Hiển thị các bài đăng có nhãn TÍN NGƯỠNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÍN NGƯỠNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

Thiên đường và địa ngục

Thiên đường và địa ngục


(Xuân Bình). Trần gian quá khốn nạn nên con người luôn mơ đến thiên đường. Cuộc sống quá tàn khốc nên con người mô tả địa ngục hoàn hảo hơn cả một cơn ác mộng? Bản thân tôi thì nhìn thấy rằng con người vẫn và sẽ luôn loay hoay, lấn bấn xoay quanh giá trị của sự sống và cái chết. Và tôi mơ một Giấc Mơ để có thể hiểu rõ mọi thực hư của cuộc đời này.

Tây Tạng
Tây Tạng - tu viện Palchoi
Tranh thờ Đạo Lão Công đồng - sưu tập Phạm Đức Sỹ 2009
Tranh Đạo Lão - Dẫn hương lộ của người dân tộc Nùng
Tranh Đạo Lão- độ linh của người dân tộc Tày

Đó là một vài cảm nhận của tôi sau khi tới Trung tâm Việt Art Hà Nội xem triển lãm tranh thờ đạo giáo của nhà sưu tập Phạm Đức Sỹ.
Về đề tài này, năm 2000, họa sỹ Nguyễn Mạnh Đức trưng bày một bộ sưu tập tranh ở 65 ngõ Huế. Năm 2001 nhà nghiên cứu Phan Ngọc Khuê hoàn thành cuốn sách Tranh Đạo Giáo ở Bắc Việt Nam. Năm 2002, họa sỹ Nguyễn Minh Thành lần đầu tiên sử dụng tranh thờ đạo Lão vào tác phẩm nghệ thuật xếp đặt ở Nhà sàn Đức. Năm 2003, Simon Redington họa sỹ người Anh triển lãm tranh khắc Thập điện Diêm vương ở Art VietNam Gallery. Năm 2006, một triển lãm tranh thờ được tổ chức khá chuyên nghiệp ở Đại học Mỹ Thuật…

Nhiều người quan tâm đến việc tranh thờ có chỉ dẫn nào về những ngày tiếp theo của cuộc đời? Đường lên tiên cảnh bao xa? Dưới sông Nại Hà có bao lối dẫn tới các mười Tòa đại hình? Vị thần nào có thể mau giúp ta phá ngục để giải thoát?

Bản thân tôi thì nhìn thấy rằng con người vẫn và sẽ luôn loay hoay, lấn bấn xoay quanh giá trị của sự sống và cái chết. Và tôi mơ một Giấc Mơ để có thể hiểu rõ mọi thực hư của cuộc đời này.

Lên cõi Thanh Hư

Tôi thích bức tranh “Dẫn hương lộ” của dân tộc Nùng hay Cao Lan. Ngay tên gọi cũng đã nhanh chóng gợi tả con đường giải thoát nhẹ nhàng như khói, quyến luyến hương xạ và lan tỏa một cách huyền hoặc.
Nơi ấy con người đã thành tiên nhân có thể cưỡi rồng bay lên thềm trời, hóa thành chim lướt trên mây, biến thành cá lặn xuống biển sâu, đi lại giữa trần gian mà người thường không thấy. Họ ăn cỏ linh chi, uống sương, hít gió, tâm như dòng suối, da trắng như tuyết, trường sinh bất lão, tiêu dao, tự tại…
Trong Dẫn hương lộ người ta tìm thấy cả trần gian, thế giới của chúng sinh còn nặng sắc dục, thế giới không sắc dục, Nhật phủ, Nguyệt cung. Có Dương minh tinh tượng trưng cho cõi sáng. Huyền minh tinh tượng trưng cho cõi tối. Hư vô Thanh cảnh tượng trưng cho cõi hư vô thanh khiết, vô tận, vô cùng nơi ánh sáng không bao giờ tắt. Đại lộ trình, con đường đi tới Thanh Hư có ba chặng và dài sáu vạn dặm. Linh hồn được chở đi trên xe dê, trâu, ngựa, hươu. Mỗi chặng lại có Chu Vũ coi giám cõi Hạ Nguyên. Cát Ủng coi sóc miền Trung Nguyên. Đường Hoàng cai quản miền Thượng Nguyên…
Nhưng cái bất ngờ của Dẫn hương lộ (rộng chừng 30cm, dài hơn 3m) lại là việc nó khắc họa con đường đưa hương hồn con người lên thiên giới thành chân dung hoàn chỉnh của một Con Người. Con Người ở đây được định vị rất rõ ràng bởi các huyệt đạo trên cơ thể. Địa phủ, thủy phủ phía dưới cùng bức tranh tương ứng huyệt Hạ đan điền- vị trí xương mu phía trước. Trung đan điền- vị trí rốn. Thượng đan điền- kinh huyệt ở vị trí cổ. Còn vị trí Thánh Chúa ngự ở Nê hoàn cung- nơi cao nhất của bức tranh thì tương ứng với huyệt Bách Hội ở chỏm đầu. Đây là huyệt dẫn nạp Khí- năng lượng của vũ trụ nhằm mục đích đạt tới trường sinh bất tử, hướng tới giải thoát. Đó cũng là quan niệm Thiên Nhân hợp nhất của Đạo Lão.
Tôi có ý so sánh y nghĩa triết luận này của Dẫn hương lộ với tranh khắc gỗ “Cửu phẩm liên hoa” của họa sỹ Lê Quốc Việt (2000). Trên bức tranh tác giả có đề đôi câu đối như một lời đề dẫn:
Bốn tám lời nguyện của Phật Di Đà giảng giải, tiếp dẫn chín loài cùng sinh lên chín phẩm Hoa sen.
Mười hai ánh hào quang hiển hiện, soi tỏ chúng sinh ba nẻo ác đều chứng được ba thân.
Theo quan niệm nhà Phật, họa sỹ lý giải: cấp chứng ngộ từ thấp lên cao, từ chúng sinh lên thành Phật có 9 phẩm. Ai chứng ngộ được cấp bực nào trong 9 phẩm thì sau khi chết đều được lên cõi Tây phương Cực lạc của Phật Di Đà. Còn ba nẻo Địa ngục, Ngạ quỷ (quỷ đói) và Súc sinh giành cho chúng sinh gây tội ác nghịch thì không được vãng sinh hoặc tái đầu thai làm người.


