Hiển thị các bài đăng có nhãn Điêu khắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điêu khắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Cổng Stargate- Iraq

• Cổng Stargate của Iraq nằm dưới thành phố Ur cổ đại của người Sumer, nơi tọa lạc ngôi đền lớn nhất của người Sumer, Zigurat vĩ đại, nơi đã nhận 400 quả tên lửa liên tục bắn trúng sau Chiến tranh vùng Vịnh, một sự thật rất, rất gây tò mò.   




• Năm 1922, một nhà thám hiểm người Anh được cử tới Iraq để tìm kiếm đồ vật ở thành phố cổ Ur. Người ta nói rằng những gì ông tìm thấy không chỉ là một thành phố mà còn là cả một khu phức hợp có cổng sao nguyên vẹn.   




• Đầu những năm 1980, chính Saddam Hussein đã ra lệnh trùng tu Zigurat vĩ đại, biến ngôi chùa thành pháo đài. Một số chuyên gia cho rằng 3 cầu thang lớn dẫn lên ngôi đền đã được trùng tu và lấy đi các đồ vật, di vật và cổng sao của Iraq.   




• Chính quyền Bush và nhóm quân sự của họ nói rằng một doanh trại được cho là đã được xây dựng ở đó để phát triển vũ khí sinh hóa và thậm chí còn khẳng định rằng đây là căn cứ của lực lượng không quân ở Ur.  



 

• Mục tiêu thực sự của cuộc tấn công Iraq năm 2003 là để loại bỏ tàn dư của dòng dõi Anunnaki đã có từ hàng ngàn năm trước, của những kẻ đầu đen mà Saddam Hussein đã tự tạo ra bằng các công nghệ như cổng sao, vì vậy Elite bắt đầu lo lắng về chúng. những khám phá được công bố.   • Quân đội Mỹ vẫn ở đó hơn một thập kỷ, rất lâu sau khi Hussein bị lật đổ. Đây là khoảng thời gian họ phải tháo dỡ cánh cửa sao và gửi nó sang Hoa Kỳ. 





Theo dõi Ancient History Để xem thêm.


Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2023

Công viên tượng khỏa thân Frogner




Frogner là công viên tượng khỏa thân lớn nhất thế giới nằm ở Oslo, Na Uy với các tác phẩm điêu khắc bằng đồng, đá granite.

212 bức tượng của nhà thiết kế Gustav Vigeland được đặt dọc theo đại lộ dài 850 m của công viên, được xây dựng chủ yếu từ 1939 – 1949.




Đây cũng là công viên điêu khắc lớn nhất thế giới do một nghệ sĩ tạo ra. Gustav Vigeland là người chịu trách nhiệm thiết kế và bố trí kiến trúc trong công viên. Công đoạn khắc trên đá và đúc đồng do thợ thủ công lành nghề đảm nhiệm. Tuy nhiên, ông đã mất (năm 1943) trước khi công viên được hoàn thành (1946).

Gustav Vigeland (1869–1943) là một nhà điêu khắc người Na Uy. So với những nhà điêu khắc cùng thời khác, ông nổi tiếng vì tính sáng tạo độc đáo và khả năng làm việc cao của mình.



Vigeland còn phụ trách thiết kế kiến trúc tổng thể của công viên với những thảm cỏ trải dài, những đại lộ thẳng tắp và bao quanh là những cây gỗ thích. Việc xây dựng công viên kéo dài từ khoảng năm 1939 đến năm 1949.

Ngoài ra, ông cũng là người thiết kế tấm huy chương của giải Nobel Hòa bình.



Angry Boy (Cậu bé tức giận) với dáng đứng bằng một chân.


"Tháp người" Monolith.



Tháp đá nguyên khối duy nhất là tâm điểm của công viên, cao 14,12 m gồm 121 tượng người quấn quýt, gắn chặt với nhau, thể hiện các giai đoạn khác nhau trong cuộc sống. Monolith là bức tượng nổi tiếng, được xem là một tác phẩm điêu khắc mang tính biểu tượng cao. Tác phẩm tượng trưng cho khát vọng vươn lên của con người, những con người ôm lấy nhau miêu tả cảm giác sự cứu rỗi lên đến Chúa.

