Đúng là cháu không muốn bố mẹ cháu mời bất chợt bạn của các cụ cùng ăn với gia đình. Muốn mời phải báo trước để cháu còn tránh”. Tôi hỏi: “Anh không thích nói chuyện với bọn tôi à?”. Nó nhè miếng xương, nhăn mặt: “Toàn chuyện ông này ra ông kia vào, ông này lên ông kia xuống, chuyện của các cơ quan quyền lực dính líu gì đến bọn cháu”. - “Quyền lực vẫn chỉ huy kinh tế đấy anh ạ”. Nó cười: “Danh nghĩa là thế, còn thực chất vẫn là tiền chỉ huy. Đồng tiền lớn chỉ huy đồng tiền bé”. Nó uống một ngụm rượu, vè mắt đã rần rần đỏ: “Chúng cháu chỉ có một ông chủ thôi, đó là thị trường, mà quy luật của thị trường thì bất biến nên dễ ứng xử lắm”. Rồi nó hỏi, giọng xỏ xiên: “Ông chủ của chú là ai?” Tôi nói cũng hơi huênh hoang: “Tôi cũng chỉ có một ông chủ như anh, đó là bạn đọc”. Nó cười rất đểu, trong hai chúng tôi nó mới là thằng đểu: “Bạn đọc bây giờ đâu có thích văn của chú nữa. Toàn là né, nói gì thì nói vẫn cứ là một cách né. Chú được tiếng là khôn, nhưng cái khôn của chú chỉ có lợi cho một mình chú chứ lợi gì cho dân cho nước, có phải không?”. Vâng, nó nói đúng thế, tôi là một nhà văn, kể ra cũng có chút ít tên tuổi, một tí chút thôi, mà vẫn bị bọn trẻ ranh mắng vặt. Nó mắng cũng chả oan lắm đâu.

4.

Tôi biết Lộc, thằng con trai duy nhất của anh chị Phúc từ nhỏ, từ lúc nó được mấy tháng khi bố mẹ nó ẵm về ở cùng một khu tập thể. Từ nhỏ tới lớn nó sống ra sao, học ra sao tôi cũng chả chú ý. Vì nó không thuộc loại phá. Nghịch ngầm chắc là có. Nên bạn nó mới đặt tên là Lộc cáo. Bố như thế, mẹ như thế, gia cảnh như thế mà Lộc vẫn học được hết trung học phổ thông, mỗi năm một lớp kể cũng là ngoan lắm. Nhưng thi vào đại học Xây dựng thì cậu trượt. Rồi hắn đi bộ đội mấy năm. Hết nghĩa vụ quân sự Lộc thi vào đại học Ngân hàng đang còn là trường hèn mọn lúc bấy giờ, đỗ thủ khoa. Tốt nghiệp đại học năm 82, nhà trường điều Lộc vào Đắc Lắc nhưng hắn không đi, quyết chí ở lại Hà Nội, không bằng cấp, không hồ sơ, dấn mình vào cuộc phiêu lưu mới để cứu gỡ tình trạng cùng quẫn của gia đình. Không việc gì không làm, tất nhiên là những việc làm lương thiện, không phân biệt việc sang hay hèn cho tới năm 84 mới xin được vào làm nhân viên Phòng Kế toán Tài vụ của một xí nghiệp nhà nước. Năm 88 vào biên chế chính thức và được đề bạt ngay làm phó phòng. Năm 89 là trưởng phòng. Cuối năm 89, tôi ra Hà Nội họp được Lộc mời về nhà riêng của hắn ăn cơm và ngủ lại một đêm. Nhà của xí nghiệp cấp trong một cao ốc tập thể, ba buồng, đã có sửa chữa lại, trang bị lại, là nhà ở của những năm 90, khác xa với căn nhà đầu tiên của chúng tôi được quân đội cấp. Xưa kia đâu phải là nhà, là chuồng trại thì đúng hơn, bếp tập thể, vệ sinh tập thể, giặt giũ cũng tập thể. Tôi hỏi Lộc: “Tài năng của anh ra sao mà được lên chức vùn vụt thế?” Hắn cười mủm mỉm, vốn cũng là người ít nói, chỉ hay cười mỉm thôi: “Cũng chẳng có tài cán gì đặc biệt, chỉ là thay đổi lại cách làm. Làm kế toán phải trùm lên mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của một doanh nghiệp chứ kế toán không phải là thằng đầy tớ, là anh cộng sổ. Bắt đầu từ đấy…” Từ đấy phòng kế toán tài vụ là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xử lý đồng vốn, quyết định mọi vấn đề tài chính của xí nghiệp, tháo gỡ mọi khó khăn về tài chính để phục vụ sản xuất, kinh doanh. Nó chính là ông chủ thật sự. Năm 91, Lộc được đề bạt làm phó giám đốc phụ trách kinh doanh. Tháng 1 năm 92, làm quyền giám đốc vì giám đốc cũ phải nghỉ hưu. Tháng 3 năm 92 xí nghiệp họp bầu tín nhiệm một giám đốc có tài cầm cương, nâng xí nghiệp lên cho kịp với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thị trường. Có ba ứng cử viên đều là phó giám đốc, hai cũ, một mới. Lộc trúng cử với số phiếu áp đảo, có một trăm phiếu hắn được 95 phiếu, 5 phiếu còn lại chia cho hai người kia. Những chuyện vui đó tôi đều có biết, nghe bạn hắn kể lại. Tôi cũng vui, nhưng vẫn chưa hết ngạc nhiên. Cái thằng nhóc ấy, cái thằng tôi ẵm bế nó từ thuở mới có mấy tháng lại ghê gớm đến thế à? Nó được đào tạo từ bao giờ, hả? Bố Phúc nó chưa dễ đã làm được huống chi nó. Còn nó… thì nó đã làm rồi đấy. Cái xí nghiệp của nó đã có tiếng tăm rồi đấy. Chẳng gì nó cũng là một ông tỷ phú, tỷ phú nhà nước thôi, của cái thời bây giờ.

Ra Hà Nội là tôi gọi điện gặp Lộc ngay. Hắn hẹn sẽ đón tôi tại tạp chí Văn nghệ quân đội là nơi tôi đang ở nhờ. Tôi hỏi: “Đi bằng gì thế?” Hắn cười khẽ: “Tất nhiên là bằng xe hơi của cháu”. Hắn mặc một cái áo len xám mỏng cổ rộng, thắt cavát và đi đôi giầy da cực đắt. Xe hơi Đài Loan, hắn ẵm đứa con gái mười tháng tuổi ngồi băng sau với tôi, tự nhiên, nền nã như vốn đã ngồi xe hơi đi làm từ mấy đời rồi. Vẫn là căn hộ cũ nhưng đã được nới rộng nhiều thì phải. Phòng khách có trải thảm, các cửa đều treo rèm, tranh nghệ thuật, kệ sách, tủ rượu, điện thoại. Rồi buồng của vợ chồng, buồng của con gái, buồng của khách nghỉ lại, phòng ăn, bếp, nhà vệ sinh tất cả cứ sáng choang, thơm phức cái mùi sang trọng như một căn hộ nào đó tôi đã từng đến ở nước ngoài. Như ở Mỹ chẳng hạn. Cô vợ rất trẻ và đẹp, tóc cắt rất ngắn, mặc áo cộc, quần lửng nói với tôi rất tự nhiên: “Cháu chỉ làm có hai món như chú đã dặn anh Lộc: riêu cá và đậu rán vàng”. Tôi hỏi: “Anh em đã căn cứ vào đâu mà dám giao một xí nghiệp cỡ quốc gia vào tay một thằng cha chưa bao giờ làm quản lý như anh?” Lộc nói: “Anh em chỉ căn cứ cái khả năng có thực của cháu trong mấy năm làm ở xí nghiệp”. - “Còn những tiêu chuẩn khác?” - “Cũng có tính nhưng không quan trọng lắm. Cháu là con một ông đại tá cách mạng, đã tốt nghiệp đại học ngân hàng, là một công dân lương thiện, chưa từng can án. Thế là đủ”. - “Bộ có can thiệp không?” - “Không!”.