Ba thân là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, tương tự như ba vị Phật ở 3 thời Quá khứ, Hiện tại và tương lai.

“Cửu phẩm liên hoa” được hoàn thành trong thời gian họa sỹ lưu trú ở chùa Bút Tháp. Trong chùa có cây Cửu phẩm xoay, biểu thị sự chuyển nghiệp từ ngu sang trí, từ trói buộc đến giải thoát, từ chúng sinh lên Phật. Cũng như hình ảnh cây Cửu phẩm, mộc bản “Cửu phẩm liên hoa” chính là toàn hình của đức Phật Di Đà.
Vậy là trong những tác phẩm của Đạo Giáo hay Phật Giáo, nghệ thuật truyền thống hay hiện đại thì người nghệ sỹ không chỉ dừng lại mô tả cái hiện thực mà còn luôn phóng chiếu những khát khao thay đổi số phận. Có bao nhiêu nhân vật trong tranh là từng ấy ham muốn, khát vọng. Đó là không gian siêu thực, một phối cảnh lạ lùng giữa thức tỉnh và hư ảo, cái mà người ta không thể Nhìn mà chỉ có thể tìm thấy trong những Giấc Mơ.

Rẽ xuống địa ngục

Nepal Kathmandu- thành cổ Patal- điêu khắc các hình phạt với đàn bà



Hưng Yên-Phố Hiến- Chùa Chuông




Sưu tập của họa sỹ Lê Thiết Cương.




Tranh tường Đôn Hoàng Trung Quốc
Con người ta cũng luôn tin rằng ngoài dương gian còn có Âm phủ nơi các vong hồn vẫn có một cuộc sống tiếp theo.
Sau khi chết vong hồn được dẫn qua sông Nại Hà- cảnh giới Dương gian và Âm phủ. Mọi vỏ lốt, phục sức, đẳng cấp, giàu sang, hèn khó đều bị trút bỏ để trở lại cái nguyên sơ ban đầu. Các vong hồn được dẫn qua Nghiệt kính đài để nhìn lại không sót một công hay tội nào. Từng công tội lại được các phán quan, lục sự cân đong. Tùy mức công tội mà vong hồn sẽ có sáu nẻo đường chuyển kiếp và giải thoát. Ba nẻo Thiện làm đế vương, công hầu, khanh tướng; giàu sang, phú quý; góa bụa, cô quả, nghèo hèn. Ba nẻo Ác là: đầu thai thành chim; thú; côn trùng, sâu bọ, cua, cá. Chặng cuối của đầu thai, chuyển kiếp các vong hồn lại một lần nữa phải vượt qua và uống nước sông Mê, bến Lú để rũ bỏ hết mọi Thiện, Ác, sang, hèn… của kiếp trước.
Người ta thống kê một cách phiếm chỉ con người thường phạm 108 tội lỗi. Tội lỗi được phân loại theo việc phạm vào ngũ giới của nhà Phật như sát sinh, trộm cướp, tà dâm, dối trá lường gạt và… uống rượu.
Tương ứng với các tội là một hệ thống các khung hình phạt như phanh thây, cưa chân, đưa thân vào cối giã, móc mắt, dùng kìm nung đỏ rút lưỡi, bỏ vào vạc dầu sôi, ngâm trong ao máu bẩn, dồi thuốc pháo vào rốn, cột pháo quanh thân rồi đốt…
Tôi không có khoái cảm với cái Ác nhưng thường đứng lại rất lâu trước các tranh Thập điện Diêm vương. Sau nhiều lần trở lại chùa Chuông, Phố Hiến, Hưng Yên, chùa Trăm gian Hà Nội hay viếng thăm các tu viện Tây Tạng, chùa đền ở Nepal, Myanmar… điều kỳ lạ là tâm trạng trở nên bình thản đến lạ lùng. Tôi đã dần dần gác lại những câu hỏi đại loại: các đại hình là diễn nôm những ác mộng? Hitle, Saadam Hussein thì đã bị xử ngay trên trần gian. Nhưng những kẻ hiếu sát như Vờ La đi Mỉa, phạm tội ác chống nhân loại hay Sờ Ta Lỉn, Mảo Trạch trấu, Pôn Pốt…cùng một vài lãnh tụ đuôi to (vỹ đại) thì sẽ được Diêm Phủ áp khung hình nào? Hiện nhiều kẻ vẫn chềnh ềnh trong lăng tẩm thì quỷ Vô Thường đầu trâu mặt ngựa làm sao dẫn độ? Mười phiên tòa có đủ sức để ghi chép tội ác của bọn này? Hậu duệ của chúng đang cướp đất của dân đen, đàn áp trí thức mai này có đường thứ bảy cho chúng giải thoát?
Lần đầu tiên tôi có cảm giác rằng mình sẽ xóa bỏ được những thù hận với lũ quỷ mặt người ấy là dịp tới Đôn Hoàng. Tranh tường vẽ cảnh cân phúc, cân tội ở hang 254 Đôn Hoàng Trung Quốc (thời Bắc Triều, 356-534) được thể hiện một cách nhẹ nhàng, ít tạo cảm giác bị trấn áp, đe dọa hay gây sốc.
Hơn thế nữa, sau khi tập hợp tư liệu khá đa dạng, tôi “phát giác” phần lớn gương mặt, thần thái các vong hồn trong khi thụ hình lại có vẻ an nhiên. Rất nhiều vong hồn trong tranh thờ Đạo Lão còn cười rất tươi tắn. Thân hình của các vong hồn nữ trong điêu khắc ở chùa Patal Nepal lại còn khá… quyến rũ. Ngỡ tưởng các nghệ sỹ tạo hình còn mang theo cảm hứng lãng mạn trong từng nhát đục hay cách day ngọn bút.
Về nhận thức, tôi tự thấy mình cần phải học hỏi các tiền nhân. Họ đã quá thấu hiểu địa ngục trần gian. Những bi kịch, đau khổ trong Thập điện là bi kịch thực, đau khổ thực. Đã chứng ngộ nên họ vẽ Đời và đặt tên tác phẩm là Thập điện Diêm vương? Có những tranh vẽ, điêu khắc đã tồn tại và tiếp tục phát sinh từ hàng nghìn năm trên các chùa đền. Vậy là những cực hình để đày đọa số phạn từng con người lại là một phần tất yếu của cuộc sống. Điều đó có lý giải cho hiện tượng phần lớn những khẩu hiệu hay ho nhất về quyền tự do lại được gương cao bởi những kẻ độc tài. Những lời hiệu triệu quyến rũ nhất về giá trị độc lập của dân tộc lại thoát ra từ miệng những kẻ sẵn sàng bán đứng quyền lợi của Tổ Quốc…

