Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy bút Võ Phiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy bút Võ Phiến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

Chửi



CHỬI

Võ Phiến 

Hồi tiền chiến, báo chí có kể câu chuyện một người ngoại quốc nghiên cứu về lối chửi nhau của các dân tộc, đến Việt Nam, nhân đọc một đoạn văn của Thanh Tịnh, đã nhắn hỏi và được Thanh Tịnh cung cấp cho tài liệu. Nhà khảo cứu nhận rằng tài liệu rất quý báu, lối chửi ở Việt Nam rất xuất sắc, đã gửi biếu Thanh Tịnh một món quà (hình như là cái máy chụp hình?) để đền ơn.

Hiện thời nghe nói linh mục Trương Đình Hòe đang soạn một luận án tiến sĩ ở Pháp về ý nghĩa của cái chửi Việt Nam.

Trong cuốn Ngôn ngữ và thân xác vừa xuất bản, Nguyễn Văn Trung cũng có nghiên cứu về vấn đề chửi tục. Ông mở đầu: "Có lẽ không có dân tộc nào trên thế giới văng tục, chửi tục nhiều và hay như dân tộc Việt Nam." Hay ra làm sao? Không thấy ai phân tích. Vả lại, cái hay cái đẹp là chuyện thẩm mỹ; sự nhận định, thưởng lãm, có thể chủ quan. Kẻ yêu thì cho là hay, người không thích lại chê dở. Chờ cho dứt khoát hãy còn lâu.

Cái nhiều dễ chứng minh hơn. Và nguyên một cái nhiều ấy đã mang nhiều ý nghĩa. Nếu Nguyễn Văn Trung đã so sánh với các dân tộc trên thế giới và nhận thấy người Việt chửi nhiều, thì thôi, không còn gì để biện luận nữa; đó là sự thực khách quan, chửi là một đặc điểm của dân tộc.
Vấn đề chỉ còn là tìm hiểu đặc điểm ấy.

* * *​

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2019

nưk lơi nưk đih . . . thơ lục bát chàm




VÕ PHIẾN
nưk lơi nưk đih . . .
thơ lục bát chàm

tản mạn

                 Có nhà phê bình lấy làm lạ: Trong văn học Việt Nam, việc tiếc thương dân tộc Chàm tàn lụi lại dành cho một cậu bé con. Tập “Điêu Tàn”  được xuất bản năm tác giả mười bảy tuổi : vậy những bài thơ đầu tiên Chế Lan Viên viết ra từ năm mười hai, mười ba tuổi chăng ?
                  Thực ra chuyện không đáng lạ. Ở Bình Định quê tôi, Chàm là một dân tộc đã chết, một dân tộc ma. Mà thế giới ma quái kích thích nhất trí tưởng tượng của các cậu bé: lớn lên, Chế Lan Viên không hay nhắc nhở về Chiêm quốc nữa.

bản trên báo Khởi Hành, ký tên Võ Phiến, ở Sài Gòn trước 1975

                   Nơi Đồ bàn đô cũ, người Chàm còn để lại những di tích và nhiều huyền thoại: những ngọn tháp và nhiều câu chuyện  huyền hoặc về vàng Hời, ma Hời v.v.. lưu truyền trong dân chúng:
         Chế Lan Viên tưởng tượng:
          “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi"
 Hời đã là ma, lại là thứ ma kỳ quái : trong đên khuya, nghe tiếng trống cầm canh, mà Hời nhớ lại cảnh dương gian
            “ Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng
               Nút bao dàng huyết đẵm khí tanh hôi
               Tìm những miếng trần gian trong tủy cạn
                Rồi say xưa vang cất tiếng reo cười “
     Ở Bình định, tôi lớn lên giữa những chuyện hoang đường về một dân tộc ma; vào Bình thuận, gặp một dân tộc sống. Và tôi ngạc nhiên về những người bạn Chàm
       Về những câu thơ mà các người bạn ấy vẫn ngâm nga chẳng hạn.
        Anh M.K.H đọc nghe bài hát ru con :
                “ Nư lơi nư đí ca hoanh,
                   Kla mông pat băc pụ pành ten me.
                   Nư lơi nư ranh đi me,
                   Nư hia nư chó ngá kề hưở nư.”
          Biết qua tài liệu, qua sách vở, rằng người Mường, người Chàm có những điệu thơ giống ta, đó là một chuyện. Còn như một hôm, bỗng có dịp bắt gặp điệu thơ lục bát phát ra bằng ngoại ngữ, do một người đang đối diện, quả là một chuyện khác hẳn. Cảm tưởng bỡ ngỡ, bàng hoàng.
           Điệu thơ lục bát phôi thai từ bao giờ ? Đôi ba nghìn năm trước chăng ? Từ thời đại Hùng Vương dựng nước chăng? Từ khi mới có tiếng nói chăng? Con người thích ngêu ngao sớm lắm. Mà người Việt nam chúng ta, đã ngêu ngao là ngêu ngao theo câu lục bát : mấy nghìn điệu dân ca chẳng qua đều quanh quẩn bên câu thơ lục bát. Âm điệu lục bát dính liền với lối cảm xúc của dân tộc trải từ kiếp nọ đến đời kia . . .
              Câu thơ lục bát chắc hẳn phải được kể là một tronng những biểu lộ cá tính thấm thiết nhất của dân tộc Việt Nam : thơ ấy khác hẳn với thơ Tàu, và nhất mực từ chối mọi ảnh hưởng Tàu trải qua mấy nghìn năm gần gũi. Dễ gì tìm thấy một hình thức nghệ thuật khác giữ được bản sắc vững vàng như nó trước sự tấn công trường kỳ của văn hóa Tàu ? Vậy, lục bát là cái gì hết sức thâm thúy đối với tâm hồn Việt nam.
                 Và, lạ lùng thay, điệu lục bát lại cũng thâm thúy đối với dân tộc Chàm !
                  Một thể thơ phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, đã được mọi tầng lớp dân gian ngâm nga, đã làm cơ sở cho các điệu dân ca v.v. . .một thể thơ như thế nhưng thể được vay mượn, không thể du nhập từ ngoài vào. Nó phải bắt nguồn từ đầu ngay trong cuộc sống dân tộc. Do đó, giữa câu thơ Việt và câu thơ Chàm hẳn nhưng phải có tương quan ảnh hưởng, mà có mối tương quan về nguồn gốc.
                  Nguồn gốc của câu lục bát ? Các nhà khảo cứu văn học nãn lòng trước sự khó khăn xa xôi ấy. Nó thuộc về một thời mờ mịt, tít tắp, mơ hồ. . .Nào ngờ, một hôm, một buổi chiều, trước tách nước mời khách, bỗng dưng bắt gặp một chứng cứ liên quan đến nguồn gốc ấy từ cửa miệng một người vừa bập điếu thuốc vừa nói, một người ngồi trước mặt ta. Bạn cũ cố tri, gốc gác thân thiết từ mấy nghìn năm của câu lục bát Việt nam là đây !
                 Mấy câu thơ trên là tôi phiên âm theo tai nghe. Anh M.K.H viết: Nưk lơi nưk đih ka vành nhưng việc la mã hóa tiếng Chàm chưa thống nhất, tôi chọn lối ghi đại khái, chỉ cốt làm dễ dàng cho độc giả.
   Võ Phiến

Bài “Thơ Lục Bát Chàm” của nhà văn Võ Phiến , đã đăng trên tuần báo Khởi Hành do nhà văn, nhà thơ Viên Linh chủ biên ở Sài Gòn  trước năm 1975.  Không rõ số báo và ngày tháng phát hành, vì sau 30/4/75 bài báo được cắt ra  và lưu, giấu đến hôm nay. Trong các tập tùy bút của nhà văn Võ Phiến  đã in ở Sài Gòn trước 75 không rõ bài nầy có in vào các tập đó hay chưa ?    
Bài viết trên khi in vào tập tùy bút Đất Nước Quê Hương , ông Võ Phiến đã bỏ mấy tiếng Chàm phiên âm ở đầu bài báo do nhà xuất bản Lửa Thiêng  in năm 1973
 Mới đây , trong tháng 6-2012, hai Nhà xuất bản Nhã Nam và Thời Đại đã in lại tạp Đất Nước Quê Hương, nhưng với tựa sách mới : Quê Hương Tôi, và tên tác giả sách không ghi là Võ Phiến mà là Tràng Thiên, dù hai bút hiệu nầy đều của Ông Đoàn Thế Nhơn.
Trong cuốn Quê Hương Tôi, in ở Việt Nam tháng 6-2012,  có  mấy điểm khác như sau:
- Bìa sách ở VN không có hàng chữ ' vinabook.com '
-  Bài Tựa của Nguyễn Hiến Lê bị cắt toàn diện
- Bài Thơ lục bát Chàm  bị cắt mất phần đầu bài có dính dáng đến thơ Chế Lan Viên.
- Tổng số bài trong Quê hương Tôi của Tràng Thiên  gồm 4 phần , tổng cộng 48 bài phân ra ( phần 1 : 17 bài , trong đó có 10 bài in lại của Đất Nước Quê hương thuộc bản 1973 - Lửa Thiêng xuất bản ; phần 2 : 12 bài, trong đó có 10 bài thuộc bản Lửa Thiêng ; phần 3: 12 bài , trong đó có 10 bài thuộc bản Lửa Thiêng; phần 4:7 bài, trong đó toàn bộ lấy từ bản Lửa Thiêng )
Theo bản in ở VN , nơi trang 2 có in : " Xuất bản theo hợp đồng sử dụng tác phẩm giữa Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam và tác giả Tràng Thiên, 2012 ".  
Nhà tùy bút Tràng Thiên chính là nhà văn Võ Phiến tên thật Đoàn Thế Nhơn sinh ngày 20-10-1925 tại Bình Định. (Chu Ngạn Thư)

bản trong Đất Nước Quê Hương, ký tên Võ Phiến,
nhà xuất bản Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1973



bản trong Quê Hương Tôi, ký tên Tràng Thiên,
nhà xuất bản Nhã Nam, 2012

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2019

CỬA SỔ - Tùy bút Võ Phiến


CỬA SỔ
ọn nhà là chuyện vất vả. Hôm dọn đến nhà mới, đêm hôm ấy tôi ngủ mê mệt. Sáng, thức giấc rất muộn: mở mắt ra thấy ánh sáng đã đầy phòng. Từ phía cửa sổ, ánh mặt trời ùa vào chói chang. Hóa ra mình không hề thức dậy; mình bị đập dậy tàn bạo.
Về sau, nhắc lại chuyện ấy, chúng tôi vẫn gọi cái sáng xông vào cửa sổ hôm đó, gọi buổi sáng đó là “Thằng cha Sấn Sổ”. Ngay từ sơ ngộ, sao mà đường đột, ngổ ngáo quá vậy? Cửa sổ phòng ngủ mở về hướng đông. Rồi sẽ còn lắm chuyện với Thằng cha Sấn Sổ. Người ta còn đang sõng sượt chình ình trên gường. Làm gì mà vội vàng xông xáo... Hừm!
Hóa ra không phải thế. Từ phía cửa sổ ấy không phải chỉ có một “thằng”. Ngay hôm tiếp theo, thức giấc thấy yên ắng, êm ru bà rù, tôi nghĩ là không có ai quấy rầy. Chắc thế. Lờ mờ, êm ru, vắng lặng thế này.
Tôi kéo mền lên đầu, định nằm thêm một lát. Không ngờ khi hướng mắt về phía cửa gặp ngay “nhân vật” về sau mang tên “Gã Mặt Mốc”. Màu trời phương đông, ngay ở chỗ đáng lẽ mặt trời xuất hiện, lúc ấy lại toàn một màu xám nguội, như tro. Khoảng mây xám ấy cứ thản nhiên hướng mặt vào khung cửa sổ. Thản nhiên. Bất cần. Hừm! Mặt Mốc!
Sau đó, lần lượt: Thằng Ủ Ê, cô E Ấp, lão Trầm Ngâm, rồi gã Hí Hửng, chàng Hân Hoan, rồi cậu Hả Hê v.v... Không hẹn hò mà hôm nào tôi cũng sẵn một tâm lý đón đợi.
o O o
Sáng hôm nọ, tỉnh giấc muộn. Linh tính khiến mình liếc mắt về hướng cửa sổ. Khung trời xanh nhạt, gợi một cái xanh mênh mông. Cây thông cao đứng không một lay lắc. Sự chờ đợi kéo dài, hờ hững. Một con quạ từ đâu bay đến. Quạ đáp xuống chỗ cuối một cành mềm, oặt qua oặt lại. Con quạ loay hoay, vung cánh, đạp chân lung tung, trật qua trật lại, mãi hồi lâu mới tạm yên. Nhưng nó vẫn chưa tìm được thế đậu ổn định. Chốc chốc quạt cánh, đạp chân, trầy trật...
Trời xanh cao rộng, ngọn thông yên lặng, con quạ loay hoay... Ơ kìa! Linh tính xui tôi bắt gặp đúng cái gì như thể là... hạnh phúc? Bắt đúng niềm sung sướng không ngờ. Đời hay ho quá cỡ.
Chợt tai nghe: “Á a! Á a!” vang lên mấy tiếng.
Tôi ngẩn ngơ, tần ngần. Á a? Á a? Cái gì á a? Trời xanh mênh mông tự dưng cao hứng quá đỗi mà phát lên thế chăng? Hay lại quạ, một con quạ vô duyên đâu đó quác mỏ... á a?
Dù sao, tôi bỏ qua mọi suy tưởng vẩn vơ, tôi tiếp tục vui sướng, vô cớ.
o O o
Vô cớ, đúng là vô cớ. Cớ? biết gán cho cái gì? Cho con quạ vụng về? Cho cành thông mềm oặt? Cho cái sáng hững hờ?... Bậy bạ cả.
o O o
Không nghe nói về kiểu huyệt mộ nào có cửa thông lên trần gian.
Cho đời nhìn xuống, cho người nhìn lên.
Liệu rồi sẽ có kẻ nghĩ ra một kiểu thích hợp cho những hồn ma nhấp nhổm nhớ trần gian?
- Không có? Chán!
1 - 2004