Tối đó Lộc nói với tôi rằng, chưa bao giờ hắn dám nghĩ sẽ có ngày làm giám đốc. Hắn chỉ dám mơ ước được học hết đại học, rồi xin được việc làm quanh quẩn Hà Nội, được chia mấy mét vuông nhà ở, lấy một cô vợ có nghề nghiệp, đẻ một hai đứa con rồi đón mẹ về ở cùng, con nuôi mẹ, bà nuôi cháu. Như bố mẹ hắn trước đây, có thể sẽ hạnh phúc hơn chút ít. Chỉ mong được như thế mà cũng đã thấy khó. Nào ngờ thời thế đổi thay, lại thành ông giám đốc 32 tuổi, chỉ vừa thoát khỏi cảnh thất nghiệp mới được có bốn năm. Thay đổi đến chóng mặt, như trong chiêm bao. Mà hắn lại chưa từng được đào tạo để làm ông chủ một doanh nghiệp. Lại là một doanh nghiệp đã nợ cả tỉ bạc, đã mất phương hướng sản xuất và kinh doanh, đã không còn khả năng cạnh tranh và cũng không còn uy tín gì với khách hàng. Hãy làm đi, tự anh phải quyết định tất cả, vì trên không giao kế hoạch sản xuất cũng không cấp vốn liếng, người nuôi đông, nợ lại nhiều. Ông giám đốc cũ đã thất bại rồi, đã buộc phải nghỉ hưu rồi. Ông giám đốc cũ tuổi gần bằng tuổi bố hắn, số năm làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng gần bằng tuổi quân của bố hắn. Mà thất bại. Thất bại thê thảm. Chả lẽ thằng trẻ ranh miệng còn hơi sữa lại đảo ngược được tình thế? Bầu bán gì mà kỳ thế? Vậy mà hắn dám nhận làm, làm với bộ máy cũ, với người giúp việc cũ, với số công nhân cũ. Không thay một ai cả, không đuổi một ai cả. Chỉ cần một cái đầu thôi. Duy nhất có một cái đầu là hắn. Cái đầu của hắn cộng với hai trợ thủ: thời gian và thông tin. Biết trước là thắng. Đến trước là thắng. Do biết trước nên tính được trước dễ nẩy sinh những bài toán lạ. Đã gọi là lạ thường làm người ta sợ, khó được tất cả đồng tình. Nên giám đốc phải có gan quyết đoán và chịu trách nhiệm. Đúng, cả xí nghiệp được hưởng lợi. Sai, giám đốc xin ngồi tù.

Tôi hỏi: “Tự suy tôn mình là cái đầu không sợ anh em họ mắng cho à?”. Hắn cười: “Nếu đảm bảo được sự công bằng trong quyền lợi cũng như trong danh dự thì những bất bình khác sẽ dịu đi”. Lộc cho biết mức lương hiện nay của xí nghiệp hắn vào loại tạm sống được ở Hà Nội, lương thấp nhất ba trăm ngàn, lương cao nhất ba triệu. Công nhân viên đã được hưởng tuần làm việc năm ngày rưỡi, tiêu chuẩn đi nghỉ hàng năm không phải chỉ một người mà cả gia đình, và ngày sinh nhật của họ đều được xí nghiệp tặng quà mừng. Quà mừng thì như nhau, giám đốc cũng như nhân viên thường, vì khi sinh ra mọi người đều bình đẳng. Tôi khen nịnh: “Làm được thế thì anh còn ngồi ở cái ghế này lâu”. Hắn cười: “Mới là đối nội, còn đối ngoại nữa chú ơi. Trong tình hình nửa bao cấp nửa tự do nếu không xây dựng được các mối quan hệ thật tốt để họ hỗ trợ mình làm ăn là hỏng ngay, dù giám đốc có đủ cả tài lẫn đức và được anh em ủng hộ”. Tôi lại hỏi: “Xây dựng quan hệ tốt là thế nào?” Hắn nói ngay: “Không thể cho chú biết được. Đó là một bí mật”. Do bị tôi nài ép một cách sống sượng cuối cùng Lộc cũng chỉ dám tiết lộ một chi tiết nhỏ. Ví như ngoài thuế nhà nước còn có thuế lẽ đời. Tôi vẫn hỏi một cách thơ ngây thế nào là thuế lẽ đời. À, chú phải đủ thông minh để hiểu chứ! Tao già rồi, tao là người sống ở một thời khác, có những lẽ đời khác, làm sao hiểu nổi cái lẽ đời của thời bây giờ. Nó mặt ngang mũi dọc ra sao hả ông giám đốc? Khó nói quá nhỉ! Thôi, chả hạn chú có hình dung được sự liên quan bằng tiền giữa mấy ông bộ đội phường với xí nghiệp của cháu không? Không hả, đơn giản lắm, nếu “nộp thuế” cho phường đội đầy đủ thì mọi sự đều vui vẻ. Trót quên đi một năm là năm sau đến đợt tuyển quân họ cứ nhè mấy thằng kỹ thuật loại một mà gọi lính. Bọn nó đi bằng giải tán xí nghiệp còn gì! Đó là một địa chỉ trong vài chục địa chỉ mà bọn hắn phải giữ mối quan hệ cho được tốt. Khi tôi thắc mắc đến bao giờ thì xã hội mới được điều hành theo đúng pháp luật thì hắn dự đoán cũng còn lâu, khoảng chục năm hay hai chục năm nữa, khi thế hệ bọn hắn, thế hệ thứ tư hay thứ năm gì đó đã có mặt ở những cơ quan quyền lực cao nhất. Tôi lại hỏi: “Nói thật đi, như anh chẳng hạn, anh có mong muốn được tham chính không?” Hắn nói ngay rằng có, nhưng phải chuẩn bị đầy đủ về tài chính đã, phải có nguồn tài chính mạnh mới nhảy vào cuộc chơi này được. Nó đắt tiền lắm. Tôi hét lên: “Bố láo! Anh đang sống ở đâu thế hả?” Hắn vẫn trả lời rất điềm nhiên: “Tất nhiên cháu phải có tài, có đức và một lý lịch tốt. Nhưng chỉ như thế thôi thì chưa đủ. Còn cần có thế lực nữa. Không có thế lực thì phải có tiền, có nhiều tiền. Không ai dùng nước dãi để nói suông với nhau những chuyện quan trọng như thế cả”. Tôi đỏ mặt, nói gay gắt: “Rồi anh xem, riêng trong cái lĩnh vực này đồng tiền chả có nghĩa lý gì”. Hắn lại cười mủm mỉm, một nụ cười rất là “cáo”:

- Vâng, để rồi xem, đó là chuyện sau này chứ đâu phải chuyện ngay ngày mai. Cháu vẫn còn thời gian để chờ đợi mà.

3. Đất kinh kỳ

 

Đất kinh kỳ

1.

Đã hai năm nay tôi chưa lại thăm cô Nhật vợ chú Hồ Dzếnh. Tôi chỉ mới biết cô có họ với tôi sau năm 75, khi tôi gặp bố tôi ở Sài Gòn. Tôi là con bà hai nên không được biết mấy họ hàng bên nội. Nghe ông cụ hỏi, ở Hà Nội có hay gặp ông Hồ Dzếnh không, cũng hơi ngạc nhiên, chả lẽ ông già cũng thích văn thơ Hồ Dzếnh, hóa ra không phải, ông Dzếnh lấy cô em họ của bố tôi là cô Nhật. Trong những năm ở Hà Nội tôi cũng ít được gặp ông Dzếnh. Không mấy khi ông đến Hội, cũng không có việc gì phải nhờ vả Hội, như đã sống bằng nghề khác thì phải. Ông cố ý để mọi người quên mình, chúng tôi cũng đã bắt đầu quên ông. Nghe nói ông có tập truyện ngắn Chân trời cũ hay lắm, cùng một dòng với Thạch Lam, với Thanh Tịnh, nhưng không được đọc. Không có sách mà đọc. Thêm nữa, văn ông, năm ấy tôi nghĩ thế, chắc là loại văn cũ, văn của thế giới cũ còn chúng tôi đang xây dựng một nền văn học mới, văn học cách mạng và vô sản, văn học xã hội chủ nghĩa. Một thuộc về quá khứ, một thuộc về tương lai, không biết văn ông, không được đọc ông cũng chả có gì là thua thiệt. Có một lần tôi gặp ông ở đường Yên Phụ. Năm ấy tôi 32 tuổi, vừa ra tập II tiểu thuyết Xung đột, ông Dzếnh như đã ngót nghét 50. Ông gọi tôi bằng anh, tôi cũng gọi ông là anh, như nhau, vả lại tôi đang là cây bút trẻ được xem có nhiều triển vọng, còn ông, còn ai nhớ tới ông không nhỉ? Tôi cười nói tự tin, mặt mũi vênh váo, người đang được thời mà. Ông không nói gì nhiều, chỉ nhìn tôi rất âu yếm, rồi bảo: “Tôi thích văn anh, không phải tất cả, nhưng có mấy truyện trong Mùa lạc tôi rất thích”. Nếu được ông Nguyễn Tuân khen có lẽ tôi thích hơn vì ông Nguyễn là một uy quyền trong văn giới. Được ông Nguyễn Đình Thi khen thì càng vui vì ông Thi là người lãnh đạo Hội. Còn được ông Tố Hữu khen thì nhất vì ông ấy là Đảng và Chính phủ.

