Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2024

NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

 CHÂN DUNG NGÀY XƯA HOÀNG THỊ CỦA THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ

Bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị được nhiều người đánh giá là một trong những bài thơ tình hay nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại. Theo tôi, đánh giá như vậy có vẻ hơi quá. Thực tế, nếu không có Ngày Xưa Hoàng Thị của Nhạc sĩ Phạm Duy, chắc rằng chẳng mấy ai biết Ngày Xưa Hoàng Thị của Thi sĩ Phạm Thiên Thư. Hay nói một cách khác, Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư, từ một cô bé lọ lem, đã được phù thủy Phạm Duy biến thành công chúa.
Nhiều người còn cho rằng, Phạm Thiên Thư đã đem thiền tính vào Ngày Xưa Hoàng Thị. Có thể đánh giá trên được dựa vào màu áo thiền sư của Phạm Thiên Thư lúc sáng tác bài thơ này. Nếu có, sắc thiền chỉ thoáng nhẹ trong ba câu:
… Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau…
Cho dù bài thơ mang tính thiền trên một góc độ cảm quan nào đó, nhưng chắc chắn không thể có trong 16 câu thơ đầu. Điều này sẽ được thấy rõ hơn nếu phân tích Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy.
Xin đừng trách tôi ngược ngạo khi nói về Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư, nhưng lại phân tích Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy. Xin thưa, bởi Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy chính là chiếc gương chiếu hậu, cho ta thấy những gì được che giấu phía sau Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiêm Thư. Hay nói một cách khác, Phạm Duy đã giải mã những ẩn ngữ, thấy được ẩn ý, cảm nhận được ẩn tình; để từ đó thăng hoa những mạch rung động này trong nhạc phẩm của mình
Hãy đọc lại bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư:
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng.
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn.
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng
Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần.
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở
Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi!
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ.
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ.
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng.
Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ
Phố ơi muôn thủa
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!
Tình cờ quay về chốn cũ, bùi ngùi ghi lại nỗi lòng khi nhớ đến người xưa. Phạm Thiên Thư bắt đầu bài thơ bằng kỷ niệm của mười năm quá khứ, khiến lòng người đọc bị chùng xuống, tuy “nhẹ” mà “sâu”, khi bị kéo dần về hiện tại. Quả tài tình khi sắp xếp ý tứ như vậy, làm bài thơ tuy buồn nhưng lại rất êm, rất đẹp, rất duyên.
Bốn chữ “Tình ơi! Tình ơi!” ở câu cuối tạo nên cảm giác lâng lâng, giúp ta quên hết mọi vết hằn cát bụi của cuộc đời, để chỉ còn nhớ đến một hình ảnh nên thơ, dù đã chìm sâu trong vùng ký ức.
Những tưởng Phạm Thiên Thư đã chân tình tỏ bày tâm sự, nhưng hình như ta vẫn thấy đâu đó một chút gập ghềnh trong ý tứ. Phải chăng Phạm Thiên Thư vẫn còn cất giấu những nỗi niềm riêng?
Giai thoại văn chương trước nay có tên Hoàng thị Ngọ, là người con gái tóc thề áo trắng “em tan trường về, anh theo Ngọ về” của Phạm Thiên Thư. Thậm chí, nhiều người tự nhận mình là Hoàng Thị Ngọ, hay biết Hoàng Thị Ngọ là ai.
Chính Phạm Duy là người đã giải mã, đã hiểu được tình ý tinh nghịch của Phạm Thiên Thư nên khi phổ nhạc, ông đã khai diễn để tăng phần thú vị.
Sau đây là Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy:
Anh theo Ngọ về
Chân anh nặng nề
Lòng anh nức nở
Mai vào lớp học
Anh còn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ.
Các bà, các cô tự nhận mình là Hoàng Thị Ngọ đang cầm chắc trong tay một bé cái lầm. Hoàng Thị Ngọ Ấy- Em hay Hoàng Thị Ngọ Bi- Em cũng thế mà thôi! Giai thoại văn chương làm chi cho thêm khổ! Càng nhìn mình là Ngọ, càng tội tình cho chú bé Phạm Thiên Thư!
Có chủ quan lắm không khi diễn giải Ngọ như thế này, khi chính Phạm Thiên Thư công nhận người con gái đó thật tên Hoàng Thị Ngọ; một bà tên Hoàng Dược Thảo tự nhận mình chính là người thơ tên Ngọ, và một người khác nữa tên Đỗ Thị Mai Trinh?
Xin thưa: Không.
Không, vì ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu Ngọ của Ngày Xưa Hoàng Thị chứ không phải của Phạm Thiên Thư. Người thơ của Phạm Thiên Thư tên Hoàng Thị Ngọ, Hoàng Dược Thảo, Đỗ Thị Mai Trinh, hay bất cứ tên gì đi chăng nữa cũng không phải là điều quan trọng. Tác giả là tác giả, tác phẩm là tác phẩm, và chúng ta chỉ phân tích tác phẩm mà thôi.
Có thể Phạm Thiên Thư không chủ đích tả cảnh đáng yêu “áo tà nguyệt bạch” trên thân thể người nữ sinh áo trắng trong một ngày mưa.
Nhưng nào nghĩa lý gì!
Ngôn từ trong Ngày Xưa Hoàng Thị cho thấy rằng, dù không nói ra bằng ý thức, Phạm Thiên Thư cũng đã nói ra trái tim của mình.
Rồi từ đó, Phạm Duy xuất hồn phù thủy, biến cô bé lọ lem của Phạm Thiên Thư thành một cô công chúa tuyệt vời.
Ngâm Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư, nghe Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy mới thấy rằng, trong mỗi chúng ta, ai cũng có một Ngày Xưa Hoàng Thị.
Đẹp quá Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư!
Hay quá Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy!
Và… Nhớ quá Ngày Xưa Hoàng Thị của tôi!
(Hoàng Trọng Thắng)

