 |
| Đây! 'Bên kia sông Đuống' (tên chữ là sông Thiên Đức) |
Đến
nhà cháu, vợ nó, cũng là học trò, vừa sinh một ‘táo tầu’ kháu khỉnh. Nhìn vợ chồng nó, mặt dáng 'táo tầu', mồm thì 'hơn hớn'. Ông khen: Cháu ông, đúng là chân Giao Chỉ. Chúng thảng thốt: Làm sao ‘hử’ ông? Thì con dòng cháu giống
chứ sao. Cháu dâu vẫn nghệt mặt ra.
- Người Giao Chỉ, ngón chân cái toạc ra, chỉ vào nhau. Còn da nó ngăm đẹp ‘dư lày’ là di
truyền của họ Phạm nhà mình đó. Các cụ xưa ở Thanh Hà, đất đồng chiêm, bãi mạc,
chăn vịt, mò cua bắt ốc, ở trần phơi nắng nên trắng sao được. Cụ tổ sang Kim Thành lập
đất từ đận năm 938 đến nay, bây giờ mặt con cháu vẫn ngăm ngăm duyên... Mừng, thật mừng! Đúng là cháu
nhà mình rồi, giổng cả lông lẫn cánh.
Vợ chồng nó cười hì hì nói: Ông, chỉ…
(Đùa vui chúng nó, đứa trẻ nào chả là người Giao Chỉ, kể cả chân...)
 |
| Ngón chân Giao Chỉ |
Một
lần, trong giờ chào cờ đầu tuần, giải thích vui cho học sinh: Sao bây
giờ, ít thấy người Việt mình có ngón chân Giao Chỉ.
- À, hừ…! Người Việt cổ,
trèo cây hái lượm, sau này canh tác lúa nước, nên chăng, ngón chân có thể coi
là một biến dị lại tổ (variation atavique) và di truyền cho hậu thế. Khác với
người châu Âu, săn bắn và ăn thịt, người Việt chủ yếu ăn cơm, rau và cá.
Còn, thầy
trò ta bây giờ, dép thường xuyên, thậm chí giầy đinh khủng, không phải bấm chân ngõ lội ngày mưa (văn thơ một
chút), không cuốc đồng lội bãi, nên ngón chân bó lại. Thầy nghĩ, sau này, ngón
chân không dùng để trèo cây, lội ruộng, chắc hậu sinh không còn ngón nữa, bàn
chân trắng thuôn, trụi mềm như cái bánh mì chưa nướng.
Cũng vì cái lợi thế của ngón chân để bấm
bám đó mà ta thấy ngoài quán, có trai tân hay ngồi xổm, vắt vẻo trên ghế, uống
rượu, đầu gối quá tai. Khoa xem tướng nhận định rằng những người đầu gối quá
tai (tư thế ngồi xổm) là tướng bần hàn suốt đời.
Nhớ nhé … Vâng !!! (dạ ran cả sân trường)
Ừ…! Còn ngón tay Giao
Chỉ, thì không. Nhưng, các trò cứ nhắn
tin, mổ nhoay nghoáy như ‘vầy’ (làm điệu bộ), ra quán ‘chát’ múa may ‘leo mạng’,
mai sau đầu thì nhỏ mà ngón tay dài như của mụ phù thủy trong câu truyện Nàng
tiên cá (Andersen) đó.
Cả trường cười vui.
 |
| Bàn chân Giao chỉ. Lê Bá Đảng |
*****
 |
| Khu vực thành Luy Lâu xưa |
Tháng Hai, về Kinh Bắc,
vùng Luy Lâu xưa (đất Giao Chỉ), thăm đền thờ và lăng Sỹ Vương, bên kia sông Đuống.
1. Giao Chỉ, nguyên là tên gọi của một
bộ trong số 15 bộ của nước Văn Lang. Sau nhiều biến động từ nhà Triệu tới
nhà Hán. Năm 111 trước Công nguyên, nhà Hán đô hộ, chia Âu Lạc thành Giao
Chỉ và Cửu Chân. Thời Hán mạt và Tam Quốc, thái thú Giao Chỉ là Sỹ Nhiếp.
 |
| Vết chân giao chỉ bên hữu ngạn sông Lô |
Giao Chỉ còn được dùng
để gọi người Việt cổ. Chữ Giao ( 交 ) nghĩa là giao nhau, qua lại, kết hợp
với nhau. Riêng chữ Chỉ không được chép và lý giải thống nhất.