Có nhiều cách diễn giải tác phẩm Monolith như sự phục sinh của loài người, sự đấu tranh sinh tồn, khao khát của con người đối với thế giới tâm linh, tính siêu việt của cuộc sống thường nhật và sự nhàm chán của cuộc đời.







Đài phun nước là một trong những điểm dừng đáng chú ý nhất của công viên, bao quanh bởi 20 bức tượng, tượng trưng cho các giai đoạn khác nhau trong cuộc sống con người, từ trẻ đến lúc chết.






Giữ kỷ lục là công viên điêu khắc lớn nhất thế giới được tạo ra bởi duy nhất một nghệ sĩ, công viên điêu khắc Frogner có những bức tượng được xây dựng trên một cây cầu cao 100 m mở rộng giữa cổng chính và đài phun nước, một tượng đài của cái chết và tái sinh mô tả bộ xương và trẻ em yên nghỉ lọt thỏm trong lòng cây.




Tác phẩm "Bánh xe luân hồi" The Wheel of Life

Tác phẩm “Dancing Young Woman”



“Man Chasing Four Geniuses”, cảnh một người đàn ông đang trong trận chiến với một nhóm những đứa trẻ biết bay – đại diện cho những linh hồn tăm tối,…


Các tác phẩm điêu khắc ở đây là những nghiên cứu tuyệt vời về cơ thể con người trong trạng thái nguyên thủy nhất, từ đàn ông, phụ nữ, trẻ em, người già đến các mối quan hệ, là những nghiên cứu tuyệt vời về cơ thể con người.




















Cánh cổng vào công viên cũng được trang trí với hoa văn mô tả phụ nữ khỏa thân.




Hết

Xem thêm.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

“Giải mã” các loại đồ án chạm khắc đá

 

“Giải mã” các loại đồ án chạm khắc đá ý-nhị ý-tam ý-tứ lung linh

 levinhhuy


Lưu ý: Đây là công trình giải mã các loại đồ án chạm khắc đá cổ trong dân gian, khắp mặt sách báo chưa từng có ai thực hiện. Tùy ý share, copy + paste. Tôi tặng sì-ta-tút này cho các bạn!

_______

Nhập đề

 

Có thể gọi nghệ thuật chạm khắc đá của Trung Hoa là cái Sở thú, đúng như nhận xét của Trang tử trong thiên “Mã đề”: Cầm thú đa nhi nhân thiểu 「禽獸多而人少」 (Tạm dịch: Loài cầm thú đông đảo quá cha loài người).

 

Sở dĩ có hiện tượng thú đông người vắng này trong tranh tượng chạm khắc có lẽ vì thuở xa xưa đó loài người chưa đủ sức chống trả thú dữ, nên mới phải chạm khắc hình dạng chúng để thờ phụng, mong hổ báo để mình được yên ổn mần ăn. Cho nên ban sơ, chạm khắc đá là hình thức sùng bái thế lực siêu nhiên.

 

Rồi sau đó, cầm thú các loại dần trở thành thực phẩm, sản vật để cung đốn cho loài người, tiết vịt thịt cầy ngầu pín dương tản bắt đầu xuất hiện thường xuyên trên menu của quán nhậu thì hình tượng thú chạm dần trở thành hiền hòa, gần gũi hơn.

 

Khi bọn Tàu man di mọi rợ kia từ bỏ nếp sống du mục để chuyển sang định canh định cư; thêm vào đó, Phật giáo cũng du nhập, phổ biến nhân ái hòa bình, hình tượng cầm thú trong tranh tượng dần dà được dùng để gửi gắm những ước vọng an bình, tốt đẹp. Và những đồ án ý nhị ý tam ý tứ, bao hàm đủ thứ triết lý vừa sâu vừa cao vừa tào lao bí đao.

 

Nghệ thuật chạm khắc cổ truyền của Trung Hoa đã lưu lại trên đá trên ngói trên gạch trên ngọc trên vàng những ý niệm cát tường. Các tác phẩm chạm khắc từ đây vương mang bàng bạc những ngụ ý lý tưởng hóa hiện thực, với những hình tượng mang nhiều tầng ý nghĩa. Trong đó, nổi bật nhất là hình tượng tứ linh: Long Lân Quy Phụng.