Năm 76, tôi mới tới thăm ông bà Hồ Dzếnh ở phố Hòa Mã, đến để nhận họ, xin đổi cách xưng hô. Ông Dzếnh vẫn đối đãi với tôi như trước, trân trọng, quý mến của một đồng nghiệp với một đồng nghiệp chứ không với tư cách chú cháu. Bà Nhật cũng có ý vui nhưng là vui một cách vừa phải, cười nói lặng lẽ, dịu dàng. Chú Dzếnh là đời chồng thứ hai của cô. Đời chồng trước là ông Trần Trung Phương, một nhà báo và cũng là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Họ ăn ở với nhau chưa được hai năm, có một đứa con trai năm tháng tuổi thì ông Phương mất vì bị lao ruột. Ông mất trước cách mạng Tháng 8 có ba tháng. Cô Nhật thành góa phụ ở tuổi 25. Ông Phương và ông Dzếnh vốn là bạn của nhau từ cuối những năm ba mươi. Năm 46 ông Dzếnh lại thăm bà vợ góa của bạn và tặng bà tập thơ ông mới in Hoa xuân đất Việt với dòng đề tặng: Kính tặng bà Trung Phương, rất trân trọng. Năm 51 bà Phương sưu tập những bài thơ hay của chồng viết cho trẻ em đăng rải trên các báo và trong di cảo, lấy tựa đề Mấy vần tươi sáng, nhờ ông Dzếnh mới ở ngoài kháng chiến về tìm cách cho xuất bản. Ông Dzếnh lấy vợ năm 47, ngoài kháng chiến, có hai đứa con trai. Năm 50, vợ chết vì bệnh tả, rồi đến con trai đầu cũng chết. Ông chôn vợ chôn con rồi ẵm đứa nhỏ vào Hà Nội. Ông nhờ bà chủ nhà xuất bản Nguyễn Du nuôi con giúp để ông có thì giờ kiếm công ăn việc làm. Cuối năm 51, tập thơ của ông Phương in xong. Ông Dzếnh viết bài giới thiệu thơ của bạn trên các báo trong Nam ngoài Bắc. Rồi ông đến chào cô tôi để vào Sài Gòn ở với ông anh ruột và sẽ làm cho báo Thần Chung. Năm 53, hai cha con lại từ Sài Gòn bay ra vì ông nói không thể sống xa Hà Nội được và cũng không thể sống xa cô tôi được. Xa Hà Nội thì mất văn chương. Xa cô tôi thì mất mọi niềm vui để muốn sống. Mồng 2 tết năm 54 hai ông bà làm lễ cưới. Cũng chẳng có cưới xin long trọng gì, chỉ làm một bữa cơm gia đình mời mấy người trong họ, thêm mấy người bạn thân tới chia vui. Từ đó đi đâu cũng là bốn người. Có thể vì cảm thấy đã đầy đủ, đã bằng lòng mà ông viết ít hẳn chăng? Ấy là giả dụ thế, chứ tôi cũng chưa bao giờ dám hỏi thẳng ông hay bà vì sao ông lại viết ít thế. Có lần hai chú cháu bàn chuyện văn chương, ông vẫn đang suyễn vì trời rét, nói cụt hơi, nhưng đã nói tới nghề là nói không dứt, vừa nói vừa thở, nom đến tội. Ông Dzếnh tên chữ là Hà Triệu Anh, người gốc Hoa, sinh trưởng ở Thanh Hóa nên cảm nhận rất rõ những gì Hà Nội đã đem lại cho đời văn của ông:

- Cái nước sông Hồng, cái gió sông Hồng nó lạ lắm, nó làm ra văn chương Bắc Hà, văn chương Hà Nội. Anh muốn sống ở đâu cũng được, viết ở đâu cũng được nhưng phải tráng qua tí chút hơi hướng của Tràng An thì mới thành văn chương đích thực, nó khác với văn tỉnh lẻ.

Cảm nhận được thế chứ bảo phân tích một cách khoa học vì sao lại thế thì chịu, ông Dzếnh vừa ngẫm nghĩ vừa nói tiếp. Thì bao nhiêu cái khôn ngoan của thiên hạ tất phải chạy về đất kinh kỳ mới có cơ hội nổi danh được. Tầng lớp sĩ phu đông, danh gia vọng tộc nhiều, dầu muốn hay không nó vẫn đóng góp cái phần của nó vào sự phát triển trí tuệ của dân tộc. Tiếng nói của họ dầu là chính thức hay không chính thức vẫn tác động tới đời sống tinh thần của cả nước. Nhưng không có con buôn đâu nhá, dầu là tỷ phú vẫn cứ bị dân Hà Nội xem là lái buôn. Cũng không có quan lại đâu nhá, quan lại phải đỗ đại khoa, phải sống cao thượng, đẹp đẽ mới được xem là trí thức. Cụ Thiếu Hà Đông vẫn cứ là bồi Tây. Còn Tổng đốc Hoàng Diệu mới là sĩ phu Bắc Hà. Và sự đánh giá của nó, của đất kinh kỳ, về việc về người là rất quan trọng, có giá trị lưu truyền hậu thế. Này, sống ở Hà Nội là phải rất cẩn thận! Anh vô danh thì không nói làm gì nếu anh đã có tí chút tên tuổi là anh sẽ được đánh giá. Ai đánh giá, không có tác giả, không có địa chỉ, chỉ biết một lúc nào đó dư luận chợt bùng lên để đánh giá về một con người, về một tầng lớp người, là bia miệng đấy, trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng… Cái dư luận lợi hại ấy là một thứ luật không văn bản để người Hà Nội phải sống đúng theo lề luật của dân kinh đô.

Bây giờ ông Dzếnh đã mất rồi vĩnh viễn trẻ đẹp ở cái tuổi sáu mươi như trong bức hình bán thân phóng to đặt trên bàn thờ. Và nơi thờ ông cũng chỉ bày có sách của ông thôi. Ông sống, ông nghĩ, vui sướng và đau khổ mãi mãi còn nguyên vẹn trong mấy trăm trang sách. Hiện nay tầng dưới của ngôi nhà ở Hòa Mã vẫn chỉ có hai vợ chồng, ông luôn luôn mỉm cười ngồi ở trên cao kia, còn bà mỗi ngày một mỏng đi, lúi húi quanh quẩn với những kỷ vật trong gian buồng quen thuộc. Chính, là con riêng ông Dzếnh, Cường là con riêng bà Dzếnh nhưng trong nhà này từ bốn chục năm nay không có sự phân biệt con ông con bà mà chỉ là hai thằng con trai, một thằng anh là Cường, một thằng em là Chính. Bố chết thì Cường phải nuôi mẹ nhưng bà chỉ bằng lòng sống với vợ chồng Chính. Chính bảo gì dầu trái ý bà vẫn nghe, chồng còn theo chồng, chồng chết theo con của chồng để nó đỡ tủi. Năm ông Dzếnh mất tôi đang họp ở Hà Nội. Ông mất ngày trước ngày sau với ông Lưu Trọng Lư thì phải. Trước đó ông đã đi nằm viện cả tháng, vẫn bệnh suyễn, trời đang rét mà. Khi biết mình không sống nổi ông đòi về nhà. Các con trai thuê xe của bệnh viện đưa ông về lúc nửa đêm vì ông đã hấp hối. Bà vẫn thức để chờ, vừa nghe tiếng còi xe đã mở toang hai cánh cửa đón chồng lần cuối. Hai anh em cáng bố đã hôn mê đặt lên cái giường của bố mẹ. Bà quỳ một bên giường nhìn chằm chằm vào gương mặt đã vàng như sáp của chồng, ruột đau như xé nhưng không khóc được. Chợt ông cựa mình, mở mắt, ngước nhìn lơ láo, gọi nhỏ: “Mình ơi!” Rồi ông tắt thở luôn. Suốt mấy năm bà sống với giây phút vĩnh biệt từng giờ, nửa đêm thức giấc lại nghe có ai gọi: “Mình ơi!” Ông bà sống với nhau đã bốn chục năm chứ có ít ỏi gì, lại đã ở tuổi bảy mươi mà lúc chia ly vẫn đau đớn, vật vã như họ còn rất trẻ. Cũng lạ! Ông mất được ba ngày, lúc dọn lại bàn làm việc của bố, Chính chợt thấy một mảnh giấy rơi ra từ một cuốn sổ tay. Một bài thơ của bố làm tặng mẹ, làm trước lúc vào bệnh viện, bài thơ giã biệt người bạn tình của một đời người:

Mình vừa là chị là em

Tấm lòng người mẹ trái tim bạn đời

Mai này tới phút chia đôi

Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?

