Hiển thị các bài đăng có nhãn Mạc Ngôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mạc Ngôn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Nàng tiên mê hoặc

 


Nàng tiên mê hoặc

Tán dương Củng Lợi

Chúng ta không thể không thừa nhận một sự thật này: Trong mắt của tuyệt đại đa số những người mê điện ảnh, tên tuổi của Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu gắn liền với nhau. Nếu bài viết này tránh né chuyện ấy sẽ làm cho độc giả không bằng lòng với người viết ra nó, nhưng quan trọng hơn là, nếu né tránh chuyện này, bài viết này sẽ đánh mất phẩm chất thẳng thắn khi đối diện với cuộc đời và nghệ thuật. Ngôi sao điện ảnh và những giai thoại cũng giống như một con người với cái bóng của chính anh ta lúc nào cũng dính liền với nhau, nước ngoài đã như vậy thì Trung Quốc cũng như vậy thôi. Trung Quốc trong những năm qua cũng đã từng sản sinh ra một số ngôi sao có cuộc sống vô cùng nghiêm túc, hoàn mỹ đến độ khó tìm ra được khuyết điểm nào, nhưng hầu hết người xem đều dùng đôi mắt hoài nghi hướng về những mô phạm đạo đức này. Người xem đối diện với “ngôi sao đạo đức” thì sẽ đặt ra nghi vấn: Có thể như thế thật sao? Do vậy mà thấy, người xem cần ngôi sao điện ảnh nhưng đồng thời cũng cần những câu chuyện thêu dệt chung quanh họ để làm phong phú thêm cho những cuộc trà dư tửu hậu trong cuộc sống vốn chẳng có nhiều mùi vị này. Nếu những ngôi sao màn bạc trên toàn thế giới đều không có “chiếc bóng” của chính mình, rõ ràng cuộc sống của con người tẻ nhạt rất nhiều, và tất nhiên cũng khiến cho những tờ báo ăn theo vì mục đích kiếm tiền phải đình bản mất thôi.


Kỳ thực, hiện tượng thêu dệt và tuyên truyền những câu chuyện chung quanh các ngôi sao lâu nay vẫn ở giai đoạn cao trào, không có nhiều ý nghĩa trong việc bình xét tư cách đạo đức, chỉ là một thú vui khi mà cuộc sống đã giải quyết được chuyện ăn no mặc ấm. Một mặt, những ngôi sao sống dưới ánh sáng của những ngọn đèn cao áp nên nhất cử nhất động của họ đều khiến người ta để ý; mặt khác, quần chúng đã ăn no mặc ấm, xã hội an định, chuyện bàn luận về chuyện riêng những người chung quanh trở thành một nhu cầu, mà ngôi sao điện ảnh là người của công cộng, thoạt trông thì rất gần nhưng thực tế khoảng cách lại rất xa. Bình luận về họ dễ dàng nhận được sự đồng thuận của mọi người, lại không phải lo lắng gì về chuyện bị thù oán. Do vậy mà chuyện riêng tư của các ngôi sao vĩnh viễn vẫn là điểm nóng của một xã hội nhàn nhã. Nếu ngôi sao không có chuyện riêng tư để bàn luận, xã hội nhất định sẽ có ít nhiều chuyện phiền phức xảy ra. Ngôi sao càng đỏ thì càng được quan tâm chú ý; chuyện riêng càng lửa thì ngôi sao càng đỏ. Đây là hai phương diện của một vấn đề. Ngôi sao điện ảnh chân chính không nhất thiết phải cảm thấy phiền phức về chuyện này, càng không cần lãng phí tinh thần vào đây mà ảnh hưởng đến công việc của mình; thậm chí có thể nói khi mà những chuyện riêng tư của anh ta không còn được ai quan tâm nữa cũng có nghĩa là con đường nghệ thuật của anh ta đã đến hồi kết thúc.

Quan hệ giữa Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu e rằng không đơn giản chỉ là chuyện gió trăng một thoáng. Người ta không hề trông chờ hai người sẽ chung thân giai ngẫu, mà họ có thành đôi thành lứa với nhau hay không chỉ có Thượng đế biết và chính họ biết. Lúc này điều mà tôi biết chỉ là: Hai người họ tay trong tay dìu nhau đi qua một quãng thời gian khó khăn của cuộc sống, và cùng nhau khám phá một con đường mới, cùng nhau trải qua những niềm vui thành công cũng như nỗi buồn thất bại. Chúng ta không có quyền tò mò về thực chất quan hệ của họ như thế nào, cũng không nhất thiết phải chúc mừng họ về chuyện gì, nhưng qua những lần gặp gỡ, rất nhiều lần tôi nghe được rằng cả hai đều tỏ ra rất tôn trọng và khâm phục tài năng của nhau, sự thân thiết thể hiện qua những lời trao đổi giữa hai người. Sự hợp tác của họ như là một định mệnh, trước tiên là Trương Nghệ Mưu với cặp mắt lão luyện và một lá gan khá to đã dám sử dụng cô sinh viên năm thứ hai của Học viện Kịch nghệ vô danh - Củng Lợi, sau đó mới đến lượt Củng Lợi một lần, hai lần, ba lần làm tăng thêm sự thành công cho những bộ phim của Trương Nghệ Mưu. Sự hợp tác giữa hai người đã cung cấp cho những người thích tò mò chuyện của người khác những đề tài hấp dẫn, đồng thời cũng cống hiến cho người xem trên toàn thế giới những thành quả lao động huy hoàng. Xét về ý nghĩa, một đạo diễn tài năng và một diễn viên kiệt xuất là vưu vật quốc gia; từ góc độ nghệ thuật mà xét, Trương Nghệ Mưu và Củng Lợi nhận được những danh dự mang tính quốc tế thì những thành quả lao động của họ là thuộc về toàn nhân loại.

Trên thế giới đã từng có một họa sĩ vĩ đại từ bỏ gia đình êm ấm ở Paris để đến một quần đảo ở Thái Bình Dương, trải qua cuộc sống nguyên thủy lạc hậu với thổ dân ở đấy và đã sáng tác được rất nhiều bức tranh vô giá cho hội họa thế giới. Hành vi của ông ta như một sự quay lưng với tiêu chuẩn đạo đức của xã hội Pháp đương thời, và đã nhận không biết bao nhiêu là lời chỉ trích. Một trăm năm đã qua, những người chỉ trích ông đều đã hóa thành tro bụi, đạo đức cũng đã biến hình, nhưng những kiệt tác của họa sĩ thì vẫn treo mãi cùng mặt trời mặt trăng.

Nếu sự hợp tác giữa một người đàn ông và một người đàn bà mà có thể sáng tạo ra những gì có lợi cho nhân loại…






1. Ngày 31 tháng 12 năm 1965, khi tiếng chuông đón chào năm mới chuẩn bị vang lên, trong một bệnh viện ở thành phố Thẩm Dương, một người phụ nữ trí thức tuổi gần bốn mươi đã sinh hạ một đứa bé gái còm nhom. Đứa bé gái ấy chính là Củng Lợi. Lúc ấy, bố và cậu Củng Lợi đang chờ đợi một cách sốt ruột ở bên ngoài phòng hộ sinh, cô hộ lý thò đầu ra khỏi cửa thông báo giới tính của đứa bé. Nét mặt của người bố biểu lộ vẻ vui mừng khôn xiết, riêng người cậu thì thở dài đánh sượt. Người bố nói với cậu của con gái mình: Xin lỗi anh, chúng ta đã có ước định từ trước!

Mặt mày hết sức tươi tỉnh, ngôi sao điện ảnh Củng Lợi nói với phóng viên:

- Tôi là một con cá lọt lưới. Mẹ tôi đã triệt sản mấy năm nhưng không hiểu vì sao lại mang thai tôi, ban đầu bà vẫn nghĩ là mình mắc chứng bệnh gì đó. Đến bác sĩ kiểm tra, bác sĩ nói: Mang thai rồi! Mẹ tôi nói: Tôi triệt sản rồi! Chuyện gì đang xảy ra? Bác sĩ nói: Có trời mới biết là chuyện gì xảy ra đối với các người. Mẹ tôi đã có ba con trai và một con gái, không muốn có thêm con nữa - nếu không như thế thì đã không triệt sản - Bác sĩ lại bảo: Dù sao thì cũng đã có thai rồi, không dễ gì bỏ được đâu, sinh thôi! Thuở ấy vấn đề sinh đẻ có kế hoạch vẫn chưa nặng nề lắm, bố và cậu tôi ước hẹn với nhau: Nếu là con trai thì nó thuộc về cậu, còn nếu sinh con gái thì bố mẹ tôi không nỡ lòng đưa cho cậu.

Bố mẹ Củng Lợi không thể tưởng tượng được rằng, đứa con gái được sinh ra ngoài dự liệu ấy hai mươi năm sau lại mang về cho họ bao nhiêu là vinh dự, đương nhiên cũng không ít phiền toái. Bởi Củng Lợi từ thuở nhỏ không hề biểu hiện những tố chất khác biệt gì với người bình thường như những thiên tài trong lịch sử nhân loại. Năm lên một tuổi, cô theo gia đình di cư đến Tế Nam. Trên vùng đất mùa hè thì nắng như đổ lửa mùa đông thì rét đến cóng người này, cô cũng giống như bao đứa trẻ bình thường khác: vào nhà trẻ - học tiểu học - học trung học, tuổi thơ cô đi qua một cách yên bình, thiếu màu sắc. Sau khi tốt nghiệp trung học, Củng Lợi không đỗ đại học nên phải qua một thời gian tìm việc. Sau một thời gian, Củng Lợi trở thành nhân viên tư liệu trong Nhà xuất bản Văn nghệ Sơn Đông, rồi tiếp tục làm cô bảo mẫu trong nhà trẻ trường Đại học Sơn Đông. Những ngày làm nhân viên tư liệu không lưu ấn tượng gì lại trong tâm hồn cô nhưng những ngày làm bảo mẫu thì cô còn nhớ rất rõ ràng. Củng Lợi dạy cho các cháu hát múa, những khuôn mặt thơ ngây và tươi tắn như hoa lúc nào cũng tồn tại trong tâm trí cô. Nửa đùa nửa thật, Củng Lợi nói: Khi tôi làm bảo mẫu, những phụ huynh của các cháu đều ngại tôi nên thường muốn lấy lòng, sợ tôi cho con cháu họ “đi giày chật”! Cô ngôi sao điện ảnh hiện đại hễ mỗi lần nói tới trẻ con là bộc lộ tình cảm rất chân thành. Cô nói, trong “Cao lương đỏ” có Đậu Quan, “Cúc Đậu” cũng có một đứa trẻ, “Chuyện của Thu Cúc” có cô em gái và cô đã có sợi dây liên lạc về tình cảm rất sâu đậm với những đứa trẻ ấy. Mẹ của đứa trẻ sắm vai Đậu Quan trong “Cao lương đỏ” đã từng hiểu nhầm Củng Lợi, nói với con trai: Cô ta (Củng Lợi) là giả, còn mẹ là thật. Cô ta chỉ diễn kịch với con, còn mẹ thì cho con ăn, giặt quần áo cho con. Còn khi nói với đứa con gái trong “Chuyện của Thu Cúc” thì đôi mắt Củng Lợi đỏ hoe, đưa bức thư mà cô bé viết cho phóng viên xem, mở miệng là “em gái tôi”, chứng tỏ Củng Lợi có chân tình thực cảm với cô bé này.