Giấc mơ ban ngày

Tác phẩm của Dali trưng bày ở bên bờ sông Theme London 2006
Tác phẩm của rob Gonsalves


Palm Island


Gyatse Tây Tạng

Thiên Đàn Trung Quốc


Đàn Nam Giao Huế
Tuy nhiên về hành động tôi chưa biết làm thế nào để

Tôi bắt chước trò chơi cắt dán của trẻ con nhưng cố gắng sắp xếp theo lối đồng hiện như Dẫn hương lộ hay “Cửu phẩm liên hoa”. Tôi lựa chọn phép so sánh giữa quan niệm siêu thực xưa cũ của người phương Đông với quan niệm về siêu thực hiện đại của phương Tây….

Tôi thử đặt những bức ảnh chụp tranh thờ Đạo Lão của các thày Tào bên tranh khắc Thập điện Diêm vương của họa sỹ người Anh Simon Redingto; đặt điêu khắc gỗ quỷ Vô Thường đầu trâu mặt ngựa ở chùa Trăm gian bên cạnh điêu khắc đồng của Dali; Đặt tranh vẽ của Rob Gonsalves (Canada) một họa sĩ tiêu biểu của phong cách siêu thực bên cạnh hình ảnh nội thất trong Trung tâm khoa học Rujong Singapore; Đặt đàn Nam Giao bên đỉnh Olympia; Đặt Kim tự tháp bên cạnh Bảo tàng Louvre Paris của Ieoh Ming Pei; Đặt thơ của Đặng Trần Côn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du bên cạnh thơ của André Breton ….
Sau hàng loạt xáo trộn, trò chơi xếp hình ấy bất chợt chỉ ra giúp tôi khoảng cách rất khác biệt giữa hai không gian nghệ thuật. Cái siêu thực của phương Đông vẫn cố khu trú trong lãnh địa tín ngưỡng, tôn giáo hay cô đặc lại trong một góc nhỏ trong đời sống tinh thần một bộ phận trí thức. Xu hướng siêu thực phương Tây lại có xu hướng lan tỏa tới nhiều không gian nghệ thuật cũng như các ngõ ngách của đời sống. Siêu thực phương Đông đi theo vòng xoáy tình cảm, tâm linh, chiêm nghiệm và còn phương Tây lại hướng đến lý trí , khoa học và trong chừng mực nào đó chủ nghĩa siêu thực còn là hạt nhân cho những xu hướng cách mạng xã hội.
Cho đến hôm nay, những bất công của một xã hội chuyên quyền, suy đồi đã mãi mãi chôn chặn cảm xúc siêu thực của Nguyễn Trãi trong một tinh thần tiêu dao của một nhân sỹ bất đắc chí.

Còn trong một môi trường mà tự do được ngợi ca, André Breton đã lên tiếng: ” Siêu thực là thao tác tự động thuần túy tâm linh. Là bài chính tả mà tư tưởng đọc ra mà vắng mọi kiểm soát của lý trí… “. Tuyên ngôn siêu thực này đã mau chóng trở thành một chủ thuyết có ảnh hưởng bao trùm trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật cũng như đời sống.

Hơn nửa thế kỷ sau, cũng trong một môi trường ngợi ca tự do và khát vọng cá nhân, những tác phẩm “Thời đại hoàng kim” (1930), “Sự dai dẳng của ký ức”, “Giấc mơ” (1931)… của Salvador Dali đã mách lối, thúc giục Rob Gonsalves chối bỏ lối vẽ phá phách, diễn tả cái khác lạ mà không lập dị, bất ngờ mà không phi lý, đầy ảo giác mà không hoang tưởng.