Xót mình đã lắm thương đau

Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình

Cuộc đời đâu phải phù sinh

Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!

Đúng thế, cuộc đời đâu phải phù sinh! Cái nghĩa tình thầm lặng, nhỏ nhoi của mỗi gia đình, của một vùng đất luôn luôn bị quên đi trong cái ồ ạt, xáo động, ngầu đục của dòng đời vẫn cứ là mạch nước ngầm trong suốt, vô nhiễm để nuôi sống những tinh hoa của dân tộc.

2.

Nói chuyện với ông Kim Lân bao giờ cũng thích thú. Mình không phải đề phòng, không phải uốn éo, muốn nói gì thì nói, không muốn nói thì ngồi im, ngồi lâu cũng được, bất thần bỏ ra về cũng được, ông không hiểu lầm bao giờ, không trách móc bao giờ. Tính ông ưa nhàn, ông là người của tự do, thứ tự do vì nhu cầu tự tại chứ không phải để khoe, để diễn. Ông chúa sợ các cuộc tranh chấp đôi khi diễn ra ở Hội Nhà văn vì ông tự biết không thể đứng hẳn về một phe nào, đã thành phe là ông hãi, bất kể là phe thủ cựu hay phe tiến bộ. Vì đã là người của phe là bị bắt buộc rồi, là mất tự do rồi. Phải nói theo phe, vui buồn theo phe, chơi với ai cũng phải liếc mắt nhìn phe! Trong mấy năm làm việc ở Hội tôi cũng hay lấy ông làm một chuẩn mực để kiểm tra công việc của mình, vì tôi cũng sợ mình trở thành lố bịch. Mà cũng đã bắt đầu hơi lố bịch rồi. Tôi thầm cảm ơn ông khi tôi thắng ông cũng không nói theo hay tỏ ra quá sốt sắng với những dự định tôi trình bày. Mà khi tôi bại ông cũng không có ý giễu cợt hoặc trách móc. Trước sau vẫn thế, chỉ là bạn văn thôi. Tôi chỉ tiếc ông viết hơi ít. Sao thế nhỉ? Có lẽ cái tạng của ông khó thích hợp với một thời buổi chói lòa ánh sáng, ầm ã tiếng động và cuồn cuộn những dòng người. Nó dữ dội quá, quyết liệt quá. Ông dành sự cảm thông hoàn toàn với những số phận buồn thảm, đơn độc như cặp vợ chồng trong Vợ Nhặt chẳng hạn. Lần gặp năm ngoái tôi có nói với ông: “Bây giờ lại là thời của anh đấy. Anh viết đi”. - Ông cười buồn: “Hết hứng rồi. Thôi, cho nó qua luôn”. Đúng thế, văn chương đâu phải là thứ để dành được, ướp lạnh được, không dùng trước thì dùng sau hoặc dùng dần. Nó là sự sống mà, lại là phần thiêng liêng, mong manh, dễ mất nhất của sự sống.

Tôi lại thăm ông Kim Lân vào một buổi chiều. Cũng là đến hú họa vì không mấy khi ông ở nhà. Ông tự do mà. Có lần ông theo đoàn làm phim đi đây đi đó đến mấy tháng, ăn ở như anh em, chơi đùa như anh em, là một ông già chịu chơi, chả làm phiền ai cũng không để ai gây phiền mình. Người như gió. Thế nào lại gặp ông ở nhà đang tiếp một ông bạn già khác, cả hai cụ cùng là ủy viên ban chấp hành Hội Sinh vật cảnh của thành phố. Ông hỏi: “Ông có chuyện gì cần nói riêng không?” - “Không, lại thăm anh thôi, các cụ đang bàn chuyện gì thế, tôi nghe được không?” - “Được chứ, đang bàn về cái nghề chơi cây cảnh của anh em tôi”. Đừng có tưởng cái Hội Nhà văn là to, cái nghề viết của mình mới có đạo. Nghề chơi cây cảnh cũng có cái đạo của nó, không biết nó cũng không ai chết, cũng như không đọc văn cũng không chết, nhưng sống sẽ nghèo đi, sẽ buồn hơn và chắc chắn cách sống sẽ tục hơn, sẽ đục hơn. Những năm 50 có cụ Vĩnh ở phố Hàng Trống là bậc sư của nhiều thế hệ trong cái nghề chơi cây cảnh. Ai mà có chút ít gì của cụ để lại, một cái chậu, một cái cây, thậm chí chỉ một hòn đá, bây giờ là vô giá. Chớ có mở miệng hỏi cụ mua cái này cái nọ. Muốn mua phải mời cụ bữa rượu rồi nhân cái không khí thầy trò, bạn bè trong bữa rượu ông cụ bốc lên bằng lòng bán là phải cướp lấy ngay. Khi cụ hối thì cũng muộn rồi. Có lần ông Kim Lân cùng với các họa sĩ Nguyễn Tiến Chung, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Đức Nùng lại thăm cụ Vĩnh. Có một tiểu đồng, gọi thế thôi, chứ ông ta cũng phải năm chục tuổi, đầu cạo trọc như sư, mặc quần áo nhuộm nâu đón khách ở nhà dưới rồi mới chạy lên hỏi cụ, hoặc cụ xuống tiếp, hoặc cụ cáo bệnh. Một lát sau ông cụ xuống, quần áo lụa nâu, mặc ngoài một cái áo bông ngắn cũng màu nâu, tóc bạc, râu bạc, thần thái phiêu dật như một đạo sĩ. Trước khi ra vườn xem cây, cụ tự bê một cây cúc mốc, trong Nam gọi là Nguyệt Bạch, đặt lên cái đôn gỗ cao, phía sau là một bức thủy mặc của Tàu. Cái vườn của cụ là thượng uyển của tao nhân mặc khách với muôn vàn vẻ đẹp của thiên nhiên đã thành mực thước cổ điển, đã thành thơ văn tự bao đời. Là chính thiên nhiên, có sự sống của thiên nhiên nhưng đã được rút nhỏ lại, được gạn lọc lại để cái đẹp được biểu lộ một cách toàn vẹn. Là hội họa, điêu khắc, thi ca cộng lại. Là những tác phẩm hoàn mỹ có tác giả của nó. Là hiện thực và siêu thực. Là cuộc sống bị câu thúc trong hiện tại và những mộng mơ của con người muôn thuở. Có những ngôi chùa trong hẽm núi nhưng tường và mái ngói đã bị nứt ra trong chùm rễ si buông xõa xuống. Là một con thuyền ẩn dưới một vòm hang có những nhũ đá lóng lánh. Là một ông ngư ngồi quay lưng lại trên một hòn đá nhỏ. Nhìn cây tùng già như treo vào vách núi lại nhớ tới câu thơ của Lý Bạch: Khô tùng đảo quải ỷ tuyệt bích. Hoặc một cây tùng mọc chon von trên ngọn núi như trong thơ của Đỗ Phủ: Minh minh cô cao. Đa liệt phong. Cảnh đã nhập vào thơ, nhập vào hạ, gợi lên cái bâng khuâng khôn tả của người ngắm cảnh. Phía xa có một mảng tường cũ, lở lói một cách cố ý, phủ lên một lượt cây vẩy ốc xanh rì. Một cây mai trắng, trời càng rét hoa càng nhiều, trắng như tuyết, không có một cái lá nào, không còn một chút tục nào, ngạo nghễ với gió bấc, nó là Hàn mai. Lại có những chậu cúc Tàu, cúc ống, cánh co cánh ruỗi. Đã chơi cúc là coi như bỏ công danh ra ngoài. Bất chợt thoảng đến như có như không cái mùi thơm sang trọng của mấy chậu Địa Lan, một mùi thơm mà cụ Khổng Tử đã đặt tên là Vương Giả Chi Hương. Rải rác đây đó là mấy hòn đá vân xanh. Đá là trừu tượng nhất, chả có ý nghĩa gì, chỉ thấy đẹp thôi. Chả ai hiểu gì nhưng đều nhận rằng rất đẹp. Cái đẹp còn có một ý nghĩa là không thể cắt nghĩa được. Không cắt nghĩa được là siêu rồi, là siêu thực chứ còn là gì! Các cụ đã chơi siêu thực từ cái thuở nảo thuở nào chứ không phải đợi đến bây giờ. Nhìn vào vườn của cụ Vĩnh rồi lại nhìn những con hạc, con lân uốn xén, những chậu cúc và chậu quất của đời thường mới thấy là tục. Đó là vườn cảnh của trọc phú, của quan lại, khoe danh khoe của chứ đâu có cái ý vị thâm trầm gì. Lại còn cá cảnh nữa. Người xưa chơi lưng, chơi vây cá, bây giờ họ nhốt cá trong tủ kính chơi bụng cá, chỉ thấy những cái bụng chình ình, trắng bợt lượn qua lượn lại với những tia cứt bắn thành vệt. Đã chơi cây cảnh là cốt di dưỡng tính tình, phải tự mình chăm nom tất cả, không nên nhờ, cũng không nên thuê. Mà cũng khó nhọc, vất vả lắm nhưng có thế mới vui. Như trồng Địa Lan chẳng hạn. Nó là loại hoa vương giả, thích mọc ở kẽ đá,trên mùn lá cây. Đất trồng nó phải lấy lớp bùn thứ hai nắm lại để đầu hè, hai năm sau nó khô trắng mới chặt nhỏ ra bằng quả vải xếp trong chậu sành, nó ưa chậu sành xốp vì rễ lan mới thở được. Còn chậu men màu sắc lòe loẹt là bỏ. Chơi lan phải chơi theo mùa. Mùa xuân là Hoàng Lan, Thanh Lan, Mặc Lan. Thu thì có Trần Mộng, Đông Lan. Hạ có Bạch Ngọc, Vân Hội, Ngân Biên. Mùa đông lan ngủ. Lại có thứ lan Tứ Thời, thơm lừng lẫy, lá dài hẹp, cứng đơ, trồng dễ lại đẻ khỏe. Nhưng các cụ khinh, liệt vào loại hoa hèn cỏ nội. Vì sao? Vì thời nào nó cũng sống được, cũng thơm được. Cái thứ hoa nịnh đời, nịnh người đến thế thì trọng làm quái gì. Ông Tuân không chơi được lan vì tính vốn lười, chỉ xin thôi, xin cây nào chết cây ấy. Ông ta quen được vợ con hầu, bạn bè hầu nhưng lan nó có chịu hầu ai bao giờ. Nhưng cũng có ông chơi rất kỹ, rất công phu mà như không chơi gì cả. Cái chơi và lối sống đã nhập làm một, như trong võ thuật kiếm với người là một, không còn chiêu số nữa. Tức là đã đạt tới cái đạo của sự chơi rồi. Đó là trường hợp ông Trần Huyền Trân. Nhà ông ở sau nhà thờ Nam Đồng, có một miếng đất nho nhỏ, có vườn và có ao. Ông trồng một bụi trúc trước nhà, kê mấy hòn đá rửa chân rửa rau ở bờ ao, tiện mấy con song nơi hiên ngồi, dưới giàn thiên lý đặt mấy chậu lan, ông Trần chỉ chơi có lan Hạc Đính vì là tên vợ ông. Thêm mấy chậu cây thế và một bể cá. Bước vào nhà ông là thấy ngay cái nghèo nhưng thanh cao, phảng phất có mùi thơm của lan, lại nghe tiếng chim gáy gù xa xôi, vắng lặng ở một góc vườn. Trong cái thế giới nho nhỏ, riêng biệt ấy người ta và trời đất trong thoáng chốc như là một, bỗng nhiên nhận ra cái nực cười của bao nhiêu túi bụi một đời người trước cái thung dung, thơ thới của Tự Nhiên.