 

Thời kỳ nguyên thủy

 

Thuở còn ăn lông ở lỗ, tụi Tàu đã biết rảnh rỗi sinh nông nỗi, chạm khắc lung tung. Theo các hiện vật tìm thấy được ở các di chỉ của thời kỳ du mục, thì bởi thời kỳ này chưa có các loại tiến sĩ củ nừng, nên tranh tượng toàn phải lấy cầm thú làm đề tài. Những hình tượng được miêu tả đa phần là động vật, họa hoằn mới thấy cỏ cây hoa lá, và tập trung thể hiện nhiều nhất vẫn là thú dữ hùm beo rắn rít… Và về sau, thì tần suất các loài đã thuần hóa như heo gà dê chó mới xuất hiện nhiều hơn.

 

Nói chung, đồ án cầm thú thời kỳ này vừa đơn giản với những phác họa khái quát, vừa cho thấy ý niệm sùng bái mãnh thú.

 

Thời đại đồ đồng

 

Đây là thời kỳ Hoa Hạ chuyển sang chế độ nô lệ, sử mệnh danh là Tam đại (Hạ-Thương-Chu).

 

Các tác phẩm thời kỳ này mỉa mai thay, chủ yếu lại do nô lệ chế tác, và chúng mang ý nghĩa tượng trưng cho uy quyền của quý tộc/chủ nô, để phục vụ trong việc cúng tế ta bà. Có lẽ do đời sống khổ cực ê chề không nơi phát tiết, nên bọn nô lệ đã trút trọn tâm tư tình cảm của mình vào tác phẩm, khiến chúng trở nên tinh xảo, đẹp đẽ thêm ra.

 

Tứ linh bắt đầu hình thành là vào thời kỳ này, những giống ôn dịch nhe nanh múa vuốt đó đã quật cường giao phối tạp chủng với nhau để cho ra đủ loại totem kỳ quái của các bộ tộc. Sự giao thoa văn hóa bằng đầu mũi giáo của các bộ tộc khiến các totem càng thêm pha trộn hằm bà lằng sắn cấu.

 

Thời kỳ phong kiến

 

Từ Xuân Thu-Chiến quốc dần lân qua tới Tần-Hán, các đồ án động vật ngày càng xa lánh xu hướng tượng trưng để đi vào tả thực, với chi tiết cụ thể, và khuynh hướng hùng tráng làm chủ đạo.

 

Các tranh tượng bặm trợn, sinh động của thời kỳ này chủ yếu vẫn là sử dụng vào mục đích thờ cúng, nhưng đối tượng được tôn thờ không chỉ là thần tiên thiên giới nữa mà tập trung vào tung hô các con trời. Trong lăng mộ các bậc đế vương cà chớn của thời này, các đồ chạm khắc mang đủ hình cầm thú được tùy táng cách hào phóng, đại trà. Và không chỉ thế, ở bên ngoài cũng như chung quanh lăng mộ, cũng bắt đầu xuất hiện đông đảo những tranh tượng quây quần, chầu hầu, canh giữ cho giấc ngàn thu của vua chúa.

 

Sang đời Đường-Tống, các đồ án thêm hoành tráng đường bệ, với những phượng bay rồng lộn tưởng muốn xé mây rách trời mà ra, đến từng ngọn cỏ nhành cây cũng như khua động ngọ nguậy để thành nghìn tên mũi giáo hù dọa người xem.

 

Thời kỳ này, tất cả động vật được chạm khắc, từ các loài bay, bò, chạy, nhảy, bơi, lặn, lông mao lông vũ, chí đến côn trùng sâu bọ; hoặc ở trên rừng trên núi, hoặc rúc trong suối trong khe, đầu gành cuối bãi, đứng đái ỉa ngồi… Nghĩa là hết thảy bọn hội đủ tư cách điểm danh trong cái cây lẩu tươi thập cẩm, tiếng Anh gọi Phylogenic tree ấy, toàn bộ đều được tranh tượng dành cho không gian rộng rãi để thoải mái tung hoành. Quỷ thần ơi, đó quả là một cảnh tượng kiêu hùng hào hứng nhất trần đời! Và Tứ linh cũng nhờ đó mà định hình…

 


Quả vậy, bọn Ba Tàu tuy ba xí ba tú nhưng không hề nổ chút nào khi tự hào về nền văn hóa thâm hậu hàm dưỡng tu vi của chúng. Từ đời Thương, chúng đã biết phân loại động vật thành 4 nhóm lớn là ngư-trùng-điểu-thú; và mỗi nhóm này được tượng trưng bằng một linh thú.