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ

Người trong ảnh được cho là "em Pleiku má đỏ môi hồng" - nàng thơ trong bài Còn Một Chút Gì Để Nhớ của Thi sĩ Vũ Hữu Định.

Người yêu thơ và yêu nhạc có thể đã không biết tác phẩm này rộng rãi đến vậy nếu nhạc sĩ Phạm Duy không phổ nhạc nó vào năm 1970.

Vũ Hữu Định tên thật Lê Quang Trung, sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) tại Thừa Thiên - Huế trong một gia đình nghèo. Anh từng sống tại Tây Nguyên và Sài Gòn trước khi lập gia đình rồi định cư ở Đà Nẵng. Anh làm thơ đăng báo từ khoảng những năm 1960 với bút danh Hàn Phong Lệ hay Hàn Giang Tử, về sau đổi thành Vũ Hữu Định.

Nhà thơ vào đời sớm, lập gia đình cũng sớm và sống nghèo trong suốt quãng đời ngắn ngủi của mình. Anh là người mê rượu, nghèo khó nhưng thích phiêu bạt giang hồ, tính tình phóng khoáng và chơi rất hòa hợp với bạn bè.



Bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ đi kèm với tên tuổi Vũ Hữu Định. Tác phẩm gồm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu, mỗi câu từ 7-8 chữ mang theo những hình ảnh nhẹ nhàng, mê đắm của phố núi Pleiku:

Phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương.

Phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng.

Em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa Đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong.

Xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.

Bài này được viết năm 1970 khi nhà thơ sang thăm một người bạn gái ở Pleiku. Cùng năm ấy, nó được đăng báo Khởi Hành của thi sĩ Viên Linh và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc rồi trở nên phổ biến với giọng hát Thái Thanh. Ca khúc được phổ theo nhịp 3/4, điệu Boston, lời thơ vẫn giữ nguyên với khổ thơ cuối được nâng thành cao trào.