3.

Một cái khôn ngoan của thiên hạ, theo cách nói của Hồ Dzếnh, đã đặt chân đến đất kinh kỳ từ hơn chục năm về trước để toại chí, để cầu danh nhưng vẫn sống ở thành Nam, sống ở một xã ven đô chứ không ở trong thành phố, đang ngồi trước mặt tôi kể chuyện cái đời văn không giống ai của anh.

Anh là Trần Quốc Tiến, tác giả truyện ngắn được giải của thành phố Hồ Chí Minh: Mỹ nhân làng Trọng Nghĩa và hai tập tiểu thuyết do nhà xuất bản Thanh Niên đã in. Anh mặc bộ comlê Trung Quốc giá khoảng trăm ngàn, cũng càvạt, giầy đen, lại kính trắng, lại máy nghe vì anh bị điếc, nhưng con người chả ăn nhập gì với các đồ vật khoác trên người, cứ tơi tớp, lòe xòe, cứ như là vắt vội. Tiến tự giới thiệu là nông dân rặc, nông dân thuần túy, cày ruộng từ thuở mới lớn tới nay đã ngoài năm mươi vợ chồng vẫn làm ruộng, cả nhà vẫn sống bằng hạt lúa. Chưa bao giờ anh có một chức vụ nào khác ngoài các chức vụ của một hợp tác xã nông nghiệp: thư ký, đội phó, đội trưởng đội sản xuất, đội phó đội thủy lợi chuyên môn, đội trưởng đội nuôi cá, đội trưởng đội bèo dâu, nhân viên thú y, phó ban chăn nuôi của xã. Anh thạo các nghề: cày ải, cày mò, đào mò, đánh lưới bén, lưới bốc, ngâm rọ cá rô, đánh ống lươn, đào ếch, câu cá quả. Làm nhiều công điểm vào loại nhất hợp tác xã mà vẫn đói. Không phải đất bạc mà vì người nông dân không còn yêu đất như xưa. Các thao tác công nghiệp vẫn đầy đủ, chỉ làm điêu thôi: cầy lỏi, bừa chùi, nhổ mạ thì đứt cả chối. Cuối tháng hai còn cấy, toàn mạ già, mạ đã thành nhiều đốt ống, mạ đã cạn đẻ mà còn bắt đẻ. Lúa chín cũng không thèm gặt, bông nổi chim ăn, bông chìm cá đớp. Dân làm điêu thì phải ăn giả. Còn quan làm điêu lại ăn thật. Nên quanh năm đói, một đời đói. Một đời chỉ mơ mộng được ăn một bữa cơm không độn với dưa chấm nước mắm. Ban quản trị hợp tác xã ăn liên hoan. Tiến tư túi với đám làm bếp xin mua được tám lạng thịt đem về rang mặn rồi xếp chồng từng miếng thành ngọn trong cái đĩa, chồng ngồi một bên, vợ ngồi một bên ngắm nghía, trầm trồ: “Có tám lạng thịt mà nhiều nhỉ?” Cả năm chiêm cũng như mùa trong nhà chỉ có một nải dưa nén, ăn hết dưa rồi ăn đến cả nước dưa. Cứ múc một bát nước cốt pha với nước lã đun sôi, cắn một miếng củ dong lại húp một ngụm nước dưa, ăn rồi mới khát lại uống nước lã cho đỡ khát, bụng óc ách cả ngày cũng đánh lừa được cái đói. Khi có khoán 100, trâu đỏ đi đằng trâu đỏ, trâu đen đi đằng trâu đen, con người nhận lại đất với hai bàn tay trắng. Lại diễn cái cảnh bố kéo con cầm cày. Con khỏe thì con kéo bố cầm cày. Rồi dùng cào tre to mười răng thay bừa, đun đi đun lại cho đất tơi ra. Mà anh nông dân lại cười, mặt mũi cứ tươi hơn hớn, già trẻ lớn bé hò nhau ra đồng hệt như ngày hội. Thế mới gọi là lao động được giải phóng, là đời lại được tự do.