Lâm Thanh Hà và Củng Lợi


Bố mẹ Củng Lợi cũng chẳng đặt nhiều kỳ vọng vào con gái của mình nên khi Củng Lợi báo tin là đã đăng ký dự thi vào Học viện Nghệ thuật họ cũng chẳng quan tâm lắm. Củng Lợi kể lại rằng, lúc ấy mẹ cô chỉ nói: Thứ mũi thấp, mắt nhỏ miệng nhỏ như con, ngoài việc có chất giọng nghe cũng được thì còn có khả năng gì nữa nào? Bố mẹ không phát hiện ra ở con mình những điểm đặc biệt gì nên họ cũng xem chuyện Củng Lợi mấy lần thất bại cũng là chuyện bình thường.

Thất bại trong việc thi vào Học viện Kịch nghệ Quân đội và Học viện Nghệ thuật Thượng Hải, Củng Lợi gần như tuyệt vọng. Đúng lúc ấy, có một người đã tốt nghiệp Học viện Kịch nghệ Quân đội đã hướng dẫn cho cô một số kiến thức về nghệ thuật biểu diễn. Ngay sau đó Củng Lợi đăng ký dự thi vào Học viện Kịch nghệ Trung ương và lần này thì cô đã toại nguyện.

Củng Lợi kể rằng, khi cô mặc chiếc quần bò, đeo ba lô bước chân vào khu thánh địa trong mơ ước của không biết bao nhiêu nam thanh nữ tú để làm thủ tục nhập học, thì Học viện đã khai giảng được ba ngày. Lúc ấy, tất cả học sinh đều đang luyện tập trên thao trường, cô đi theo một thầy giáo ngây ngô bước chân vào thao trường. Thầy giáo nói: Các em học sinh, đây là bạn Củng Lợi từ Sơn Đông đến. Những con người cũng không kém phần may mắn ấy lặng lẽ quan sát và đánh giá cô sinh viên nhập học muộn. Vóc người Củng Lợi cao ráo nhưng gầy còm, đầu lại rất nhỏ, ngũ quan đều đặn, đôi môi dày mọng nhưng hàm răng lại chẳng chỉnh tề chút nào, nghe đâu lại có cả một chiếc răng hổ rất to nằm ở vị trí dễ thấy nhất (chiếc răng này đã bị nhổ). Đúng là Củng Lợi không phải là một mỹ nhân da trắng như tuyết tóc đen như mun, cũng chẳng mày thanh mắt tú gì cả. Toàn thân cô toát nên vẻ dân dã quê mùa nhưng cũng có vẻ gì đó hung bạo hoang dã, nhìn cô dễ liên tưởng đến một loại động vật ăn thịt nguyên thủy nhỏ lông xù, răng trắng và nhọn, miệng mồm nhanh nhạy, đương nhiên đôi mắt đen thường phát xuất những cái nhìn cảnh giác, khiến tất cả các bạn cùng học cảm thấy hiếu kỳ vô cùng.

Kẻ viết bài này cũng đã từng lăn lộn trong một vài lớp học nghệ thuật nên cũng biết đôi điều về những quan hệ rất khó nói một cách rõ ràng, nhưng đích xác là có chút đố kỵ trong những lớp học này. Tôi cũng đã từng đố kỵ người khác, người khác cũng đã từng đố kỵ tôi. Nhưng riêng Củng Lợi thì bảo quan hệ giữa cô ấy với bạn học là rất tốt, quá khứ đã tốt và hiện tại càng tốt hơn. Một con người gặt hái những thành công huy hoàng trong sự nghiệp dễ dàng nhìn ra những ưu điểm của đồng nghiệp, thậm chí cô còn thể hiện sự đồng tình sâu sắc đối với những người bạn không mấy thành công của mình, muốn dùng tay mình mà kéo họ theo, chỉ cần có cơ hội chắc chắn là cô sẽ kéo họ theo thôi.

Hai năm học ở Học viện Kịch nghệ Trung ương, Củng Lợi đã thể hiện được khả năng tiềm ẩn của mình. Cô là người đầu tiên của lớp học được chọn lựa cho một vai diễn trong một bộ phim truyền hình, khi cô cùng đoàn làm phim đến nơi quay phim thì Trương Nghệ Mưu - lúc bấy giờ đã nổi danh với những bộ phim mang tính tiên phong như “Đất màu vàng”, “Mộ người và tám người” - lại đưa mấy người nữa đến Học viện Kịch nghệ Trung ương để tìm diễn viên chính cho bộ phim “Cao lương đỏ”. Lúc ấy, Củng Lợi đang ở Giang Nam chơi đùa với những chú ngựa non trên đồng cỏ, không biết tí gì về vận may đang chờ mình ở trường.




Những giai thoại về Trương Nghệ Mưu tuyển chọn Củng Lợi nhiều không thể kể hết được. Một trong những câu chuyện có sức nặng nhất là, đầu tiên Trương Nghệ Mưu đã chọn được một bạn học của Củng Lợi, cô này sau này cũng thành công tương đối trên phim trường nhưng trong lòng Trương Nghệ Mưu vẫn cảm thấy thiếu thiếu cái gì đó. Đúng lúc ấy thì Củng Lợi quay về. Cái cốt cách tự nhiên, lúc thì như một con thú nhỏ nhe nanh múa vuốt, lúc thì như một chú chim nhỏ xù lông nhắm mắt của Củng Lợi đã đánh gục Trương Nghệ Mưu ngay tức khắc. Nhưng cô gái lọt vào mắt Trương Nghệ Mưu trước khi Củng Lợi xuất hiện so ra cũng chẳng kém cạnh gì, bên tám lạng người nửa cân khiến Trương Nghệ Mưu phân vân do dự, cuối cùng thì chỉ biết dùng trò chơi may rủi là tung đồng xu, căn cứ mặt phải hay mặt trái của đồng xu khi nằm yên trên đất để quyết định cho một sự chọn lựa muôn vàn khó khăn. Cuối cùng thì Củng Lợi đã gặp may.

Câu chuyện này có đáng tin hay không thực ra cũng chẳng quan hệ gì đến dụng ý của tôi khi viết bài này. Điều tôi muốn nói là, tính ngẫu nhiên của chuyện này cũng giống như vô số những chuyện ngẫu nhiên khác đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, một khi rơi vào ai đó lại biến thành vận mệnh của chính người ấy. Tính ngẫu nhiên trên một ý nghĩa nào đó đã đả phá những thường quy, nếu tất cả đều thuận tùng quy luật chuẩn tắc thì trong đời sống tình cảm vốn mênh mông hơn cả đại dương của con người e chẳng còn chỗ cho Thượng đế nữa. Sự bắt đầu của Củng Lợi chính là sản phẩm của tính ngẫu nhiên; tính ngẫu nhiên đã chiếu cố cho cô. Đương nhiên, tính tất nhiên mới là yếu tố quyết định sự thành công của cô trong hiện tại. Không biết vị bác sĩ năm ấy đã khuyên bà mẹ Củng Lợi hãy sinh đứa con gái này ra đã từng nói điều này không: Đứa bé này của bà sẽ vang danh thiên hạ?



Củng Lợi, Mạc Ngôn, Khương Văn, Trương Nghệ Mưu khi làm phim Cao lương đỏ

2. Trong một ngày hè nóng bức năm 1978, một đám đàn ông đầu trọc, lưng trần, eo lưng thắt những chiếc ống điếu lê những bước chân nặng nhọc trên con đường chính của vùng Đông Bắc Cao Mật. Không gian đã bị bụi đất và những tia nắng mặt trời như thiêu như đốt hành hạ nên nhuốm một mùi tử khí nặng nề. Dáng vẻ nhếch nhác và những kiểu cách trông có vẻ rất phóng túng của đoàn người đã khiến những người dân Đông Bắc Cao Mật chú ý, và thấp thoáng đâu đó có những tia nhìn bất mãn. Té ra diễn viên điện ảnh là như vậy đấy! Những gì bí mật và sùng bái đối với giới điện ảnh bốc thành mây khói trong lòng người Đông Bắc Cao Mật. Nhưng lúc ấy, chỉ có Củng Lợi - cô gái vừa rời khỏi lều tranh - là còn để lại ấn tượng tương đối sâu đậm cho dân làng. Củng Lợi thường gánh hai thùng nước chạy lui chạy tới trong sân của nhà khách huyện, trên người chẳng có trang sức nào cho ra hồn, gương mặt lúc nào cũng tỏ ra đăm chiêu suy nghĩ. Lần đầu tiên tôi trông thấy bộ dạng Củng Lợi như vậy, trong lòng không khỏi có những mối nghi ngờ. Nói thật lòng, Củng Lợi và hình tượng “bà tôi” trong mắt tôi là cách nhau một trời một vực. Trong mắt tôi, “bà tôi” là một viên ngọc long lanh, là một đóa hồng tươi tắn nhưng đầy gai, còn Củng Lợi chỉ là một cô học sinh mới chập chững những bước đầu tiên đến với đời - thực tế thì cô đúng là một nữ sinh. Do vậy mà tôi nghi ngờ đôi mắt nhìn người của Trương Nghệ Mưu, do vậy mà tôi nghĩ là bộ phim này sẽ tan tành dưới tay Củng Lợi mà thôi. Cho dù tôi không tin tưởng vào Củng Lợi nhưng tôi vẫn tích cực giúp đoàn làm phim một số việc. Tôi tìm được lãnh đạo Huyện ủy, tranh thủ tìm cho đoàn được năm tấn phân để giúp cho cánh đồng cao lương lớn nhanh. Tôi còn phóng xe đến nhà bí thư chi bộ thôn, thổi phồng trình độ của đoàn làm phim từ đạo diễn, biên kịch, quay phim cho đến diễn viên; quảng cáo ý nghĩa vô cùng to lớn của bộ phim, nếu được quay xong thì chắc chắn sẽ giành giải thưởng quốc tế… với hy vọng là ông ta sẽ hô hào nông dân chăm sóc cho cánh đồng cao lương. Bí thư chi bộ nói “Quan trọng nhất là có mưa, bằng không bón phân cũng chẳng được gì!”. Đúng là đoàn làm phim gặp vận may, một trận mưa lớn đổ xuống, cao lương điên cuồng sinh trưởng. Ngày bắt đầu bấm máy, người đến xem đông như kiến, so với chợ phiên còn náo nhiệt hơn nhiều. Tôi ôm con gái đứng xem một lúc rồi về nhà.

Cuối năm 1978, một trong những biên kịch của “Cao lương đỏ” là Chu Vĩ gọi điện mời tôi đến xem phim. Tôi đạp xe đến Trung tâm Tư liệu Điện ảnh Tiểu Tây Thiên. Vừa đặt chân lên những bậc tam cấp tôi đã đụng phải Củng Lợi - đội mũ nhung, mặc áo lông, chân mang đôi giày cao cổ theo kiểu những cô gái du mục. Cô ấy nhiệt tình chào hỏi tôi nhưng rồi biến mất rất nhanh chẳng khác một vì sao xẹt. So với hồi mùa hè, Củng Lợi có vẻ trắng và mập ra nhiều, toàn thân cũng toát lên khí vị của thanh niên đô thị hiện đại, những nét đăm chiêu lo lắng ngày nào không còn trên mặt nữa. Tôi nghĩ, điều gì đã khiến Củng Lợi thay đổi nhanh đến như vậy?