Có sách viết Chỉ 阯 (bộ phụ), có sách 趾 (bộ túc). Cụ Nguyễn
Văn Tố cho rằng kiểu nào cũng được, Chỉ có 4 nghĩa:
- Cùng nghĩa với "cước" là
chân.
- Nghĩa là "cước chỉ", tức
ngón chân.
- Nghĩa là "tông tích", tức
dấu tích.
- Thông nghĩa với chữ Chỉ có bộ thổ 址,
nghĩa là cái nền, nền móng, như "cơ chỉ", "trụ chỉ"
Từ đó, chữ Giao Chỉ cũng được hiểu theo nhiều cách.
Giao Chỉ là người Nam
di (rợ), ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao
vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (Chỉ là ngón chân cái).
Tên Giao Chỉ là hợp
vào nghĩa "đối trụ", cách của dân phương Bắc gọi phương Nam. "Đối
trụ" là chỉ người phía Nam, phía Bắc đối nhau, "lân trụ" là phía
Đông, phía Tây liền nhau.
Các nhà sử học Việt
Nam kể từ Nguyễn Văn Siêu, Đặng Xuân Bảng, Trần Trọng Kim, Đào
Duy Anh,... đều theo cách giải thích thứ hai này.
Năm 1868, bác sĩ
Thorel trong đoàn thám hiểm của Doudart de Lagrée nhận xét hiện tượng hai
ngón chân cái giao nhau là "một đặc điểm của giống người An Nam". Sau
này các học giả Pháp khác cũng ghi nhận điều này.
Hiện tượng hai ngón
chân cái trẹo ra ngoài để có tư thế giao nhau khi hai bàn chân đặt song song gần
nhau được gặp không chỉ ở các dân tộc Đông Dương mà còn ở các dân tộc
khác như người Mã Lai, Xiêm, Trung Hoa, Ả Rập, Melanesia và
người da đen, chỉ khác nhau ở mức độ. Nhưng hiện tượng này rất hiếm gặp ở người
châu Âu.
Bổ sung: Giao trong Giao Chỉ (bộ Đầu), và Giao (thuồng luồng) trong Giao Long (bộ Trùng) xưa là chữ phổ biến, có dính dáng đến nhau. Chữ Chỉ khi thì chép Chỉ là "nền đất, chỗ ở", khi thì viết Chỉ là "ngón chân", khi thì chép Chỉ là "đất chân núi". Và ngày xưa người Giao Chỉ tự cho mình thuộc giòng giống Giao Long (với tục xăm mình), cho nên người Hán mới gọi họ là người "nòi Giao long", và vùng đất của họ là Giao Chỉ (đất của người Giao long). (Phạm Ngọc Hiệp)
2. Sỹ Vương.
 |
| Tam quan đền Sỹ Vương |
Sĩ Nhiếp ( 士燮 ) (137-226) là thái thú cai trị đất Giao Chỉ, từ
năm 187 đến năm 226 (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc). Luy Lâu
của Giao Chỉ chưa khi nào gọi là kinh đô, nhưng dân Đại Việt thời Luy Lâu tất
thảy đều gọi Sĩ Nhiếp là vua và chính sử sau này của nước nhà đều tự tin biên
chữ Sĩ Vương vào kim sách! Năm Bính Ngọ (226), Sĩ Nhiếp mất, thọ 90 tuổi. Nhà
Trần truy phong Sĩ Nhiếp làm Thiên Cảm Gia Ứng Vũ Đại Vương, đền thờ và lăng mộ ở thôn Tam Á, xã Gia Đông, Thuận
Thành, Bắc Ninh. Những phế tích quanh thành Luy Lâu, những làng đúc đồng, canh
cửi, làng chuyên chế ra thứ mực viết, làng tranh Đông Hồ, làng hát cô đầu, chùa Bình An (Sĩ Nhiếp dựng để bình văn) Chùa Định (dựng để định giá cao thấp) những
Gò Nghiên Gò Bút vv.. vẫn còn mãi với thời gian.
 |
| Bên tam quan đền thờ |
Ngước lên mái tam quan
vòi vọi của đền Sĩ NhiếP (dựng sau này dưới thời nhà Mạc) cảm thán rằng, dân
mình là công bằng lắm. Gần 2000 năm như thế, nào dám đơn sai xô lệch…
 |
| Chữ đề trong lăng Sỹ Vương |
 |
| Án thờ và phần mộ Sỹ Vương |
 |
| Con cừu đá nằm bên lăng Sỹ Vương |
Con cừu đá nằm trấn giữ
trước Lăng Sĩ Vương... Con cừu đá được tạc cách đây hơn 1700 năm. Tạc vào cái
thời thịnh trị thái bình của Luy Lâu.