Đến lượt mình, các tác phẩm “ Bước trên đá hay trường thành?”, “Chiếc chăn màu trắng”, “Dòng suối”… của Rob Gonsalves ở Bắc Mỹ xa xôi đã gợi ý cho các kiến trúc sư, các nhà thiết kế nội thất của Trung tâm Khoa học Rujong ở Nam Á mang đến cho trẻ em những giấc mơ thần tiên.
Biết đâu những quan niệm siêu thực này đã lan tỏa, ảnh hưởng tới lối thiết kế theo phái Giải tỏa kết cấu mà Zaha Hadid đã thể hiện trong tác phẩm Trạm cứu hỏa Vitra, Weil am Rhein, Đức (1993), Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Rosenthal, Cincinnati, Ohio, Mỹ( 1998 )
Những thống kê trên không chỉ diễn đạt khả năng biến đổi cảm nhận thị giác, về ý tưởng, về không gian vô hạn, hữu hạn. Nó minh chứng cho sự cao siêu trong trí tưởng tượng, những khát vọng thay đổi trật tự mới cho đời sống.

Thức tỉnh
Tác phẩm của Phan Cẩm Thượng

Tranh khắc gỗ của Lê Quốc Việt


Kiến trúc của ZAHAHADID
Suy đi ngẫm lại, tôi nhận thấy André Breton, Dali, Rob Gonsalves hay Zaha Hadid… có làm gì mới hơn cái cách thầy Tào đã vẽ dẫn hương lộ hay Lê Quốc Việt khắc “Cửu phẩm liên hoa” đâu?
Vậy mà sao từ tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc, khoảng TK13)*, một số bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi (TK 15), một số tứ thơ trong Kiều của Nguyễn Du thế kỷ 19 đến thơ Hàn Mặc Tử, Hoàng Cầm, nhạc Trịnh Công Sơn hôm nay… không gian siêu thực của Việt Nam cứ teo tóp. Hình hài những khát vọng, ước mơ lớn của dân tộc cũng chỉ có thể lộ ra như một tam giác ngược đang chao đảo, chới với trên một chóp đáy, một tiếp điểm mong manh và rệu rã?
Vậy là thân xác chúng ta bị Ngạ quỷ đày đọa, Súc Sinh xui khiến? Tinh thần, cảm xúc chúng ta thiếu một sự chay tịnh, thanh sạch như cách thầy Tào trước khi ngồi vào vẽ tranh thờ? Kiếp trước chúng ta quên uống nước ở sông Mê, bến Lú nên tri thức không đủ sức giải tỏa bao sợ hãi vẫn găm lại trong tiềm thức? Hay là chúng ta không đủ tự tin để mơ một giấc mơ giữa ban ngày. Giấc mơ của những Con Người dám đập bỏ mọi gông cùm, trói buộc. Giấc mơ đi tới cùng Trời cuối Đất để tìm và phác họa cho mình cùng cộng đồng một vóc dáng siêu hình?

*Cũng như mỹ thuật, thi ca, các kiến trúc tôn giáo, tâm linh, tín ngưỡng truyền thống phương Đông (chùa tháp, lăng mộ, đàn, miếu…) là không gian mà người thiết kế diễn đạt khả năng kết hợp giữa nhận thức và mộng ảo, hướng tới những sáng tạo mang tính siêu thực. Đó cũng là giải pháp tác động tới những vùng tiềm thức, thỏa mãn nhu cầu tâm linh và khát vọng tự do của con người.
Một số bức tranh thờ.

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

Chầu văn bến Bình Than

Nghe hát ở đền Bắc Đẩu.
1. Cảnh vật.
 
Lục Đầu giang, 30 tháng Một năm Tân Mão

Đôi chum trên bến sông

Tuệ Phương ngắm cánh đồng Vạn Kiếp

"Nãi Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh chi liên..."

Đá thiêng đền Mẫu Sinh, An Mô, Chi Ngại, Chí Linh
2. Nghe hát.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Tín ngưỡng Sen

Mùa xuân đi lễ hội chùa, đền, bạn hãy ngắm nhìn thật kỹ khung cảnh nơi cửa thánh, nhà Phật. Đó chính là một toà sen khổng lồ, một biểu tượng tôn giáo chứ không còn giản đơn là một kiến trúc phỏng sinh.
                                                                                         
Jokhang Temple, Lha=
Tôi dám chắc ai cũng bị ám ảnh bởi trang trí sen trên mái đền Jokhang hoặc đài sen gò đồng, mạ vàng khổng lồ ở tu viện Gyantse khi đến Tây Tạng, xứ sở của các vị thần. Ai cũng có thể thấy rõ cảm giác choáng ngợp khi đối diện với chùa hang Đôn Hoàng Trung Quốc, bảo tàng Phật giáo lớn nhất thế giới, một đoá sen khổng lồ trên hoang mạc. Người ta cũng dễ bị chinh phục bởi cái khúc triết trong kiến trúc của Thạt Luổng ở thủ đô Vientian Lào, một linh ảnh rực rỡ của sen.
                                                                                                        
Thạt Luổng Vientian Lào
Còn trên đất nước ta, cũng có nhiều kiến trúc hiện tồn tuy nhỏ bé, giản đơn nhưng khắc hoạ khá rõ nét biểu tượng sen. Đó là chùa Một Cột được xây năm 1049 trên hồ Linh Chiểu, một mô phỏng giấc mơ về toà sen của Phật Bà Quan âm của vua Lý Thái Tông. Đó là thuỷ đình và đền Tam Phủ trên hồ Long Chiểu của chùa Thầy được xây năm 1602. Là đền Ngọc Sơn được xây dựng ở hồ Gươm từ thế kỷ 19.
Trên thượng lương, câu đầu, ván bẩy ở đình chùa làng quê Bắc Bộ cũng có nhiều phù điêu lấy cảm hứng từ sen, góp phần tạo nên diện mạo riêng biệt của mỹ thuật nước nhà. Phù điêu sen đẹp nhất có lẽ phải kể đến những tác phẩm còn lưu giữ ở đền vua Đinh, vua Lê ở Nình Bình, đình làng Tây Đằng , Đông Viên Hà Tây. Sen cũng là đề tài được thể hiện nhiều trên các đồ thủ công mỹ nghệ, thêu ren, thời trang…

Thủy đình trên hồ Long Chiểu
chùa Thầy
Điều gì đã tạo cho Sen có được ảnh hưởng sâu sắc đến thế trong đời sống? 