Hai tiếng đồng hồ sau, tôi mang theo nỗi trầm tư về kết cục của bộ phim và những tiếng phèng la khiến người ta phải rùng mình bước chân ra khỏi cổng lớn của Trung tâm Tư liệu. Đúng là lúc ấy tôi đã có dự cảm rằng, “Cao lương đỏ” sẽ trở thành tâm điểm của đời sống điện ảnh hiện đại, nhưng thực tế là mọi việc lại diễn ra vượt quá sức tưởng tượng của tôi: Theo sau sự kiện “Cao lương đỏ” nhận được giải thưởng Tây Berlin, “Em gái can đảm đi về phía trước” cũng khiến dư luận như sóng biển trào lên khắp trong nam ngoài bắc, đến nay vẫn chưa hoàn toàn bình yên trở lại.

Ngay trong đêm xem xong “Cao lương đỏ”, tôi nhận lời đặt hàng của tạp chí “Điện ảnh Đại Tây Bắc”, thức suốt đêm viết một bài dài đến tám nghìn chữ. Còn nhớ, trong bài viết này tôi đã dùng một mục để phân tích những vai diễn của diễn viên, trong đó không ngần ngại dùng những từ rất kêu rất đẹp, đáng tiếc là bài viết này tôi không thể tìm lại được, nếu không sẽ trích ra đây vài câu. Thế cũng hay, lúc ấy tôi bị kích động bởi những gì mà bộ phim mang lại nên tôi chẳng ngần ngại gì khi dùng những từ rất kêu rất sáo, những suy nghĩ bình tĩnh hầu như là rất ít. Việc đã qua mấy năm, tất cả đã thành mây bay ngang mắt, quay đầu lại để nghĩ một tí về Củng Lợi và “Cao lương đỏ” chắc là sẽ khách quan hơn.

Không nghi ngờ gì nữa, “Cao lương đỏ” là một bộ phim thể hiện một phong cách mới. Cái cảm giác mới mẻ khiến nhiệt huyết của người xem như muốn trào lên là kết quả của tập thể đoàn làm phim. Củng Lợi dựa vào tư chất và sự mẫn cảm của mình đã thể hiện trọn vẹn hình tượng “bà tôi”. Cô đã thể hiện một cách tự nhiên và chuẩn xác một hình tượng đầy sắc thái lãng mạn. Để thể hiện được hình tượng một con người sống trước mình đến ba mươi năm, cô sinh viên năm thứ hai chắc chắn đã trăn trở không ít để hoàn thành vai diễn.

Diderot Denis đã từng nói trong cuốn “Nghịch lý về một diễn viên” rằng, một diễn viên xuất sắc gặp phải bạn diễn là một người bình thường, anh ta đành phải vất bỏ những kỹ thuật diễn xuất tuyệt vời của mình để cố gắng bằng vai phải lứa với bạn diễn, do vậy mà anh ta không nhất thiết phải nghiền ngẫm tìm tòi và phán đoán chính xác. Trong lúc hai người cùng nhau tản bộ hoặc đang ngồi quanh lò sưởi bàn chuyện phiếm cũng có thể có tình hình này xảy ra một cách bản năng: Giọng nói của người này sẽ khiến người kia hạ thấp giọng xuống, nếu anh không hy vọng gì có sự phối hợp của người kia thì những kỹ thuật của anh chẳng còn mảnh đất dụng võ nào đâu.

Tôi hoàn toàn ủng hộ những kiến giải thâm thúy của Diderot, do vậy mà tôi càng cho rằng, cô gái vừa rời khỏi lều tranh Củng Lợi bước chân vào phim trường mà gặp được Khương Văn là một đại hạnh của cô. Đương nhiên nếu không có sự thông minh mẫn tiệp, nếu không có sự thích ứng rất nhanh với Khương Văn của Củng Lợi thì Khương Văn đành phải dẹp bỏ những kinh nghiệm và kỹ thuật diễn xuất của mình để ngang bằng với bạn diễn. Nếu như vậy thì Củng Lợi đã chết từ sớm mà “Cao lương đỏ” cũng chẳng ra hồn gì.



Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật không bao giờ được tự bằng lòng. Cách đây không lâu, Củng Lợi nói với phóng viên: Nếu để cho tôi diễn lại “Cao lương đỏ”, tôi khẳng định sẽ diễn hay hơn lúc ấy. Ngày ấy, tôi không có cách gì để thể nghiệm được những trạng thái tâm lý phức tạp của người phụ nữ phản nghịch ấy, do vậy tôi chỉ có thể dựa vào hình thể và những biểu hiện bên ngoài mà không thể dùng cảm tình để diễn xuất.

Do vậy mà trong “Cao lương đỏ”, “bà tôi” mới có “nụ cười rạng rỡ” trông rất chướng dành cho tay đại thổ phỉ tư lệnh Từ Chiếm Ngao; do vậy mà Củng Lợi biểu diễn không được tự tin lắm khi “bà tôi” tiếp quản lò nấu rượu. Tuy sự chuyển hoán từ một cô gái thành một người quản lý lò nấu rượu đầy quyết đoán chưa thực sự hợp lý, nhưng tôi tin rằng Củng Lợi của ngày hôm nay có thể dễ dàng phá bỏ sự bất hợp lý ấy.

Trong lịch sử điện ảnh thường xuất hiện hiện tượng này: Sự thành công của một bộ phim có khi không hoàn toàn dựa vào những biểu hiện đột xuất của diễn viên - đương nhiên chuyện một bộ phim thành công là nhờ vào diễn viên không phải là không có - mà thường là dựa vào chủ đề của phim nhằm vào việc tuyên dương hoặc phê phán một vấn đề nào đó có ý nghĩa xã hội, biểu lộ một khía cạnh nào đó về bản chất con người khiến người xem đồng tình hoặc từ đó ngộ ra điều gì về nhân sinh. Về cơ bản, “Cao lương đỏ” thuộc vào loại phim này. Nó không hề là một bộ phim “biểu hiện những vết sẹo của người Trung Quốc” như một số nhà phê bình đã lên tiếng mà là nhằm tuyên dương sức sống mãnh liệt bất khuất của dân tộc Trung Hoa. Củng Lợi và Khương Văn giương cao ngọn cờ phê phán phong kiến và đề cao nhân tính. Khi Củng Lợi thay mặt cho “bà tôi” nằm ngước mặt lên trời trên chiếc giường do “ông tôi” dùng kiếm đắp nên, sự thần thánh và sự trang nghiêm đã xuất hiện. Lúc ấy, quan hệ tính dục đã có ý nghĩa hiến tế linh hồn mang tính tôn giáo. Đương nhiên, ý nghĩa cao quý này không phải bất cứ nhà phê bình nào cũng có thể cảm thụ được.

3. Sau “Cao lương đỏ”, Củng Lợi tiếp tục tham gia với tư cách là diễn viên chính trong bộ phim có tính thương nghiệp “Báo châu Mỹ hành động” cũng do Trương Nghệ Mưu đạo diễn. Bộ phim này ra đời từ mục đích kiếm tiền - nhưng hình như chẳng kiếm được tiền - lại còn bị phê bình rất dữ dội. Sau này, mỗi khi nhắc đến bộ phim này, Trương Nghệ Mưu và Củng Lợi đều cười trừ. Không lâu sau đó, Củng Lợi lại tham gia bộ phim “Lưỡng cung hoàng thái hậu” của đạo diễn Hongkong Lý Hàn Tường, diễn cũng bình bình thường thường, chỉ là dựa vào dư âm của giải thưởng Gấu vàng nên người xem mới dành cho cô và bộ phim cái nhìn tương đối đặc biệt.

Tiếp sau đó, cô và Trương Nghệ Mưu cùng nhau diễn trong phim “Tượng đời Tần”. Đây là bộ phim quán thông lịch sử ba nghìn năm, những người làm phim đều xem đây là một phi vụ làm ăn lớn nên phối cảnh phim cực kỳ hùng tráng, chỉ có điều do cốt truyện cũng bình thường, vả lại khoảng cách giữa truyện phim và người xem phim quá lớn nên có thể xem đây lại là một thất bại. Trong bộ phim này, Củng Lợi diễn không hay không tệ, cho dù cô cũng đang mang lại ít nhiều hào quang cho bộ phim nhưng hào quang này không đến từ những kỹ năng diễn xuất mà đến từ chỗ cô và Trương Nghệ Mưu liên thủ một vài hành động có tính chất khiêu chiến. Tôi đã xem một cuốn băng ghi hình do một người Hongkong tên là Cam Quốc Lương nắm giữ, từ trong cuốn băng ghi hình ấy có thể hiểu được những chuyện bên ngoài bộ phim. Tôi xem đến chỗ Trương Nghệ Mưu bị xe hơi đụng phải chân, Cam Quốc Lương lén quay đôi mắt của Củng Lợi lúc ấy, đôi mắt thất thần, lo lắng, buồn bực. Cũng trong cuộn băng này, Củng Lợi bảo là cô ấy thích rắn; thích màu đỏ, màu đen và màu trắng. Không lâu trước đây, Củng Lợi lại nói là cô ấy rất yêu thiên nga. Nếu nói rằng tôi có chút sợ hãi khi nghe cô ấy nói là rất thích rắn, thế thì khi nghe cô ấy nói là yêu thiên nga, tôi cảm thấy sự thay đổi ở người đàn bà thích rắn này là dễ lý giải vô cùng. Rắn là sự mềm mại, có cảm giác như nước chảy; còn thiên nga thì ngước chiếc cổ dài như rắn bơi lội trong nước chảy. Một nữ diễn viên giỏi nên có sự mềm mại linh hoạt của loài rắn và sự cao ngạo nhàn nhã của loài thiên nga. Nói gọn một câu, cô ấy cần phải phức tạp, phức tạp chính là trưởng thành. Dựa vào ý thức này, tôi cảm nhận được những ngày làm phim “Tượng đời Tần” của Củng Lợi là rất gian nan. Trương Nghệ Mưu bất hạnh bị thương khiến Củng Lợi thống khổ ngộ ra một điều: Con người không thể làm chủ rất nhiều chuyện trên cuộc đời này. Trên cuộc đời này không làm dùi sắt thì làm chùy sắt, sinh mệnh là đoản tạm còn nghệ thuật là vĩnh hằng.

4. Sau những chuyện mà tôi đã kể trên, Củng Lợi đã tích lũy được trải nghiệm thống khổ và sâu sắc về quan hệ nam nữ - một vấn đề xưa như trái đất nhưng vẫn luôn luôn mới để bước vào giai đoạn hai trong cuộc đời làm nghệ thuật của cô. Từ “Cúc Đậu” đến “Đèn lồng đỏ treo cao”, con đường nghệ thuật của cô vẫn gắn liền với Trương Nghệ Mưu.


Từ “Cao lương đỏ” đến “Cúc Đậu”, nói là phong cách nghệ thuật của Trương Nghệ Mưu đã có sự thay đổi, không bằng nói là thái độ đối với cuộc sống của anh đã thay đổi. “Cao lương đỏ” của Trương Nghệ Mưu thấm đẫm tinh thần vui vẻ hoan lạc, thô ráp, hoang dã, cuồng nhiệt, trong sáng; những nhân vật trong phim dũng cảm hành động, dũng cảm cảm thụ thế giới, có một ý thức cải tạo thế giới hừng hực và bồng bột, có một sức sống không thể hủy diệt. Nói cách khác, “Cao lương đỏ” thể hiện một cuộc sống hoan lạc đến điên cuồng, vượt ra khỏi những thường quy, trái với những chuẩn mực đạo đức. Quan trọng nhất là, những điều trái với những chuẩn mực đạo đức ấy lại rất thành công khi sáng lập nên một chuẩn tắc mới cho cuộc sống, còn những trật tự và chuẩn tắc cũ như một con bệnh hủi đã bị giết chết và dìm xác xuống đáy đầm lầy. Khoảng cách giữa “Cao lương đỏ” và “Cúc Đậu” là hai năm, nhưng những thay đổi của chúng đã khiến người ta phải trố mắt: “Cúc Đậu” tuy vẫn có chút ý vị của “Cao lương đỏ” nhưng sắc thái hoan lạc điên cuồng đã hoàn toàn biến mất mà thay vào đó là những nỗi tuyệt vọng và sự sợ hãi đối với vấn đề giới tính. Trong “Cúc Đậu”, Trương Nghệ Mưu đã cường điệu hóa quan niệm về số mệnh trong nguyên tác của Lưu Hằng. Kiểu cường điệu này như muốn cảnh báo: Đối diện với vận mệnh, bất kỳ sự giãy giụa nào rồi cũng đến hồi hủy diệt và cáo chung.

