Hiển thị các bài đăng có nhãn GIAO CHỈ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIAO CHỈ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2018

Ngón chân Giao Chỉ.

Tôi đã viết một bài về Ngón chân Giao Chỉ. Thấy các hình ảnh trên FB, đăng lại để các bạn cùng bình luận.


Bạn Lí Học viết.
Giao Chỉ, chân Giao Chỉ là vấn đề cần tìm hiểu thêm. Chân Giao Chỉ bị choãi ra là do gene di truyền hay do một nguyên nhân nào đó phát sinh từ cuộc sống.
Câu hỏi đặt ra là nếu di truyền thì tại sao ngày nay không thấy hoặc quá hiếm hoi bàn chân Giao Chỉ ở người Việt hiện đại?














-------
Họa sĩ Lê Bá Đảng với tác phẩm Ngón chân Giao Chỉ - hình ảnh cội nguồn.



Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Ngón chân Giao Chỉ.

Đây! 'Bên kia sông Đuống' (tên chữ là sông Thiên Đức)

Đến nhà cháu, vợ nó, cũng là học trò, vừa sinh một ‘táo tầu’ kháu khỉnh. Nhìn vợ chồng nó, mặt dáng 'táo tầu', mồm thì 'hơn hớn'. Ông khen: Cháu ông, đúng là chân Giao Chỉ. Chúng thảng thốt: Làm sao ‘hử’ ông? Thì con dòng cháu giống chứ sao. Cháu dâu vẫn nghệt mặt ra.
- Người Giao Chỉ, ngón chân cái toạc ra, chỉ vào nhau. Còn da nó ngăm đẹp ‘dư lày’ là di truyền của họ Phạm nhà mình đó. Các cụ xưa ở Thanh Hà, đất đồng chiêm, bãi mạc, chăn vịt, mò cua bắt ốc, ở trần phơi nắng nên trắng sao được. Cụ tổ sang Kim Thành lập đất từ đận năm 938 đến nay, bây giờ mặt con cháu vẫn ngăm ngăm duyên... Mừng, thật mừng! Đúng là cháu nhà mình rồi, giổng cả lông lẫn cánh.
Vợ chồng nó cười hì hì nói: Ông, chỉ…

(Đùa vui chúng nó, đứa trẻ nào chả là người Giao Chỉ, kể cả chân...)

Ngón chân Giao Chỉ
Một lần, trong giờ chào cờ đầu tuần, giải thích vui cho học sinh: Sao bây giờ, ít thấy người Việt mình có ngón chân Giao Chỉ.
- À, hừ…! Người Việt cổ, trèo cây hái lượm, sau này canh tác lúa nước, nên chăng, ngón chân có thể coi là một biến dị lại tổ (variation atavique) và di truyền cho hậu thế. Khác với người châu Âu, săn bắn và ăn thịt, người Việt chủ yếu ăn cơm, rau và cá. 
Còn, thầy trò ta bây giờ, dép thường xuyên, thậm chí giầy đinh khủng, không phải bấm chân ngõ lội ngày mưa (văn thơ một chút), không cuốc đồng lội bãi, nên ngón chân bó lại. Thầy nghĩ, sau này, ngón chân không dùng để trèo cây, lội ruộng, chắc hậu sinh không còn ngón nữa, bàn chân trắng thuôn, trụi mềm như cái bánh mì chưa nướng. 
Cũng vì cái lợi thế của ngón chân để bấm bám đó mà ta thấy ngoài quán, có trai tân hay ngồi xổm, vắt vẻo trên ghế, uống rượu, đầu gối quá tai. Khoa xem tướng nhận định rằng những người đầu gối quá tai (tư thế ngồi xổm) là tướng bần hàn suốt đời. 
Nhớ nhé …  Vâng !!! (dạ ran cả sân trường)
Ừ…! Còn ngón tay Giao Chỉ,  thì không. Nhưng, các trò cứ nhắn tin, mổ nhoay nghoáy như ‘vầy’ (làm điệu bộ), ra quán ‘chát’ múa may ‘leo mạng’, mai sau đầu thì nhỏ mà ngón tay dài như của mụ phù thủy trong câu truyện Nàng tiên cá (Andersen) đó.
Cả trường cười vui.
Bàn chân Giao chỉ. Lê Bá Đảng