Có lẽ là vì Sen đã rất gắn bó với đạo Phật, một tôn giáo lớn nhất của đất nước.

Cây sen có rễ bám trong bùn, thân vươn trong nước, hoa nở trên không đã trở thành biểu tượng của Tam bảo, tượng trưng cho sự giác ngộ cũng như giáo lý của đức Phật và đời sống của tăng lữ. 
                                                                                             
Chùa Một cột Hanoi
Đài sen nơi Phật toạ thiền là tượng trưng cho sự sản sinh thiêng liêng, thuần khiết của đức Phật. Tư thế ngồi cát tường của Đức Phật được gọi là liên hoa toạ. Viên ngọc ước, những nét hào quang của đức Phật đều được các nghệ nhân tạo hình giống những cánh sen. Với Phật giáo mật tông, trái tim của chúng sinh mang hình đoá sen. Một trong ba mươi tướng tốt của đức Phật là ngài có khoé mắt đẹp dài rộng như cánh sen xanh. Ngón chân cái và gót chân của người cúng mang tượng hoa sen.
                        
Trong đạo Phật, hoa sen trắng tượng trưng cho tâm cảnh thuần khiết, chí thiện. Sen đỏ là hoa của từ tâm, đam mê. Sen xanh là hiện thân của minh triết. Sen hồng là loài tối thượng. Sen tím là đoá hoa huyền diệu…
           
Quan Thế Âm - sen đỏ
Mỗi loài sen lại gắn liền với hình ảnh của một vị phật. Sen trắng là hoa của chung các vị Phật, sen đỏ là của Quan Thế Âm, sen xanh là hoa của Văn Thù, sen hồng là biểu tượng của Adiđà- vị Phật lịch sử…
                                                                                                                
Phật A Di Đà- sen hồng
Từ xa xưa, với một thế lực mạnh mẽ ấy trong đời sống tâm linh, có lẽ chính đoá sen đã mệnh lệnh hay xui khiến các kiến trúc sư vẽ nên những linh tháp cao vút, những mái chùa lợp ngói đỏ nồng, những đầu đao cong xoè như cánh hoa mãn khai…
            
Đôi lúc đứng trước đài sen linh thiêng, hai bàn tay khép trong tư thế hợp chưởng ấn rất giống một nụ sen tôi cứ tự hỏi nếu ngày xưa ấy trong Lộc Uyển ở Sarnath miền Nam Ấn Độ, Đức Thích Ca Mâu Ni không cầm trên tay đoá sen khi người giảng pháp thì số phận của Sen sẽ ra sao nhỉ? Có lẽ không thể trở thành quốc hoa của Ấn Độ, cũng sẽ mãi muôn đời một phận kiếp bình dân, vất vưởng như dâm bụt, lộc bình, mướp dại… chẳng có cơn cớ gì để mà luận bàn về cái gọi là tín ngưỡng Sen! 

Văn thù bồ tát- sen xanh
Nhưng nếu giả thiết đó là hiện thực thì bộ mặt kiến trúc thế giới chắc chắn đã có những thay đổi khôn lường. Không gian kiến trúc phương Đông sẽ thế nào nếu Đức Phật cầm trên tay viên kim cương nhiều cạnh, một cuốn thư hình trụ hay một bông cúc đại đoá nhiều chi tiết…
            
Đầu xuân hôm sớm, nhân việc bàn về những giá trị của Sen và ảnh hưởng của nó tới kiến trúc, rất mong các kiến trúc sư trẻ thử giành đôi ba phút để nghĩ về giá trị biểu tượng của những bản vẽ thiết kế còn nằm đâu đó trong ước mơ của mình. Mấy chục năm qua, kiến trúc Việt Nam gần như không còn năng lực đẩy công trình thành biểu tượng như những gì hiển hiện trên đình chùa, những gì cha ông đã từng làm trong quá khứ.
   
Bài viết của nhà báo Xuân Bình.

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

Thời trang... bóng Cô

Ai bảo là đồng không giúp nước
Âm phù dương trợ chẳng kể công

Lẵng hoa cô quảy trên vai nhịp nhàng
Thắt đai ngang, xuyến vàng xà tích
Ống vôi trầu vỏ quạch thơm cay
Yếm đào dải lụa tung bay
Áo đổi vai cô vận chen giày quai ngang
     (văn Cô Cam Đường)
                   
Những câu thơ hay, những ca từ xinh xinh như trên không phải là nhiều trong lời ca của các cung văn vẫn hát xướng trong mỗi giá đồng. Những câu thơ, lời hát mô tả về thời trang của các Thánh nữ từ hàng Chầu tới hàng Cô thường không dài nhưng đọc hoặc hát lên là thấy ngay sắc diện, vai trò của từng nhân vật. Đó cũng là những “văn bản “ hiếm hoi mà những người nghiên cứu về thời trang hầu đồng có thể tìm kiếm, khai thác như những tư liệu có giá trị khoa học.

Trong văn Cô Bơ Thoải chân dung vị Thánh miền Thuỷ phủ hiện ra giàu sang, đài các.
           