Đấy là nói qua tí chút về chuyện chung, còn chuyện riêng của Tiến mới thật ly kỳ vì anh tập viết văn từ năm mười chín tuổi. Tới năm bốn mươi chín tuổi, ba chục năm sau mới được in cuốn sách đầu tay, lấy tên là Cuộc vật lộn lúc rạng đông. Nhà rất túng, mẹ và vợ làm hàng xáo, lấy vợ sớm nên có con sớm, những bốn đứa con mà ông chủ gia đình còn ham viết lách thì đói là phải. Lúc đi làm thì Tiến viết trong đầu, viết rõ rệt từng câu từng chữ, từng cái chấm cái phẩy, về nhà thì viết ra giấy. Không có bàn thì úp thúng xuống đất đặt cái mâm gỗ lên làm bàn. Không có giấy thì xin giấy học sinh đã viết ngâm nước gạo cho phai hết mực rồi phơi khô làm giấy bản thảo, tất nhiên chữ viết có hơi nhòe. Bản thảo để trong thúng, trong chum. Bữa nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, người xã bên, nghe tiếng lại chơi, bà mẹ Tiến bê một thúng bản thảo ra nói với khách: “Bác giúp em cho em nó đỡ tủi, viết cả chục năm, chữ nghĩa nhét chật cả mấy thúng mà chả được in bài nào”. Nghe vừa buồn cười, vừa muốn ứa nước mắt. Nhà đã đói thấy ông chồng điếc thắp đèn viết suốt đêm, viết chả để làm gì cả, vợ cũng sốt ruột. Rồi bực, rồi giận, rồi đòi ăn riêng. Tiến tức cảnh làm bài thơ Ăn riêng nhại giọng cụ Tú Xương:

Thôi, đành vậy ăn riêng cũng được

Tối hôm nay tớ riêng bát riêng thìa

Riêng cơm riêng cá đề huề

Nhưng còn chỗ ngủ tớ thề không riêng…

Người làng đều biết thằng Tiến điếc viết văn từ lâu nhưng họ chỉ mỉm cười thương hại. Cử nhân tú tài còn chả ăn ai huống hồ một thằng điếc lác, văn hóa i tờ. Điếc lác thì đúng nhưng văn hóa i tờ thì không phải. Năm bốn mươi tuổi Tiến đã thi lấy bằng trung học phổ thông, tự học cả, rảnh tay lúc nào là giở sách ra học, học hết lớp 10 lại mua đủ các sách triết học, văn học đọc tiếp. Đại loại trình độ học vấn bây giờ phải tương đương đại học, có những vấn đề có thể tranh luận với giáo sư đại học một cách bình đẳng. Còn đã nói đến chuyện đời, chuyện ông nông dân thì Tiến là pho bách khoa toàn thư vùng đất Nam Hà. Tiểu thuyết Cuộc vật lộn lúc rạng đông, bắt đầu viết năm 76 đến năm 80 thì viết xong, Tiến ra Hà Nội đưa cho nhà xuất bản Thanh Niên vì nghe nói nhà xuất bản này rất trân trọng những cây bút mới. Mười năm hồi hộp chờ đợi, nói cho đúng là ba chục năm chờ đợi, từ lúc mới đẻ đứa con trai đầu đã cặm cụi tập viết, đã khao khát được viết và hy vọng sẽ được in, cho đến nay con trai lớn đã hai mươi tám tuổi, thằng em nó đã hai mươi sáu, lại một thằng út hai mươi bốn. Ba thằng đàn ông nhìn ông bố bắt đầu mang kính, tóc đã chớm bạc để hỏi một câu mà bố nó đã tự hỏi từ năm mới mười chín tuổi: “Bao giờ thì sách được in? Bao giờ thì bố có sách in?” Chúng nó sẽ chờ nhưng mẹ chúng thì chán nản lắm, đã mấy lần đòi ăn riêng. Bây giờ chị bán cơm ở chợ Rồng, bán cơm với cá kho, tép rang mặn, dưa muối, cơm bình dân cho những người nghèo của một tỉnh nghèo. Còn bà nội chúng thì đã già quá, bà hy vọng ở con trai một cách mãnh liệt, chưa bao giờ mất lòng tin cả. Rồi nó sẽ khá nhất họ. Có khi còn khá nhất làng. Nhưng bà không thể chờ được. Bà cụ mất năm 89. Năm 90 thì sách ra mắt bạn đọc toàn quốc, sách rất dày, những 400 trang in, Tiến lên Hà Nội lấy sách, ngày đi và ngày về dân xã đều biết. Tiến về nhà lúc 11 giờ trưa, bà con mang pháo tới tận nhà đốt mừng sách của Tiến từ trưa tới nửa đêm. Mỗi đoàn đến chúc mừng lại đốt một phong pháo. Xác pháo ngập đỏ mắt cá chân, khói pháo bay mù mịt phủ trắng cả một xóm. Mấy nhà chung tiền mua một cuốn xem chung gọi là “đụng sách ông Tiến”. Rồi bình luận, rồi cười giỡn, toàn chuyện của xã mình cả, người quen kẻ thuộc cả, cứ như được soi gương, mà người nào ra người nấy, không cãi được, đúng hệt. Rồi tiếng để đời đấy, văn bia miệng, cậy quyền, cậy thế kết bè kết đảng hà hiếp dân cho nhiều vào bây giờ bị treo lên trước bàn dân thiên hạ cả trăm năm đã sướng chưa? Hả cho người nghèo quá, cho những người lương thiện quá! Cứ bảo trời không có mắt, hóa ra có đấy mà công minh vô cùng. Con người đã được Trời sai viết pho sách bình công luận tội được dân tín nhiệm như ông phó thành hoàng. Bà vợ bỏ cả hàng cơm ở chợ Rồng ở nhà đun nước pha trà cùng tiếp khách với chồng, cùng hưởng vinh dự với chồng nhưng xem ý có vẻ ngượng. Bây giờ anh đã đỗ Trạng, võng đào lọng tía về làng, cô nàng nghĩ sao, có đòi ăn riêng nữa không? Nào, thì ăn riêng! Ấy chớ, tôi đàn bà ngu dại làm sao nhìn ra được cái chí lớn của ông. Rồi tiếp đến có tin tận trong thành phố Hồ Chí Minh, thành phố sang trọng nhất nước, đã long trọng trao giải truyện ngắn hay cho Trần Quốc Tiến, quê tại… Nam Hà. Phen này tên tuổi xã mình nổi danh khắp nước rồi nhé! Là vì dân xã em từ bao nhiêu năm nay chưa được lên đài lên báo một lần nào. Làm ăn tồi tệ thế chả lẽ còn muốn phơi cái xấu ra cho cả tỉnh biết? Lại cũng vì một xã bạn, chỉ cách có một con đường nhỏ, lại rất nổi tiếng. Có một gia đình làm cách mạng từ thời Đảng Cộng sản mới ra đời, mấy anh em đều là những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước. Mỗi lần các vị ấy về làng cả huyện ồn ào như vào hội. Làm người dân xã ấy kể cũng mát mặt thật. Các cụ nói xã bên ấy được đất, đất phát võ, cứ là người cầm quyền tức là võ nghiệp. Còn thầy thuốc, giáo học, văn nhân là thuộc văn nghiệp. Thời tao loạn đã qua, thời thịnh trị đã tới nên xã em lại được phát văn, lại có văn nhân ra đời, ấy là dân họ bình tán ra vậy. Chứ em là thằng nông dân cổ cày vai bừa, chả có một tí công tích nào đối với cách mạng, bỗng dưng được dân lấy ra làm ví dụ rằng đất đã phát văn nghe mà hãi. So sánh gì mà kỳ quặc, một bên như trời cao, một bên như đáy vực mà lại được đứng bằng nhau sao? Thì dân người ta nói thế, mình cản sao được. Một xã có công giành cho nước cái độc lập, một xã có cống hiến cho đời cái văn chương, hơn kém nhau chỗ nào mà bảo phải bên cao bên thấp. Bây giờ thì họ muốn em được làm hội viên Hội Nhà văn, tức là được Thủ đô công nhận chính thức em là nhà văn, xã em đã có một nhà văn, là họ sẽ góp tiền mở đại tiệc, ăn cả làng, vui cả làng. Em đã bảo là khó lắm, vì em chỉ mới vào nghề, văn chương lõm bõm đã ra gì mà đòi làm hội viên. Dân em lại bảo, em phải nghe ngóng cho kỹ, tháng nào, ngày nào ban chấp hành Hội sẽ họp để xét thì xã sẽ cử đại diện mang gà, mang gạo lên Hội, khấn với các ông ở Hội rằng dân chúng tôi rất muốn ông Trần Quốc Tiến phải là hội viên Hội Nhà văn. Hội không xét tức là bỉ mặt dân tôi quá, có khi phải lập xóm quanh Hội để đấu tranh cho bằng được mới kéo về. Chả lẽ mạch đất của xã tôi, linh khí của đất tôi chọn lầm người?

Nói rồi lại nhăn răng cười, cười ha há, chúng tôi ngồi nghe cũng cười, cười chảy cả nước mắt. Dân mình cũng háo danh nhỉ? Nhưng con người ta cũng phải và cũng rất nên sống vì danh nữa, miễn là cái danh cho đích đáng, cho đàng hoàng. Cái đức háo danh ấy cũng đã hun đúc nên nhiều bậc kỳ tài trong thiên hạ. Và những tài danh ấy lại hội tụ về đất kinh kỳ để nhận và để phát cái ánh sáng văn hóa ngàn năm của nó.