*****
Khu vực thành Luy Lâu xưa
Tháng Hai, về Kinh Bắc, vùng Luy Lâu xưa (đất Giao Chỉ), thăm đền thờ và lăng Sỹ Vương, bên kia sông Đuống.
1. Giao Chỉ, nguyên là tên gọi của một bộ trong số 15 bộ của nước Văn Lang. Sau nhiều biến động từ nhà Triệu tới nhà Hán. Năm 111 trước Công nguyên, nhà Hán đô hộ, chia Âu Lạc thành Giao Chỉ và Cửu Chân. Thời Hán mạt và Tam Quốc, thái thú Giao Chỉ là Sỹ Nhiếp.
Vết chân giao chỉ bên hữu ngạn sông Lô
Giao Chỉ còn được dùng để gọi người Việt cổ. Chữ Giao ( ) nghĩa là giao nhau, qua lại, kết hợp với nhau. Riêng chữ Chỉ không được chép và lý giải thống nhất.
Có sách viết Chỉ   (bộ phụ), có sách  (bộ túc). Cụ Nguyễn Văn Tố cho rằng kiểu nào cũng được, Chỉ có 4 nghĩa:

- Cùng nghĩa với "cước" là chân.
- Nghĩa là "cước chỉ", tức ngón chân.
- Nghĩa là "tông tích", tức dấu tích.
- Thông nghĩa với chữ Chỉ có bộ thổ , nghĩa là cái nền, nền móng, như "cơ chỉ", "trụ chỉ"

Từ đó, chữ Giao Chỉ cũng được hiểu theo nhiều cách.
Giao Chỉ là người Nam di (rợ), ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (Chỉ là ngón chân cái).
Tên Giao Chỉ là hợp vào nghĩa "đối trụ", cách của dân phương Bắc gọi phương Nam. "Đối trụ" là chỉ người phía Nam, phía Bắc đối nhau, "lân trụ" là phía Đông, phía Tây liền nhau.
Các nhà sử học Việt Nam kể từ Nguyễn Văn Siêu, Đặng Xuân Bảng, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh,... đều theo cách giải thích thứ hai này.
Năm 1868, bác sĩ Thorel trong đoàn thám hiểm của Doudart de Lagrée nhận xét hiện tượng hai ngón chân cái giao nhau là "một đặc điểm của giống người An Nam". Sau này các học giả Pháp khác cũng ghi nhận điều này.
Hiện tượng hai ngón chân cái trẹo ra ngoài để có tư thế giao nhau khi hai bàn chân đặt song song gần nhau được gặp không chỉ ở các dân tộc Đông Dương mà còn ở các dân tộc khác như người Mã Lai, Xiêm, Trung Hoa, Ả Rập, Melanesia và người da đen, chỉ khác nhau ở mức độ. Nhưng hiện tượng này rất hiếm gặp ở người châu Âu.

Bổ sung: Giao trong Giao Chỉ (bộ Đầu), và Giao (thuồng luồng) trong Giao Long (bộ Trùng) xưa là chữ phổ biến, có dính dáng đến nhau. Chữ Chỉ khi thì chép Chỉ là "nền đất, chỗ ở", khi thì viết Chỉ là "ngón chân", khi thì chép Chỉ là "đất chân núi". Và ngày xưa người Giao Chỉ tự cho mình thuộc giòng giống Giao Long (với tục xăm mình), cho nên người Hán mới gọi họ là người "nòi Giao long", và vùng đất của họ là Giao Chỉ (đất của người Giao long). (Phạm Ngọc Hiệp)
2. Sỹ Vương.
Tam quan đền Sỹ Vương
Sĩ Nhiếp ( 士燮 ) (137-226) là thái thú cai trị đất Giao Chỉ, từ năm 187 đến năm 226 (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc). Luy Lâu của Giao Chỉ chưa khi nào gọi là kinh đô, nhưng dân Đại Việt thời Luy Lâu tất thảy đều gọi Sĩ Nhiếp là vua và chính sử sau này của nước nhà đều tự tin biên chữ Sĩ Vương vào kim sách! Năm Bính Ngọ (226), Sĩ Nhiếp mất, thọ 90 tuổi. Nhà Trần truy phong Sĩ Nhiếp làm Thiên Cảm Gia Ứng Vũ Đại Vương, đền thờ và lăng mộ ở thôn Tam Á, xã Gia Đông, Thuận Thành, Bắc Ninh. Những phế tích quanh thành Luy Lâu, những làng đúc đồng, canh cửi, làng chuyên chế ra thứ mực viết, làng tranh Đông Hồ, làng hát cô đầu, chùa Bình An (Sĩ Nhiếp dựng để bình văn) Chùa Định (dựng để định giá cao thấp) những Gò Nghiên Gò Bút vv.. vẫn còn mãi với thời gian.
Bên tam quan đền thờ
Ngước lên mái tam quan vòi vọi của đền Sĩ NhiếP (dựng sau này dưới thời nhà Mạc) cảm thán rằng, dân mình là công bằng lắm. Gần 2000 năm như thế, nào dám đơn sai xô lệch…