Theo hồi ức của nhà văn, nhà báo Trương Điện Thắng đồng nghiệp với TAK tại Thanh Niên, anh quen biết Vũ Hữu Định đúng năm 1970 qua hai người bạn. Vũ Hữu Định lớn hơn 10 tuổi nhưng khi đã quen thân, các anh gọi nhau "mày, tao" hồi nào chẳng biết. Khi đó Thắng đang học Đệ nhị còn Định đã đi làm và ký tên Hàn Giang Tử khi làm thơ.

Rồi khi Thắng vào học ở Sài Gòn, một ngày Định về chỗ trọ, cầm theo tờ tuần báo Khởi Hành có đăng bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ. Lần khác anh về, lại khoe tiền của Phạm Duy trả tác quyền và anh đã nhờ Phạm Chu Sa cũng vừa là bạn vừa là đồng nghiệp của TAK làm cho giấy hoãn dịch vì lý do gia cảnh. Có giấy tờ, anh xin được việc ở nhật báo Quật Cường, viết tin cho trang văn nghệ.

Một thời gian ngắn chỉ trước hôm ký Hiệp định Paris (27.1.1973) mấy ngày, Vũ Hữu Định và Phạm Chu Sa phải bỏ trốn vì bị an ninh phát hiện dùng giấy giả. Tết năm 1973, do bị lùng bắt, anh trốn về Đà Nẵng bằng đường bộ và bị Quân giải phóng giữ lại mấy ngày tại khu vực đèo Bình Đê, thuộc huyện Tam Quan - Bình Định.

Nhìn lại, chính từ giai đoạn gần hai năm ở Sài Gòn, Vũ Hữu Định viết rất lên tay. Tuần nào anh cũng có bài, có khi là cả một chùm thơ, đăng trên các tạp chí Văn, Bách Khoa, Chính Văn, Thời Tập... Nhiều câu thơ hay của anh bây giờ nhiều người vẫn luôn nhớ. Anh rất vui tính và không bao giờ nói xấu hay nghĩ xấu về ai, kể cả trong bàn rượu.


Vũ Hữu Định đã sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng gian nan và đầy khao khát. Ở anh, dù có cuộc sống rất giang hồ nhưng lại một mực yêu thương vợ con. Những bữa cơm đạm bạc do tự tay anh sửa soạn cho các con anh, luôn ân cần và chu đáo cho dù trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề. Thường, sau những cuộc uống say nhừ tử, Định lại có thói quen phải về nhà với gia đình.

Lần cuối cùng, Định đã ra đi trong tâm thức trở về đó khi anh bước hẫng từ một sàn bê-tông không lan-can cao bốn mét và rơi xuống đất.

Tác giả Thu Tứ có viết một bài dài nhận xét về thơ Vũ Hữu Định, xin tóm ý:

“Thơ ông Vũ có những câu như ‘Mới hai tháng đã biết mùi bom đạn’, ‘… theo mẹ đêm đêm qua xóm, xách đèn rao khoai sắn cầm hơi’, ‘không nhớ hết nghề đã trải", "còn cả chục nghề thôi không kể’, v.v…

Thơ cho ta biết tác giả ‘đi như một anh hành khất’, nhọc nhằn đến nỗi ‘vừa vượt tuổi ba mươi’ đã thấy ‘đuối sức’, ‘đau lưng’. Thơ kể lể nông nỗi dọc đường, nhưng đến cuối đường thì thơ không cung cấp được chi tiết nào cả, vì Vũ Hữu Định bất đắc kỳ tử khi mới 39 tuổi.

Hoàn cảnh kém may mắn là thủ phạm chính, nhưng cứ theo lời bạn bè, chính Vũ Hữu Định cũng có góp phần làm khó đời mình. Ngay thơ ông cũng "mách": "... thả trôi cái sống cho đời dạt, mẹ buồn ta tóc trắng lưng cong".

“Mẹ buồn", mà tất nhiên chính "ta" cũng buồn.

Được cái Vũ Hữu Định nhiều bạn bè, nên lắm lúc khuây khỏa, nhưng hẳn mỗi khi bạn về rồi, rượu tỉnh thì "may mà có thơ (em) đời còn dễ thương".