Những thay đổi sâu sắc trong chủ đề phim của Trương Nghệ Mưu có những nội dung xã hội sâu sắc mà tôi không thể phân tích được. Tôi chỉ muốn nói là: Những thay đổi của Trương Nghệ Mưu khiến Củng Lợi phải một phen lao tâm khổ tứ. Cửu Nhi trong “Cao lương đỏ” và Cúc Đậu trong “Cúc Đậu” đều có tính cách phản nghịch nhưng tâm lý của họ lại không hoàn toàn giống nhau. Nếu nói rằng Củng Lợi đã dùng hình thể và nghệ thuật diễn xuất để diễn thành công vai Cửu Nhi, thế thì đối mặt với hình tượng Cúc Đậu đầy phức tạp, những kinh nghiệm ở trên là không đủ. Cửu Nhi chỉ là một con thiên nga, Cúc Đậu lại là một con rắn. Đóng vai rắn khó hơn nhiều. Vai Cúc Đậu cần phải có một người đàn bà có những trải nghiệm trong xã hội hắc ám nhưng không phải ai cũng có những trải nghiệm đáng sợ nhiều như Cúc Đậu. Điều này cần phải có một thiên tài trong sáng tạo mới có thể tự mình trải nghiệm một cuộc sống, mà không có cách nào để trải nghiệm thực tế được.

Mang trong lòng không biết bao nhiêu câu hỏi, tôi tìm Củng Lợi để hỏi cô dựa vào cái gì để lý giải nội tâm vô cùng phong phú và phức tạp của Cúc Đậu. Củng Lợi bảo rằng, cô không biết, nhưng cô lại có thể biểu hiện được. Và Củng Lợi đã thể hiện được nỗi đau khổ và mỏi mệt về nhục thể của Cúc Đậu sau khi bị Dương Kim Sơn hành hạ; Củng Lợi đã diễn rất xuất sắc những khát vọng thầm kín của Cúc Đậu đối với sức trẻ của Dương Thiên Thanh cũng như nỗi sợ hãi của Cúc Đậu đối với luân thường đạo lý; Củng Lợi đã biểu hiện một cách thành công kiểu khiêu khích và quyến rũ của Cúc Đậu đối với người cháu này trên cơ sở những cừu hận đối với Dương Kim Sơn và một tâm thế điên cuồng muốn tung hê tất cả; Củng Lợi đã diễn xuất rất đạt đoạn Cúc Đậu lần đầu tiên chìm trong những cảm xúc nhục dục đê mê vừa hoan lạc vừa đau đớn; Củng Lợi đã rất thành công khi thể hiện một tâm lý hoan lạc một cách tà ác có pha chút khinh miệt của Cúc Đậu đối với Dương Kim Sơn khi trong bụng đang mang giọt máu của Dương Thiên Thanh; Củng Lợi đã rất nhập vai khi thể hiện sự thù hận của Cúc Đậu đối với âm mưu giết con của Dương Kim Sơn; Củng Lợi đã diễn rất xuất thần nỗi sợ hãi của Cúc Đậu đứng trước linh sàng Dương Kim Sơn nghĩ về tương lai; Củng Lợi đã tinh tế vô cùng khi biểu hiện nỗi lo lắng sợ hãi của Cúc Đậu khi nhìn thấy con mỗi ngày mỗi lớn cũng như nỗi lo về mệnh vận của chính mình…

Nếu nói rằng mệnh vận của Củng Lợi quá đỏ, thế thì, từ khi Củng Lợi đi ra từ ngọn lửa phừng phừng nuốt phăng Cúc Đậu, chúng ta đã thực sự đối diện với một thiên tài nghệ thuật.


5. Trong bộ phim “Đèn lồng đỏ treo cao” vốn chuyển thể từ tiểu thuyết “Thê thiếp thành quần” của Tô Đồng, Củng Lợi thủ vai bà Tứ - một học sinh xuất thân. Tính mới mẻ của chủ đề bộ phim này rõ ràng là rất đột xuất trong hàng ngũ những nhà đạo diễn thế hệ thứ năm, nó trực tiếp phê phán chế độ phu quyền phong kiến, kêu gào giải phóng phụ nữ, tố cáo xã hội cũ chà đạp lên mệnh vận của người phụ nữ. Bộ phim này cũng thể hiện lòng yêu thích đặc thù của Trương Nghệ Mưu: Anh thích tìm ý nghĩa tượng trưng trong những chỗ không có tượng trưng. Trước tiên là có cây cao lương, sau đó là có phường nhuộm. Do ý đồ sáng tác quá rõ ràng cho nên bộ phim đã bộc lộ một vài chỗ hơi khiên cưỡng và có tính nhân vi, không được tự nhiên lắm. Xem lướt qua có cảm nhận bộ phim rất tuyệt vời, dùng lý trí xem kỹ vài lần cũng có thể phát hiện vài chỗ chưa vừa ý, nhưng cho dù là thế, “Đèn lồng đỏ treo cao” vẫn cứ là một bộ phim có những ý tưởng kỳ diệu, thiếu chút nữa là giật giải Osca có thể chứng minh điều này.

So sánh về mặt ý nghĩa, “Đèn lồng đỏ treo cao” có thể đơn giản hơn so với “Cúc Đậu”, so về tính cách, bà Tứ đơn thuần hơn so với Cúc Đậu. Đây chỉ là câu chuyện cũ rích: Mấy bà thiếp tranh nhau, liên kết đấu đá nhau, kết cục là có người chết người điên, cuối cùng là có một bà thiếp mới đến thay thế cho bọn họ. Viết về chuyện thê thiếp tranh giành nhau, tiểu thuyết “Kim Bình Mai” đã từng là một tuyệt phẩm, chẳng ai dám nghĩ là sẽ tìm được những gì mới trong chuyện này, cũng chẳng ai dám nghĩ sẽ sáng tạo được một hình tượng Phan Kim Liên đa đoan thứ hai trong văn học nữa. Cống hiến của Tô Đồng là truyện được viết ra bởi một giọng văn mượt mà tú lệ và một phương thức tự sự vô cùng ung dung nhàn tản; cống hiến của Trương Nghệ Mưu trong phim là anh đã cấu tứ nên những cảnh phim đầy tính tượng trưng trong cuộc sống thường nhật; cống hiến của Củng Lợi là cô đã dựa vào kỹ năng biểu diễn đã chín muồi và những cảm thụ mẫn tiệp để thực hiện những ý đồ nghệ thuật của Trương Nghệ Mưu.

Nói tóm lại, những sáng tạo của Củng Lợi trong “Đèn lồng đỏ treo cao” chính là cô đã dùng một kiểu diễn xuất tương đồng về mặt trình độ với “Cúc Đậu” để thể hiện vai diễn, không thua kém và cũng không vượt lên. Đương nhiên, không phải dễ dàng gì để làm được điều này.


6. Chúng ta đang chờ đợi “Chuyện kể về Thu Cúc”, cũng là một bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết. Nghe Trương Nghệ Mưu nói, lần này anh cũng thay đổi phong cách một cách triệt để, không có dựng cảnh cũng không có tượng trưng, hầu như mọi cảnh đều quay lén, quay tự nhiên, do vậy mà sau khi hoàn thành, bộ phim sẽ có phong cách ghi chép người thực cảnh thực. Chuyện phim kể về một người phụ nữ nông dân dẫn em gái vào thành phố để đưa cáo trạng. Trong phim, Củng Lợi sẽ ăn mặc rách rưới, học được một vài câu phương ngôn chính gốc Thiểm Tây, chen chúc trong rừng người đi hỏi giá từng sạp hàng khiến cho những người chủ quầy hàng nổi giận. Từ đó mà suy, nhất định Củng Lợi sẽ thủ vai rất thành công, nhất định sẽ khiến Thu Cúc rất khác với những nhân vật mà cô đã diễn.

7. Lúc này Củng Lợi đang đỏ rực ở nửa bầu trời. Báo “Thanh niên Bắc Kinh” đã từng giật những hàng chữ to như quả hạnh: Đài Loan, Hongkong tuyệt mỹ nhưng khó lòng thắng nổi Củng Lợi! Nhất cố khuynh Hongkong, tái cố khuynh Nhật Bản! Lúc này Củng Lợi bận rộn lắm. Vừa diễn xong “Chuyện của Thu Cúc”, Củng Lợi đã đầu quân cho Trần Khải Ca trong phim “Hạng Vũ biệt Cơ”, đến Mỹ để nhận giải Osca, lại nhận lời với một đạo diễn sắm vai Giang Thanh… Lúc này giá trị Củng Lợi tăng lên hàng trăm lần, là diễn viên mà các nhà đạo diễn danh tiếng săn đón chữ ký với những món tiền khổng lồ. Lúc này Củng Lợi vẫn đương chức ở Kịch viện Trung ương, “cướp” một căn phòng làm nơi trú thân khi về Bắc Kinh. Lúc này Củng Lợi vẫn thích mặc quần bò. Củng Lợi luôn miệng nói ước gì cô được ngủ một vài ngày mà không bị ai quấy rầy. Lúc này Củng Lợi nói, khi có người hỏi cô về quan hệ với Trương Nghệ Mưu, cô sẽ nói: Kết hôn từ sớm rồi, anh đúng là đồ hũ nút! Lúc này Củng Lợi tràn trề tự tin nhưng vẫn cười rất tươi khi nghe kẻ bàng môn tả đạo như tôi bình điểm về những vai diễn của cô. Tôi nói: Củng Lợi, cô cần phải diễn một thanh niên hai ba mươi tuổi nhưng trí tuệ chỉ như đứa trẻ lên ba; lúc này Củng Lợi cười nói: Thế không phải là kẻ ngốc nghếch hay sao? Lúc này Củng Lợi không đồng ý với những ý kiến lý luận của Diderot về chuyện diễn viên không được xúc động tình cảm trong khi diễn xuất. Cô cho rằng những quan điểm của Diderot có thể thích nghi với những vai diễn trên sân khấu: Người xem chỉ có thể thấy hình thể của diễn viên. Nó không thích hợp với điện ảnh. Một cảnh đặc tả đôi mắt anh, không thể thấy trái tim anh, còn đôi mắt thì trống không vô hồn, thế coi sao được? Lúc này Củng Lợi đang nghe người viết nói rằng, một nữ diễn viên phải là một nàng tiên mê hoặc lòng người thì cười phá lên mà nói rằng, không biết có phải như thế hay không? Lúc này quả thực là Củng Lợi đang chịu quá nhiều áp lực.



Củng Lợi trong phim Trở về
Có một câu nói vô cùng thích hợp tôi tặng cho Củng Lợi lúc này: Em gái, em cứ dũng cảm lao về phía trước!