Áo mớ ba chân hài mỏ phượng
Lược đồi mồi nhẫn ngọc luồn tay
Gương soi phấn điểm nào tày
cổ đeo tràng mạng, đôi tai hoán vàng

 
Cô bơ thoải phủ



Trong văn Chầu Đệ Tứ Khâm Sai, vị Thánh này được mô tả như một tuyệt sắc giai nhân:
Mặt hoa mày liễu má hồng
Da ngà mắt phượng môi son
lưng con má phấn xem càng tốt tươi
Miệng Chầu cười trăm hoa đua nở
              
Cô đệ nhị
Bên cạnh những câu văn chung chung rất khó phân biệt hình tướng các Thánh nữ, các Cô như trên còn có câu văn chỉ thị rất chính xác màu sắc trang phục của từng vị. Với Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn thì: “khăn xanh áo lục nhởn nhơ”. Với Cô Bé thì: Áo chàm khăn trắng dải xanh mỹ miều. Còn với Chầu Mười Đồng Mỏ là.
Áo vàng phấp phới khăn hoa dịu dàng
Lưng đeo kiếm bạc cung vàng
Cưỡi trên mình ngựa hiên ngang oai hùng

Cô sáu sơn trang
      
 

  
Trong hàng Chầu, hàng Cô nhiều vị có nguồn gốc từ các dân tộc thiểu số nên Thánh Chầu Thác Bờ luôn là trang phục của người  Mường. Trang phục của Chầu Lục là Thổ, Tày và Nùng. Trang phục của Chầu Đệ nhị là Mán, Dao. Trang phục của Bà chúa Ba là Chăm …
                      
Cô đệ nhất
Căn cứ vào từng Thánh tích trên, những người lên đồng phải sắm sửa rất công phu nào là khăn phủ diện đỏ, khăn xếp đỏ, khăn vấn xanh, hai khăn choàng lớn xanh-đỏ, khăn vấn, áo dài, áo cánh, dải buộc đầu hay dây lưng cùng chuỗi hạt, hoa tai, xuyến, lược, thẻ bài, khánh, quạt lông, quạt ngà…

Trong mỗi lần lên đồng, trang phục của ông Hoàng, Cậu Bơ, Quan Tuần Tranh rất oai phong nhưng thích thú hơn cả là giá Chầu, giá các Cô. Mười hai Cô từ Cô Cả, Cô Đôi đến Cô Bé Bắc Lệ, Cô Bé Đông Cuông, mỗi lần các Cô giáng nhập thì từ ông đồng già chân mỏi tới bà đồng móm mém đều bỗng chốc tươi trẻ, duyên dáng lạ thường. Ấy là khi họ đã lạc vào múa điệu chèo đò trong giá Cô Bơ, múa thêu hoa trong giá hầu Cô Chín, múa gánh hoa trong giá Cô Đệ Nhị… Đến đoạn nàỳ trong điện bao giờ cũng nhộn lên vì tiếng vỗ tay, tiếng con nhang đồng thanh hát theo cung văn rồi ồn ào tiếng “Lạy cô, Cô múa đẹp quá, Cô mưa đi”. Thế là Cô vui vẻ tung lộc, tiền về phía các con nhang. Mọi người xô nhau tranh cướp như trước mắt họ chẳng có điện thờ với ngai tượng, bát hương, lọng, kiệu chân nến… Lúc này dường như tất cả những đồ vật tĩnh lặng âý chỉ làm cho sự chuyển dịch của khói nhang, sự lay động của đèn nến, sự lan toả, réo rắt của các điệu hát văn thêm phần huyễn ảo. Trên cái phông nền ấy, thời trang trình đồng lặng lẽ góp phần tạo ra một không gian tâm linh, đẩy người lên đồng và cả người hầu và xem đồng vào trạng thái tinh thần hưng phấn đến độ quên mình, thăng thoát, một hiệu quả mà không một trò diễn xướng nào trong dân gian có thể sánh được.
    

Những lúc như thế chỉ muốn hát lên.
dâng cô quả nón đôi hài
Dâng gương, dâng lược vòng tay quạt ngà.
Bài viết. Xuân Bình.
                
...

              Trang phục thập nhị sơn trang cô nương


Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2011

Nghìn năm Chó đá làm duyên

Chó đá
                       Thơ Vua Lê Thánh Tông
 I.                         
Quyền trọng ơn trên trấn cõi ngoài,
Cửa nghiêm chem-chẻm một mình ngồi.
Quản bao xương tuyết nào chi kể,
Khéo giữ cao lương cũng chẳng nài.
Mặc khách thị-phi giương tráo mắt,
Những lời trần-tục biếng vào tai.
Một lòng thờ chúa, nghìn cân nặng,
Bền vững ai lay cũng chẳng dời.




Trước thềm nhà tôi

 

 

II.

Lần kể xuân thu biết mấy mươi
Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Đêm thanh nguyệt dãi màng trông nguyệt
Ngày vắng ruồi bâu biếng ngáp ruồi
Cắn kẻ tiểu nhân nào đoái miệng
Chào người quân tử chẳng phe đuôi
Phỏng trong sức có ngàn cân nặng
Dấu nhẫn ai lay cũng chẳng dời.




Cổng chùa động Hàm Long, Nhị Chiểu

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

ẤN QUYẾT TRONG HÌNH TƯỢNG PHẬT GIÁO

Phật Đường Khuông Việt Orsay
miền nam Paris
Trong nhiều thế kỷ, nghệ thuật Phật giáo không trình bày đức Phật qua hình dáng con người mà biểu thị Ngài qua một chiếc lọng, một cái ngôi, một vết chân hay con ngựa của Ngài.