Không biết thi sĩ sống ở quê đến năm mình bao nhiêu tuổi mà quê lại luôn to thế trong thơ. "Quê Vũ" đặc biệt ở chỗ chẳng những "thôn xóm quạnh", "nhà xưa điêu tàn", mà cả mồ mả "mẹ, chị, đàn em" cũng không có. Cho nên nhớ thôi là nhớ, chứ "thăm ai? thăm ai? ta về quê".


Các con cúa Nhà Thơ Vũ Hữu Định, bên mộ bố


Thơ Vũ Hữu Định buồn mà không chút hằn học, mỉa mai, không hề đụng chạm tới bất cứ ai, bất cứ cái gì. Nó trong sáng bất chấp thực tại. Về vật chất, Vũ Hữu Định suốt đời tay trắng. Nhưng về tinh thần, ông đâu phải người vô sản. Từ cái "không" của cuộc đời mình, ông đã nấu thành cái "có" là những bài thơ làm phong phú thêm cõi thơ vốn lắm những điêu linh từ thưở chiến tranh của dân tộc.

Để khép lại bài này, xin đọc một đoạn thơ khác của nhà thơ họ Vũ:

Con gái ngày Xuân như mới tắm
buổi mai sương ướt cỏ hoa ngời
lòng đá chợt mềm chao rất nhẹ
nhớ mình vừa vượt tuổi ba mươi.
Năm nay ăn Tết cùng ông quán
mồng Một đời cay miếng mứt gừng
chén rượu ngày Xuân sao đắng miệng
giang hồ nghe cũng đã đau lưng.
Vẫn đi như một anh hành khất
đuối sức nhưng quê đâu mà về
ta sống một đời mây nhuốm bệnh
bồng bềnh sầu đụn màu sơn khê.
Sáng nay nghe pháo ran ngoài phố
ngòi pháo đời ta cũng cháy ngầm
thấy gái Xuân tươi lòng cũng thẹn
chuồn chuồn xếp cánh đậu bâng khuâng.

Trịnh Anh Khôi
---
Ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ qua giọng ca Sĩ Phú:
https://youtu.be/Rv3D2sjdNC0.


Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2023

Những ca khúc trong phim 'Hồng lâu mộng'

 Những ca khúc trong phim 'Hồng lâu mộng'



Nhắc đến Hồng lâu mộng, khán giả nhớ đến nàng Đại Ngọc mong manh, nhớ đến nàng Phượng “ớt” sắc sảo, và không thể nào quên những ca khúc sâu lắng, được sử dụng xuyên suốt bộ phim.


Đại đa số các bài hát được sử dụng trong Hồng lâu mộng đều được phổ lời dựa trên các bài thơ mà tác giả Tào Tuyết Cần đã viết. Nhưng quan trọng hơn cả, người viết nhạc và làm nhạc Vương Lập Bình đã thổi vào hồn thơ những nốt nhạc đầy tình ý và tâm huyết. Thơ và nhạc, dù được viết cách nhau hàng thế kỷ, vẫn như có thể hòa vào làm một. Các bài hát như Táng hoa ngâm, Uổng ngưng mi, Chung thân ngộ… đã trở thành những ca khúc kinh điển gắn với Hồng lâu mộng. Sau này, nhiều phiên bản khác của Hồng lâu mộng không thể có được âm nhạc đạt đúng chất của tác phẩm như thế.




Khúc mở đầu

Cách đây gần 30 năm, Hồng lâu mộng 1987 đến với khán giả và ngay lập tức gây ấn tượng mạnh bởi khúc nhạc mở đầu không lời. Đoạn nhạc Hồng lâu mộng dẫn khúc được tấu lên, lồng trong hình ảnh hòn đá chông chênh giữa đất trời, gợi cho người xem về nỗi cô đơn, chống vắng, bấp bênh và tàn lụi giữa cuộc đời. Đó cũng là tinh thần chung bao trùm lên toàn bộ tác phẩm Hồng lâu mộng.