Ghi chép bổ sung: Bài này viết xong vào năm 1991, nhưng sau đó thì tôi để nó ngủ yên trong ngăn kéo, bởi vì những lời lẽ của kẻ bàng môn tả đạo này nếu đưa lên mặt báo, e là chỉ nhận được những cái nhìn thương hại của các bậc trưởng thượng thôi. Nhưng suy cho cùng, đã viết rồi thì cứ phát biểu thôi, cho dù tiền nhuận bút có thấp đi chăng nữa thì cũng là một kỷ niệm về “Cao lương đỏ”. Sau khi viết xong thì được xem “Chuyện của Thu Cúc”, tôi đồng ý với cách nghĩ của nhiều người: Vai diễn Thu Cúc của Củng Lợi thành công ngoài mong đợi. Sau đó thì tôi chưa có cơ hội xem “Phan Ngọc Lương”, “Tây Sở Bá vương”, “Phải sống”, không dám lạm bàn. Bài viết về Củng Lợi phủ khắp đất trời, cô ấy vẫn cứ là một điểm nóng trong làng điện ảnh. Trong mười năm cuối cùng của thế kỷ này, nhờ có Củng Lợi mà cuộc sống của con người thêm một chút màu sắc. Chúc cho Củng Lợi trong thế kỷ sau càng thu được những thành tựu nghệ thuật huy hoàng hơn!

---------------------------------------------

 [1] 蝠ð (fú) - con dơi - đồng âm với 福 (fú) - phúc (ND).



Hội Tam Hoàng Thượng Hải (Shanghai Triad, 1995), Củng Lợi vào vai ca nữ Tiểu Kim Bảo


Nghệ Mưu, Củng Lợi trong phim Cổ kim đại chiến Tần dũng tình


Củng Lợi trong phim Phai sống


“Gia tộc cao lương đỏ” bị vong lục

 


Mạc Ngôn (trái) và Trương Nghệ Mưu hồi làm phim Cao lương đỏ.

“Gia tộc cao lương đỏ” bị vong lục

Trong tạp chí “Điện ảnh đại chúng” số 11 - 87 có bài viết rất thú vị của Tân Gia Pha “Gia tộc cao lương đỏ bị vong lục”, trong đó có nhắc đến tên tôi khiến tôi phấn khởi vô cùng. Lại may là cũng vừa xem xong bộ phim “Cao lương đỏ”, Tổng biên tập tạp chí “Điện ảnh Đại Tây Bắc” lại yêu cầu tôi viết một bài, tôi tùy hứng viết những điều nông cạn dưới đây, cũng chẳng biết lấy đầu đề là gì, thôi thì dùng nguyên xi đầu đề bài viết của Tân Gia Pha vậy.

1. Làm quen Trương Nghệ Mưu

Tháng tám năm ngoái (1986), Trương Nghệ Mưu đến trường Nghệ thuật Quân đội tìm tôi. Anh ấy đang đứng trong hành lang của tòa nhà cao tầng và réo gọi tên tôi, tôi mở cửa phòng và đưa anh ấy về ký túc xá. Trước mắt tôi là một Trương Nghệ Mưu với một chiếc áo sơ mi đã cũ, một chiếc quần vải bố dành cho người lao động và hai bàn chân xỏ trong một đôi dép cắt từ lốp bánh xe cao su - loại dép mà đa số nông dân thời ấy vẫn thường mang, một chiếc đầu tóc rất dày và trơn bóng, đôi mắt buồn buồn, gương mặt tiều tụy, đôi vành tai dựng đứng và trông rất cứng khiến tôi nghĩ là được một tấm thép cắt đâu đó dán vào. Vừa trông thấy anh ấy, tôi có cảm giác là gặp được người quen, bởi Trương Nghệ Mưu trông chẳng khác một nông dân ở quê tôi là bao nhiêu. Trong cái vỏ bọc ngoài càng ngày càng giống với những con thỏ nuôi linh lung xinh đẹp, nhưng không hề đáng yêu của dân thành phố lúc này, gặp được một con người thân thương như thế quả thật là vô cùng đáng quý. Căn phòng tôi đang ở rất ẩm thấp và tối tăm, chuột kéo thành đàn tổ chức những cuộc thi việt dã, lại còn ăn trộm mì ăn liền, ỉa trong chậu rửa mặt của tôi. Thậm chí một ngày nọ có một con rắn da đen có lốm đốm những bông hoa màu trắng chui vào theo lỗ hổng dưới chân tường bò thẳng vào giữa phòng. Tôi không đánh con rắn ấy, nghe đâu loại rắn rồng này thường dự báo một điềm cát tường, cũng là do người quê tôi chưa bao giờ làm tổn thương đến loài rắn, cho dù là rắn gì. Tôi chờ mong con rắn rồng này sẽ mang lại cho tôi một điều may nào đó, dựa vào vận may ấy, biết đâu rằng tôi sẽ hòa mình vào trong dòng đời hỗn trọc này ăn ăn uống uống, vung tay chỉ trỏ vào giang sơn, gạn đục khơi trong văn tự, dương dương tự đắc lấy vài ngày cho đỡ nghiện. Đúng lúc ấy, Trương Nghệ Mưu đã đến.

Chúng tôi bàn về chuyện chuyển thể “Cao lương đỏ” thành kịch bản điện ảnh, chuyện trọng đại ấy cũng chỉ diễn ra trong vòng mười phút không hơn. Tôi nói: “Trương Nghệ Mưu, tôi tin tưởng vào anh”, nói xong thì bắt tay từ biệt nhau.

Lúc ấy, Trương Nghệ Mưu vẫn đang thủ một vai trong bộ phim “Giếng cổ” của đạo diễn Ngô Thiên Minh. Sau khi bộ phim ra mắt, Trương Nghệ Mưu được chương trình bình luận phim Đông Kinh bầu là “diễn viên chính hay nhất”. Đây cũng là chuyện không thể khác, bởi lòng đố kỵ nhiều khi không thể che mờ được sự thật, ăn nho chua cũng chẳng được tích sự gì, bất phục thì cứ diễn một vai vượt mặt Trương Nghệ Mưu là cách làm thuyết phục nhất. Chuyện này cũng giống như chuyện sáng tác tiểu thuyết thôi, đố kỵ càng không che mờ được sự thật, có chửi có đe cũng chẳng được tích sự gì, có nhờ vào những lời bình điểm tán tụng của những “bình luận gia” cũng chẳng qua là thêm vào đó một “miếng đậu phụ khô” mà thôi, nhưng độc giả đâu phải là người ngốc nghếch để đến độ bị lừa! Văn học cũng được mà điện ảnh cũng xong, cuối cùng cũng đều biến thành thương phẩm; nhưng trở thành một thương nhân văn học thì không được, thương nhân điện ảnh thì có thể. Mấy năm gần đây trên văn đàn tôi đã gặp nhiều hổ báo sói lang, nếu không kịp đề phòng sẽ dễ dàng bị cắn cho một miếng chí mạng, cho nên phát ngôn lúc nào cũng phải cẩn thận dè chừng. Do vậy mà gặp được những anh hào trên văn đàn hay phim đàn chẳng có chút phong độ thương nhân, không thèm điểm trang để biểu diễn mà lại hồn hậu như “cây cao lương đỏ trên cánh đồng phương bắc” như Trương Nghệ Mưu, từ trong đáy lòng tôi đã hình thành nên một niềm tôn kính.

Trong cuộc “hội đàm” chóng vánh ấy, tôi nói với Trương Nghệ Mưu: Nghệ thuật gia (tôi cao giọng thanh minh rằng, tôi chẳng phải là nghệ thuật gia gì cả, nhưng tôi cho rằng tiền đồ của Trương Nghệ Mưu là vô cùng xán lạn, đến trên tuổi ba mươi lăm - tức độ tuổi trung niên - anh ấy sẽ là một nghệ thuật gia chân chính trong lĩnh vực điện ảnh) đều là những người chủ quan đến độ cực đoan. Trong đầu có những suy nghĩ chủ quan, có những theo đuổi xác định, cho dù có bị chửi bị phê vẫn phải đi trên con đường riêng của mình. Do vậy, truyện của tôi mà chuyển thể thành kịch bản phim, đối với tôi mà nói, nó chỉ có ý nghĩa trên phương diện trả tiền nhuận bút, anh hoàn toàn có thể đắp một chiếc lò khác cho riêng mình. Anh muốn cho “ông tôi”, “bà tôi” thử bom nguyên tử trên mảnh đất trồng cao lương cũng không sao, không quan hệ gì đến tôi, không những không quan hệ mà tôi còn vỗ tay hoan hô dũng khí của anh. Quay xong phim mà thành công, vinh quang thuộc về phần Trương Nghệ Mưu anh, không thành công thì cũng chỉ là nỗi hổ thẹn của riêng Trương Nghệ Mưu anh. Trương Nghệ Mưu đã nói là, anh ấy rất khoái cái chất lãng mạn khoáng đạt, không câu nệ tiểu tiết, dám giận dám yêu dám giết người đốt nhà dám chửi… nói chung là dám đủ thứ của những nhân vật trong truyện của tôi. Anh ấy cho rằng, chúng ta không thể giống như những con người chỉ biết “ngồi nghe bà nội kể chuyện bi tráng anh hùng của những con người cách mạng”, không khóc nổi nhưng vẫn đưa tay chùi nước mắt quẹt mũi như xưa nay nữa. Anh ấy còn nói là sẽ khai thác cho kỳ được “cái thần” của cây cao lương…

Trương Nghệ Mưu ra về, tôi đưa anh ấy ra đến cổng. Như bước ra khỏi một chiếc hang chuột, ánh nắng tháng tám chan hòa đến nhức mắt. Đứng nhìn theo Trương Nghệ Mưu, tôi thấy chân anh ấy hơi khập khiễng, sau này đọc những bài viết của Tân Gia Pha, tôi mới biết là chân anh ấy được dùng đinh nẹp lại, nghe đâu thi thoảng vẫn còn những dòng máu màu lam rỉ ra.


Mạc Ngôn

2. Trên mảnh đất cao lương Đông Bắc Cao Mật

Tháng sáu tháng bảy năm nay, Trương Nghệ Mưu gửi đến cho tôi một tờ điện báo, hy vọng tôi trở về Cao Mật để giúp anh ấy tìm gặp những lãnh đạo địa phương nhờ họ giúp đỡ. Nói thật lòng, ban đầu Trương Nghệ Mưu chọn ngoại cảnh là vùng Đông Bắc Cao Mật, tôi bày tỏ thái độ phản đối đối với quyết định này. Thứ nhất, cảnh vật Đông Bắc Cao Mật đã thay đổi quá nhiều, mảnh đất trồng cao lương mà tôi miêu tả trong “Cao lương đỏ” lại là cảnh vật tồn tại từ thời thanh niên của ông nội tôi, tôi chưa hề trông thấy bao giờ, những cây cao lương đỏ như lửa trắng như lau chính là do tôi tưởng tượng ra, là cảnh trong mộng, là phần mộ huy hoàng của linh hồn tôi. Họ không cần phải đến Đông Bắc Cao Mật để quay cảnh cao lương, quay cái gì ở đấy nữa? Đương nhiên là vẫn có thể trồng. Thứ hai, trong truyện tôi đã viết như thế này: Đông Bắc Cao Mật là vùng đất anh hùng nhất, hảo hán nhất, ngu ngốc nhất. Mấy năm gần đây, theo đà phát triển không thể ngăn trở, kinh tế hàng hóa đã xâm nhập vào đời sống nông thôn, cái chất thuần phác đôn hậu, yêu chuộng nghĩa khí, hào hiệp của tổ tiên đã giống như một xu tiền đồng lưu hành lâu ngày đã mất đi vẻ sáng loáng ban đầu, mà thay vào đó là một thứ màu đen xỉn hoặc xanh xanh của đồng gỉ. Tất cả đều phải có tiền, liệu các anh có bao nhiêu tiền?