TƯ BỀ NGƯỜI DƯNG - Tùy bút Võ Phiến


TƯ BỀ NGƯỜI DƯNG
hơ Ba Mén của Bình Nguyên Lộc, một hôm nhớ lại vài câu khai từ, kẻ bép xép đã trót vui miệng phun ra mấy câu nhảm nhí. 1
Hôm nay bỗng dưng nhớ ra vài câu khai từ nữa; e không khỏi nhảm nhí thêm nữa.
“Nhìn ghe bỗng chạnh tình quê
Rưng rưng nước mắt: tư bề người dưng.”
Ba Mén thế đấy: ngồi quán uống chơi một cốc cà-phê, trông thấy mấy chiếc ghe thương hồ từ dưới quê mới lên, tự nhiên muốn khóc. Nhớ quê, nhớ quá. Dân là dân Biên Hòa mà lưu lạc tới tận Sài Gòn, xa lạ ôi xa lạ. Cầm lòng sao đặng? Khóc thôi! Khóc về cảnh ngộ tư bề người dưng.
Cảnh ngộ ông Ba Mén xui nhớ tới cảnh ngộ ông Xuân Hiến ngày nào. Năm 75, thi sĩ Xuân Hiến hớt hơ hớt hải bỏ Sài Gòn bôn tẩu. Bay một mạch tới chỗ thị trấn Tacoma ở tiểu bang Washington, thuộc miền tây bắc nước Hoa Kỳ, được cho tá túc tại một ngôi nhà lạ hoắc (cố nhiên). Vào nhà, ngó trong ngó ngoài, thò đầu ra nhìn phố xá. Nhìn xuôi nhìn ngược một hồi, ông kêu:
“Cúi nhìn con phố bơ vơ,
Đất xa lạ đất, trời ngơ ngác trời.”
Ông Ba Mén, ông Xuân Hiến, hai ông đều đáng thương cả. Giọng nói đều thấm thía chân tình cả. Thảm não quá chừng. Đời sau hẳn phải có thơ. Chẳng hạn thơ rằng:
“Nhất ông Ba Mén
Nhì ông Xuân Hiến
Tha thiết tình quê
Người người biết tiếng.”
Ông Ba Mén ông Xuân Hiến, hai ông cùng nói một điều. Là con người nhất sợ cái lạ. Không gì kinh hãi bằng bị nhích ra khỏi chỗ quen thuộc.
o O o
Ấy vậy mà con người bắt đầu cuộc đời bằng một đối đầu đột ngột với cái lạ.
Mỗi chúng ta thuở mới đến đây là nghìn lần mạo hiểm hơn ông Kha-luân-bố. Từ chỗ không đến chỗ có: tuyệt đối lạ. Ánh sáng mênh mang — món lạ đầu tiên — khiến hoảng hốt. Liền khóc lớn; khóc oa oa, khóc oe oe. Xung quanh, kẻ lạ cười ầm ĩ.
Lớn lên, càng trông càng nghe càng thấy xa lạ. Trời xa lạ, đất xa lạ. Là “dưng” cả. Mặt nước rộng dửng dưng, vòm trời dửng dưng bất động. Núi non xa cách dửng dưng; con kiến con dán gần, bận rộn không ngừng, cũng là kiến dán dưng thôi. Mây trôi dửng dưng, nước chảy dửng dưng... Ai lo phận nấy, đâu có phần đấy. Tư bề đều dưng.
Mỗi chúng ta bơ vơ sợ hãi, quơ quào lạng quạng, túm níu bám bậy bám bạ vào bất cứ món gì trong tầm tay để có một cái gần gũi, tin cậy, để tìm chút an tâm. Kẻ bấu vào bụi chuối sau hè, người gốc tre cuối vườn, kẻ cây đa đầu làng, người níu một chéo áo bà con, một góc mảnh vải gọi là cờ, một sắc da một màu tóc, một thói quen truyền kiếp, một tục lệ, một thành kiến, một sợi tơ một mạng nhện tư tưởng mong manh, một danh từ rỗng tuếch v.v... Lụp chụp bấu víu vội vàng, trượt tay, lại quýnh lên chộp bấu vào món khác. Giành giật nhau, xô đẩy nhau, kêu la chí chóe. Loay hoay mấy chốc, vừa đầy bảy, tám chục năm. Có thể trăm năm. Rồi trượt tay, “đi” luôn.
Đi đâu? Tất nhiên không phải đến một chỗ quen thuộc nào cả. Từ các chốn thiên đường, nát bàn, từ khắp các cõi ba nghìn thế giới, ai nấy tha hồ khóc, khóc rưng rưng, rồi khóc nức khóc nở, nhớ về bụi chuối sau hè, về cây đa đầu làng... Nhớ tha nhớ thiết.
o O o
Mỗi chúng ta trượt tay bám víu, lần lượt ra đi, gửi lại mớ xẩu vùi giấu đâu đó dưới mặt đất. Năm này qua năm khác qua, bên trên mặt đất vẫn tiếp tục:
“Tư bề rầm rập hội người
Tiếng chân xuôi ngược tiếng cười râm ran
Trời xanh gió nhẹ thênh thang...”
Thênh thang cách dửng dưng. Tất cả cùng tiếp diễn một cách dửng dưng.
Nghìn năm sau (năm bảy chục nghìn năm sau nữa cũng nên), có gã đào đất xem đời cổ sơ, gặp chiếc sọ vớ vẩn, bốc lên ngắm nghía: “Ơ hơ! cái này trông lành lặn đa”. Từ thế giới ba nghìn trông xuống, thấy khắp cùng. Ta thấy, và giật mình đánh thót, kêu la rối rít: “Kìa, của tôi đấy. Sọ tôi đấy mà...”
Thoắt cái, đã sà ngay xuống. Trông gần, ta sững sờ. Chiếc sọ với các lỗ hổng, trống hoác trống trơ. Ta nhìn sọ, sọ nhìn ta không một biểu thị. Đôi bên đã hoàn toàn xa lạ. Sọ là sọ “dưng” rồi. Tất nhiên toàn thể mớ xẩu đều thành xẩu dưng luôn, mất hẳn tinh “của tôi” không biết tự lúc nào.
12 – 1998
Chú thích
1 ‘Cô Quì còn không?’ (V.P.)

CÔ QUÌ CÒN KHÔNG? - Tùy bút Võ Phiến


CÔ QUÌ CÒN KHÔNG?
ình Nguyên Lộc có tập truyện bằng văn vần, gọi là THƠ BA MÉN. Truyện ấy hình như chưa bao giờ xuất bản. THƠ BA MÉN là thơ thế nào, tôi không biết. Chỉ tình cờ biết qua lời khai từ, trên vài chục câu. Và chỉ nhớ vài câu:

“Ghe ơi, vài bữa ghe về
Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?”
“Ghe ơi”, ghe ấy tức những chiếc ghe thương hồ đậu ở bến sông Ông Lãnh một buổi sáng mưa dầm. Trong thời chiến tranh, chốn nông thôn bất an, lắm kẻ bỏ quê lên tỉnh sinh sống. Trong số những kẻ ấy có người đã yên thân làm ăn ở Sài Gòn; nhưng thân có yên mà lòng chưa chịu yên. Những hôm mưa rơi nhẹ nhàng, tiết trời lành lạnh, người nọ ra bến sông, ngồi uống tách cà-phê nóng ở một quán nhỏ, nhìn lũ ghe thương hồ từ dưới quê chở nông phẩm lên bán mà nhớ về làng xóm cũ. Ghe đi vài bữa ghe về, mà mình thì biền biệt, nhớ cô Quì muốn chết. Một ông khách bới tóc (tức cũng người gốc quê) ngồi bàn bên cạnh liếc sang có trông thấy người nọ khóc trộm. Thảm quá.
Vì bấy nhiêu mà tôi không quên được thơ Ba Mén. Mà tôi bị thơ Ba Mén ám ảnh.
Áng chừng người nọ bỏ quê ra đi cũng không lâu mấy. Cô Quì vẫn còn gọi được là cô Quì thì xa cách có gì là lâu. Xa như chúng ta — một số đông đảo trong chúng ta, những kẻ rời bỏ xóm làng từ tuổi đôi mươi cho đến tận cuối đời — xa nhau đến thế thì nhớ về người cũ đâu còn nỡ gọi nhau là cô! Từ lục tuần thất tuần về sau, dẫu có còn đấy các cô Quì cũng thành ra cụ Quì cả thôi.
Đàng này, mới tách lìa nhau đấy đã mếu máo, đã rối rít: “Cô Quì còn không?” — Làm gì mà chả còn. Lo sao lo quá lắm vậy.
o O o
Giờ tạm gác qua chuyện tuổi tác, tuổi cô tuổi cụ.
Trước, hãy nói về những cô Quì muôn thuở. Muôn thuở và muôn phương luôn. Những cô Quì làm cuống quít người khác phái khắp cùng đó đây.
Sống giữa Sài Gòn, ngày ngày lội ngược lội xuôi các con phố đông nghìn nghịt, bộ người đàn ông nọ không gặp được cô nào vừa mắt, khả dĩ sánh với người dưới ruộng sao? Sức mê hoặc nằm ở chỗ dưới ruộng chăng? Chốn lâu đài phố xá là không đáng kể, phải gốc “dưới ruộng” mới hấp dẫn chăng? — Giả thiết ấy nghe rối trí quá. Trong kháng chiến, có những kẻ bỏ thành đi khu lại quay quắt nhớ về mấy bóng hồng ở một căn gác nhỏ ngay tại Hà Nội:

“Gác Dì Năm thuở ấy họp bình thơ
Người trong cuộc bây giờ đâu nhạn cá?”
Nguyễn Tuân đấy. Vũ Hoàng Chương đấy. Quê nhớ thành đấy.
Cô Quì không nhất thiết ở một nơi nào. Có thể tin rằng người bỏ Cà Mau đi làm ăn xa thì nhớ da nhớ diết cô Quì Cà Mau, kẻ di cư rời Phát Diệm Bùi Chu thì mơ tưởng bóng hình cô Quì Bùi Chu Phát Diệm... Ở đâu mà không có một cô Quì? Cô Quì ruộng, cô Quì thành, cô Quì da đen, cô Quì tóc vàng, cô Quì Trường Sơn, cô Quì Vàm Cỏ, cô Quì Hương Giang, cô Quì Trèm Trẹm, cô Quì thảnh thơi giữa đồng xanh bát ngát, cô Quì tơi tả dưới bom đạn mịt mù v.v... Cô nào cũng là cô độc nhất vô nhị trên đời, tuyệt không thể thay thế được. Tách rời một cái là tha hồ đau lòng mỏi miệng như con cuốc cuốc cái gia gia.
Ông Trời khôn ngoan, láu lỉnh, đã đặt để ra như thế. Nếu không thế sẽ không có cách nào ngăn cản nổi người giết sạch người. Nếu trên thế gian chỉ có một người đẹp thôi thì chúng sinh còn có cách giải quyết nào khác cách giết nhau? Cho nên người độc nhất phải là người vô số. Mầu nhiệm thay.
o O o
Thuở thơ ấu ta đã có mắt tinh vi, thấy được con dế trốn dưới cỏ, thấy ổ sáo con nằm sâu trong bộng cây, thấy từng cái kẹo trong túi áo của bà nội bà ngoại... Chớm tuổi đôi mươi thì ta có mắt thần.
Gậy tiên chỉ vào, hòn đất hóa cục vàng. Gậy tiên quí vậy nên cực hiếm, nên huyền hoặc. Mắt thần càng quí hơn, nhưng mỗi người mỗi có. Con bé hàng xóm vẫn gặp nhau hàng ngày, vẫn tranh nhau trái me trái ổi cãi cọ chí chóe; lớn lên, một ngày nào đó ta được trao cho mắt thần, trông lại con bé bỗng ngẩn ngơ: Cô Quì đây rồi.
Cô Quì xuất thế, mọi sự đổi thay. Ta vừa mở cánh cửa bước sang một cuộc đời khác. Ta trông ánh sáng cách khác, nghe tiếng gió thổi cách khác. Ta biết những cảm xúc mới lạ, những cảm xúc chưa từng. Nhìn lại từng bộ phận nhân thể của chính mình, ta ngỡ ngàng. Ta không còn nhận ra ta nữa: ta thay đổi từ vóc vạc, giọng nói, cho tới cái hơi thở. Ta như con rắn lột da, thành con rắn khác.
Ta đối với ta còn thế, huống hồ đối với người khác. Cho nên cô Quì là một khám phá: dẫu gần gũi cũng hóa ra mới lạ. Làm ta ngây ngất, mê tơi. Nhờ mắt thần, mỗi chàng trai đều có được một cô Quì tuyệt vời.
Nguyên một sự thay đổi ở ta đã thế, huống hồ laị có sự thay đổi cùng lúc về phía cô Quì. Thì ở cô cũng có chứ sao không? Đến tuổi ấy, cô mở mắt trông ta, bỗng ngạc nhiên, bỗng đắm đuối. Ta đã thành một cậu Quì rồi. Cô ấy với cậu ấy, chao ôi!
o O o
Trên thế gian vẫn có bày sẵn nhiều món quí. Tạm ghé nơi này trong chốc lát, chúng ta được thết đãi tử tế. Thượng Đế đâu có bỏn xẻn. Nhưng hoa quả thịt cá, có ăn mới thấy ngon; rượu, có uống mới thấy khoái; thuốc, có hút mới thú, mới đã. Cô với cậu thì chỉ có nhau, chỉ bên nhau, là hoan hỉ đã vô ngần. “Em đi chàng theo sau”. Thế là “em” đã vui sướng, đã mở hội trong lòng, đã cuống cả chân. Em đi, em có làm gì chàng đâu? chàng có làm gì em đâu? Em là gái nhà lành, gái khuê các, em là con nhà gia giáo, chàng con nhà lễ nghĩa. Không hề có chuyện lườm qua liếc lại, cười qua cợt lại; chỉ mới bén cái hơi là mê tơi rồi. Chỉ một cái hơi bên cạnh. Chỉ có em đây có anh đấy, chỉ là “có”, tức khắc sảng khoái cả tinh thần rồi. Rượu với thuốc phiện mà đến ngồi bên cạnh đã hả hê được à?
Đến đây đâu đã hết cái hay ho của cô với cậu. Trẻ với kẹo: chỉ có trẻ yêu kẹo, kẹo không yêu trẻ. Người với rượu: chỉ có người nghiện rượu, rượu không nghiện người. Xưa nay không ai bắt gặp có kẹo nào náo nức trong hũ trong lọ. Không ai bắt gặp rượu nào xôn xao rạo rực trong ve. Đàng này, cô với cậu thì... ối, không gian như chứa đầy những tín hiệu tìm nhau xao xác. “Không gian như có dây tơ”. Trai gái mỗi bước mỗi vướng chạm cái mạng tơ giăng tình cảm. Cứ ra khỏi cửa là háo hức tưởng chừng nơi góc phố này ngã ba kia, con hẻm kia vườn hoa nọ... đều có thể gặp một mối tình đang lấp ló đợi chờ. Nơi này một ánh mắt chỗ kia một nụ cười. Trong sương sớm, trong nắng vàng, đều có thể phục sẵn những tình cảm vu vơ mà nồng nàn. Những mối-tình-khả-dĩ rập rình đợi khắp đó đây.
o O o
Thế rồi mai kia, từ một nơi xa hơn bờ sông Ông Lãnh — vâng, có phần xa hơn — từ một nơi thái thậm an lạc, tuyệt đối an lạc — nơi cực lạc — ta thẫn thờ nhớ về một cốc cà-phê bất khả. Bất giác buột miệng kêu: “Nhắn người dưới thế, cô Quì còn không?” Rồi bật khóc nức nở. Bấy giờ Thượng Đế ngồi cạnh (tựa như ông già bới tóc trong quán thuở nào), Thượng Đế lòng lành liếc thấy, tha hồ ái ngại xót thương. Cô Quì còn không? — Thì vẫn còn. Cô Quì của thiên hạ vẫn còn hoài dưới thế. Vẫn mặt hoa da phấn. Phây phây khắp nơi. Tóc bay trong gió. Mắt long lanh. Mắt lúng la lúng liếng... Ôi cái nhớ của kẻ xa xôi, nhớ quay nhớ quắt, nhớ da nhớ diết. Vô phương giải cứu. Ông Trời già bên cạnh mỗi lúc mỗi bồn chồn xót thương. Vô phương.
Cái nhớ ấy, sánh với nó họa chăng chỉ có cái nhớ của cụ Quì hướng về cậu Quì. Cụ Quì (hoặc bới tóc hoặc không bới tóc), lù khù lọm khọm, âm thầm trong tuổi già ở trần gian, thỉnh thoảng ngẩn ngơ sực hỏi: “Cậu Quì ngày nọ... Đâu rồi cà?”
Một cái nhớ da diết, sánh với một cái nhớ quá đỗi hắt hiu.
10 – 1998

HOAN CA - Tùy bút Võ Phiến

HOAN CA
ừ hồi nào tới giờ tôi vẫn khoái câu hát xẩm ấy:

“Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai v.v...”
Cứ thế buồn miết. Tháng nào cũng buồn. Dân tộc tôi ham buồn và kính trọng cái buồn. Tuy vậy, trong trường hợp này, thực tình mà nói tôi không khoái vì nỗi buồn. Mà vì chuyện nằm nghiêng. Không biết trời xui đất khiến thế nào một ý kiến ngộ nghĩnh như thế lại nảy ra trong đầu óc một nghệ sĩ nào đó xa xưa. “Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài”. Ngộ quá!
Một người có thể nghe câu hát ấy với đôi tai hờ hững là một người đắc tội. Người như vậy giá một hôm tình cờ có gặp trên đường vài con ngựa rủ nhau khiêu vũ trên sáu chân cũng không lấy làm ngạc nhiên, có trông thấy chiếc cầu vồng mười tám màu cũng không lấy làm ngạc nhiên. Tức là một người không chịu xúc động trước bất cứ biểu thị ngoạn mục nào của cuộc sống, của trời đất. Đối với người ấy, Chúa có ra sức làm phép lạ cũng vô ích thôi. Đối với người ấy, không có cái gì là lạ.
Câu hát nọ, lâu lâu tôi tưởng tượng dông dài, và càng khoái thêm. Câu lục bát “con chim cái cú” đâu phải do một nghệ sĩ bất thần nghĩ ra, rồi viết xuống, rồi rung đùi một mình? Đó là bài hát mà. Một người hát, trăm người nghe. Một người hát, hát biết mấy trăm mấy nghìn lần, trước biết bao nhiêu thành phần đối tượng khác nhau: ở hè phố, trên bến tàu, ở đầu chợ, mép sông v.v... Tức là đã chịu hằng hà sa số cuộc thử thách, và đã vượt qua tất cả. Giả sử trong một lần nào đó nó xuất hiện mà có kẻ thắc mắc, buột miệng kêu “kỳ cục”, thì bài hát đâu có lưu truyền được lâu? Không. Tôi tin không hề có lời thị phi nào về con cú nằm nghiêng, con cú thở dài cả. Tôi tin nó chỉ gặp toàn sự tán thưởng. Cho nên nó cứ nằm nghiêng một mạch luôn mấy trăm năm. Hẳn là nó phải lấy làm đẹp lòng. Mà tôi thì đắc ý về chỗ mình đã bắt kịp cái khiếu thưởng ngoạn khoáng đạt của đồng bào mình. Tôi hí hửng như thế cho đến gần đây, sau chuyến đi chơi Hạ-uy-di về, tự dưng có “vấn đề”.
Cũng bài hát ấy:
“Buồn về một nỗi tháng năm
Chưa đặt mình nằm gà gáy chim kêu.”
Nỗi tháng năm làm tôi ái ngại quá chừng. Ca hát kiểu ấy là có ý trách đêm ngắn ngày dài. Là phiền lòng về chỗ con chim con gà nó bắt đầu sinh hoạt quá sớm. Là ham cái ngủ mà chê cái sống. Sao vậy cà?
o O o
Hạ-uy-di đêm tháng năm cũng ngắn. Tôi chắc nó phải tận lực bình sinh co rút hết sức, cho cùng cực ngắn, vì áp lực thôi thúc; thế mà người ta vẫn cứ sốt ruột.
Trời chưa kịp sáng, mới bốn giờ bốn rưỡi gì đó, một sự rậm rật vô ý thức đã đánh thức tôi dậy. Nằm nán một lúc, trông qua cửa kính, thấy ánh sáng bên ngoài đổi màu. Không chỉ còn là ánh điện. Có một thứ ánh sáng gì khác hẩng lên rồi, không biết từ lúc nào. Và tai cũng bắt gặp những khua khuống không thường. Đêm Hạ-uy-di nó vẫn vậy sao? nó không lúc nào an giấc cả sao? Không phải gió dữ lộng hành, không phải mưa xối tầm tã. Chỉ là những tiếng động khẽ thôi, rời rạc thôi, nhưng cũng đủ chứng tỏ rằng đêm Hạ-uy-di ngủ cứ chập chờn, làm cho mình cả thẹn về giấc ngủ nặng nề của mình, ngủ một mạch tù tì luôn mấy giờ qua; thức giấc, khoác mền ra, dưới cổ ướt nhâm nhấp mồ hôi. Mình ngủ nghê cách nào mà thô tục thấy rõ.
Chợt có tiếng gì như tiếng huýt sáo mồm? Tiếng mỗi lúc mỗi lớn thêm rất nhanh. Không còn ngờ gì nữa. Tôi xô cửa, chạy ra bao lơn, nhìn xuống. Một người đàn ông bưng cái khay nhựa, trên có năm chiếc ly nhựa đậy nắp trắng toát, bước nhanh qua trước cửa phòng tôi. Đó là một người vạm vỡ mà thấp, da đậm màu, mình trần, ngực nhiều lông, chân mang dép. Thoáng trông thấy bóng tôi xuất hiện, ông ta ngước mặt lên, giơ bàn tay phải với ngón trỏ và ngón cái khoanh một vòng tròn: dấu hiệu “Tốt. Tốt lắm.” Cái gì tốt? Ông ta giải thích vắn tắt: “Ở hành lang khách sạn.”
Tôi tự trách mình chậm hiểu. Cái gì xảy ra ngoài chỗ hành lang vào giờ này? Tất nhiên một người đang huýt sáo mồm bước đi nhún nhẩy thế kia không thể loan một tin tức án mạng. Vậy thì ở chỗ hành lang phía mép bể kia đang diễn ra một vũ hội bán phần loã thể chăng?
Tôi vội vội vàng vàng, đánh răng súc miệng qua loa, chải tóc qua loa, bương bả đi về chỗ mách bảo, bụng bảo dạ: “Ấy. Những món vũ như thế dám chấm dứt cấp kỳ trước khi bình minh ló dạng lắm đa. Thì con người tốt bụng nọ không phải đã mang tấm lưng trần về phòng rồi đó sao? Biết bao tấm lưng nõn nà khác đang lẩn trốn? Không khéo lỡ hội Long Hoa mất!”
May quá, tôi không hề lỡ hội. Tôi đến nơi, chen vào giữa đám người hớn hở, chào mừng nhau, chúc tụng lẫn nhau, nói cười hể hả, trong khi chờ đón nhận một ly cà-phê nóng hổi, hoàn toàn miễn phí. Trong khoảng hành lang đèn đuốc sáng trưng, ai nấy rộn ràng, lăng xăng, kẻ rắc vào ly thêm tí kem, người rót chút sữa, kẻ khuấy đường lia lịa... Ánh điện thì sáng choang, không khí thì thơm lừng: tôi không tưởng tượng ra một khung cảnh bình minh nào kích thích hơn. Cái hoạt động vào lúc mặt trời chưa kịp ló dạng, trong một gian phòng ngào ngạt mùi cà-phê, là một cảnh hoạt động lạ lùng, nó làm phấn chấn hẳn con người. Lao vào đám người ấy, tôi bị cuốn phăng tới, tôi quên mọi chuyện: Mình có thực sự cần cà-phê không? có phải đang định đi kiếm cà-phê mà uống không? uống gấp gáp hối hả vào giờ này để làm gì? để kịp một chuyến khởi hành quan trọng nào? kịp bắt đầu một công tác khẩn trương nào? Không thắc mắc về ba cái lỉnh kỉnh ấy, tôi xông vào làm theo mọi người: cũng bốc ngay một cái cốc, cũng vồ lấy chiếc que, lọ đường, bình sữa v.v..., cũng khuấy lia khuấy lịa. Vô ý thức, tôi hoạt động vì hoạt động (cũng như nghệ thuật vị nghệ thuật).
Có cốc cà-phê trên tay, lững đững bước tới cửa, bấy giờ tôi mới ngớ ra: Đi đâu? Về lại phòng mà ngủ tiếp chăng? Mua tờ báo, bật đèn lên ngồi đọc chờ sáng chăng? Quay trở lại chỗ hành lang rộn rịp này, kéo chiếc ghế ngồi nhấm nháp chăng?...
Chợt một ý kiến nảy ra: tôi theo chân mấy người vừa vượt qua mặt, rẽ về phía bãi bể. Ở đó tôi bắt gặp ý nghĩa của một buổi sáng tháng năm, vào cái lúc “gà gáy chim kêu”. Ở đó, quặt một tay vớ chiếc ghế nhựa kéo đến bên một gốc cây bàng, sửa ghế cho ngay ngắn, tôi ngồi xuống, gác chân lên một gốc cây khô chưa kịp dọn nằm cạnh đấy, tay kia nâng cốc cà-phê lên tợp liền mấy tợp, hít hít cái mùi cà-phê trộn lẫn với mùi sương mai mùi nước bể, rồi ghếch mỏ nhìn mông ra mặt nước với chân trời..., đột nhiên tôi “ngộ” cái nghĩa sống trên cõi đời quí báu. Tôi ngộ cái một, không kịp tốn một sát-na suy tưởng nào.
o O o
Bạn định hỏi tôi bãi bể ở chỗ ấy nó đẹp cách nào? cát nó phẳng nó mịn ra làm sao? màu trời ở đấy xanh kiểu nào? cái gió cái mây buổi mai ấy nó đặc biệt ra sao? v.v... Phải vậy không? — Ấy, đừng! Bạn đừng hạch hỏi, tra vấn nhiều quá. Lỡ tôi bốc lên tán bậy huyên thiên, phải tội chết. Tôi là kẻ yếu lòng. Hứng lên rất có thể tôi khoác lác, khiến thiên hạ bực mình. Ai mà không bực mình khi bị những lời lẽ ba hoa thiên địa vã tới tấp vào tai? cái ba hoa của một kẻ đi chưa được nửa ngày đường đã đòi rùm beng.
Bạn hỏi là kẹt cho tôi! Vả lại không cần hỏi ai cả. Bạn chỉ cần đến đấy, một chỗ xa cách mọi công việc bận bịu, ngồi xuống nơi lằn ranh giới giữa đất và nước, vào cái giờ ranh giới giữa đêm với ngày, thế thôi. Thế là tất cả năm giác quan của bạn sẽ bỏ phiếu theo tôi, theo cảm tưởng của tôi. Cái làn da của bạn nó vui, lá phổi của bạn nó phập phồng phởn phơ, từ cái tai cái mắt cái mũi, cho đến cái thần trí của bạn, tất cả chúng đều thấy khinh khoái. Bạn sẽ thông cảm với tôi ngay.
Lúc này tôi không dám giấu bạn điều gì, và xin thú thực rất khẽ vào tai bạn: Bấy giờ tôi chẳng hề có được một ý nghĩ nhỏ nào trong đầu, cũng không hề triển thi một môn thuật nào, hoặc hít khí hạo nhiên đưa thẳng vào đan điền nhốt lại, hoặc vận khí công chuyển lang thang khắp huyệt nọ huyệt kia v.v... Bấy giờ tôi rổng như cái xị mà một tửu đồ vất ra sau khi nốc cạn giọt đế cuối cùng. Tôi ngồi trống trơ hàng giờ. Xung quanh tôi cũng thế: chỗ này một chiếc ghế trắng, chỗ kia vài chiếc ghế khác chiếc xanh chiếc vàng v.v..., trong cái nhá nhem trước bình minh những khối đen lù lù ấy cũng lặng lờ, cũng im thin thít như tôi, cũng thỉnh thoảng làm một tợp cà-phê, hít một khói thuốc. Và chúng tôi cứ thế mà... sung sướng. Sung sướng cùng mình.
Bạn không tin? Vâng, bạn đừng tin điều gì trước khi bằng cớ được trưng ra. Và bằng cớ thì lúc trời dần dần hửng sáng, tôi bắt đầu góp nhặt đây đó được dăm ba cái cớ để trình bạn. Tôi không phao truyền một tin lành, một niềm vui vô căn cứ. Xin trình:
Thoạt tiên là những mẫu tàn thuốc quanh chân ghế. Nhiều lắm. Trông bẩn mắt lắm, bạn ạ. Bẩn mắt mình, và nhất định là bẩn mắt luôn đám quản lý khách sạn. Tất nhiên phải có nhân công thuê làm công việc dọn tàn thuốc cho sạch sẽ khoảng bãi bể trước mặt khách sạn. Nhưng không cách nào dọn kịp. Không phải vì lẽ ở Hạ-uy-di tàn thuốc nó có tài đẻ thêm tàn thuốc tới tấp. Mà chỉ vì sự sống ở đây nó thao thức không ngừng.
Ngày tháng năm thì dài, mà đêm đến mình vẫn không ngủ được. Ngoài bãi lại có tiếng nói tiếng cười, trên các lối đi cứ có bóng người loáng thoáng, nước bể cứ rập rình mãi, trên trời thì hằng hà sa số vì sao cứ thi nhau sáng, sao lớn sao bé chập chùng nô nức cứ lao nhao như hội như hè giữa thinh không suốt đêm v.v...; ngoảnh qua ngoảnh lại khắp trời đất chưa có thứ gì chịu ngủ cả thì mình ngủ thế quái nào được. Cho nên nếu mình không tham gia một hoạt động nào cho vui nhộn, ít nhất cũng cầm đôi ba lon bia và gói mực khô hay tôm khô gì đó, ra biển với một vài người bạn. Thế rồi người thức thì thuốc điếu chúng nó cũng thức theo, thỉnh thoảng nó lóe sáng một cái trong khoảng bóng tối một tàn cây bàng, thỉnh thoảng một mẫu tàn bị vứt xuống cát giật mình bắn ra mấy tia lửa nhỏ giận dữ. Những tàn thuốc của đêm khuya vừa nhắm con mắt sáng rực của chúng được một lát thì lác đác những mẫu tàn thuốc đón đợi bình minh đã kế tiếp nằm lóm đóm trên bãi.
Sự sống của hôm trước không chịu tắt, chịu nghỉ; sự sống của hôm sau lại không chịu chờ. Nó không kiên nhẫn, nó không nhường nhịn. Nó nhấp nhổm, nó rậm rật, rốt cuộc nó bắt đầu trước cái lúc được phép bắt đầu. Vì vậy mà hôm trước với hôm sau suýt nữa va chạm nhau.
Tàn thuốc lặng lẽ tiết lộ niềm hân hoan của con người, cái rạo rực của sự sống là như thế. Và như thế tôi chợt ái ngại về nỗi tháng năm ở xứ mình. Ở đây ngày không đủ dài cho cái chơi, cái sống; ở mình đêm quá ngắn, không đủ cho một chút nghỉ ngơi. Mình vất vả quá. Thương lắm thay.
o O o
Bạn không thích loại bằng cớ bẩn thỉu vừa được trưng dẫn chăng? Tôi xin trình bạn loại khác vậy.
Lúc ánh sáng còn chưa đủ để nom rõ mặt người, cách tôi chừng chục thước tây có anh chàng hai tay bưng hai ly cà-phê, đã ngồi xuống một chiếc ghế lại còn lấy chân khều thêm chiếc ghế nữa đến bên cạnh. Anh ta ngồi xuống được một lát thì từ trong khách sạn te tái chạy ra một thiếu nữ. A! Cô nàng còn mãi bận nhiều công việc trước chiếc gương nên chậm trễ. Cô phăng phăng lao tới, nhảy tót vào lòng anh chàng Hai Ly, khiến anh ta phải giang rộng cánh tay ra để nước khỏi chao đổ lên người. An tọa vào ngôi vị hạnh phúc xong, cô nàng cười ngặt nghẽo, rồi níu lấy một cánh tay anh Hai Ly, kéo vào tận môi mình một ly để cô ta khánh thành hớp nước thơm đầu tiên trong ngày.
Sau đó, anh chàng hạ hai tay xuống, ôm vòng trước ngực cô bạn. Họ ngồi yên, và sung sướng... cùng mình.