 

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

Nghệ thuật Phật giáo phong cách Hilạp

 Nghệ thuật Phật giáo phong cách Hilạp ở Gandhara

Hà Vũ Trọng

http://havutrongarchives.blogspot.com/2014/05/phong-cach-nghe-thuat-hilap-phat-giao-o.html

 


Nguồn gốc trường phái nghệ thuật Phật giáo theo phong cách Hilạp (Greco-Buddhist) lừng danh này, theo một số học giả, bắt đầu khoảng thế kỉ 2 trước CN ở Gandhara, một danh xưng chung chỉ vùng thung lũng hạ lưu sông Kabul, gồm những thành phố quan trọng như Purushapura ở Peshawar, Pushkalavati ở Charsada, và Hadda (gần Jalalabad hiện đại) là nơi mà hai nhà chiêm bái Pháp Hiển (thế kỉ 4-5) và Huyền Trang (thế kỉ 7) có ghi chép trong du kí của họ; ngày nay Gandhara thuộc phía tây bắc Pakistan và phía đông Afghanistan. Những phát hiện sau đó (1936) mà học giả M. Hackin có lẽ là người đầu tiên đưa ra ý kiến về quê quán của trường phái nghệ thuật này nằm ở Bactria. Ông nỗ lực chứng minh nó bắt nguồn ở Bactria và sau đó đã phát triển vào cuối thế kỉ thứ nhất và đầu thế kỉ thứ hai sau CN, đặc biệt dưới vương triều Kanishka ở Gandhara

 


Bản đồ thời kì Gandhara, từ thế kỉ 1 trước CN đến 5 sau CN. Sau cuộc xâm lăng của Alexandre Đại đế vào thế kỉ 3 trước CN, nhiều thế lực Hilạp định cư ở biên giới Ấn độ, từ đó phát sinh ra những nền văn minh giao thoa giữa Hilạp-Ấn độ ở Gandhara, ngày nay thuộc Pakistan và Afghanistan. Sự hợp lưu văn hoá này đã tạo ra nghệ thuật điêu khắc miêu tả Đức Phật và cuộc đời của ngài. Trong thời kì Kushan (1-3 sau CN), đế quốc này trải thẳng xuống vùng trung nguyên Ấn độ, và cũng làm nảy sinh ra những trung tâm nghệ thuật vĩ đại và đầy ảnh hưởng ở Mathura.


“Nghệ thuật Gandhara” đặc trưng đã được công nhận đầu tiên năm 1833-34 khi một tấm phù điêu tròn bằng đá mô tả Đức Phật được Tiến sĩ Gerad khai quật gần Kabul. Theo ông, khởi đầu của trường phái nghệ thuật này xảy ra trong thời đế chế Parthia cai trị ở Gandhara mặc dù lúc đó nó đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hoá Bactria-Hilạp. Chắc chắn trường phái này đã đạt tới sự cực thịnh dưới triều Kushan vào thế kỉ thứ hai sau CN và dần lụi tàn vào cuối thế kỉ thứ ba.

 

Như ta thấy, Aryana là nơi hội tụ những nền văn minh khác nhau. Những tư tưởng Hilạp và Bactria trộn lẫn vào nhau sau khi Alexander Đại đế thuộc địa hoá lãnh thổ này. Và phong cách nghệ thuật này đã tìm ra con đường để đi vào Ấn Độ. Những nghệ sĩ phụ trách việc kiến tạo các trụ đá Asoka có lẽ đã được đào tạo trong trường Hilạp ở Bactria. Theo Sir-John Marshall, những trụ đá này chính là công trình của các nghệ sĩ ở Bactria. Trong thế kỉ tiếp theo, cũng trường phái Bactria đã tạo ra những bức chân dung tả thực cùng những hình tượng vua chúa và thần linh trên những đồng tiền Ấnđộ-Hilạp. Trước đó, những đồng tiền Ấn Độ “dập nổi” đều thô sơ, xấu, không theo đúng tỉ lệ và không đòi hỏi giá trị nghệ thuật. Mãi cho đến khi có sự xuất hiện của các hoàng đế Hilạp-Bactria ở Ấn Độ (đầu thế kỉ 2 trước CN) thì ảnh hưởng Hilạp-Bactria mới thực sự tác động lên nghệ thuật Ấn Độ. Ảnh hưởng này biểu hiện nổi bật nhất là trên đồng tiền. Trọng lượng chuẩn mực của đồng tiền được người Athen thiết lập; những truyền thuyết Hilạp và những kiểu mẫu rút từ thần thoại Hilạp cũng được vẽ kiểu theo nét đẹp và duyên dáng của nền nghệ thuật này.

