Hiển thị các bài đăng có nhãn BẮC NINH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BẮC NINH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2018

Lộ Lộ Thanh Liên

Phù điêu ở hành lang chùa Bút Tháp
Theo tiến sĩ  Nguyễn Xuân Diện:
Bức chạm hình hai con cò (chữ Hán là Lộ 鷺) và hoa sen (liên hoa 蓮花). Hình ảnh này ẩn dụ bốn chữ: “Lộ lộ liên hoa” 鷺鷺蓮花- Con cò, con cò và hoa sen. Lộ là cò, đồng âm với lộ 路 là con đường; “liên hoa” 蓮花 là hoa sen, đồng âm với chữ “Liên khoa” 連科 (liền khoa thi này đến khoa thi khác, không bị rớt khoa). Lộ lộ liên hoa 鷺鷺蓮花 đồng âm với Lộ lộ liên khoa 路路連科.
Bức chạm là ẩn dụ lời chúc: Đường khoa cử chặng nào cũng thuận, tiếp liền thi và đỗ. Đây là lời cầu mong Tước Lộc Phong Hầu ở bức chạm bên cạnh.

Tước Lộc Phong Hầu 
Tuy nhiên những giấc mơ trần thế, những ẩn dụ về mong cầu của nhân gian chỉ được khắc chạm ở lan can mà thôi. Trong nội tự những biểu tượng mang tính ẩn dụ ảnh hưởng của Nho giáo và đời sống trần tục không còn. Chùa hoàng gia Bút Tháp tuy vẫn nhắc đến biểu tượng và mong cầu đời thường, hoặc vẫn ca ngợi tước lộc, phong hầu, đăng khoa… nhưng dứt khoát chỉ coi đó là ngoại cảnh, ngoại vật trong chốn Thiền môn. Đó là điều ý nhị và triết lý nhân sinh của những người của hoàng gia tu tập và hưng công chùa Bút Tháp, Xứ Kinh Bắc. A di đà Phật!
Lời bình của Lê Vĩnh Huy:
“Liên hoa” đúng là chơi chữ đồng âm với “liên khoa”, tức đậu liên tiếp mấy khoa thi. Nguyên khoa cử thời xưa tổ chức làm tam khoa: Hương thí, Hội thí và Đình thí. Đó là ba chặng của con đường tiến thân. Trước hết phải dự kỳ thi Hương tổ chức ở địa phương, nếu đậu mới đủ tư cách dự thi Hội tổ chức ở kinh đô; thi Hội mà trúng mới được gọi vào trước điện vua để thi Đình, lần này may phước ông bà ông vải mà đậu nữa mới gọi là có chút danh vọng ông nghè ông cử với trong làng ngoài xóm.
Nhất lộ liên hoa
Còn “lộ” 鷺 (con cò) đồng âm với lộ 路 (con đường).
Nhưng: Lộ lộ liên hoa 鷺鷺蓮花 thành… “Con cò, con cò và hoa sen” thì bắt đầu xảy ra trục trặc.
Thành ngữ xưa chỉ có Nhất lộ liên khoa 一路連科 tức thẳng đường một mạch mà tiến tới đỗ đạt. Để diễn ý câu này, người ta vẽ con cò nghênh mỏ bên cạnh đóa hoa sen, và chỉ một con mà thôi.
Khi có hai con cò thì sẽ là thành ngữ khác. Lúc này hoa sen trong đó không đọc Liên hoa nữa, mà đọc Thanh liên. Cả câu sẽ là Lộ lộ thanh liên 鹭鹭青蓮, ý này gợi từ đồng âm được hiểu là Lộ lộ thanh liêm 路路清廉, tức lời nhắc đức thanh liêm của người làm quan.
* * *

Lộ Lộ Thanh Liên

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

Tượng Ngọc nữ chùa Dâu


PS. Họa sĩ Phan Cẩm Thượng viết.
Năm 1980 khi nghiên cứu hai pho tượng Kim đồng- Ngọc nữ, thế kỷ 18-19, ở chùa Dâu, tôi thấy dường như đó là tỷ lệ đẹp của người Việt Nam xưa. 
Tượng Kim đồng cao 167 cm, Ngọc nữ cao 153cm, tất nhiên nếu kể cả trang sức thì hai pho tượng còn cao hơn, thân hình rất cân đối, thon và nở nang. Cả hai đều được làm theo tỷ lệ 1/1 so với người thật với độ tuổi chừng 16, 17.