Rồi trời sáng rõ hơn nữa, đủ để tôi đoán con người đang đứng cách tôi ba thước tây là một người Phi-luật-tân. Mái tóc muối tiêu thật ướt, chải lật ngược ra sau, phủ ót. Quần jeans, áo sơ-mi màu vàng tươi; áo quần thật sạch sẽ, khô dòn. Ông bạn cài một chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ gắt lủng lẳng bên hông. Một tay ly cà-phê, một tay kẹp điếu thuốc. Tôi chưa hề trông thấy ai phô diễn sự hài lòng lặng lẽ mà hùng hồn như ông bạn. Hít thật sâu một khói thuốc, khuỳnh rộng vòng tay nâng ly cà-phê lên, nghiêng người cúi đầu hớp một hớp nóng hổi, rồi thở khói ra ào ào bát ngát giữa trời. Ông bạn không đơn điệu: lúc phun khói bằng mồm, lúc xịt khói bằng mũi, lúc ngước mặt lên mà phà, lúc cúi đầu xuống mà thổi v.v... Kiểu nào trông cũng hay ho cả. Không có một kiểu nào hững hờ, máy móc, như cái ăn cái hút đều đều trong cuộc sống thường nhật buồn tẻ. Ở ông bạn, mỗi khói thuốc là một sáng tạo.
Ông bạn đứng thì dạng chân ra. Nhưng ông bạn không đứng yên: một khói thuốc, đi tới mấy bước, đạp chân vào gốc cây nhún thử mấy cái, thu chân về, dạng chân ra; một hớp cà-phê, quay ra, dí mũi giày xuống đất, dấm dứ mấy cái, lại thu chân về, dạng chân ra; ông dùng ngón trỏ đập lên điếu thuốc, dùng ngón út gạt rụng tàn thuốc; khịt mũi, quẫy mạnh đầu, nghiêng mặt dùng lòng bàn tay đỡ cằm thốc mạnh lên một cái, bẻ cần cổ cho máu huyết lưu thông (?) v.v... Và ông bạn cựa quậy đến đâu thì chiếc mũ lưỡi trai cựa quậy đến đó. Khắp người ông bạn là một niềm hân hoan. Không phải thứ hân hoan e dè, mà là thứ hân hoan rậm rật nó không cho phép một đường gân thớ thịt nào được uể oải, được yên nghỉ.
Có điều làm tôi ân hận. Số là niềm vui nọ có sức thu hút cao: mắt tôi bất giác cứ hướng mãi về ông, khiến ông bạn tự dưng cảm thấy bất an. Phun khói thuốc lên trời xong, ông bạn quất một khóe mắt về phía tôi; thổi một khói thuốc xuống đất xong, ông bạn lại liếc qua về phía tôi v.v... Tôi áy náy, rồi sợ hãi, lấy làm phiền lòng về mình, tự trách thái độ khiếm nhã của mình. Tôi vật vã kêu thầm trong bụng: “Oan cho tôi lắm, ông bạn ạ! Tôi không hề có ý chế giễu chút nào. Sự hài lòng về mình, sự hài lòng lộ liễu về cuộc sống, về một khoảnh khắc an lành nào đó của cuộc sống, những cái đó không bao giờ lố bịch cả. Ông bạn hồ nghi về ý nghĩa sự quan sát lén lút vụng trộm chăng? Cái lén lút ấy chỉ nhằm giấu giếm một lòng ganh tị, ao ước, thèm muốn thôi. Ông bạn hãy nhún nhẩy thêm nữa vào, cứ việc ve vẩy thêm nữa, để cho những kẻ xấu tính hay ganh tị, những kẻ ấy uất lồng lên. Tôi sẵn sàng đón chịu sự trừng phạt...”
o O o
Ấy, khi lũ tàn thuốc thao thức tiếp nhau lóe lên ngoài bãi, khi anh chị Hai Ly tọa vị trên ghế mà tưởng trôi trên mây, khi đàn sáo cứ bay lên đáp xuống giữa khoảng bãi cỏ và các ngọn dừa, kêu ong óng vang cả bình minh v.v...; xin tưởng tượng xem: Khi ấy mà tôi còn nằm chình ình một đống trên giường, ngáy ồ ồ, ngủ mê ngủ mệt, ngủ lăn ngủ lóc, mồ hôi mồ kê đầm đìa, thỉnh thoảng mớ mết ú ớ mấy tiếng, ngủ như một đứa trẻ chưa dứt sữa mẹ, như một gã tục tử sau đêm trác táng, say sưa, sau một đêm bài bạc... Hoặc giả như một tên dân thành thị ở lục địa, tất tưởi bôn ba đầu tắt mặt tối vì công việc! Tưởng tượng ra như thế, cái đống lù lù trong phòng một khách sạn Hạ-uy-di vào lúc bình minh trông nó thô tục biết chừng nào.
May mắn làm sao, nhờ một tiếng huýt sáo mồm mà tôi thức dậy gần kịp thời, bắt gần kịp nhịp sống địa phương, mà tôi bắt theo gần kịp ông bạn Phi-luật-tân. Ông bạn, mũ kết đã lủng lẳng cài ngang hông rồi, tức là đã sẵn sàng. Sau bãi bể là cuộc họp, sau cuộc họp là ông bạn chụp chiếc mũ lên đầu, vù luôn. Còn tôi — ấy chết — tôi phải chạy về phòng chỉnh đốn y phục dung nghi, xếp đồ lặt vặt vào túi hành trang, tất cả phải nhanh nhanh một chút để khỏi trễ buổi họp.
Họp cái gì vậy? Chấn hưng kinh tế chăng? Mở rộng tự do chăng? Đoàn kết đấu tranh chăng? — Ấy, đừng có om sòm như thế. Ở đây, chỉ có một đề tài thôi. Mọi hoạt động chỉ nhằm một chuyện: Chơi.
Chiều hôm qua, sau mười tiếng đồng hồ rong chơi hết rừng này bãi kia đến núi gần đồi xa, trở về khách sạn, vừa xô cánh cửa bước vào phòng đã thấy có kẻ nào lòn vào một tờ giấy mời họp. Hứa hẹn có thuyết trình viên kinh nghiện lão luyện. Thuyết trình về... nghề chơi. Đúng tám giờ, người lão luyện thao thao: Bãi nào nông bãi nào sâu? Muốn lặn xem cá màu đáy bể thì đi đâu? Muốn phóng ngựa đồi hoang đi ngả nào? Ăn luau có bao nhiêu nơi tổ chức? Du thuyền chạy ven đảo có mấy hãng chuyên trách? v.v... Nhao nhao hỏi đáp náo nhiệt một hồi; rồi xổ số. Người này trúng hai chỗ ngồi trên trực thăng bay quanh đảo; người khác trúng cái vé cưỡi ngựa xem hoa; người khác nữa trúng vé đi thuyền ra khơi và lặn xem cá v.v... Vỗ tay mừng đôm đốp. Rồi kẻ trúng người không cùng rời phòng họp toả ra, xông vào cuộc chơi cho đến chiều.
Chơi là lẽ sống của kẻ đến Hạ-uy-di, là nguồn sống của người ở Hạ-uy-di. Quanh năm thiên hạ các nơi lũ lượt kéo đến đây vui chơi, mùa hè cũng như mùa đông. Và ở đây trăm nghề hầu hết là nghề phục vụ du khách bốn phương.
o O o
Tôi đến đảo Kauai vào những ngày mà ông Gorbachev thăm viếng Hoa Kỳ. Buổi tối, bật ti-vi lên, vặn ngược vặn xuôi khắp các đài, tôi không bắt gặp bóng dáng nhân vật nọ đâu cả. Chỉ có bãi tắm, có thác nước đổ ào ào giữa cảnh rừng xanh sum sê cây cỏ! Chỉ có những toà khách sạn lộng lẫy chiếm cả từng khu vực mênh mông, với hồ, với rạch đào ngoằng ngoèo cho khách chèo outrigger nhởn nhơ, có đảo nhân tạo đắp lên cho hạc cho công cho trĩ nó múa v.v... Tôi không có ý cam đoan rằng truyền hình Hạ-uy-di tuyệt đối cấm cửa các chính khách; tuy nhiên muốn tìm cho được khuôn mặt ông Gorbachev hay khuôn mặt ông Bush dưới khóm lá bụi hoa nào đó, công phu lắm đa. Chắc là phải chờ đợi lâu lắc, phải kiên nhẫn lắm. Tôi không có đức kiên nhẫn. Sau một ngày đường vất vả, tôi ngủ khò trước khi kịp thấy mặt lãnh tụ hai siêu cường.
Hôm sau, có tin tổng thống Nam Hàn bay sang Cựu-kim-sơn để gặp Gorbachev, làm cho Kim Nhật Thành lồng lộn lên. Tôi lấy làm tò mò quá, đến quầy báo mua một tờ xem thử. Ơ kìa! không hề có những cái nhảm nhí ấy trên báo chí Kauai. Tuyệt không! Garden Island Extra là một tờ báo kỳ cựu ra đời từ đầu thế kỷ; giá có dịp lưu lạc sang ta nó là một bậc huynh trưởng đấy. “Đảo Vườn” là mỹ danh của Kauai, vì đảo này cây cối um tùm xanh tốt như một khu vườn lớn. “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Tờ báo của Đảo Vườn ra mỗi tuần một số mười hai trang. Phần quan trọng nhất (hai trang) dành cho mục gia chánh! (Tuesday’s kitchen. Báo phát hành mỗi ngày thứ ba). Trang một loan các tin chấn động: hoạt động của những ông bà thị trưởng, nghị viên, dân biểu địa phương, của một trại chủ nuôi được con bò to tướng sắp mang đi đấu xảo tại hội chợ nông nghiệp ở Lihue hay có thể tận Waikiki chẳng hạn v.v... Phần còn lại tất nhiên là của nền văn minh vui chơi: lại trượt nước, lại bơi lội, ăn luau, lại câu cá, ngắm cá v.v...
Những ai không theo phép tắc địa phương, không tuân lệ làng, đều bị phạt vạ nặng nề. Thật vậy, tôi quay ra hỏi mua một tờ LOS ANGELES TIMES: một đồng bảy mươi lăm xu! Gấp bảy giá bán tại Eo Ê. Đáng đời những kẻ táy máy, đã đến đây còn đòi bận tâm theo dõi cái vớ vẩn xa vời.
Lệ làng có thưởng tất có phạt chứ. Những tách cà-phê miễn phí phát ra vô hạn định mỗi buổi sáng là thưởng đấy, còn gì nữa? Trước bảy giờ nhà hàng chưa mở cửa bán bữa ăn mai, mà cuộc sống ở Hạ-uy-di thì nó không thể chờ đợi đến bữa ăn mai. Đối với những ai biết hưởng ứng theo địa phương, biết tỏ ra sốt sắng đối với cuộc sống, Hạ-uy-di vui vẻ chiều chuộng ngay. Sau bảy giờ, hạng sống lười sống lĩnh sống uể sống oải uống một giọt là phải trả tiền một giọt. Sau bảy giờ, Hạ-uy-di sòng phẳng như mọi nơi trên thế gian.
o O o
Cái chơi ở đây là cái thiêng liêng.
Tại thung lũng Kakalau thuộc đảo Kauai, trên một ngọn đồi có mỏm đá Tiên Đồng. Kìa, trẻ con làm gì, trông chờ ai mà đến nỗi hoá đá? Trông cha lặn lội trèo non vượt núi đi “giải phóng” chăng? Trẻ con đã làm gì có công lao hiển hách mà nên tượng, mà thành tiên thành thần. Chúng cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân chăng? — Không đâu. Đấy là hai đứa trẻ biết chơi thôi mà. Tục truyền rằng xưa kia vào một đêm trăng có hai tiên đồng xuống trần gian giỡn trăng vui đùa mải mê quên về. Lúc mặt trời lóe sáng, cả hai bị hoá đá.
Trẻ xưa biết chơi, trẻ nay càng biết chơi. Trẻ trai biết chơi, trẻ gái càng biết chơi. Trong một cuốn sách gọi là tiểu thuyết, cuốn Hawaii của James A. Michener, hồi đệ nhị thế chiến một thiếu tá mang quân hàm đại tá giả định trong một phái đoàn Hoa Kỳ sang đảo Bora Bora lo quốc quân trọng sự. Trong những ngày bàn quốc sự, phái đoàn không được mời ở khách sạn đâu. Mỗi vị có một túp lều tranh với một... quả tim vàng. Riêng phần đại tá Hale cô bé tiếp ông chỉ lớn hơn con gái ông có một tuổi. Cô bé mười lăm tuổi nọ được bố mừng tuổi bằng cách cất cho ngôi nhà con con gần bãi bể để vui hưởng lạc thú đến tận cùng thỏa mãn trong thời gian trước khi lấy chồng.
Buổi sáng cuối cùng cùng nhau trên bãi bể cô bé hỏi và được vị đại tá bảo rằng ở lục địa Hoa Kỳ không có phong tục như thế, cô ta buồn xo: “Thật đáng tiếc. Năm tháng qua nhanh lắm mà. Chẳng mấy chốc...” Cô bé chỉ về phía một bà lão đang còng lưng mò bắt từng con sò trên bãi, nói một câu tiếng Pháp theo giọng địa phương: “Et bientôt c’est tout fini et nous ne jouons plus.” 1
Ối Trời! Không chơi nữa thì còn gì là đời! là cuộc sống!
Thế cho nên tiên chơi lấn sang ngày, mà người thì chơi lấn về đêm. Và chơi quanh năm...
“Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè...”
Tháng tư, tháng năm, tháng sáu..., cứ thế chơi miết. Tất cả sẽ thành tiên đồng tiên lão. Ở đây không có sự phân biệt: Thứ bảy chủ nhật là ngày nghỉ ngày chơi đã đành. Thế thứ hai là ngày gì? Là ngày phè phỡn đấy. Còn thứ ba thứ tư, là những ngày gì? Thưa, là những ngày nhởn nhơ... Ngày nào cũng là ngày của Chúa cả, xin đừng phân biệt. Hãy hỏi ông thuyết trình viên lão luyện ở các cuộc họp tám giờ mai thì biết. Ôi, Hạ-uy-di!
Ở Hạ-uy-di nếu có ngày kiêng cữ, có một tháng ngừng chơi, tất xảy ra trục trặc lớn ngay. Trăm nghề sẽ bị chấn động to. Sinh hoạt xã hội tha hồ điên đảo. Đảo Bora Bora của cô bé Tehani nọ chính là quê xưa đất tổ của dân Hạ-uy-di. Xứng nguồn xứng ngọn lắm.
Từ Hạ-uy-di nhìn về nguồn như thế; từ Hạ-uy-di nhìn ra ngoài vũ trụ xa xăm cũng có thể bắt gặp một lời nhắn nhủ như thế lắm. Viễn vọng đài Keck từ ngọn núi Mauna Kea vừa chụp hình được giải thiên hà NGC 1232 nào đó cách quả đất 65 triệu năm ánh sáng. Mỗi năm ánh sáng là cả một khoảng cách chúng ta ước chừng sáu nghìn tỉ dặm đường đấy.
Viễn vọng kính đài Keck là cái kính mạnh nhất, lớn nhất thế giới hiện thời. Thành thử tại Hạ-uy-di, chúng ta có khung cửa sổ lớn nhất để loài người nhìn ra vũ trụ, ra cái Mênh Mông hãi hùng. Cái Mênh Mông còn có lời nhắn nhủ nào khác lời bé Tehani!
Giữa Mênh Mông Vô Thủy Vô Chung, mỗi đêm khuya mỗi mai sớm, bên một mép nước đại dương, tay bưng cốc cà-phê, ngồi mà rình xem cái chân diện mục của từng phút giây. Hồi hộp, run lên vì cái rạo rực ngấm ngầm trong mỗi phút giây. Chẳng phải là điều nên làm sao?
12 - 1990
Chú thích
1 “Chẳng mấy chốc mọi chuyện qua đi và chúng ta sẽ chấm dứt cuộc chơi.