Ngoài ra, nhân vì để phản đối sự tự do hóa của giai cấp tư sản mới, mùa xuân năm nay tôi đã viết bài “Ánh sáng Cao Mật” đắc tội với một số người. Những con người đáng yêu ấy lại đặt chuyện rằng, tôi bị giam vào nhà tù, ngày nào cũng ngồi trên ghế điện, bị ngâm trong tương ớt… Bố mẹ tôi vốn bé gan, lại ngại chuyện phiền phức, nghe những tin ấy sợ đến độ nuốt không nổi cơm, ngủ không yên giấc. Bố tôi ngày ngày ngồi ôm chiếc radio để nghe chương trình phát thanh của Đài phát thanh Trung ương nhưng trong lòng vẫn nơm nớp lo sợ rằng một ngày nào đó sẽ nghe được tin tôi bị lôi ra Ngọ môn chém đầu răn chúng (đúng là bố tôi quá hồ đồ, lấy thủ cấp một thằng tiểu tử như tôi sao lại khiến cho Đài phát thanh Trung ương quan tâm được chứ!). Trong tình hình này, tôi về Đông Bắc Cao Mật thì liệu có giúp được gì cho đoàn làm phim và cho Trương Nghệ Mưu?

Sau đó tôi lại nghe nói rằng, Công ty điện ảnh của huyện Cao Mật lại muốn duyệt kịch bản phim của chúng tôi, nghe xong mà tôi dở khóc dở cười nhưng cũng mừng thầm là mình cũng xem thấu được bộ mặt thật của thế thái nhân tình. Tôi không muốn nói những lời không hay về quê hương, bởi vì bất cứ địa phương nào cũng đều như thế cả mà thôi. Cũng chính vì lúc ấy đang đúng mùa gặt rất bận rộn ở quê nhà, ở đấy đang cần nhân lực lao động, tôi đắn đo một thời gian nhưng cuối cùng cũng khăn gói trở về Cao Mật.

Trong thời điểm ấy, vùng Đông Bắc Cao Mật đang gặp đại hạn hán, mấy tháng liền chẳng có lấy một giọt mưa, ngay cả những cây cổ thụ cũng đứng gục đầu ủ rũ trong cái nắng như thiêu như đốt, những chiếc lá úa vàng đóng một lớp bụi dày, huống hồ là cây cao lương. Những hương thân phụ lão bị cái nắng hành hạ đến độ mặt mày đỏ sạm, ai ai cũng cau mày nhíu mắt, ai ai cũng trở nên chậm chạp và lụ khụ, hình như não tủy của họ cũng đã bị khô kiệt cả rồi.

Người trong gia đình trông thấy tôi vẫn sống và quay về thì vui mừng khôn xiết, những tin tức về tôi ngồi ghế điện, bị ngâm trong nước ớt tự nhiên cũng không cánh mà bay đi đâu mất. Bố buồn phiền và lo lắng khuyên tôi “giải giáp quy điền” bởi vì ông cho rằng “ngọc nát chẳng bằng ngói lành”. Ông bảo buôn bán hàng nghìn hàng vạn chẳng bằng bám vào mảnh đất quê hương. Tôi hoàn toàn tin rằng, lời bố rất có lý có tình, nhưng tôi lại không hề muốn ôm lấy một mảnh đất khô, cuộc sống điền viên tươi đẹp chẳng qua chỉ tồn tại trong tưởng tượng của những vương tôn công tử ăn thịt uống rượu no say mà thôi, thực ra thì cuộc sống ở nông thôn tàn khốc đến độ không tưởng tượng được, thân phận của một kẻ làm nông dân như thế nào thì những vương tôn công tử kia không thể nào tưởng tượng ra được. Đương nhiên cũng có những người hiện đại có nhã hứng thực sự với cảnh điền viên nhưng số lượng những con người chân chính này quá ít; còn lại chỉ toàn là những kẻ “ăn được miếng thịt cừu tươi bèn ước ao mình trở thành nông dân” xốc nổi nhất thời chiếm tuyệt đại đa số. Cũng giống như những quý tộc chân chính trên đời này không nhiều, phần lớn chỉ là ngụy quý tộc, chuẩn hóa quý tộc, học đòi quý tộc…Những kẻ này xét về phong độ có khi còn tỏ ra cao quý hơn nhiều so với những quý tộc chân chính, nhưng chẳng qua đó cũng chỉ là một sự trát phấn tô son, đến một lúc quan trọng nào đó thì bản chất của một tiểu thị dân - lưu manh và vô lại - mới thò ra. Đây chính là những kẻ phá hoại thanh danh thực sự của những quý tộc chân chính.

Tôi đã đi quá xa vấn đề rồi. Về đến nhà thì đã nghe rằng những người trong xưởng làm phim Tây An cũng đã đến. Diễn viên Khương Văn đã từng là diễn viên chính trong các bộ phim nổi tiếng như “Thị trấn Phù Dung”, “Hoàng đế cuối cùng” cũng đã đến nhưng Trương Nghệ Mưu và nữ diễn viên chính Củng Lợi và nhiều người khác vẫn chưa có mặt.

Không biết vội vàng vì điều gì, tôi vọt lên xe đạp cắm đầu cắm cổ đạp thẳng đến Tôn Gia Khẩu cách làng chúng tôi khoảng mười dặm Trung Quốc. Đúng là trên mảnh đất Tôn Gia Khẩu này năm ấy đã diễn ra một trận phục kích kinh thiên động địa. Trương Nghệ Mưu đã bỏ ra đến gần một vạn nhân dân tệ để thuê bà con ở đây trồng mấy mẫu cao lương từ trước.

Vừa đặt chân lên trên chiếc cầu đá nhỏm tôi đã muốn khóc. Toàn bộ cao lương đang sống dở chết dở, cây cao lắm cũng chỉ khoảng một mét, cây thấp chỉ độ vài gang tay, lá cao lương cuốn lại cong queo, trên mặt lá bám đầy những loài sâu ăn lá, ngay cả bọn sâu bọ này cũng đã chết gần hết, số còn lại thì đang sống dở chết dở. Xác những con đã chết rơi xuống đầy bàn chân khi tôi bước ngang qua. Không xong rồi, đại ca Trương Nghệ Mưu lần đầu tiên làm đạo diễn đã không may, gặp phải vận đen rồi.

Sáng hôm sau thì Trương Nghệ Mưu và mọi người đã đến đông đủ. Tôi vội vội vàng vàng chạy đến nhà khách huyện để gặp họ. Những câu nói đầu tiên là bàn về những mảnh ruộng cao lương gặp hạn, bàn về một tác giả văn học như tôi đã đem đến cho họ những điều không vui và không may Nhưng Trương Nghệ Mưu lại khuyên giải tôi, nói: Họ đã có những chuẩn bị sẵn sàng cho việc khắc phục khó khăn, họ không sợ khó sợ khổ. Họ cần gặp huyện ủy, họ cần phân bón, họ cần nước… Họ đã sẵn sàng chai mặt để van nài các quý ông quý bà ở đây giúp đỡ.

Ngày hôm sau nữa, mây đen đầy trời. Trương Nghệ Mưu nói anh ấy đã tìm được đồng chí lãnh đạo cao nhất huyện, vị này đã phê chuẩn xuất năm tấn phân bón. Vị này còn triệu tập một cuộc họp khẩn cấp những lãnh đạo các làng các xã có tham gia trồng cao lương, yêu cầu họ đưa việc chăm sóc những mẫu cao lương này trở thành “nhiệm vụ chính trị trung tâm” trong công tác trước mắt, điều này cho thấy vị lãnh đạo này rất nể trọng đoàn làm phim và cá nhân Trương Nghệ Mưu. Tôi đã bị cảm động bởi việc làm chí công vô tư này của vị lãnh đạo huyện ủy nọ nên hùng hồn tuyên bố, nếu kinh phí của đoàn làm phim quá căng thẳng, tôi tự nguyện dùng số tiền nhuận bút của mình để mua phân bón cho đoàn. Nghe thấy tôi nói thế, Trương Nghệ Mưu đã cười.

Ngay buổi sáng hôm ấy, trời bắt đầu mưa lất phất. Tôi lầm rầm trong miệng: Ông trời đáng kính đáng thương! Mưa đi, mưa cho lớn vào… Tôi mượn chiếc xe đạp của một cố nhân đạp thẳng đến Tôn Gia Khẩu, tìm đến tận nhà bí thư chi bộ thôn nói cho một hồi, đại ý là muốn bà con ở đây hãy tích cực giúp đỡ đoàn làm phim rải phân lên ruộng cao lương, đừng để cho những người ở nơi khác đến đánh giá là nông dân Đông Bắc Cao Mật chúng ta bụng dạ hẹp hòi, chỉ biết đến cái lợi nhỏ mà không nghĩ đến cái lợi cao hơn. Lúc ấy mưa đã bắt đầu nặng hạt, chúng tôi cho xe chở phân dừng lại trên cầu, đứng trên cầu nhìn xuống tôi có cảm giác là cây cao lương hình như đã bắt đầu phục hồi sinh khí. Tiếng mưa đập vào lá cao lương khô quắt khiến chúng vang lên những âm thanh xào xạc dễ làm lòng người sinh cảm giác thê lương.

Tôi quay về đến nhà thì trời đã xế chiều. Mẹ tôi chiên hai quả trứng để tôi và bố nhắm rượu. Tôi nhận ra mùi vị của rượu có gì đó là lạ, không giống như rượu bà con vẫn thường nấu mà có lẽ là cồn công nghiệp pha chế. Tôi nói với bố về cảm nhận của mình, ông bảo chai rượu này là ông mua từ cửa hàng Nhà nước về, lẽ nào người Nhà nước và cửa hàng Nhà nước lại đi lừa nhân dân? Tôi không muốn nói thêm về chuyện này nữa, có lẽ là tôi cố tình để cho thánh địa của lòng trung thành đối với Nhà nước, đối với Đảng so ra còn nặng hơn cả vô số đảng viên cộng sản của bố tôi còn có lý do mà tồn tại nhưng trong lòng tôi thì đang léo nhéo: Đừng nói là những cửa hàng ở Đông Bắc Cao Mật này mà ngay cả trên sạp hàng của những cửa hàng quốc doanh ở Bắc Kinh có mấy mặt hàng không phải là đồ giả mạo?

Tôi và bố uống rượu và ngắm bầu trời trong cơn mưa mỗi ngày mỗi to, nước trên mái nhà chảy xuống ào ào, trong sân nước lên cả tấc. Hoan hô ông trời! Bố tôi cũng rất hưng phấn khi nhìn thấy trời mưa nên trên mặt lại có thêm mấy nếp nhăn nữa. Tôi và bố cứ ngồi như thế giây lâu, không ai muốn nói câu nào vì sợ phá vỡ phút giây đón mưa tuyệt vời này.

- Tốt quá! Không phải nằm trong lò lửa nữa rồi! Ông trời quả có mắt!

- Cuối cùng thì bố tôi cũng lên tiếng.

- Tốt quá! Trương Nghệ Mưu! Đúng là anh có phúc khí!

- Đây là lời của tôi. Nói xong tôi quay sang bố hỏi:

- Bố, liệu những đám cao lương có phục hồi lại kịp không?

- Gặp trời mưa thế này mà lại bón kịp phân, cao lương sẽ nhổ gốc lớn lên cho mà xem!