Uổng ngưng mi

Uổng ngưng mi (Hoài công biết nhau) là ca khúc dành riêng cho hai nhân vật chính Bảo Ngọc và Đại Ngọc, nhạc Vương Lập Bình, lời thơ của Tào Tuyết Cần.

Cũng giống như nhiều ca khúc khác của Hồng lâu mộng, Uổng ngưng mi mang nỗi buồn mênh mang, da diết, nói về đôi tình nhân lỡ làng hữu duyên, vô phận. “Một bên hoa nở vườn tiên, một bên ngọc đẹp không hoen ố màu. Bảo rằng chẳng có duyên đâu, thì sao lại được gặp nhau kiếp này? Bảo rằng sẵn có duyên may, thì sao sau lại đổi thay lời nguyền?...” là những ca từ nói về mối tình của Bảo Ngọc – Đại Ngọc. Những tưởng cặp đôi thanh mai trúc mã sẽ nên duyên cầm sắt, nhưng vì những âm mưu toan tính, những áp đặt của lề lối phong kiến, mà kết thúc trong bi kịch.




Táng hoa ngâm

Táng hoa ngâm (Khúc hát chôn hoa) là ca khúc được sử dụng trong đoạn phim Đại Ngọc chôn hoa, khóc thương hoa – một trong những cảnh quay đắt giá nhất của Hồng lâu mộng.

Lời nhạc, ý thơ nhẹ nhàng, buồn mang mác khiến người xem không khỏi ngậm ngùi, thương những cánh hoa tàn, thương nàng Đại Ngọc mong manh, và cả phận nữ nhi long đong trong xã hội phong kiến. “Chôn hoa ai bảo mộng mơ, sau này ta chết ai là người chôn”… mang một sức ám ảnh lớn, khiến nhiều năm khán giả vẫn không thể quên được bài hát này.

Nhà soạn nhạc cho biết, trong số các ca khúc mà ông đã sáng tác cho Hồng lâu mộng, Táng hoa ngâm đã lấy đi của ông 1 năm 9 tháng để suy nghĩ, viết nhạc, làm bản phối và là ca khúc ông tâm đắc nhất.



Thông minh lụy

Thông minh lụy (Cái lụy thông minh) là ca khúc được phổ lời dựa trên bài thơ cùng tên mà Tào Tuyết Cần đã viết, nói về tính cách và số phận của nàng Vương Hy Phượng trong phủ nhà họ Giả.

Sắc sảo, thông minh, tài cán, nàng là hạng quần thoa nhi nữ mà không kém gì trang hải hán nam tử. Nhưng cuối cùng, trong vòng xoáy của xã hội phong kiến, nàng vẫn phải chịu một kết cục thương đau. Người đời tự hỏi, nếu nàng không thông minh như thế, liệu số phận của nàng sẽ ấm êm hơn?

“Việc đời tính rất thông minh; việc mình, mình tính phận mình vẫn sai… Vừa vui vẻ đã âu sầu, đời người biến đổi biết đâu mà lường…” lồng trong điệu nhạc buồn nhưng có phần mạnh mẽ hơn những ca khúc khác của Hồng lâu mộng, đã phần nào khắc họa rõ hơn tính cách, con người và số phận của nàng Phượng “ớt”.



Tình Văn ca

Tình Văn ca là ca khúc dành riêng cho nàng a hoàn sắc sảo, thông minh, sống trong bùn lầy, bị người đời hãm hại mà vẫn sáng mãi một tấm tình thanh bạch. Ca khúc có giai điệu trẻ trung, vui tươi hơn so với những bài hát khác, trong khi lời ca là bài thơ viết dành riêng cho nàng Tình Văn: “Trăng trong khó gặp, mây đẹp dễ tan; Lòng sao cao quý, phận lại hèn…”





Phân cốt nhục

Phân cốt nhục (Cốt nhục phân ly) là ca khúc làm nền cho cuộc đời của nàng tiểu thư khuê các Thám Xuân. Trong số các tiểu thư nhà họ Giả, Thám Xuân là cô gái thông thạo văn thơ, sâu sắc và cá tính, nhưng luôn mặc cảm với phận làm con vợ lẽ. Sau này, Thám Xuân bị gả đi lấy chồng xa, phục vụ những mục đích chính trị của thời phong kiến, vĩnh viễn không được gặp lại gia đình.