ỔI TÀU - Tùy bút Võ Phiến


ỔI TÀU
ạn hiền,
Bạn đang cười ré lên đấy chứ gì? Bạn nên tiếp tục. Tốt lắm. Đời “di tản”, cười được lúc nào hay lúc ấy. Giờ này bạn tha hồ thích thú. Bạn thích thú về sự lố bịch của tôi: “Tên này chúa nhảm. Chưa chi đã dạy đời! Bảo người ta bôn chôn, rồi mình cũng nhấp nhổm như gái ngồi phải cọc. Sao không cố bám luôn lấy đất ấy mà an cư lạc nghiệp?”
Tôi không chối cãi vào đâu được. Dù không có một trí nhớ tốt, tôi cũng chưa quên lá thư ấy. Hồi đó, mới mấy tháng trước đây, bạn thay đổi địa chỉ liền liền, quả tôi có cảnh cáo bạn về một số hậu quả không hay của sự lăng quăng. Tôi nói năng y hệt một kẻ biết điều, khôn ngoan, chín chắn, lúc nào cũng làm chủ được mình, không để cho những phút yếu lòng, những cơn hứng bất tử lung lạc. Thế rồi thoắt cái, bây giờ bạn bắt gặp quả tang tôi cũng lại dọn nhà ra đi.
Vâng, bạn cứ cười. Chỉ cần giơ phong bì lên, so hai cái địa chỉ cũ và mới, thấy ngay tôi đã đi một mạch ngót hai nghìn dặm đường. Từ Trung Bắc tới tận Tây Nam nước Mỹ. Thế đáng gọi là một cuộc chạy dài.
Gần đây, tôi vắng thư. Mãi bận rộn vì cuộc chạy dài ấy tôi không viết được cho bạn. Hôm nay phải trở lại với bạn chút ít về chuyện nam di đấy. Không phải là để cắt nghĩa. Ối! “Ai đi cắt nghĩa được thiên di, có nghĩa gì đâu... cứ việc đi”. Thế thôi. Mạnh bạn bạn ngược xuôi, mạnh tôi tôi ngang dọc, mới đến xứ này, hãy cứ nhốn nháo như thế trong ít năm đầu, rồi sau sẽ hay.
Tuy không hẳn là cắt nghĩa được lý do tại sao tôi quyết định về sinh sống ở miền nam, nhưng đây cũng là một chuyện có liên quan đến việc nam di. Thật vậy, hôm đó khi lần đầu trông thấy nó trên đường xuống Cali tham quan, tôi đã biết ngay mình không thể cầm lòng được. Thế nào rồi cũng phải xuôi nam thôi.
o O o
Tôi bắt gặp “nó” trước tiên ở tiểu bang Utah.
Hôm ấy chúng tôi đến thủ phủ tiểu bang thì trời vừa chạng vạng tối. Nghe nói ở đây có nhiều cái hay: có niềm tín ngưỡng riêng, có nước mặn giữa đất liền, có đàn ông đèo bòng dăm bảy khối hạnh phúc v.v... Dừng chân lại đây một đêm để học lấy đôi ba sàng khôn hẳn là điều rất đáng làm.
Thoạt tiên chạy ngang chạy dọc mấy vòng cho biết qua mặt mũi Salt Lake City, rồi chúng tôi tìm vào một khách sạn. Kê xong mấy khoản khai báo trên mẫu giấy ghi danh tá túc, tôi xoay người lại, sắp sửa rời cái quầy nơi văn phòng thì tầm mắt chợt hạ đúng vào chỗ bồn hoa giữa sân. “Ơ kìa, ngộ chưa! cái gì lạ vậy cà?” Tôi vội vàng đến nỗi suýt tông cả người vào tấm kính lớn ngăn cách văn phòng khách sạn với sân cỏ.
Quả nhiên tôi không lầm. Ra đến giữa sân, tôi đứng sững sờ. “Nó” đây rồi. Thực “nó” đây rồi. Làm sao có thể ngờ được sau hăm mấy năm trời tôi lại tái ngộ với “nó” trên bước đường lưu vong, ở mãi tận xứ Hoa Kỳ thế này. “Nó” đến đây từ bao giờ! định cư lúc nào? trải qua những bước thăng trầm như thế nào mà rốt cuộc bây giờ trông phởn phơ quá vậy? thể thống quá vậy?
Nhưng “nó” là ai? Bạn đừng vội nổi cáu. Tôi không cố ý ỡm ờ. Tôi đang viết thư chứ có phải viết truyện kiếm hiệp hay trinh thám đâu mà treo lơ lửng sự bí mật để bắt bạn hồi hộp? Tôi rất muốn kêu phắt tên “nó” ra từ lúc đầu, nhưng không kêu được đấy thôi. Tôi kẹt quá.
Kêu bằng tên nào bây giờ? Ở vùng quê tôi ai nấy vẫn gọi “nó” bằng tên ấy: ổi tàu. Nào, tên đấy, bạn đã thấy có gì rõ thêm chưa nào? Ổi tàu là thứ ổi quỉ quái gì vậy? Bạn suy luận: Vịt ta nhỏ bé, vịt xiêm thì bự; dâu ta bằng đầu đũa, dâu tây bằng ngón chân cái; gà ta khiêm tốn, gà tây là gà khổng lồ; trà ta xoàng, trà tàu thì nhất; thậm chí con chuột tàu cũng quí hơn con chuột ta... Vậy ổi ta bằng quả bóng bàn, ổi tàu áng chừng nó là thứ ổi mỗi quả bằng một nắm tay, hay bằng quả bóng rổ chăng? thịt nó vừa ngọt vừa thơm bát ngát chăng?
Bạn mà nghĩ thế, bạn khốn đốn ngay. Thật vậy, táo tàu tha hồ hơn táo ta, trà tàu tha hồ hơn trà ta v.v..., nhưng ổi tàu thì lại là tính danh của một sự lố bịch đấy bạn ạ. Hạt ổi tàu nó bé như hạt tiêu, nó chen chúc một khóm chi chít như thể một đám ruồi xúm nhau đậu chổng ngược đít lên vậy.
Nếu bạn muốn, tôi có thể khai thêm một tên nữa. Ở quê tôi, bà con còn gọi nó là... nho. Vâng, cây nho trái nho ở tôi đấy. Bên Tàu bên Tây, người ta lấy nho làm rượu. Bồ đào mỹ tửu óng ánh dưới trăng, ngời ngời trong thi ca xứ người. Ở tôi, thứ trái chi chít nọ cũng là nho: danh với thực nhảm là thế.
Nhưng quê tôi thô lậu, bạn không biết đấy là đâu; tiếng nói địa phương ở vùng tôi không có sức phổ biến rộng. Ở tôi nói gì, gọi là gì, bạn không biết được. Tốt hơn nên cung cấp cho bạn cái danh xưng thông thái dùng trong sách vở, lẽ ra phải thông dụng toàn quốc. Nhưng cái đó lại khó, tôi có ý muốn phục vụ bạn thực kỹ mà không xong, rồi bạn xem.
Muốn sách vở thì có sách vở. Trong sách thực vật của ông Phạm Hoàng Hộ, cây lantana camara được gọi là cây thơm ổi. Lantana camara là thứ lantana nào? thuộc chi phái họ hàng gần xa ra sao? cái đó tôi không rõ. Nhưng lantana thì chính thị là nó. Tên thơm ổi làm tôi mừng rơn. Nhà học giả đã nhất trí với đồng bào vùng tôi ở tiếng ổi, lại còn bảo là nó thơm. Tuy nhiên vừa buông cuốn sách của học giả xuống liền gặp rắc rối ngay.
Ông Phạm là con người của những cây cỏ miền Nam nước Việt, thế tại sao tiếng nói của ông không mấy giống với tiếng nói những người miền Nam khác? Tôi gặp nhiều đồng bào miền Nam sống quanh đây, tôi đưa thứ cây ấy ra hỏi. Liền có câu đáp:
- Cứt heo đấy mà.
- Hả? Thưa... theo ông...
- Thì cây cứt heo đấy, ông ơi. Nó đấy.
Kẻ bảo thơm, người gọi c..., biết chọn sự trung dung ở đâu bây giờ?
Rồi tôi nẩy ý hỏi đến đồng bào miền Bắc. Nhiều người không biết, chắc chắn đó là những vị sinh trưởng ở đô thị, không mấy quan tâm đến cây cỏ. Một hôm tôi gặp một ông từng ở thôn quê. Ông cầm nhánh cây, ngẫm nghĩ:
- Tôi chắc nó là cây cứt lợn... Chắc thế. Không hẳn là giống cứt lợn ở ta, nhưng...
Ông bứt một chiếc lá, vê vê, rồi ngửi, rồi lại ngẫm nghĩ:
- Cứt lợn đấy... Trông màu hoa có khác. Nhưng... nó đấy.
Như vậy tôi nghĩ số phận nó đã gần như được quyết định: kẻ Nam người Bắc cùng bảo thế thì hẳn tên nó là thế rồi. Cả sách vở thông thái cùng với một địa phương nhỏ bé của tôi không đủ sức gỡ danh dự cho nó đâu. Nó chỉ còn trông cậy ở chỗ này nữa thôi: là hình như có khá nhiều địa phương độc đáo như địa phương tôi, tiếp tục từ chối cái tên xấu xa mà gọi nó cách khác. Ở Huế, ở Nha Trang, Phan Thiết, Kontum v.v..., chưa từng nghe nói đến bông hoa c... heo hay c... lợn. Biết đâu nó không là nho thơm hay ổi thơm? Ở Quảng Ngãi, bà con chú ý đến màu hoa, gọi là bông ngũ sắc.
Trong niềm hi vọng ấy, tôi đã ngập ngừng chần chờ, không muốn xưng ngay tính danh nó ra lúc vừa bắt đầu. Nhưng từ lúc này, sau khi đã giải bày cặn kẽ, tôi xin gọi nó bằng cái tên quen thuộc ở quê tôi: ổi tàu.
Tôi chắc bạn đang thắc mắc: vì sao tôi lại mê ổi tàu? lại làm lớn chuyện về ổi tàu?
o O o
Tôi mê ổi tàu? Nói thế là hãy còn nhẹ nhàng quá đấy. Có thể bảo về một phương diện nào đó tôi tự đồng hóa với ổi tàu. Nó là tôi.
Gần như tôi sinh ra giữa ổi tàu. Không hiểu do đâu mà quê tôi lắm ổi tàu đến thế. Không có rào dậu nhà ai mà không có ổi tàu chen chúc. Không có gò đống nào mà không có ổi tàu lan tràn, không có bờ ruộng, bờ ao, bờ khe, bờ suối nào mà không có ổi tàu đứng giăng hàng san sát... Một khoảnh đất khoảnh vườn ngưng canh tác hay thiếu chăm sóc trong ít lâu là đã thấy cỏ và ổi tàu dấy lên ngay. Không mời mà đến, không gọi mà thưa: Thứ cây vô duyên ấy cứ tự xuất hiện lừng lững, xuất hiện hàng hàng lớp lớp. Ở quê tôi ổi tàu tràn ngập như... bể cây. Chỗ nào cũng có nó, đi đâu cũng thấy nó; mà không đi, cứ nằm liệt tại nhà, ngước mắt lên nhìn là đã thấy nó rồi.
Lớn lên trong cảnh ấy, riết rồi tôi có cảm tưởng ổi tàu là một sự tất nhiên của thiên địa càn khôn. Hễ có đất là có ổi tàu, tôi không thể quan niệm nổi một vũ trụ vắng bóng ổi tàu. Tôi trịnh trọng suy tư: “Ổi tàu có đó, vậy vũ trụ hiện hữu.” Tôi yên trí nằm ngủ trên một chân lý nền tảng.
Tôi nằm ngủ như thế suốt tuổi ấu thơ. Thế rồi xong tiểu học, bắt đầu xa làng xa huyện, tôi dần dần tự tách rời khỏi ổi tàu. Đi học hành làm ăn ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn v.v..., tôi không có dịp gặp ổi tàu nữa. Hàng lâu, mãi lo sách đèn, bài vở, lo bạn bè đàm đúm nhởn nhơ, không nghĩ đến nó. Khi nhớ lại, thì thấy vắng bặt tự bao giờ. Quả tình không hề thấy nó ở đầu đường Gia Long cuối đường Hưng Đạo nào, không thấy nó lấp ló ở những cổng trường Đồng Khánh, Trưng Vương, không thấy nó phất phơ dọc bờ sông Hương, sông Nhà Bè v.v... Rong chơi đây đó: Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Biên Hòa v.v...: không có đô thị lớn bé nào thấp thoáng bóng ổi tàu. Có lần đánh bạo nêu lên cái tên nó để dò hỏi, thì ai nấy ngơ ngác. Kẻ Thừa Thiên, Quảng Trị, người Đồng Nai, Bến Nghé, đều không biết mình nói đến cái gì. Một vài anh bạn che miệng khúc khích:
- Cái gì của tàu? Ghẻ tàu hả? “Nẫu” nói gì hỏi gì vậy cà?
Tôi biết sự tình không ổn, vội vàng tháo lui:
- Không không... Ơ, ờ... Đâu có! Có ai hỏi gì đâu...
Tôi cấp tốc thu hồi nó về ngay, cất giữ cho mình, như một niềm riêng tư không tiện tiết lộ cho bất cứ ai khác. Ngay từ hồi ở trong nước mà ngoài làng quê ra, ai nấy đã ra người tứ xứ, không chịu cảm thông. Đi đây đi đó, chỉ riêng tôi ấp ủ lấy tên tuổi cùng hình dáng của riêng nó mà thôi: trong trường hợp ấy bạn bảo sao mà không có lúc tôi tự đồng hóa với nó.
Ổi tàu là vậy. Bỗng trong một lúc bất ngờ nhất, tự dưng tôi đối diện nó ở tân thế giới, giữa thủ phủ xứ Utah. Không sững sờ được sao?
Bạn có tin hay không tin tùy bạn, tôi không ép. Nhưng tôi phải cho bạn hay đó là một đối diện mừng mừng tủi tủi đấy bạn ạ. Bởi vì trong cuộc trùng phùng, ổi tàu của tôi không còn là ổi tàu hèn mọn nữa, nó chợt ở một ngôi vị cao sang không chờ đợi!
Thú thực với bạn từ ngày bỏ nước ra đi nhiều lúc tôi tự thấy xuống giá ngang xương, cảm thấy mình có vẻ rạc rài thế nào. Còn ổi tàu, trong buổi hoàng hôn tái ngộ ấy, ối tàu nó đang ngự giữa một bồn hoa lộng lẫy. Nó đang trịnh trọng sánh vai cùng bao nhiêu là loài hoa rực rỡ. Vâng, nó đấy, ổi tàu — nhất danh là cứt lợn — nó đang hớn hở giữa muôn hồng nghìn tía đấy, bạn có tin được không?
Ngày còn ở quê hương, không ai có thể tưởng tượng cứt heo lại đem làm cây cảnh. Sang Hoa Kỳ, cứt heo lên ngôi. Sao mà vẻ vang thế? Tôi mừng cho nó, tủi cho mình.
Tình cảnh tựa hồ như thể một kẻ đồng hương với Chí Phèo bỏ làng ra đi lưu lạc nhiều năm, ngày kia đến kinh đô một xứ lạ bỗng nhiên gặp lại Chí Phèo mũ áo xênh xang giữa chốn triều đình, hay gặp Thị Nở đã hóa thành một đấng phu nhân đường đường với đầy đủ kẻ hầu người hạ.
Cây cỏ cũng như người, bạn ạ. Cũng là cây ổi tàu mà ngày xưa khi nó đứng ở đầu gò, góc rào, ven suối, trông nó chẳng ra làm sao; bây giờ chễm chệ giữa sân trước tòa lâu đài sang trọng, trông lại tư cách hẳn ra. Nó khoan thai gật gù nhè nhẹ trước gió chiều mát mẻ. Trông cao phẩm giá lắm cơ.
Nói cho đúng, ở đây nó có được bồi dưỡng kỹ càng hơn: những phân, nước, những thuốc trừ sâu bọ, những cắt tỉa chăm sóc thường xuyên có làm cho lá nó xanh mướt hơn, hoa nó thắm hơn, dáng hình nó óng ả hơn thuở hoang dại ngoài cõi thiên nhiên. Tóm lại, trông nó đắc ý ra mặt. Nó chịu Hoa Kỳ hơn là quê tôi. Nó chịu lắm. Nó đắc ý một cách rất vong bản. Quả nhiên sau này rõ ra là nó đã dắt díu tất cả bà con họ hàng di cư sang Hoa Kỳ từ lâu. Thật vậy, ngày bé tôi chỉ biết có một loại ổi tàu, thứ bình dân xoàng xĩnh nhất. Sang đây tôi dần dà điểm mặt được ít ra là hàng chục loại ổi tàu khác nhau. Có thứ cây có thứ dây, có thứ đứng có thứ nằm, nằm và bò lê bò la trên mặt đất, có thứ quấn quít leo lên những loại cây khác, có thứ lớn có thứ bé, hoa lá lăn tăn như hường tường vi, có thứ hoa đỏ, hoa vàng, có thứ hoa tím ngát, hoa hồng hồng v.v... Không biết từ đâu mà chúng lũ lượt kéo nhau ra đông đảo thế.
Thế này thì quá cỡ. Hoa Kỳ thật quá cỡ: bom nguyên tử, nó có; phi thuyền vũ trụ, con thoi không gian, nó có; to khổng lồ như loại cây hồng sam (sequoia) cả một chiếc xe hơi có thể chui tọt qua gốc cây, nó có; nhỏ tí xíu như con chim vo ve (humming bird) lông lớn lông bé khắp người đếm không quá chín trăm chiếc, nó có. Chưa hết! sau rốt nó còn sưu tập đủ loài đủ giống ổi tàu của tôi nữa.
Từ Utah xuống Cali, càng đi càng gặp thêm nhiều ổi tàu. Bạn bảo tôi còn sự chọn lựa nào khác hơn. Một chút quê tôi đã bắt gặp ở đây rồi. Phải “về” Cali thôi.
o O o
Bạn đang ngờ ngợ, cho rằng tôi có thể thuộc vào hạng người tha thiết với quê hương, tôi có khuynh hướng “về nguồn” đấy chứ gì? tôi là một phần tử có tinh thần dân tộc chứ gì? Nhảm, bạn đừng cao xa như thế, đâm hỏng ra. Tôi không về cội về nguồn gì ráo. Tôi chỉ có khuynh hướng trở về với... cái tôi đấy thôi.
Thú thực với bạn: trong khóm ổi tàu tôi chỉ trông thấy toàn những hình ảnh của chính mình. Nhiều lắm bạn ạ.
Tôi trông thấy dọc theo chân rào trước nhà những đứa bé, trai và gái, những đứa bé bốn năm tuổi lúc thúc bên nhau, giơ những bàn tay bé tí teo, xòe những ngón tay thật là xinh túm lấy mớ bông ổi tàu để nhổ lên, ngửa cổ, xoay ngược gốc hoa vào miệng, cố mút lấy một hạt mật ngọt mà con ong cũng chê là quá nhỏ. Đến mùa trái chín, những đứa bé ấy đi gỡ từng nhúm trái ổi tàu li ti như những hạt tiêu đen, sung sướng cho vào mồm. Trái chín vỡ ra trong các bàn tay vụng về, quệt quạc trây lên má lên mép, nom lem nhem luốc nhuốc. Ngày này qua ngày khác, tháng nọ sang tháng kia, các trò chơi, các thú vui nghèo nàn của những đứa bé ấy diễn ra quanh quẩn bên các chân rào. Những cặp mắt đen láy ấy, những bàn tay tí xíu ấy, những tiếng nói cười bi bô, ríu rít ấy... ngày lại ngày... bên cạnh những bụi ổi tàu chen chúc dày đặc ở bờ rào. Bây giờ tôi còn tưởng tượng ngửi lại được cái mùi của lá ổi tàu dập nát trên tay, cái mùi thật mạnh.
Này bạn, trong những đứa bé lúc thúc bên chân rào ấy, về sau có đứa cầm súng đánh nhau và chết về súng đạn, có đứa từng trở thành mẹ chiến sĩ, rồi có đứa đã thành bà ngoại bà nội nhăn nheo!
Dĩ nhiên trước khi nhăn nheo họ đã trải qua một thời kỳ khác. Thời kỳ mà mắt họ long lanh, ngực họ căng lên rạo rực, môi má của họ đỏ hồng... Tôi lớn lên, rời xa làng, thỉnh thoảng về quê, từng có dịp gặp lại đôi người. Những cô bạn bé xíu ngày xưa giờ đâm ngượng ngùng, mặt đỏ ửng, trên một khúc đường làng vắng vẻ họ ý tứ đứng nép sát một bờ rào (lại ổi tàu). Ánh mắt nhìn nhau, câu chào giọng nói với nhau lúc bấy giờ, chao ôi, những cái đó sương khói thời gian lớp lớp tỏa mờ vẫn chưa xóa lấp nổi đâu. Ở cuối trời, xa xôi tít tắp, sương khói lờ mờ cứ mãi rung lên, phải chăng là rung lên vì những xôn xao đắm đuối chưa chịu lắng chìm hẳn.
Xin lỗi bạn, tôi có cao hứng quá không nhỉ? Tôi còn muốn nhắc thêm với bạn về một hình ảnh nữa. Cái hình ảnh của chàng trai mới lớn, đầu đội chiếc nón cối, giữa buổi mai đứng bên bờ sông La Tinh nghe chim hót... Ấy chết, bạn đừng nghĩ con sông La Tinh chảy đâu đó gần kinh thành La-mã, hoặc giả quanh quẩn bên cạnh thành phố Venise thơ mộng! Không có đâu. La Tinh là tên con sông ở quê tôi đó, bạn ơi. So với những tên tuổi lừng lẫy vừa nói qua, nó là một sự hài hước. Tuy gọi là sông, nó bé lắm. Trong nhiều tháng trời nó cạn khô. Chỉ vào tháng chín tháng mười nước lũ mới tràn bờ; rồi nước rút đi nhanh chóng; sang xuân là nó đã hiền khô như một con suối. Lòng sông gần như chỉ những toàn cát với cuội. Gọi là nước, bất quá một dòng róc rách, ngoằn ngoèo cho vui vậy thôi. Ấy, trên bờ một con sông như thế chàng ta đứng nghe chim hót. Và tay chàng thì... mãi vân vê một lá thư tình cứ như đang lồng lên trong túi áo, lá thư tình đầu tiên!
Những con chim nào đã hót trong buổi sáng thần tiên hôm ấy? Chỉ biết ngày nay, cách xa ba mươi năm dư, bên tai chàng còn vang vang tiếng cưởng tiếng sáo. Trời xanh trong vắt. Những con khướu, con cưởng, con sáo ở đâu ven sông mà chúng kêu lên ong óng, kêu lanh lảnh, làm rung động cả bầu không khí buổi mai rực rỡ. Tiếng cưởng sáo nó khua vang inh ỏi buổi mai, làm chàng nôn nao rối loạn cả lên. Và làm cho từ đó chàng cứ có cái cảm tưởng là hạnh phúc trần gian toàn xuất hiện dưới hình thức tiếng chim kêu!
Chúa quyền năng tha hồ làm được vô số những buổi mai như thế, cố nhiên. Nhưng trong đời chàng, chàng không gặp lại một cơ hội tương tự. Thời gian trôi qua, mỗi lúc chàng mỗi xa cơ hội tương tự. Phải chăng lặp lại là một việc làm thiếu sáng tạo, không xứng đáng, cho nên đấng quyền năng nhất định không tái ban phát cho chàng buổi mai nào như thế nữa. Suốt đời chàng chỉ có thể ngoảnh đầu ngóng về một buổi mai bên bờ sông La Tinh.
Và bờ sông ấy — tôi cam đoan với bạn — suốt từ nguồn cho đến bể, tuyệt nhiên không hề có bóng dáng một cây liễu cây dương nào để gọi là thơ mộng. Chỉ có lau, có sậy, có tre, có dứa, có những thứ cây loàng xoàng, cùng với... ổi tàu mà thôi.
Thành thử trong bao nhiêu năm thiếu vắng nó, mặc dù bị chế giễu vì sự dò hỏi về nó, tôi không nản chí. Bị chế giễu, tôi tháo lui. Nhưng trong thâm tâm vẫn một mực đinh ninh: rồi sẽ có ngày... Tôi tự an ủi: Yên chí! Chờ ngày thái bình thịnh trị, trở về làng, tha hồ tái ngộ. Đành là chiến tranh dữ thật, nhưng bom đạn nào bột khai quang nào mà tru diệt nổi ổi tàu? Nó sẽ trơ trơ cùng tuế nguyệt. Rồi xem: thế nào cũng lại gặp nhau mà!
Bây giờ bạn đang ở Mỹ, bạn nghe nhắc đến hình ảnh “thân yêu” của người thanh niên nón cối, bạn cười muốn chết. Bạn cười cho cái thời vàng son của tôi chứ gì. Tốt thôi. Trong kho kỷ niệm của chúng ta còn có nhiều mẫu hình ảnh ngộ lắm. Có câu hát:

“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai”.
Người quân tử đội nón cối ước chừng là cháu ba bốn đời của người quân tử từng vắt lên vai thứ khăn đậm màu nọ. Cũng như thế hệ quân tử đầu trần ở Mỹ hiện nay là con cháu của lớp quân tử đội mũ dạ vừa qua. Thời thế đổi thay. Hình dạng người quân tử không ngớt tùy thời thay đổi. Duy ổi tàu vẫn thế. Ở khách sạn Utah cũng như hồi ở xóm tôi.
Đến đây bạn kêu ngấy đến tận cổ rồi chứ gì? Bạn hết chịu thấu ổi tàu, bạn ngáp lên ngáp xuống, bạn than dài thở vắn: Thư đâu có thư lê thê lòng thòng đến thế v.v... Mặc kệ! bạn không thể thoát ra dễ dàng khỏi ổi tàu đâu. Tôi còn những mấy trang nữa dành cho bạn đấy. Không phải vì ác ý: chính tôi cũng không thoát khỏi nó phen này. Đã khơi động đến niềm xưa, thôi thì liên miên, rứt ra không nổi.
o O o
Hãy trở lại xóm tôi. Xóm tôi toàn những gò là gò: gò Huyện, gò Ngựa, gò Đu, gò Căng, gò Đình, gò Cầy, gò Muồng, v.v... Cứ như chỗ tôi hiểu biết, cách đây không lâu vùng này còn là hoang địa. Xóm tôi chưa có dấu vết văn minh. Nói cách khác, trước tôi đôi ba đời gì đó chủ quyền vùng này hãy còn thuộc về cây cỏ và muông thú, chưa thuộc về loài người. Ông Kha-luân-bố tìm ra tân thế giới trước, xong rồi các nhà thám hiểm vất vả còn phải nghỉ ngơi một thời gian dài, mãi về sau mới có người tìm ra xóm tôi đấy, bạn ạ. Lúc mới tiến chiếm đất, người tạm sống chung với muông thú: chồn, cáo, cọp beo, heo rừng v.v... Cuộc sống chung còn để lại nhiều kỷ niệm. Dân làng vẫn kể rằng trước đây cứ đến đúng cái đêm trước ngày giỗ ông Bưng là có con cọp về ngồi ngoài hè, đưa chiếc đuôi lòn qua ngạch cửa, quơ quất vào trong nhà. Đám con cháu phải quát đuổi om sòm lên cọp mới chịu bỏ đi. Sở dĩ có chuyện ấy vì trước kia con cọp nọ đã vồ bắt ông Bưng trong lúc ông đang lom khom cắt tranh; người nhà chỉ còn tìm được nửa thây ông để chôn cất.
Cọp bắt người thì thỉnh thoảng, nhưng chuyện cọp bắt heo bắt chó ở xóm tôi là chuyện thường, bà tôi hãy còn nhớ rõ mồn một những vụ như thế. Vì vậy, ngay sau này, khi tôi đã lên năm lên bảy, vào những lúc trời chạng vạng tối, tôi đang loanh quanh gần bà, chợt có tiếng te te cất lên đâu đó là bà tôi liền lắng tai nghe ngóng, đầy e ngại.
Con te te, bạn biết chứ? Nó là loài chim nhỏ bằng nửa nắm tay, đặc biệt có cặp chân nhỏ và dài lêu khêu như que hương. Nó thường kiếm ăn ở các gò. Te te, không thấy nó đi bao giờ; nó chỉ có chạy. Bạn hãy còn xa, nó nghểnh cổ trông chừng; bạn đến gần thêm, nó vùng cắm đầu chạy một mạch rồi dừng phắt bất ngờ. Bạn lại tiến, nó lại chạy, hay cất cánh bay luôn.
Chim thì bé mà tiếng kêu của nó vang rất xa. “Te te... ù uét! Te te... ù uét!” Tiếng cao và xẳng the thé. Rất nhiều buổi tối, từ lúc chạng vạng cho đến bảy tám giờ đêm, thằng bé là tôi nằm trong ngôi nhà ít người không đèn không lửa ở chỗ đồng quê quạnh vắng, nằm nghe tiếng côn trùng rỉ rả và nghe cái tiếng lạ lùng của con te te kêu thét lên khi xa khi gần không biết từ những chỗ bìa rừng, những khoảnh gò đống nào tràn đầy bóng tối trong khắp vùng. Tôi lo sợ chơi vơi như một mình bơ vơ giữa cõi hồng hoang chất chứa bí ẩn, mơ hồ đe dọa. Bà tôi đinh ninh rằng hễ te te nó “đánh” vào lúc chạng vạng tối thường thường là có cọp loanh quanh đâu đó. Te te nó nhạy lắm. Một bước động nhẹ trên mặt đất cũng không qua khỏi tai nó.
Gạt ra một bên tất cả các định nghĩa lòng vòng cùng các tiêu chuẩn rắc rối về văn minh với văn hóa, tôi nhất trí với những ai nhận định giản đơn rằng nơi nào có máy móc, có điện, có lắm xe, có xa lộ mênh mông chằng chịt là văn minh, còn nơi nào người ở lẫn với cọp beo, với lợn lòi, với te te v.v... thì còn hơi thấp văn minh. Tôi không thiên vị, không yêu xóm gò vì nền văn minh cao. Không, tôi chỉ yêu vì nó là cõi thiên đường.
Khi tôi phải rời làng đi học trường huyện trường tỉnh, phải ở trọ nhà người ta tháng nọ sang tháng kia, mỗi lần có dịp về, lúc còn cách nhà một vài trăm thước, là tự dưng chân tôi quýnh lên, líu quíu cả lại, tôi gần như không bước được nữa.
Xung quanh nhà tôi toàn những gò. Muốn về nhà, dù đi đường nào tôi cũng bắt buộc phải băng qua một cái gò.
Suốt dọc đường, trên xe lửa, xe hơi, tôi nén được niềm vui. Nhưng khi chân giẫm lên một đầu gò, tôi trông thấy bóng dáng lẻ loi của một con te te lỏng khỏng giữa những nấm mộ lè tè, với mớ cỏ may khô xơ xác, với những đám ổi tàu..., tức thì tim tôi nó lồng lộn lên, nó làm loạn cả lên, nó quá xá, không sao kềm chế nổi nữa.
Tới gò là tới nhà. Tôi đã sắp đặt trong đầu bao nhiêu là kế hoạch, là trò lạ. Đã đến lúc đem ra thi hành. Trò nào cũng hay ho, tuyệt vời, thần tình cả. Hoặc giả tôi rón rén đi rất nhẹ nhàng vào cổng, nấp xem bà tôi đang lom khom bên luống rau nào, đang cặm cụi chăm nom những giàn cà với dây bí dây bầu nào, tôi sẽ bước êm như ru đến đứng ngay sau lưng bà, đứng như thế mà nhất định vẫn không chịu lên tiếng đâu, tôi đứng cho thật lâu xem bà tôi làm những gì, tôi sẽ nén cho khỏi bật cười, tôi đứng chờ đến lúc bà tình cờ quay lại, trông thấy tôi... Lúc ấy... phải biết!
Hoặc giả tôi lẻn vào thẳng trong nhà như một cái bóng. Tôi cất mũ nón, thay đồ đạc, không để ai nhận thấy vừa mới về, tôi làm y như thể tôi vẫn ở nguyên trong nhà với mọi người từ bao giờ, tôi vào giường nhặt một chiếc gối mang ra nằm ngay xuống chiếc trường kỷ giữa nhà. Bà tôi có thói quen dù làm gì ở ngoài vườn lâu lâu cũng ghé vào nhà uống một tách trà, có khi còn khều một vài lá trà tàu trong bình ra bỏ vào miệng nhai móm mém cho thơm. Giữa hai hớp trà chợt bà ngước mắt trông thấy tôi đang nằm... ngủ (?!) trên trường kỷ thì... ối chao ơi! Tưởng tượng đến cái cảnh bà luống cuống quýnh quáng lúc ấy, tôi hết chịu nổi. Bà líu ríu kêu lên mấy tiếng. Thế là cô tôi, em tôi... nhào vô nhà, cùng xúm lại la lối, cười rú. Tưởng tượng ra cảnh ấy, đột nhiên chính tôi lại đâm quýnh quáng ở đầu gò. Lần nào cũng vậy.
Tôi có nhiều trò, nhiều mẹo lạ như thế. Tựu trung mẹo nào cũng căn cứ trên một niềm tin căn bản: là sự hiện diện của tôi quí giá vô cùng, nó là một nguồn vui lớn lao kinh khủng, nó làm cho mọi người mừng rỡ không thể tả được.
Ngày tôi còn bé, hai thân tôi đem nhau đi làm ăn trong Nam, vì chỗ quê hương quá nghèo nàn không hứa hẹn gì. Tôi sống với ông bà cô chú. Các cô chú, cũng lại vì sinh kế, không luôn luôn có mặt tại nhà. Trong nhiều năm trời thường thường không có cha mẹ nào chờ đón tôi ở gia đình, nhưng tôi không có chút nghi ngờ gì về lòng thương yêu quí mến của mọi người đối với mình. Tự giấu mình đi, để dành một cơn vui bất ngờ, khủng khiếp (!) cho ai nấy trong nhà, tôi tự trao cho mình cái giá khiêm tốn của một... lô độc đắc! Tôi chọn một hình thức trao giải thật ngoạn mục, cho có một ép-phê bùng nổ kinh hoàng. Và tôi không tính sai. Tôi thành công liên tiếp. Mỗi lần về là một chấn động. Tôi hoan hỉ, hể hả, hài lòng về mình. Cho đến bây giờ không lúc nào thoáng nghĩ đến một mô gò xơ xác với cỏ may hiu hắt, với ổi tàu bụi thấp bụi cao, mà tôi không rộn rã trong lòng.
Bây giờ, trên xứ này, thân tôi là một hạt cát. Sự hiện diện lạc lõng của tôi trên cõi lục địa mênh mông này không là cái gì cả. Không có con đường nào, ngôi gò nào, lùm cây bãi cỏ nào làm tôi run chân cả. Tôi tha hồ phất phơ lang bạt, không có nơi nào khác nơi nào, ở đây không có một nơi nào để mà “về” cả. Có về, chẳng qua là một kiểu “về” vờ vĩnh như về Cali.
- Ủa! còn đòi gì nữa? Đời vô thủy vô chung vô cùng vô tận, ta là cát bụi trong khoảnh khắc. Bạn không biết vậy sao?
- Bạn biết từ lời dạy của triết gia là một chuyện. Mà khi bạn thấm cái ý nghĩa cát bụi ấy mới thấy nó thê lương là chừng nào.
Nhưng ơ này! bất chấp mọi dạy dỗ của thánh hiền, tôi cứ cam đoan với bạn: Đời ta có thể phù du, vũ trụ có thể là hư không, nhưng ngày nào ta còn đi về một chốn quê xó xỉnh hoang vu nào đó có chim te te với ổi tàu, ta còn là lớn lao choáng cả càn khôn, ta còn là cả một càn khôn đấy bạn ạ. Tôi tin thế nên tôi dọn nhà đến sống bên cạnh ổi tàu đây.
o O o
Tôi thấy bạn lắc đầu ngao ngán: “Úi dào! thư với thả! Con cà con kê mãi chỉ vì một nỗi... cứt lợn!”
Thôi thì buông tha bạn vậy. Nhưng bạn nhớ ghi lại cái địa chỉ mới của tôi trước khi vứt bỏ lá thư chán ngắt này đấy nhé.
12 – 1987