Đầu Công nguyên, phong cách Hy-Ấn Gandhara và những trường phái điêu khắc Ấn Độ cùng lúc thực hiện những hình tượng Ngài cũng như những vị Bồ Tát qua nhiều bộ điệu khác nhau với những cử chỉ được xếp thành quy tắc. Những mudra mà người Tàu gọi là yin, người Nhật in-zô, ta dùng chữ ấn, thủ ấn, hay thành ngữ ấn quyết, tiêu biểu cho quyền lực và hiện hình thần thánh.


Đối với nhiều người, các kiểu đứng, ngồi, bắt tay, xếp chân của các tuợng Phật, các vị BồTát, La Hán đều là ấn quyết (mudra). Trong nghi lễ Mật giáo Ấn Độ, những hình vẽ bằng đầu ngón tay, ta gọi là bắt ấn, có công năng thần diệu, giúp phần định tâm, còn gọi sự hỗ trợ của chư Phật, Bồ Tát. Trong nghệ thuật múa Ấn Độ, những cử chỉ nầy được khai thác thành "ngôn ngữ tượng trưng". Ấn Độ là một nước những bài tụng ca vệ đà luôn còn được kèm theo những động tác ngón tay vô cùng phức tạp nhưng rất chính xác. Ấn quyết có thể xem như là quyền lực ban cấp cho bàn tay để gắn chặt tác động nghi lễ.
Mudra thường được ghép đôi với mantra, một thể thức cầu khấn. Trong khuôn khổ một nghi lễ, người giáo sĩ vừa đọc một mantra vừa xác định một vị trí cho bàn tay, vị trí có thể thay đổi tùy theo chữ, theo câu hay âm vang của giọng đọc. 
Trong nghệ thuật Phật giáo, mudra trước tiên được dùng để tỏ rõ những cử chỉ của đức Phật.
             
Thiền ấn.
 
Thiền ấn
Khi đức Phật tập trung tư tưởng đi đến Giác ngộ, Ngài ngồi xếp bằng Padmasana, hai tay đặt trước bụng, ngón tay duỗi thẳng, những ngón tay trái đặt trên những ngón tay mặt, hai ngón cái chạm nhau, gan bàn tay ngửa lên trên, có khi bắt chéo thành góc 45 độ, là một mudra rất thông dụng ở Đông Nam Á, được gọi là Thiền ấn Dhyana-mudra (hay Samadhi-mudra).
                

Bayon. Campuchia
Chùa Bút Tháp. Việt nam











        

         

Hai ngón cái tách rời các ngón khác để chạm vào nhau làm thành một hình tam giác thần bí, biểu tưởng Tam Bảo Phật Pháp Tăng hay, theo nhiều môn phái bí truyền, ngọn lửa thần bí thiêu hủy mọi ô nhiễm.
Chùa Thái lan

Địa xúc ấn

Địa xúc ấn. Bhumisparsha-mudra.                        
Dưới gốc cây bồ đề, đức Phật quyết ngồi cho đến lúc tìm ra được phương cách hủy bỏ mọi đau đớn trên đời nầy nên khi đạt đến đích, Ngài viện đất làm chứng những công đức mà Ngài đã tích lũy từ nhiều tiền thân.
           
Địa xúc ấn Bhumisparsha-mudra, biểu tượng một lòng tin và một giải quyết không lay chuyển được, là điển hình những biểu thị đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đức Bất động Phật Akshobhya. Ngài ngồi xếp bằng Padmasana, tay mặt đặt trên đầu gối mặt, đầu những ngón tay duỗi ra đụng đất, có khi chỉ ngón chỉ, tay trái đặt trên đùi trái, gan bàn tay hướng lên trên.


Ayuthaya - Thái Lan
Ayuthaya - Thái Lan
                                                                                       


Chuyển pháp luân ấn
Chuyển pháp luân ấn. Dharmacakra-mudra.
Ngài đưa hai tay lên ngang ngực, gan tay trái hướng ra trước, gan tay mặt hướng lên trên, những ngón tay xòe ra gần đụng tay kia, đấy là lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp.Chuyển pháp luân ấn này được gọi là mặt trời. Đức Phật xem như đức Chuyển Luân Vương Chakravartin, chúa tể một thế lực toàn năng, đang quay bánh xe mặt trời, vận dụng giáo huấn trong sáng làm tiêu tan mọi bóng tối của ngu muội. Hai tay thành hai vòng tròn thần bí, tiêu biểu cho hai bánh một chiếc xe. Hai ngón tay cái hợp lại với nhau là trục xe chống đỡ hai bánh xe tượng trưng hai mặt cốt yếu vật chất và tinh thần luôn luôn bền chặt liên kết và vĩnh viễn chuyển động.
                                
Chùa Liên Phái - Hà Nội
Tây Tạng
       
                 


 








Chùa Thái lan
Hai tay của Ngài làm thành hai vòng tròn thần bí, tiêu biểu cho hai bánh một chiếc xe. Hai ngón tay cái hợp lại với nhau là trục xe chống đỡ hai bánh xe tượng trưng hai mặt cốt yếu vật chất và tinh thần luôn luôn bền chặt liên kết và vĩnh viễn chuyển động.

Trong những sách xưa bên Ấn Độ, bánh xe và hoa sen đã được dùng để trình bày bản thân đức Phật. Hoa sen được xem như một bánh xe mà tám cánh thể hiện Bát Chính Đạo.
             
Vô úy ấn

Vô úy ấn. Abhaya-mudra.
Biểu lộ yên vui, nhân từ, bảo vệ, đừng sợ hãi, đức Phật giơ tay mặt lên ngang vai, cánh tay gập lại, gan tay hướng về trước, những ngón tay dính nhau, còn tay trái thi thả lỏng xuống theo cơ thể.
Trong các trường phái phương Nam, ở Thái Lan và nhất là ở bên Lào, Vô úy ấn thường liên kết với điệu bộ của đức Phật đứng hay, đúng hơn, đang từ Cõi trời Đâu suất Tusita xuống. Ở Đông Nam Á, thường thấy một thay đổi là cả hai tay đều giơ lên hai bên ngực hay, ít hơn, tay mặt như trên nhưng giơ lên ngang đầu.