Đây là trường hợp hiếm hoi của điêu khắc truyền thống có tính hiện thực cụ thể, thay vì tính chất tượng trưng, ước lệ phổ biến. Tất nhiên, đây có thể là tỷ lệ lý tưởng, vì người Việt thời điểm đó trung bình thấp hơn nhiều, có thể nam chỉ đạt 153cm, nữ 143cm. Các pho tượng võ sỹ và quan hầu trong lăng mộ thế kỷ 17, 18 cũng có xu hướng gần với sự thực cho thấy một tỷ lệ rất thất vọng, dù họ đã là võ quan, nhưng bình quân chỉ cao 140 cm, tất nhiên cần loại trừ tính tượng trưng của điêu khắc đá, không phải lúc nào cũng kiếm được các khối đá lớn theo ý muốn. 

Các pho tượng võ sỹ mặc cả giáp trụ mới đạt chiều cao 160 -165cm. Tuy nhiên thân hình khá vạm vỡ. Điều này cũng thống nhất với các mô tả của người phương Tây vào Việt Nam thế kỷ 17 -18, rằng người Việt không cao, nhưng khá đẹp đẽ, cân đối và vạm vỡ, với nước da nâu ngả đen do rám nắng, vì vào mùa Đông lại khá trắng.





Tượng Ngọc Nữ ở chùa Dâu. Tranh: TRẦN DUY 


Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018

Chùa Tiêu

Đến chùa Tiêu mạn Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh. Nhớ xưa đọc Tiêu sơn tráng sĩ mà không hiểu gì. Khái Hưng dùng chùa Tiêu làm bối cảnh để viết truyện này . 
Đây là ngôi chùa thiêng hơn 1.000 năm tuổi, không thấy hòm công đức quyên tiền của khách thập phương; Không cho phép đốt vàng mã, giấy tiền; Không cúng đồ chay hay đồ mặn. 
Sư bà trụ trì căn dặn:"Đi chùa thì phải tịnh tâm, không mê tín dị đoan, việc đốt vàng mã và rải giấy tiền không có trong đạo Phật".


Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Chùa Bút Tháp (tiếp theo)


Nếu bạn đến Phật Tích, ngôi chùa mang những huyền thoại cổ tích xưa của sắc mầu Phật giáo, thì Bút Tháp là những nét khắc đã hằn sâu số phận và tính cách cá nhân, giữa sự chán đời thất thế và khát vọng lưu luyến trần ai, giữa hiện thực và ảo tưởng, giữa hiện sinh và hư vô.

*****
Bí Ẩn Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay.
Bài của Họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ.


Tượng Quan Âm, bản sao Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam.
Thế tay Thiền ấn (trên đùi), nâng niu mặt trăng trước tâm mình, soi xét và tự kiểm.
Hội đủ 'tam quang giả': Nhật (9 pho tượng trên đầu- tỏa sáng đi lên- Từ Bi Hỉ Xả),
đầu thứ 9 là Phật A Di Đà (cõi Niết bàn)
Nguyệt (Mặt trăng trước ngực- gương soi lòng mình, Thiện- Ác. Kiên định nên thành quả)
và Tú (900 con mắt (cõi trời) trong lòng bàn tay quan sát trần gian)
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh, do Trương Thọ Nam tạc và hoàn thành vào năm 1656, thời Hậu Lê. Trên bệ tượng ghi: Nam Đông Giao, Thọ Nam - Trương tiên sinh - phụng khắc (Nam Đông Giao là địa chỉ, Thọ Nam là tên hiệu, Trương là họ, tiên sinh là bậc trí giả, phụng khắc là phụng mệnh trời đất dựng tượng để thờ). Chữ "phụng khắc" là khắc theo ý chỉ của nhà vua.
Tượng Quan Thế Âm bồ tát thiên thủ thiên nhãn là một vũ trụ thu nhỏ, quy luật âm dương ngũ hành và bát quái, bao hàm các cặp phạm trù đối lập nhưng thống nhất: Dương - Âm (thiện- ác, đỏ- đen, sáng- tối, trời- đất).
1- Tượng Quán Âm theo thế tam tài giả, tức là mối quan hệ tổng hòa thiên - địa - nhân. Khi nhìn vào tượng, vòng tròn phía sau được gắn gần một nghìn bàn tay, trong mỗi bàn tay được khắc một con mắt, đó là biểu tượng của Trời. Trời theo quan niệm ở đây là vũ trụ thu nhỏ. Trong vũ trụ, cái thiện được biểu tượng ở thế "tam quang giả" tức là 3 cái sáng bao gồm: mặt trời, mặt trăng và các vì sao.