 

Sau đó, nghệ thuật Hilạp-Bactria đã trải qua sự chuyển hoá không thể tránh khỏi trên lãnh thổ Ấn Độ. Những truyền thuyết kể bằng hai thứ tiếng, một bên là tiếng Hilạp, bên kia là tiếng Kharoshthi đã thay thế cho tiếng Hilạp. Dần dà, những đặc thù Hilạp nhạt phai, và những yếu tố Ấn Độ thay thế vào đã làm thiếu đi sự mới mẻ và sinh động. Quá trình thoái hoá này tiếp tục và càng nhanh chóng hơn khi các hoàng đế Hilạp-Bactria bị người Scythia lật đổ và thế chỗ. Tầm ảnh hưởng Hilạp-Bactria không giới hạn chỉ trên những đồng tiền đúc mà cũng có thể tìm thấy trên những cổ vật Ấn Độ thứ yếu khác trong thời đại này, như đá ngọc, đất nung, vv…

 

Dưới triều Scythia, họ kế tục người Hilạp trong thế kỉ thứ nhất trước CN, nên nguồn ảnh hưởng những yếu tố ngoại quốc trong nghệ thuật Ấn Độ càng yếu đi và dần thoái hoá thành sự mô phỏng thô thiển những hình thức Hilạp. Nhưng sự xuất hiện của triều đại Kushan vào thế kỉ thứ nhất sau CN đã thổi một luồng kích thích mới cho văn hoá Hilạp ở Đông Aryana. Gandhara đã trở thành trung tâm của một đế chế lớn và là cơ sở hội tụ của những nền văn minh khác nhau như Bactria, Hilạp, Ấn Độ, Phật giáo và Iran. Từ đó ra đời một văn hoá mới tìm cách thể hiện qua một loại nghệ thuật mới gọi là Gandhara hay Trường phái Hilạp-Phật giáo. Trường phái này tìm cách thể hiện những tư tưởng Phật giáo bằng những hình thức Hilạp. Những hình tượng về Đức Phật và những thần linh khác theo khuôn mẫu hình dáng những vị thần linh của Hilạp. Những dạng hoa văn và tà áo cũng là bản sao của khuôn mẫu Hilạp.

 


 Đầu tượng Phật Gandhara, tương tự với đầu thần mặt trời Apollo của Hilạp cổ điển

 


Tượng Phật đứng, TK 2-3

Khoảng năm 400 CN, một trường phái nghệ thuật đã trỗi dậy thổi một luồng sinh khí vào những yếu tố đang lụi tàn của Trường phái cũ. Trường phái này được gọi là Indo-Afghan để phân biệt với trường phái Hilạp-Phật giáo về tinh thần cũng như về chất liệu rất khác biệt mà các nghệ sĩ đã áp dụng. Trường phái Gandhara sử dụng một loại đá mềm có sắc xanh gọi là diệp thạch (schist) được khai thác từ vùng núi Swat và Buner nằm ở phía Bắc khu vục Peshawar, trong khi đó trường phái Indo-Afghan hay gọi đúng hơn là Phái Gandhara Hậu kì đã sử dụng chất liệu chủ yếu là vữa (stucco) hay đất sét.

 


Một bức tượng Bồ tát điển hình của trường phái Indo-Afghan, đất nung

 


Bồ tát Maitreya, trường phái Indo-Afghan

Chuyện cuộc đời Đức Phật là đề tài chính của hai trường phái này. Nên nhớ rằng những trường phái Ấn Độ trước đó chưa từng mô tả hình dạng con người của Phật: sự hiện diện của ngài chỉ được biểu thị bằng những biểu tượng (như cội bồ đề, dấu chân, ngai, hoa sen). Tuy nhiên, ở Gandhara, chúng ta giáp mặt với những mô tả hình dáng con người của ngài. Chiếc đầu Phật Gandhara (xem hình trên) được tạo dáng giống như thần mặt trời Apollo của Hilạp, và thể hiện nét mặt của chủng Cap-ca, tóc búi dợn sóng. Còn tư thế Phật đứng thì thường khoác bộ áo dày và dài tới đầu gối, có vòng hào quang dẹt phía sau đầu. Trên phù điêu, những nếp áo có đường cong ngang và song song, giống với chiếc áo choàng toga của Lamã. 