Nhân sĩ từ Ngô, Thục,
Ngụy về Giao Chỉ lánh nạn, còn có cao tăng Ấn Độ đến Giao Chỉ, đến Luy Lâu để
thuyết pháp lẫn xây chùa, bên cạnh những tứ linh long, ly, quy phượng phương
Đông, bèn cho tạc đôi cừu này, cũng có thể để ghi nhớ công ơn che chở, tạo điều kiện cho họ hành nghề của
Sĩ Vương.
 |
| Cừu đá chùa Dâu, dưới chân tháp Hòa Phong |
Mãi đến bây giờ, người
ta vẫn không rõ tại sao đôi cừu ấy, một chầu ở Lăng Sĩ Nhiếp, một lại chầu
ở Chùa Dâu cách đó khá xa (có vết chém ngang lưng). Mà Chùa Dâu dân lập để thờ
con trai Sĩ Nhiếp (thương thay do không tiếp tục được chính sách ngoại giao mềm
dẻo của cha, Sỹ Huy bị Đông Ngô lừa giết mang thủ cấp về Kinh Châu. Chùa
Dâu thờ vị quan cụt đầu là thế).
 |
| Đường vào đền thờ và lăng |
 |
| Cây gạo trước tam quan |
Một nghìn mấy trăm năm
cứ sừng sững trong dân Luy Lâu, trong dân Thuận Thành Bắc Ninh ngôi đền thiêng
như thế! Hư đâu sửa đó, hương khói tứ mùa.
Tiết Giêng Hai về Kinh Bắc, thăm lại Luy Lâu xưa, qua đền thờ
vị tổ sự học của nước Nam ta lại chẳng sướng sao?
GS Trần Quốc Vượng nói:
Thời ấy xưng vua không khó. Hùng cứ làm vua đất Giao Chỉ trong khi cục diện
phương Bắc nát bét là việc dễ. Nhưng Sĩ Nhiếp không làm thế. Ông bằng lòng, lặng
lẽ với chức quan thái thú, chăm chỉ với những chính sách nông tang mở mang
ngành nghề lẫn mở mang sự học cho dân Đại Việt.
Nghĩ về công lao của Sỹ
Vương, đó như một TẤT YẾU TẤT NHIÊN của LỊCH SỬ VIỆT NAM! Có câu “Bất tương
thành bại luận anh hùng”, nghĩa là “luận anh hùng, chớ kể hơn thua!”. Mặc dù
có truyền thống lấy tên những người xưa được coi là có công với nước đặt cho
tên các đường phố…, nhưng Việt Nam hiện giờ, không có địa danh nào mang
tên Sĩ Nhiếp.
Cả một vùng phương Nam
trải dàì, đất đai Nam bộ phì nhiêu mầu mỡ mà con người thì phóng khoáng và hiên
hậu, có được, là công nhà Nguyễn đó. Nói như GS Trần Quốc Vượng: Kính xin quý vị Sử gia – tạm / gượng gọi là
“đồng nghiệp” của tôi bơn bớt việc “chửi bới” nhà Nguyễn – đời Nguyễn – bắt đầu
từ Gia Long – đi cho tôi và dân chúng nhờ…
*****
 |
| Chùa Bình Văn |
Chùa Bình An (Bình Văn) thuộc thôn Khương Tự, xã
Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tình Bắc Ninh. Chùa nằm trong quần thể di tích
tổ đình Phật giáo Việt Nam. Phía đông là chùa Dâu, chùa Tổ, phía tây là chùa
Dàn, phía bắc có chùa Tướng, phía nam có chùa Đậu. Tương truyền 5 chùa trên nằm
ở đầu năm con rồng và các con rồng ấy đều quy tụ về chùa Bình An, nơi có viên
ngọc tụ linh khí đế vương. Người dân vùng tin rằng, chùa linh thiêng đặc biệt về
học hành. Vậy nên mỗi mùa thi cử, người dân tấp nập đến đây cầu xin.