4. Người vợ


Người vợ

Ra Hà Nội lần này tôi đã định bụng thể nào cũng tới thăm anh Trần Dần. Anh tuổi Dần, hơn tôi bốn tuổi, năm nay anh 69, nghe nói lại đau yếu nhiều. Lần cuối tôi lại thăm anh vào cuối năm 87, đi cùng với Nguyễn Minh Châu. Lúc này Châu còn khỏe, chưa biết mình có bệnh. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau cũng lâu. Chỉ có tôi hỏi, ông Dần nói, còn Châu không bắt chuyện mấy, chỉ ừ ào có ý không thích. Vì ông Dần có tính hay dạy đời, nói chủ thuyết này trường phái nọ, ra cái vẻ uyên bác và đàn anh. Thế là Châu không thích vì hắn đâu phải tay thường. Nhưng tôi thì chịu được. Tôi vốn không mê văn anh nhưng tôi luôn luôn nể anh, trọng anh vì cái số sao mà vất vả. Cũng là vất vả vì nghề. Tôi luôn xem tôi là thằng đàn em, hệt như hồi chúng tôi mới biết nhau, cách đây đã 38 năm. Sau này tôi muốn là gì ở Hội cũng mặc, anh không cần biết, với anh tôi chỉ là thằng K., à, thằng K., nó viết cũng được được. Có một lần tôi đạp xe đến Hội, qua hồ Thiền Quang, nghe một tiếng gọi: “K.!” Tôi dừng xe nhìn ngơ ngác, ông Dần đã ngồi ở một hàng nước đưa tay vẫy. Tôi quay xe lại, ngồi xuống cạnh anh. Anh hỏi: “Cậu có tiền không?” - “Có” - “Gọi cho mình chén rượu”. Tôi uống nước trà còn anh uống rượu nhắm với lạc rang. Được hai chén, đã hơi ngà ngà, anh nhìn tôi rồi bảo: “Này, cậu cố gắng lên, bọn mình hy vọng rồi ra cậu sẽ thành một tác giả”. Tôi nóng mặt vì sung sướng. Được Trần Dần khen có dễ đâu. Về anh Trần Dần tôi nghĩ thế cũng là xong, là hoàn tất một sự nghiệp, có ưu có khuyết, có thành có bại như mọi kiếp người. Anh chả còn gì để tôi phải thắc mắc. Nhưng vợ anh vẫn làm tôi thắc mắc vì đã nhiều chục năm tôi được nghe nói về chị, và mỗi lần được nghe chuyện về chị, tôi lại muốn ứa nước mắt vì thương cảm. Vì cái ông Trần Dần vẫn thường kêu rên rằng nhà nước làm khó ông nhưng ông còn làm khó cho vợ gấp trăm lần. Nhiều người nói ông hay chửi vợ. Con em họ tôi được mắt thấy, tai nghe ông đập bàn, chỉ tay vào mặt vợ mà quát: “Con ác phụ!” Lê Đạt kể chuyện có dạo Trần Dần bị liệt, chạy chữa mãi mới tập tễnh đi lại được, nhưng lười, không chịu tập đi hàng ngày, chỉ thích ngồi ro ró một chỗ hút thuốc lào. Lê Đạt bảo vợ Trần Dần: “Bà phải bắt ông ấy tập đi chứ!” Chị cười: “Ông ấy là cường hào ác bá, Đảng và Chính phủ còn chả bắt buộc được huống là tôi”.

Tôi đến thăm anh chị Trần Dần vào một buổi sáng. Tôi gõ cửa phải đợi đến mười phút mới thấy chị Khuê, vợ anh Dần ra mở. Hình như chị vừa lau rửa cho anh, thấy ông ấy một tay ôm quần, cúi lom khom bước ra chỗ ngồi quen thuộc. Cách nhau dăm sáu năm cũng là một thời gian dài với người đã lớn tuổi, râu tóc xù lên trắng như bông, thoạt nhìn không nhận được ra nhưng đôi mắt thì vẫn như cũ, con mắt hiếp đáp thiên hạ, con mắt muốn làm thủ lãnh, làm đại ca. Chị Khuê đứng cạnh chồng, trỏ tay vào tôi nói rất to, chả lẽ ông này cũng đã nặng tai:

- Ông còn nhớ ông này là ai không?

Chán mớ đời, đến thăm ông anh nhưng ông ta lại không nhận ra mình, buồn quá! Đúng là không nhận ra thật. Con mắt nhìn tôi chỉ một thoáng, không biểu lộ ngạc nhiên hay vui mừng, con mắt vô hồn: “Ờ, ờ…” Vợ anh lại hét lên: “Ờ ờ cái gì, là ai thì ông nói đi!” Lại liếc nhìn một lần nữa rồi anh lê người ngồi vào ghế, đầu vẫn cúi, loay hoay cầm cái điếu cày. Tôi đưa bao thuốc mời anh, anh rút một điếu, cũng chả nói chả rằng, vừa hút thuốc vừa cúi mặt đọc một tờ tạp chí gì đó. Đã lâu tôi có hỏi anh Lê Đạt: “Dạo này ông Dần có viết gì không?” Lê Đạt cười: “Viết cái con khỉ. Có còn biết mình là ai mà viết”. Thôi, một đời viết được thế cũng là nhiều. Nghỉ cũng được. Giả thử bây giờ có còn viết thì duyên sắc chắc cũng không được như xưa, một thời đã qua rồi, những tài năng của một thời cũng qua rồi. Suốt buổi anh vừa hút thuốc, vừa đọc báo, coi như không có tôi, coi như không có ai, coi như không có cả chính mình. Còn tôi thì ngồi nói chuyện với chị Khuê. Chị đã già nhiều, mập ra nhưng vẫn còn những nét đẹp của ngày xưa. Chị bảo: “Cái nhà này cả ngày chỉ có tôi với ông ấy thôi. Đi đâu thì khóa cửa, nhưng cũng chỉ dám đi một chốc một lát, không dám ở ngoài lâu. Như nuôi con mọn, con mọn còn gửi được nhà trẻ, chồng già lại bệnh thì biết gửi ai được”. Tôi hỏi: “Mấy năm nay nhà mình đã dễ chịu chưa?”. Chị cười: “Bây giờ tôi ngủ được cả đêm. Chả phải lo gì cả. Nhất là không phải lo tiền”. Bây giờ thằng Trần Trọng Vũ, thằng con út của anh chị đang học vẽ ở Pháp do Nhà nước cử đi. Nó đã có tranh triển lãm được bạn bè khen, lại vẽ thêm quảng cáo nên cũng có tiền gửi về mua thuốc cho bố. Chỉ tiếc tới ngày dư đủ, mọi sự cởi mở, dễ dãi để ông Dần yên tâm ngồi viết thì ông ấy lại ra thế kia. Thế gian ít có chuyện gì được hoàn toàn anh nhỉ? Được cái này thì mất cái nọ. Nhưng vẫn là có được. Chứ như mấy chục năm qua…