Chữ đề trong lăng Sỹ Vương

Án thờ và phần mộ Sỹ Vương

Con cừu đá nằm bên lăng Sỹ Vương
Con cừu đá nằm trấn giữ trước Lăng Sĩ Vương... Con cừu đá được tạc cách đây hơn 1700 năm. Tạc vào cái thời thịnh trị thái bình của Luy Lâu.
Nhân sĩ từ Ngô, Thục, Ngụy về Giao Chỉ lánh nạn, còn có cao tăng Ấn Độ đến Giao Chỉ, đến Luy Lâu để thuyết pháp lẫn xây chùa, bên cạnh những tứ linh long, ly, quy phượng phương Đông, bèn cho tạc đôi cừu này, cũng có thể để ghi nhớ công ơn che chở, tạo điều kiện cho họ hành nghề của Sĩ Vương.
Cừu đá chùa Dâu, dưới chân tháp Hòa Phong
Mãi đến bây giờ, người ta vẫn không rõ tại sao đôi  cừu ấy, một chầu ở Lăng Sĩ Nhiếp, một lại chầu ở Chùa Dâu cách đó khá xa (có vết chém ngang lưng). Mà Chùa Dâu dân lập để thờ con trai Sĩ Nhiếp (thương thay do không tiếp tục được chính sách ngoại giao mềm dẻo của cha, Sỹ Huy bị Đông Ngô lừa giết mang thủ cấp về Kinh Châu. Chùa Dâu thờ vị quan cụt đầu là thế).
Đường vào đền thờ và lăng

Cây gạo trước tam quan
Một nghìn mấy trăm năm cứ sừng sững trong dân Luy Lâu, trong dân Thuận Thành Bắc Ninh ngôi đền thiêng như thế! Hư đâu sửa đó, hương khói tứ mùa.
Tiết Giêng Hai về Kinh Bắc, thăm lại Luy Lâu xưa, qua đền thờ vị tổ sự học của nước Nam ta lại chẳng sướng sao?
GS Trần Quốc Vượng nói: Thời ấy xưng vua không khó. Hùng cứ làm vua đất Giao Chỉ trong khi cục diện phương Bắc nát bét là việc dễ. Nhưng Sĩ Nhiếp không làm thế. Ông bằng lòng, lặng lẽ với chức quan thái thú, chăm chỉ với những chính sách nông tang mở mang ngành nghề lẫn mở mang sự học cho dân Đại Việt.
Nghĩ về công lao của Sỹ Vương, đó như một TẤT YẾU TẤT NHIÊN của LỊCH SỬ VIỆT NAM! Có câu “Bất tương thành bại luận anh hùng”, nghĩa là “luận anh hùng, chớ kể hơn thua!”. Mặc dù có truyền thống lấy tên những người xưa được coi là có công với nước đặt cho tên các đường phố…, nhưng Việt Nam hiện giờ, không có địa danh nào mang tên Sĩ Nhiếp.
Cả một vùng phương Nam trải dàì, đất đai Nam bộ phì nhiêu mầu mỡ mà con người thì phóng khoáng và hiên hậu, có được, là công nhà Nguyễn đó. Nói như GS Trần Quốc Vượng: Kính xin quý vị Sử gia – tạm / gượng gọi là “đồng nghiệp” của tôi bơn bớt việc “chửi bới” nhà Nguyễn – đời Nguyễn – bắt đầu từ Gia Long – đi cho tôi và dân chúng nhờ…
*****

Chùa Bình Văn
Chùa Bình An (Bình Văn) thuộc thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tình Bắc Ninh. Chùa nằm trong quần thể di tích tổ đình Phật giáo Việt Nam. Phía đông là chùa Dâu, chùa Tổ, phía tây là chùa Dàn, phía bắc có chùa Tướng, phía nam có chùa Đậu. Tương truyền 5 chùa trên nằm ở đầu năm con rồng và các con rồng ấy đều quy tụ về chùa Bình An, nơi có viên ngọc tụ linh khí đế vương. Người dân vùng tin rằng, chùa linh thiêng đặc biệt về học hành. Vậy nên mỗi mùa thi cử, người dân tấp nập đến đây cầu xin.