Chùa Dâu - Hà Bắc
Tu viện Kapica Patava-Pakistan
 












                           
Chùa Dâu Hà Bắc
Kyaunktawgyi - Mandalay Miến Điện














                                       
                                               



Ấn Varada-mudra tượng trưng cho lòng trắc ẩn, từ thiện, thành thực, mà cũng là đón tiếp, dâng hiến, biếu tặng, Đây là ấn quyết sự hoàn thành ước nguyện chuyên tâm giải thoát nhân loại. Thực hiện phần lớn với tay trái, cánh tay hoặc thông xuống theo dọc cơ thể, gan tay mở ra hướng về phía trước, hoặc gập lại, gan tay hơi hướng lên trên, những ngón tay duỗi ra hay hơi co.
                                                                                                           
Thí vô úy ấn. (pang bpra-taan a-pi hay abhaya mudra)
                   
Chùa Thái lan

Khi bàn tay Phật thể hiện động tác này cho thấy Đức Phật không hề sợ hãi trước một kẻ thù hay nghịch cảnh. Tư thế này thường thấy ở cả tượng Phật đứng và tượng Phật ngồi. Có hai biến thể. Một trong các biến thể là cánh tay cong ở cả cổ tay và khuỷu tay. Các ngón tay chỉ lên trên và lòng bàn tay hướng ra ngoài. Trường hợp nếu là cánh tay phải thì có nghĩa là điều phục thú dữ. Nếu là cả hai tay thì có nghĩa là nghiêm cấm thân nhân.







                                                                


Thí nguyện ấn
Thí nguyện ấn.

Chùa Thái lan
Varada-mudra tượng trưng cho lòng trắc ẩn, từ thiện, thành thực, mà cũng là đón tiếp, dâng hiến,biếu tặng.
Đây là ấn quyết sự hoàn thành ước nguyện chuyên tâm giải thoát nhân loại. Thực hiện phần lớn với tay trái, cánh tay hoặc thông xuống theo dọc cơ thể, gan tay mở ra hướng về phía trước, hoặc gập lại, gan tay hơi hướng lên trên, những ngón tay duỗi ra hay hơi co. Mudra nầy giống với Vô úy ấn Abhaya-mudra nhưng hai định hướng bàn tay khác nhau.

Tay phải của Đức Phật chỉ xuống với lòng bàn tay phải hướng về phía trước và các ngón tay mở rộng. Tư thế này thường được thấy trên tượng Phật đứng khi đang cho hoặc nhận của bố thí.







               
Giáo hóa ấn
Giáo hóa ấn Vitarka-mudra giống vừa Abhaya-mudra vừa Varada-mudra, nhưng thực hiện với hai tay như trong ấn quyết đôi Abhaya-Varada-mudra, hai ngón cái đụng đầu hai ngón chỉ. Thường ấn quyết nầy tượng trưng cho một trong những kỳ thuyết giáo của đức Phật, kỳ bàn cải, biện luận. Ấn quyết cũng còn đuợc gọi biện minh ấn vì đây là lúc đức Phật giải thích giáo pháp, kiếm cách thuyết phục người chưa tin đạo
                    
Chùa Dâu - Hà Bắc
Quan Yin - Trung Quốc
Ngón tay cái và ngón tay trỏ, thường là ở bàn tay phải chạm vào nhau, các ngón còn lại hướng lên trên. Cánh tay cong nơi khuỷu tay và cổ tay. Điều này được xem như lời kêu gọi hòa bình. Đức Phật đang nhằm kêu gọi mọi người hãy giải quyết các vấn đề thông qua tư duy lôgic và lý luận.

Chùa Thái lan

 



Hiệp chưởng ấn- Anjali-mudra. Ấn quyết thông thường khi các đức Phật được sắp cao nhất trong thứ bậc Phật giáo thực hiện, trong Đại thừa cũng như trong Tiểu thừa : hai tay chắp lại với nhau trước ngực như một người đang tụng niệm, đó là Hiệp chưởng ấn Anjali-mudra thường dành cho những người đọc kinh cầu nguyện.
Khi kính cẩn chào hỏi, mudra nầy gợi lên một ý tưởng dâng hiến và nếu hai tay dang lên đến mặt thì là một cử chỉ tôn kính, sùng bái.                                                                                             
                                                                                               
Kiyomigundera - Kyoto Nhật Bản

Chùa Bảo Quang

Một số ấn quyết trong nghi lễ Phật giáo.

Quan Âm ấn.
Chữ Rảm
tay trái dùng ấn “Kiết-tường” vẽ chữ RẢM, sắc trắng vào trong lòng bàn tay mặt 3 lần. Kế đến tay mặt cũng kết ấn “Kiết-tường” vẽ vào lòng bàn tay trái y như vậy. Chữ RẢM là tiếng Phạn hàm ẩn ý nghĩa sự thanh tịnh, còn màu trắng là tượng-trưng cho sự trong sạch.
Ấn-quyết: (Cách bắt ấn)
Ngón tay cái nắm co đầu ngón vô-danh (áp-út). Ba ngón còn lại: trỏ, giữa và út duỗi thẳng ra là thành ấn.








Chuẩn đề độc bộ ấn.
Chuẩn đề
Hộ thần ấn.
 

 KIM-CANG QUYỀN ẤN

Vô lượng liên hoa.