Hình tượng Đức Phật có niên đại sớm nhất được khắc trên một cái rương đá tìm thấy tại di tích Bimaran ở Afghanistan, trong rương cũng chứa những đồng tiền đúc thời vua Azes II (cuối thế kỉ thứ nhất trước CN). Hình tượng thứ hai xuất hiện trên một cái rương khác phát hiện từ bảo tháp Shahi-ki-dheri, thuộc triều vua Kanishka Đại đế.

 

Đầu tượng phật bằng đồng phát hiện ở di tích Ba Thê (An Giang), niên đại TK 2 - 3 mang đặc trưng rõ rệt của nghệ thuật Gandhara đương thời.


Tượng Phật bằng đồng, Óc Eo (An Giang), niên đại khoảng cuối tk 4 đầu tk 5, gần gũi với điêu khắc Gandhara, nhất là tư thế đứng và bộ áo choàng, tuy nhiên hình dáng mảnh mai hơn, khuôn mặt mang những nét đặc trưng của chủng tộc Đông nam Á.


Cùng với sự lan toả của văn minh Ấn Độ dần dà xuyên qua Con đường Tơ lụa, thì gần như cùng thời gian, Phật giáo và Hindu giáo đã đến thẳng Đông nam Á bằng con đường biển, và cập bến vùng Châu thổ sông Cửu Long để thành lập nên vương quốc Phù Nam (gọi chung theo thuật ngữ khảo cổ là văn hoá Óc Eo, kéo dài từ thế kỉ thứ nhất và dần lụi tàn vào thế kỉ 10) đã đạt đến sự hưng thịnh. Vì thế, nghệ thuật Óc Eo ngay từ đầu đã có mối quan hệ trực tiếp với nghệ thuật Gandhara, có thể thấy qua những hiện vật bằng những chất liệu đa dạng như kim loại, gỗ, đá, đất nung, vàng lá… có niên đại rất sớm từ thế kỉ 2–3, sớm hơn ảnh hưởng từ Trung Quốc rất nhiều. Đặc biệt các pho tượng Phật đã mang phong cách Gandhara và cũng cho thấy những nét đặc trưng riêng của bản địa vùng Đông nam Á. Ánh sáng chiếu toả đáng kinh ngạc của nghệ thuật Phật giáo trên đồng bằng Cửu Long này là những chiếu quang từ cái nôi mẹ —trung tâm của vùng thánh địa nghệ thuật Ấn độ. 

 

Giấc mơ voi trắng của hoàng hậu Maya

 Hoàng hậu Maya sinh Đức Phật từ cạnh sườn, thời kì Kushan

 

Cuộc xuất li khỏi cung điện của Đức Phật, Gandhara TK 2



Đức Phật giảng đạo trong vườn Lộc Uyển, TK 2-3

 


Một cảnh trong cuộc đời của Đức Phật, TK 2-3

 

Đức Phật và hộ pháp Vajrapani (Kim cương thủ Bồ tát) đội lốt anh hùng Herakle (Hercule)

  

Phật nhập níêt-bàn

 


Tam tôn Phật: Đức Phật (giữa), Bồ tát Maitreya (trái), Avalokiteshvara (phải), hai bên là một tín đố và một tăng sĩ.

 


Bồ tát Maitreya trong tư thế đứng, TK 1—3


 Bồ tát Maitreya, TK 4-5

 

Bồ tát Maitreya, TK 2-3

 


Bồ Tát Maitreya, Gandhara TK 2-3

 

Bồ tát đang quán tưởng, TK 2-3

 

 *Tham khảo:

- International Encyclopaedia of Buddhism, Vol.1: Afghanistan, Anmol Publications 1996

- Lê Thị Liên, Nghệ thuât Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỉ 10, Nxb Thế giới 2006

- Wikipedia: “Gandhara”