Phân cốt nhục được tấu lên trong trường đoạn Thám Xuân mặc áo tân nương, cúi lậy cha mẹ, lên thuyền đi xa, lòng đầy ai oán biết rằng đây sẽ là lần ra đi không có sự trở về trong cuộc đời nàng.



Hồng đậu từ

 

Hồng đậu từ 紅豆詞 • Lời hát về đậu đỏ

紅豆詞  

滴不盡相思血淚拋紅豆,
開不完春柳春花滿畫樓;
睡不穩紗窗風雨黃昏后,
忘不了新愁與舊愁。
咽不下玉粒金波噎滿喉,
照不盡菱花鏡里形容瘦。
展不開的眉頭,
捱不明的更漏--
呀!
恰便似遮不住的青山隱隱,
流不斷的綠水悠悠。

 

Hồng đậu từ

Trích bất tận, tương tư huyết lệ phao hồng đậu
Khai bất hoàn, xuân liễu xuân hoa mãn hoạch lâu
Thuỵ bất ổn, sa song phong vũ hoàng hôn hậu
Vong bất liễu, tân sầu dữ cựu sầu
Yến bất há, ngọc lạp kim ba ế mãn hầu
Chiếu bất tận, lăng hoa kính lý hình dung sấu
Triển bất khai để my đầu
Nhai bất minh để canh lậu
Nha!
Kháp tiện tự: già bất trú để thanh sơn ẩn ẩn
Lưu bất đoạn để lục thuỷ du du.

 

Dịch nghĩa

Nhỏ không dứt, dòng huyết lệ tương tư rơi xuống như những hạt đậu đỏ
Nở không trọn, liễu xuân, hoa xuân khắp chốn lầu son
Ngủ không yên, mưa gió bên ngoài màn song sau buổi hoàng hôn
Quên chẳng được, sầu mới lẫn sầu cũ
Nuốt chẳng trôi, những gạo ngọc miệng vàng nghẹn đầy cổ họng (ko nuốt được)
Soi chẳng hết, hình dung gầy võ trong gương hoa ấu
Đầu mày giương chẳng mở
Canh khuya cứ lần lữa không sáng
A!
Vừa đúng như: non xanh thấp thoáng không ngăn lại được
Nước biếc mênh mang trôi đi không ngừng


Đậu đỏ (hồng đậu) là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca Trung Quốc, dùng để chỉ nỗi nhớ nhau. Thơ Tương tư của Vương Duy:
Hồng đậu sinh nam quốc,
Xuân lai phát kỷ chi,
Nguyện quân đa thái biệt,
Thử vật tối tương ti (tư).

Bài này của Giả Bảo Ngọc, nằm trong hồi 28.


Bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng

Bao giờ hết, giọt lệ tương tư rơi đỏ ngòm,
Bao giờ nở, xuân về hoa liễu trước lầu son,
Nằm trằn trọc, song the, mưa gió buổi hoàng hôn.
Nghĩ vẩn vơ, mối sầu mới cũ cùng đổ dồn!
Nuốt không trôi, rượu vàng gạo ngọc nào biết ngon,
Soi không rõ, đứng trước gương lăng mặt héo hon!
Nét ngài cau cau lại,
Giọt đồng hồ dồn dập hơn.
Chao ôi!
Nào khác gì: trôi đi, nước biếc dòng man mác,
Dừng lại, non xanh bóng chập chờn.