Những cánh tay bên Võ (bên hữu)


 Hai bàn tay chắp trước ngực, niệm tâm điều thiện.

Những cánh tay Phật
như cánh tay thanh khiết của vũ nữ Chăm

Từ xa xưa, người Việt cổ đã nhận thức được mặt trời là trung tâm sự sống, sức mạnh thần kỳ của nó được thể hiện ở chính giữa trống đồng Đông Sơn. Ở pho tượng này, mặt Quan Âm vào trung tâm của pho tượng. Mặt trời là mặt Phật Quan Âm nổi bật nhất, sáng ngời, đầy vẻ từ bi hỉ xả. Mặt trời ở đây được thể hiện là bình minh, những tia sáng chiếu tỏa lên trên chứ không tỏa ngang, ý nói: Cái thiện là thế đang đi lên, có sức mạnh chiến thắng, biểu tượng cho văn minh xã hội. Mặt trời sáng ngời còn biểu tượng cho trí tuệ đức Phật Quan Âm đi khắp muôn phương xua tan bóng tối. Những kẻ có hành vi ám muội cũng không thể che nổi mắt Phật. Để diễn tả thâm ý này, tác giả đã khắc con mắt trong lòng bàn tay biểu tượng cho hàng nghìn vì sao trong thiên hà. Tất cả con số trên pho tượng đều là số lẻ, hơn 900 bàn tay và hơn 900 con mắt. Tác giả cho rằng số 1.000 là số chẵn, âm, tĩnh, không phát triển. Số lẻ, dương, động và phát triển không ngừng. Điều đó có nghĩa là trong vũ trụ có vô vàn vì sao đang quan sát trần gian.
2- Trên đã có trời, hình tròn, động, thuộc dương, nên dưới hệ tượng được biểu hiện cho đất, tĩnh, thuộc âm; hình vuông, nối giữa trời và đất là người - nhân vật Quan Âm. Trời, đất, người là 3 thế lực siêu nhiên trong vũ trụ, có sức sáng tạo không ngừng. Con rồng đen dưới tòa sen là Hắc Long dưới Biển Đông, tượng trưng cho cái Ác. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ngồi trên tòa sen, cả tòa sen lại đặt trên đầu con rồng đen, tượng trưng cho cái thiện bao giờ cũng ngự trị cái ác. Hai cánh tay của con rồng chỉ đỡ hờ vào tòa sen tạo nên một bố cục chặt chẽ, nó còn nói lên một điều rằng: Cái ác cũng có một sức mạnh phi thường, chỉ một cái đầu cũng đủ đội cả toàn tượng lên trên. Trên mũ của Quan Âm có 3 tầng đầu, mỗi tầng có 3 đầu, đầu thứ 9 là Phật A Di Đà - tượng trưng cho cõi Niết bàn. Như vậy, mỗi cái đầu là biểu tượng của một tầng trời. Điều thú vị là A Di Đà cùng với con chim Thiên Đường ở phía sau được gắn với hai cái đầu (số 2 thuộc âm, biểu tượng cho linh hồn của người đã chết siêu thoát ở cực lạc). 3 cái đầu đó chụm lại gợi cho ta về cõi tam thế "quá khứ - hiện tại - tương lai".
3- Trong các chùa, 3 ngôi tam thế bao giờ cũng được đặt ở ngôi cao nhất. Trong nghệ thuật bố cục, Trương Thọ Nam đã gắn kết các hiện tượng với nhau thành một biểu tượng: Cả vòng tròn lớn đằng sau được gắn kết với con chim Thiên Đường, tạo thành hình tượng của lá bồ đề mà tâm của Phật là cuống của lá. Đạo Phật lấy lá bồ đề làm biểu trưng. Hình tượng mặt trăng được đặt trước tâm của Phật như một cái gương soi lại lòng mình để xem xét hành động hằng ngày đúng hay sai, thiện hay ác, sáng hay tối... Trên có Thiên Đường là cõi Niết bàn, nơi ngự trị của Phật A Di Đà, dưới có địa ngục được biểu hiện ở 4 góc, đó là 4 nhân vật to béo đang chịu cảnh thụ hình nhằm răn đe những ai rắp tâm làm điều ác.
Chú thích về bố cục.