- Con không tin là chúng có thể lớn nhanh để kịp quay phim!

- Hoa màu cũng có những thời kỳ phát triển kỳ dị. Hạn hán lâu ngày lại được gặp mưa, sức tăng trưởng của nó tăng gấp đôi! Ông nội anh đã từng nói, ban đêm đứng trong ruộng cao lương có thể nghe thấy những âm thanh sinh trưởng của chúng, lào xào, tí tách…

- Mưa đi, mưa thêm một đêm nữa!

- Nói bậy! Mưa thêm một đêm nữa thì lụt mất!

Mấy tháng hạn hán nhưng chỉ hai ngày mưa là úng lụt, đây chính là khổ nạn truyền đời, cũng là đặc điểm của vùng Đông Bắc Cao Mật. Tổ tiên chúng tôi vì sao lại chọn vùng đất khắc nghiệt này mà định cư? Tại sao chúng tôi lại không di cư? Vì sao lại có không biết bao nhiêu người lại bôn ba về đến tận Quan Đông sinh sống nhưng khi sắp chết lại quay về đây, chọn lấy một nấm đất trên ruộng cao lương hai bên bờ Giảo Hà mà vùi nắm xương tàn? Tại sao tôi đã nếm trải không biết bao nhiêu là khổ nhục ở trên mảnh đất này, nhưng lại hy vọng mình lại được vùi xác trên ruộng cao lương sau khi chết bên cạnh ông cố bà cố, ông nội bà nội, ông nội ba bà nội ba, chú Tam chú Tứ, những đứa cháu đã mất của tôi? Trên những phần mộ của chúng tôi cỏ dại sẽ mọc đầy, đất cao lương đang chờ đợi chúng tôi… Lúc này tuy không còn cao lương nữa, nhưng mấy mươi năm trước, những cây cao lương nhô đầu lên khỏi mặt nước lũ, con người lẫn trâu bò ngựa dê tụ tập trên mặt đê ngắm vọng mặt nước mênh mông, và tất cả những cảnh tượng bị ánh nắng tà chiếu rọi thành một màu đỏ… Tất cả đều hiển hiện trong đầu tôi như những cảnh mộng…

Đến chiều tối thì cơn mưa đã dứt. Tôi vội vàng chạy đến hợp tác xã cung tiêu gọi điện đến nhà khách huyện gặp Trương Nghệ Mưu. Tôi gào trong máy: Nghệ Mưu! Chúc mừng cơn mưa, chúc mừng anh! Trương Nghệ Mưu cũng hét: Chúc mừng! Tôi nói: Bố tôi bảo, chỉ còn bón phân đầy đủ, chỉ mười mấy ngày sau là cây cao lương sẽ cao quá đầu người! Mỗi ngày đi qua chúng sẽ lớn với tốc độ nhân đôi! Trương Nghệ Mưu nói: Thế à?

Tôi có cảm giác cuộc điện thoại của mình trở nên thừa nhưng trong lòng tôi vẫn hưng phấn đến độ phát run.

Sau đó thì tôi quay lại nhà khách huyện. Trương Nghệ Mưu đưa kịch bản phim cho tôi đọc. Tôi xem xong, có cảm giác là kịch bản tinh giản rất nhiều so với truyện của tôi, nhưng điều làm tôi bái phục nhất vẫn là Trương Nghệ Mưu đã giải thích những quan hệ vô cùng phức tạp của gia tộc chúng tôi trong “Gia tộc cao lương đỏ” một cách tường tận - Đây là một vấn đề khó mà trong truyện của mình tôi mới giải quyết được một nửa, nửa còn lại Trương Nghệ Mưu đã giải quyết. Trương Nghệ Mưu còn yêu cầu tôi đọc kỹ kịch bản, có chỗ nào không vừa ý thì sửa vẫn còn kịp. Tôi đọc đi đọc lại đến bốn năm lần nhưng chỉ đề nghị sửa đổi mấy câu ca từ và trong một vài trường đoạn có góp một vài ý kiến nhỏ.

Trên thực tế, một đạo diễn tài ba về căn bản không cần phải có biên kịch. Nói cách khác, biên kịch chỉ có thể cung cấp cho nhà đạo diễn tài ba một số những tài liệu có liên quan mà thôi, đương nhiên nói như thế không có nghĩa là tôi hạ thấp vai trò của nhà biên kịch.


Củng Lợi, Mạc Ngôn, Khương Văn, Trương Nghệ Mưu khi làm phim Cao lương đỏ

Lúc này thì mọi chuẩn bị đã đâu vào đó, chỉ còn chờ bấm máy. Trong lúc nhàn rỗi, tôi mời một số đồng chí trong đoàn về nhà tôi thăm chơi mặc dù trong lòng tôi rất muốn mời toàn bộ đoàn làm phim đến nhà. Khi tôi đem chuyện này thông báo cho người nhà, tất cả mọi người đều rất phấn khởi nhưng bố tôi thì không tỏ thái độ gì, lẳng lặng vác cuốc ra đồng, tối mịt mới trở về. Lúc nào bố cũng khuyên tôi cẩn thận, không nên quá xốc nổi, nếu không sẽ gặp tai họa trong đời. Tôi đang cố gắng làm theo lời khuyên của bố. Buổi sáng hôm sau, thím tôi bận bịu với việc làm loại bánh cuốn đặc sản của địa phương, vợ tôi thì tờ mờ sáng đã đi chợ mua sắm. Mười giờ rưỡi, một chiếc xe đỗ lại trên sân phơi thóc nhà tôi, Trương Nghệ Mưu, phó đạo diễn Tiểu Dương, “bà tôi” Củng Lợi, “ông tôi” Khương Văn, quay phim Tiểu Cố và một số người nữa bước xuống xe, một đám đông bà con làng xóm vây lấy đoàn người mặc áo vải thô và trọc đầu này. Sau này anh hai tôi bảo trông thấy bộ dạng chân đất của đoàn người này, anh ấy cũng có thể làm diễn viên. Tôi bảo anh có thể sắm vai quần chúng hoặc anh lính Ất lính Giáp cũng được.

Tôi sẽ giới thiệu một tí về loại bánh biện - tức bánh cuốn của quê hương tôi: Bột mì trắng nhào cho nhuyễn rồi dùng một vật tròn (như chai rượu) cán ra thật mỏng, bỏ vào chảo rán chín, sau đó dùng trứng gà luộc chín làm nhân, cho một ít muối, hành rồi cuốn lại thành những cuốn riêng là có thể ăn được. Đây là loại lương thực chủ yếu của những tay thổ phỉ trong xã hội cũ, muốn ăn được nó cần phải có đôi hàm răng thật chắc khỏe, hơi khó tiêu gây cảm giác no lâu. Anh em trong đoàn rất tự nhiên như người trong làng, cứ ngồi bệt xuống sàn nhà mà ăn bánh cuốn. Khương Văn ăn nhiều nhất, lại còn bê cả tô canh ớt cay xè lên húp soàn soạt. “Bà nội” Củng Lợi ăn mà chẳng có vẻ hào hứng gì, cô ấy nói hai đầu của bánh cuốn không có trứng nên không ngon. Ngày ấy Củng Lợi mặc một chiếc quần vải thô buộc ống lại bằng một sợi dây, mang dép lê. Mẹ tôi than thở: Một cô gái đẹp như vậy tại sao lại hóa trang chẳng thành bộ dạng gì cả thế này, các người chỉ là một lũ trứng rùa!

Củng Lợi muốn mang về cho Đậu Quan một ít bánh cuốn. Khi cô ấy đang cuốn bánh thì Khương Văn đứng dậy đi vào nhà trong, quýnh quáng thế nào mà đá phải phích nước sôi. Chỉ nghe một tiếng “bụp”, phích nước vỡ tan, mảnh thủy tinh bắn đến tận chỗ Củng Lợi đang ngồi cuốn bánh và rơi vào chiếc bánh cô ấy đang cuốn trong tay. Khương Văn không bị bỏng là may nhưng trông anh ấy có vẻ khó xử, tôi nói: Đây là điềm lành, chắc chắn là bộ phim của chúng ta sẽ là một tiếng bom nổ giòn giã trong đời sống điện ảnh tương lai!

Chiếc bánh trên tay Củng Lợi không thể dùng được bởi tôi sợ mảnh thủy tinh sẽ chui vào bụng của Đậu Quan - “bố tôi”. Tôi chợt nghĩ đến nhân vật thuộc giai cấp phản cách mạng Tiền Thủ Duy đã lén lút trộn mảnh thủy tinh vào trong bánh bao để cho Phương Hải Trân ăn vào bụng suýt nguy đến tính mạng trong vở kịch cách mạng “Hải cảng” - Sau này cuốn bánh này đã bị bố tôi ăn nhưng tuyệt đối không phải bố tôi là người keo kiệt bủn xỉn đâu - “Bà tôi” đã cuốn cho “bố tôi” một cuốn khác.

Mấy hôm trước, Trương Nghệ Mưu đã ghé thăm nhà và chụp cho mẹ tôi vài kiểu ảnh. Mẹ tôi nói, thằng bé này thật tốt, không hề phân biệt là nhà nghệ thuật với nông dân. Tôi nghĩ lời bình giá này của mẹ tôi rất có giá trị và thành thật chia vui cùng Trương Nghệ Mưu.



“ông tôi” và “bà tôi” t
rong phim Cao Lương đỏ

Tôi chụp ảnh chung với “ông tôi” và “bà tôi”. Vì trong tác phẩm, ông nội tôi thường cởi trần thân trên nên “ông tôi” Khương Văn và tôi cùng cởi áo, tôi phát hiện thân thể Khương Văn thật cường tráng, bắp thịt săn chắc, còn tôi mỡ ơi là mỡ. Khương Văn và Củng Lợi mỗi người ôm một bên vai tôi. Sau khi in ảnh ra, đồng chí phụ trách việc in ảnh cười trêu tôi: Cứ nghĩ là “bức trường thành bằng thép” không bao giờ nghiêng chứ nhỉ? Thì ra trong ảnh, tôi đứng hơi nghiêng người về phía Củng Lợi, cười đến độ răng chìa cả ra ngoài, trông khó coi vô cùng. Lúc ấy tôi chỉ biết chống chế: Củng Lợi bám quá chặt khiến vai tôi bị tê dại, tội không phải do tôi! Tấm ảnh ấy đã bị thất lạc, lâu nay tôi vẫn có ý đi tìm, cho dù phải bỏ ra mấy đồng để mua lại từ ai đó tôi cùng cam lòng, mua để mà đốt!

Ngày bấm máy quay vào trung tuần tháng tám, bà con khắp nơi ăn mặc chỉnh tề xanh xanh đỏ đỏ đổ về trường quay tò mò xem người ta đóng phim. Tôi cõng con gái trên vai đứng từ xa quan sát, trông thấy Khương Văn cúi đầu ủ rũ ngồi im trên cầu, còn Củng Lợi thì sắc mặt trắng nhợt đang bíu vào một cây cao lương. Bà con đứng xem thầm thì với nhau: Nóng bức thế này mà bắt con gái người ta mặc áo bông quần bông. E rằng cô gái xinh đẹp kia sẽ chết mất thôi! Đúng là làm chuyện gì cũng chẳng dễ dàng chút nào. Cũng có người nói oang oang: Thằng Mạc Ngôn chả ra làm sao cả. Ngay cả ông bà nội nó cũng bị nó làm nhục kia kìa! Tôi không bực mình, chẳng phải là năm nay trong cao trào “phản đối tự do hóa” đã có một số người được xem là “nhà nghệ thuật” trong những đoàn văn công nổi tiếng ở Bắc Kinh đã từng tuyên bố: Hắn ta tự nguyện lột sạch quần áo của bà nội mình để cho người Nhật Bản hiếp dâm… đó sao? Những kẻ ngu ngốc văng ra những lời thối hơn cứt chó như vậy mà tôi không hề nổi giận, huống hồ là với những lời bình luận vô tư của những người thân của tôi vốn không phải là “nghệ thuật gia” gì cả!