Mấy chục năm qua với chị có bao nhiêu là chuyện hãi hùng. Nhưng chị sợ nhất, bây giờ nghĩ lại vẫn còn sợ, là vào một buổi tối, thằng con lớn của chị đang học lớp trung cấp giấy ảnh Bình Minh, đột ngột chạy về, mặt mũi lợt lạt, kéo mẹ ra một góc vắng, hỏi như khóc: “Mẹ, bố làm phản động, hả mẹ?”. Chị lạnh hết cả người, tay chân bỗng dưng run lẩy bẩy nhưng chị cố trấn tĩnh, hỏi lại: “Ai bảo với con thế?” - “Thầy hiệu trưởng”. Chị nắm lấy hai bàn tay con giảng giải điềm đạm, rằng bố nó vẫn là người của cách mạng, chỉ bị kỷ luật thôi. Bị kỷ luật từ năm nó còn chưa đẻ kia. Đã lâu lắm rồi. Nó lại hỏi vì sao bố không đi làm như mọi người. À, bố đã yếu rồi nên nhận việc về nhà làm, con không thấy bố vẫn dịch sách đó sao? Chuyện hiển nhiên, nếu bố là phản động, làm sao cả ba con đều được đi học, phải không nào? Rồi chị thề với nó chị không hề nói dối nó, lớn lên rồi nó sẽ biết hết. Bố nó vẫn xứng đáng với các con, với gia đình. Còn nó phải cố học cho thật giỏi. Nhà nghèo phải học giỏi thì mới thoát khỏi cảnh nghèo. Chị vốn là cô giáo nên rất biết cái tuổi nguy hiểm, cái tuổi khủng hoảng của lứa tuổi con chị. Căm thù bố mẹ sẽ thành đứa con hư. Căm thù xã hội sẽ thành kẻ đối nghịch. Đằng nào cũng là mất con. Ngày ấy chị đã nghĩ, kỷ luật của anh Dần rồi cũng có ngày được trên xem xét lại, còn mất đứa con là mất vĩnh viễn. Chẳng những mất nó mà còn liên lụy đến cha mẹ, ảnh hưởng xấu đến hai em. Trong nhà này suốt mấy chục năm không một ai được cất lời nói xấu chính phủ, nói xấu xã hội hoặc nói xấu bạn bè của bố. Ông Dần muốn nói gì thì nói, nhưng là nói ở nơi khác, còn đã về nhà là phải theo luật của nhà. Chẳng phải sợ ai, chỉ sợ các con hư. Chị có thể nhân nhượng, nín nhịn chồng đủ mọi chuyện nhưng dạy con là quyền của chị, chị là nhà độc tài trong lãnh vực này. Người mẹ nhận xét, thằng đầu tuy ngoan nhưng chỉ ngoan với mẹ còn vẫn ghét bố. Nó nhẫn nại vươn lên với lòng oán hận, oán bố, hận bố. Vì nó chỉ là đứa trẻ tầm thường với cách nghĩ tầm thường, không thể có sự thông cảm với những tai ách khó tránh của người sáng tạo. Nhưng em trai nó thì khác. Nó là một nghệ sĩ bẩm sinh. Nó thương bố và trọng bố. Giữ được sự ổn định về tinh thần trong một gia đình gặp tai nạn là khó lắm, người mẹ phải tỉnh táo, nhẫn nại từng giờ. Buổi sáng đứa trẻ nghĩ khác, tối đến có thể nó lại nghĩ khác. Trẻ con mà. Lại còn phải giữ cả sự ổn định trong cuộc sống vật chất hàng ngày nữa. Khi chồng bị mất việc, chị lập tức xin đi dạy mẫu giáo ngay do ban đại diện khu phố bảo lãnh. Rồi làm hiệu phó, rồi dạy cấp 1. Được mấy năm chị phải nghỉ vì một bên phổi đã rám đen. Chị bán hết phiếu vải của một năm được 600 đồng mua dép nhựa bầy trên cái mẹt cắp đi bán. Mới ra hàng, còn ngú ngớ, ngày nào cũng bị công an bắt phạt, chạy cũng bị phạt, ngồi tại chỗ xin xỏ cũng bị phạt. Có người bắt phạt, lại có người che chở. Có một anh công an trẻ thỉnh thoảng đạp xe qua, lúc thì bảo: “Cô giáo cứ ngồi bán, không phải chạy”. Có lúc anh kêu từ xa: “Cô giáo chạy đi, họ đến đấy!”. Nước mắt dài nước mắt ngắn, mếu máo suốt ngày. Về đến nhà vẫn phải tươi tỉnh, vẫn phải nói với các con: “Hôm nay mẹ bán được”. Đã mấy chục năm cả nhà không ai được ăn no. Dẫu thiếu cơm nhưng mỗi bữa vẫn phải dành lại một bát để bữa sau ghế. Cơm nguội ghế một bát nở ra thành mấy bát. Những mẹo vặt của người nội trợ một gia đình luôn luôn đói. Thừa cân gạo lại bán đi mua mắm, muối, rau và mỡ rán. Bữa nào có cá và đậu kho mặn là bữa ăn sang. Ba đứa con đi học, suốt năm học chỉ mặc có một bộ quần áo, về học là cởi ra ngay để mặc quần áo rách làm việc nhà. Quần áo của chị cũng không còn được mấy cái lành vì phiếu vải đã bán lấy tiền đong gạo rồi. Chị sống lầm lũi, nhẫn nại với một niềm tin dai dẳng: “Sông có khúc, người có lúc, không ai sướng được mãi, cũng không ai phải khổ mãi. Miễn là các con phải được ăn học”. Quả thật cả ba đứa con đều học rất giỏi. Thằng lớn lẽ ra được đi Đức để học tiếp nghề ảnh nhưng bố nó như thế nên phải ở lại. Đứa con gái đầu ba lần thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, lần nào cũng chỉ thiếu có nửa điểm. Nó hỏi mẹ: “Tại sao thế hả, mẹ?” Bà mẹ nuốt nước mắt an ủi con: “Tức là con còn phải học giỏi hơn nữa”. Thằng Vũ là út và có khiếu vẽ từ nhỏ. Mười ba tuổi xin thi vào trường trung cấp mỹ thuật, học năm năm. Nhưng nó phải khai thêm hai tuổi, tăng thêm chiều cao và thêm cả cân. Mười lăm tuổi mà nhỏ quá, gầy quá như đứa trẻ lên mười. Vũ học năm năm trung cấp, tốt nghiệp thủ khoa, đã có tranh triển lãm được huy chương đồng. Thi tiếp vào đại học mỹ thuật. Lại học thêm năm năm. Lúc thi ra cũng đỗ đầu. Bài luận văn của Vũ về Chagall rất xuất sắc. Ban giám khảo ngờ rằng nó được bố gà vì nó đâu có đọc được sách Pháp. Lúc ấy thằng Vũ mới thưa, là nó nói, đọc và viết tiếng Pháp khá trôi chảy. Nó học tiếng Pháp đã trên mười năm, thầy dạy là ông Nguyễn Mạnh Tường. Dạy không công vì quý mến một đứa trẻ có chí và có tài chứ tiền ăn còn chả đủ lấy tiền đâu học ông Tường. Lúc ấy nhà trường đang giảm biên chế nhưng vẫn giữ Vũ lại làm trợ giáo. Một tổ chức từ thiện của Pháp cho trường mỹ thuật một suất học tại Pháp. Hiệu trưởng dành luôn suất học đó cho Vũ rồi mới báo cáo lên Bộ. Chị Khuê thở một hơi dài, nước mắt rân rấn: “Ở đời có bao nhiêu là người tốt, đến đâu cũng có những người tốt, không có họ thì chúng tôi sống sao nổi, hả anh?” Đến cái đận đi Pháp của Vũ cũng có bao nhiêu là rắc rối. Bốn giờ sáng hôm sau lên máy bay, bảy giờ tối hôm trước lại có tin thằng bé chưa đi được. Bà mẹ lại chạy, đến khắp những nơi phải đến để van vỉ, xin cầu. Chị không nghĩ đến đồng tiền nó sẽ kiếm được nay mai mà chỉ nghĩ đến một cái tài đã được ấp ủ từ nhỏ sẽ có cơ hội bừng nở. Bị ngắt cụt nó sẽ trở thành người khác, có khi còn thành tội nhân vì thất vọng, vì tuyệt vọng. Một người thường thất vọng thì sẽ lụi tàn dần, chết dần, họ tự tiêu hủy bằng cái mòn dần. Nhưng một tài năng thất vọng thì rất nguy hiểm, nó sẽ tự đốt trong lòng một bùng cháy. Một tháng con phải ở lại, người mẹ hầu như không ăn không ngủ, chỉ đi thôi, chỉ nói thôi, vì đây là sinh mạng của một đứa con, chị đã hy sinh tất cả để có nó như hôm nay. Tôi vẫn nghe chị nói chuyện, thỉnh thoảng lại liếc mắt nhìn sang một ông già, trước kia là Trần Dần, ngồi bất động bên cạnh. Anh vẫn cắm cúi đọc tờ tạp chí nhưng đọc gì mà không thấy giở trang. Hay lại ngủ rồi? Chợt chị dừng nói, nhìn xuống chân chồng, chỗ mặt đá bông loang loáng như có nước. Đấy, ông ấy lại tiểu tiện ướt đẫm ra rồi kìa. Cả ngày thay quần, cả ngày giặt giũ, phải những ngày trời mưa hay nồm quần phơi giăng khắp nhà. Vẫn cười mà nói thế, mặt vẫn tươi mà nói thế, chả thấy khổ một tý nào. Chị đã quen với nhọc nhằn đến thế sao? Chả rõ văn thơ của ông bố, vẽ vời của ông con rồi ra sẽ có ích lợi gì cho đời, chuyện đó còn phải đợi. Nhưng hiển nhiên nếu không có những người vợ, những bà mẹ một đời nhẫn nhục gánh chịu mọi tai họa vì những người thân yêu thì thế giới này sẽ buồn thảm lắm, sẽ lạnh lẽo lắm.