4- Trong bố cục của pho tượng này, những cánh tay được sắp xếp tuy phức tạp nhưng lại rất nhất quán về phương pháp biểu hiện theo quy luật. Có 3 phương pháp cơ bản để biểu hiện ý nghĩa của thế tay: Thứ nhất là hai bàn tay chắp trước ngực, đó là ý chí của con người, tâm niệm làm điều thiện. Thứ hai là 42 cánh tay gắn ở hai bên hông tượng tỏa ra nhiều hướng hàm ý muốn thắng được cái ác phải sử dụng cả văn lẫn võ (những cánh tay bên phải biểu tượng cho văn, những cánh tay bên trái biểu tượng cho võ). Thứ ba là thế tay của Quan Âm nâng niu mặt trăng trước tâm của mình, tượng trưng cho sự soi xét tự kiểm. Để tu hành đắc đạo, chúng sinh phải có lòng kiên nhẫn, tu hết đời này truyền sang đời khác, cây đức trồng càng lâu thì phúc càng dày. Hai cánh tay để trên đùi của Phật biểu tượng cho ý chí kiên định tạo nên thành quả.
5. Trương Thọ Nam đã tiếp thu và nâng nghệ thuật của pho tượng này lên đỉnh cao bởi giao lưu với nền nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, nền điêu khắc Chăm, nhất là những cánh tay của Phật như những cánh tay vũ nữ thanh khiết của Chăm. Trang phục của Quan Âm là hình khối, bố cục đường nét rất lãng mạn theo phong cách Việt, nền nghệ thuật Lý-Trần qua cách mô tả sen. Sen thời Lý được chạm rồng trên các cánh hoa, sen thời Lê được chạm khắc theo những nét lửa Lê - ngọn lửa của truyền thống chống ngoại xâm.
Ở châu Á, đạo Phật khởi nguồn nên chủ đề "Quan Âm nghìn mắt nghìn tay" được tạc ở một số nước, nhưng tác phẩm do nhà điêu khắc thiên tài Trương Thọ Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan điểm Phật giáo truyền thống, có hình thức nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ tuyệt vời. Pho tượng này đã đạt giải đặc biệt khi tham gia triển lãm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại Ấn Độ năm 1958.
Họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ.

Các hình ảnh trong chùa Bút Tháp.

Tượng








Một pho tượng Tam Thế.

Tượng Tam Thế (trên cao) và Tam Thân (thấy sơn mầu khác)
Chưa thấy chùa nào có đủ hai bộ này.



Đức Phổ Hiền (trí tuệ), cưỡi Voi trắng sáu ngà biểu trưng chiến thắng sáu giác quan.
(nghe rằng Ngài trú xứ núi Nga Mi)
Tượng Văn Thù cưỡi Sư tử. Biểu tượng tồn sinh và sự phát sinh (giác ngộ)
Thường hình tượng Ngài với  lưỡi kiếm và Kinh Bát nhã vẽ ngang đầu.
Biểu tượng trí huệ phá đêm tối của cõi Vô minh.

Tây Thiên Đông Đô đại tổ sư (Thái tử Thích Đạt La), đi tu ép xác, mặt mày  đau khổ



Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc.


Tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc.( sau vụ chaý 2015)


Tượng Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên trong khám thờ


Tượng chân dung Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ, thế kỷ 17, chùa Bút Tháp.

Tượng Phật (hai vị quay lưng)
hai bên Cửu Phẩm Liên Hoa (Cối Kinh) trong Tích Thiện am.
Tượng Hộ Pháp hiền từ.



Tháp.
Tháp Báo Nghiêm


Bia Ninh Phúc Tự
Tháp Tổ bên Tháp Tôn Đức

Tháp Tôn Ðức, đặt xá lị thiền sư Minh Hành, vị tổ thứ hai của chùa. 