3. Lò nấu rượu trong mộng

Cao lương đỏ của vùng Đông Bắc Cao Mật làm thế nào để trở thành một thứ rượu cao lương thơm lừng? Đúng là tôi không thể biết được, nhưng tôi được một số người già đã từng làm việc trong những lò nấu rượu giải thích sơ bộ cho, cũng tham khảo một số tư liệu có liên quan (tôi đã photo những tài liệu này tặng cho Trương Nghệ Mưu), do vậy mà tôi cũng có chút ít kiến thức về nó.

Sau khi từ Cao Mật quay trở lại Bắc Kinh, tôi được biết Trương Nghệ Mưu đã dẫn đội quay phim đến Ninh Hạ quay cảnh nấu rượu. Có một đêm, trong mộng tôi thấy mình gặp Trương Nghệ Mưu trong lò nấu rượu. Mấy hôm nay xem xong bộ phim mới thấy cảnh tượng trong lò nấu rượu sao mà giống với cảnh trong mộng của tôi! Thành thật chúc mừng những nhà quay phim tài ba!

4. Những cảm tưởng linh loạn

Tôi cho rằng, giữa tiểu thuyết và điện ảnh vẫn có một mối liên hệ nội tại, do vậy mà khả năng chuyển thể từ tiểu thuyết sang kịch bản điện ảnh là rất lớn. Kịch bản điện ảnh mà trung thành tuyệt đối với nguyên tác là rất khó, nhưng lấy nguyên tác làm cơ sở rồi thông qua những kỹ thuật riêng của nghệ thuật điện ảnh để khơi gợi ở người xem một khoái cảm thẩm mỹ mới là điều hoàn toàn có khả năng. Một bộ tiểu thuyết hay luôn luôn mang tính đa nghĩa, do vậy mà khi đặt vào tay những đạo diễn khác nhau sẽ có những bộ phim khác nhau; cũng giống như cùng sử dụng một chiếc dương cầm độc tấu cùng một khúc nhạc, nhưng dưới ngón tay của những người chơi đàn khác nhau sẽ có những khúc nhạc khác nhau là không nghi ngờ gì nữa. Lời nói mà, không nên nghi ngờ gì nữa, chẳng qua cũng chỉ là những lời thừa, càng ít nói càng hay.

Tôi đã từng phong cho mình cái tư cách của một khán giả bình thường để xem “Cao lương đỏ” của Trương Nghệ Mưu, cố gắng tránh chuyện đem bộ phim ra so sánh với truyện của mình, tất nhiên là rất khó khăn.

Không nghi ngờ gì nữa, bộ phim “Cao lương đỏ” chính là một thành công rực rỡ của Trương Nghệ Mưu, có thể nói là một thành công rực rỡ của điện ảnh hiện đại Trung Quốc. Tôi hoàn toàn tin tưởng người xem sẽ tán thưởng bộ phim này.

Nếu đứng ở lập trường của tác giả nguyên tác mà xét, đem cao lương đỏ như một biển máu của tôi biến thành cao lương xanh là một điều thực sự đáng tiếc, nhưng nếu đứng ở góc độ người xem mà nói, màu xanh bạt ngàn của cao lương như một biển sóng dâng trào, đầy sức sống, đầy huyền diệu và có một chút bí mật có thể khơi gợi ở tôi bao nhiêu là liên tưởng vượt ra ngoài hình hài thực tế, do vậy tôi chỉ có thể ca tụng cao lương xanh mà thôi.

Mùa hè ở Cao Mật, tôi cưỡi xe đạp chạy ra ngoài đồng, trên địa bàn thuộc huyện Giảo, tôi phát hiện ra một khoảnh cao lương xanh đang ngậm đòng. Khoảnh cao lương này rộng đến vài trăm mẫu, bằng phẳng như một tấm thảm xanh. Tôi đứng trên bờ đê, đúng lúc ấy, gió Tây Bắc nhẹ nhàng thổi tới, sau lưng tôi lại là bờ sông lau lách um tùm, tiếng ếch nhái râm ran trong mùa nước nổi, chim bay lượn vòng trên không trung hót vang. Thảm cao lương bạt ngàn trước mắt tôi rùng rùng đuổi theo nhau dưới những làn gió nhẹ, có khi đứng lại và múa những điệu luân vũ mềm mại đến tuyệt vời. Những làn sóng xanh uốn lượn chạy dần về phía tôi và chạy thẳng vào tâm hồn tôi. Cao lương đang múa, cao lương đang hát những lời ca nỉ non khiến tôi ngờ là chúng đang chia sẻ nỗi buồn trong tâm hồn tôi. Tôi cho rằng cao lương đang giao lưu với tôi, không bằng ngôn ngữ thông thường mà bằng ngôn ngữ của tâm hồn. Tôi cảm nhận được những cái vuốt ve vô cùng mềm mại của những cành lá cao lương lên linh hồn tôi. Đứng trên bờ đê, tôi chỉ muốn khóc, nhưng tiếng khóc không thể nào bật ra được - Đúng lúc ấy, chính là lúc chiều tà, khi ánh mặt trời đỏ như lửa ôm trùm lấy thảm cao lương xanh, khiến cho nó thêm vẻ thần thánh và tráng lệ thì Trương Nghệ Mưu cùng với những cộng sự đang loay hoay tìm cảnh quay trên một mảnh cao lương ở Tôn Gia Khẩu. Tôi nghĩ, mai này nếu trong phim tôi có thể tìm thấy được cảm giác như tôi đã có được trên chính mảnh đất này, thì đó là một thành công đáng nể của Trương Nghệ Mưu. Vì chính anh ấy đã không làm tôi thất vọng.

Lúc nào tôi cũng nghĩ, cao lương trong truyện của tôi là một linh hồn bất khuất, tôi hy vọng phim của Trương Nghệ Mưu sẽ có được những hình tượng cao lương tượng trưng, có linh hồn và có sinh mệnh khiến cho mệnh vận của “ông tôi”, “bà tôi” cùng với chúng quyện chặt lại với nhau. Điều này về cơ bản Trương Nghệ Mưu đã thành công. Nhà quay phim Cố Trưởng Vệ đã cống hiến một cách xuất sắc trong những thành công của Trương Nghệ Mưu, đồng thời Cố Trưởng Vệ cũng đã nhân đó mà mang lại vinh quang cho mình - nhất định sẽ là như vậy.

Có mấy cảnh khiến người ta không thể quên được trong phim:


1. Chiếc kiệu chòng chành

Trong rất nhiều bộ phim, cảnh khiêng kiệu xuất hiện khá nhiều, khá phổ biến nhưng để quay được cảnh khiêng kiệu đầy ý vị và nhiều sắc thái tình cảm như trong phim “Cao lương đỏ” thì không nhiều lắm. Con đường gập ghềnh, bụi vàng mù mịt, tiếng kèn đồng thê lương, những điệu nhảy điên cuồng… suy cho cùng có ý nghĩa gì? Đoạn này rất dài nhưng người xem không hề thấy chán, thấy đủ chính là vì nó biểu hiện được cuộc đời không hề bình thường của “bà tôi”.

2. Hợp hôn trên đồng nội

Khi “ông tôi” cướp “bà tôi” chạy vào cánh đồng cao lương, ném “bà tôi” lên chiếc “giường cưới” lót lá cao lương thì “bà tôi” nhìn thẳng lên bầu trời xanh thăm thẳm trong khi trên thân hình bà là một bộ quần áo cô dâu màu đỏ, thân thể bà nằm theo hình chữ “đại” (大?). Cây cao lương che phủ chiếc giường tân hôn, biến nó thành một chiếc đàn tế thần thánh. “Ông tôi” từ từ quỳ xuống trước đàn tế ấy… Cao lương xanh đen nhảy múa quay cuồng chẳng khác nào hàng vạn tinh linh đang hướng lên trời xanh kêu gào. Âm nhạc thê lương, tráng lệ… Trường đoạn này càng làm tăng thêm tính thần bí nhưng nồng nàn, dễ dàng kích động nhân tâm khiến cảnh ái ân giữa “ông tôi” và “bà tôi” trở nên cao thượng vô ngần. Trường đoạn này có màu sắc bi kịch, còn âm nhạc thì như những chiếc chùy thúc thẳng vào trái tim con người.

Có một người bạn cùng xem bộ phim với tôi nói là nên để cho “ông tôi” cởi áo của “bà tôi”, nên để lộ nửa bầu ngực của “bà tôi” thì hay hơn. Tôi bảo: Kiểu cởi áo và để cho nửa bầu vú thoáng hiện là rất thông thường, tôi còn muốn “ông tôi” lột sạch quần áo của “bà tôi” để cho nhục thân đẹp đẽ, thuần khiết ấy đối diện với muôn ngàn đôi mắt của đất trời! Anh bạn kêu lên: Không được! Tôi nói: Đúng là không được, nhưng có ai đó trông thấy “bà tôi” không còn mảnh vải che thân, nằm trên đài tế thần mà có suy nghĩ lung tung đầy chất nhục dục, thì kẻ đó chính là loài súc sinh!

Quả là đáng tiếc!

Quan hệ tính giao của con người có khi lại là quan hệ về mặt tâm hồn, là hướng về Thượng đế mà sám hối, nhưng nhiều khi lại không phải như thế.

Những lời khác không tiện nói ra đây.

3. Tế Thần Rượu và tế thần La Hán

Hai trường đoạn này có cách tạo hình khá tương tự nhưng hàm nghĩa không hoàn toàn giống nhau, đoạn trước khôi hài, đoạn sau bi phẫn. Sức sống cuồn cuộn cũng như tinh thần hy sinh giỏi “kêu lớn lần cuối cùng” của dân tộc Trung Hoa có thể thấy ở những đoạn này.

Đã lâu lắm rồi, Trương Nghệ Mưu đã viết thư cho một vài anh em biên kịch chúng tôi, nói anh ấy đang đọc cuốn “Sức sống của bi kịch” và rất khâm phục cái tinh thần “thần rượu” trong cuốn sách ấy. Điều này cho thấy Trương Nghệ Mưu chịu ảnh hưởng rất lớn từ cuốn “Sức sống của bi kịch”.

Nói tóm lại, bộ phim này vừa có tinh thần lãng mạn vừa có sắc thái truyền kỳ, dã man và nhu mì thống nhất, hoạt kê và cao thượng thống nhất, khôi hài và nghiêm túc thống nhất. Nếu phải tìm chỗ chưa đạt thì tôi có thể nói: cần phải có cảnh lột da người mới đỡ nghiện; cần phải có một cánh đồng cao lương hàng vạn mẫu, để Trương Nghệ Mưu và đội quay phim ngồi trên máy bay mà quay mới đỡ nghiện.

Xin chân thành chúc mừng thành công của đoàn làm phim “Cao lương đỏ”. Thái độ hoạt động nghệ thuật nghiêm túc, tinh thần hy sinh chịu đựng gian khổ của các anh vĩnh viễn thúc giục tôi. Tài hoa của các anh khiến tôi có một chút đố kỵ nhưng chủ yếu vẫn là khâm phục.

27-11-1987