Tháp Tổ

Con nghê dưới gác Chuông

Long chầu Hổ phục, điêu khắc tại chân tháp Báo Nghiêm

Cầu Đá


Từ Thượng điện xuống Thích Thiện am


Điêu khắc đá.
Trên lan can tòa Thượng Điện có 26 bức chạm khắc đá, trên lan can cầu đá nối với Tòa Thích Thiện Am có 12 bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng các bức chạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên đại.

Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý.

Lộ Lộ Liên Hoa
Bức chạm đá lan can chùa Bút Tháp này rất đẹp, được SGK và sách báo trích dẫn, sử dụng trong minh hoạ. Bức chạm hình hai con cò (chữ Hán là Lộ 鹭) và hoa sen (liên hoa 蓮 花). Hình ảnh này ẩn dụ bốn chữ: Lộ Lộ Liên Hoa 鹭 鹭 蓮 花 nghĩa là Con cò, con cò và hoa sen. Lộ là cò, đồng âm với lộ 路 là con đường; liên hoa 蓮 花 là hoa sen, đồng âm với chữ Liên khoa 連科 (liền khoa thi này đến khoa thi khác, không bị rớt khoa). Lộ lộ liên hoa 鹭 鹭蓮 花, đồng âm với Lộ Lộ Liên Khoa 路 路 連科.
Bức chạm là ẩn dụ lời chúc: Đường khoa cử chặng nào cũng thuận, tiếp liền thi và đỗ. Đây là lời cầu mong bên cạnh Tước Lộc, Phong Hầu ở bức chạm bên cạnh.
Tuy nhiên những giấc mơ trần thế, những ẩn dụ về mong cầu của nhân gian chỉ được khắc chạm ở lan can mà thôi. Trong nội tự những biểu tượng mang tính ẩn dụ ảnh hưởng của Nho giáo và đời sống trần tục không còn. Chùa hoàng gia Bút Tháp tuy vẫn nhắc đến biểu tượng và mong cầu đời thường, hoặc vẫn ca ngợi tước lộc, phong hầu, đăng khoa... nhưng dứt khoát chỉ coi đó là ngoại cảnh, ngoại vật trong chốn Thiền Môn. Đó là điều ý nhị và triết lý nhân sinh của những người của hoàng gia tu tập và hưng công chùa Bút Tháp, Xứ Kinh Bắc. A di đà Phật!

Phong Hầu
Hình ảnh bức chạm đá lan can chùa Bút Tháp: Khỉ đang trêu ong. Hình ảnh vui tươi ngộ nghĩnh. Khỉ tên chữ Hán là Hầu 猴; ong là Phong 蜂; đồng âm với hai chữ Phong Hầu 封 侯. Bức chạm cho thông điệp là ước mong về việc được Phong hầu.

Cầu mong phong hầu nhưng còn cầu được sống lâu để hưởng nên có chạm cây đào đang cho chùm quả, để biểu thị cầu thêm thọ. Thọ lâu để hưởng phong hầu!

Tước Lộc
Hình ảnh bức chạm đá lan can chùa Bút Tháp: Chim sẻ và Hươu. Hình ảnh vui tươi ngộ nghĩnh. Chim sẻ tên chữ Hán là Tước 雀; Hươu là Lộc 鹿, đồng âm với Tước Lộc 爵 祿. Bức chạm cho thông điệp là ước mong về việc được Tước lộc. Bức chạm còn khắc hình cành lựu trĩu quả , lựu nhiều hạt tượng trưng cho sự sinh sôi đông đúc chen chúc, cũng là biểu tượng phụ hoạ cho biểu tượng chính để cầu mong tước lộc nhiều.


Điêu khắc đá. Điểu Lộc và mã thượng Hầu


Vân Long

Cúc và Sen

Như con Cò bắc bộ

Con Lân


Con Phượng.

Tùng


Cò và Sen

Vân Long Hổ

Hoa Đào



Lưỡng Lân giao đấu

Con Phượng múa bên hoa Phù Dung (tài tử giai nhân)





Tùng và Trúc (trong Tứ quân tử)

Nhật Lộc


Cá vờn Trăng (Lý Ngư Vọng Nguyêt)

Lân Phượng

 Hoa Cúc (sự vĩnh hằng)

Lộc Mã


Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng

Vân Thảo

Bài trước

Chạm gỗ.
(xin viết sau)