             
 (Hồng Đậu Khúc)
                        .
 曹雪芹
                          
Tào Tuyết Cần

滴 不 尽 相 思 血 泪 抛 红豆 
Trích bất tận tương tư huyết lệ, phao hồng đậu.
开不 完 春 柳 春 花 满 画 楼 
Khai bất hoàn xuân liễu xuân hoa mãn họa lâu
睡 不 稳 纱 窗 风 雨 黄昏 后 
 Thụy bất ổn sa song phong vũ hoàng hôn hậu.
忘 不 了 新 愁 与 旧 愁 
 Vong bất liễu tân sầu   dữ   cựu  sầu.
咽 不 下 玉 粒 金 莼 噎 满 喉 
  Yết  bất   hạ  ngọc  lạp  kim thuần ế  mãn hầu.
照 不 见 菱 花 镜 里 形  容 瘦 
Chiếu bất kiến lăng hoa kính lý hình dung sấu
展 不 开 的 眉 头 捱 不 明 的 更 漏 呀 
  Triển bất khai đích mi đầu   nhai bất minh đích cánh lậu nha!
恰 便 似 遮 不 住 的 青 山 隐 隐 
  Kháp tiện tự   già  bất   trú  đích thanh sơn  ẩn  ẩn.
流 不 断 的 绿 水 悠 悠 
Lưu bất đoạn đích lục  thủy sầu  sầu
.绿 水 悠 悠 绿 水 悠 悠 
Lục thủy sầu  sàu,  lục thủy sầu  sầu.

Dịch nghĩa: 

                    Lời thơ: Tào Tuyết Cần

  Huyết lệ tương tư nhỏ hoài không dứt, đậu đỏ vứt rồi
  Nở chưa đều khắp, liễu xuân, hoa xuân  đầy lầu vẽ.
  Giấc ngủ không thành, cửa sổ buông màn, gió mưa hoàng hôn theo đến.
  Chưa  nguôi được sầu cũ lại chất chồng thêm sầu mới.
  Dẫu hạt ngọc vàng ròng nuốt cũng không trôi , nghẹn đầy ứ họng.
  Soi vào mặt kính không thấy rõ hình dung tiều tụy.
  Mắt mở không ra, chịu mờ thêm ánh lệ.
  Dịp may không giữ lại, bóng non xanh mờ ẩn.
  Dòng nước biếc buồn buồn trôi chảy mãi.
  Nước biếc sầu  dâng, nước biếc sầu dâng!

               

Dịch thơ:

Vì lượng nghĩa trong mỗi câu quá nhiều, có câu không thể dịch rút ngắn thành một câu nên chúng tôi tạm phân câu và dịch thành thơ Việt như sau:

                               Bài ca đậu đỏ

      Lệ máu tương tư cứ nhỏ hoài.
        Đậu hồng đã bỏ, biết còn ai?

        Hoa xuân tơ liễu bên lầu vẽ
         Như biết lòng người, chưa nở sai.

         Giấc ngủ không yên, cửa kín màn
            Hoàng hôn chậm đến, gió mưa chan.

       Sầu chưa nguôi được thêm sầu mới.
        Rượu ngọc cơm vàng  chả thiết ăn.

      Soi gương nào thấy rõ hình mình.
            Tiều tụy gầy hao, nỗi khổ tình.

      Mắt mở không ra, mờ ánh lệ.

       Dịp may mờ ẩn bóng non xanh.

      Nước biếc đẫm sầu trôi chảy mãi.

     Sầu dâng ! nước biếc tiếp sầu dâng !


                               * HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG dịch
                                    
*Chú thích:

  1)      Nguyên tác Hồng đậu khúc là lời thơ của Tào Tuyết Cần  trong tác phẩm Hông lâu mộng được Vương Lập Bình phổ nhạc  để hát theo nội dung phim. Đây là bài ca mà Giả Bảo Ngọc (nhân vật chính trong HLM) đã hát lên trong một buổi tiệc để nhớ người yêu là Lâm Đại Ngọc.

  2)      Hồng đậu: Đậu hồng, Việt nam ta chỉ gọi đậu đỏ, là hình ảnh tượng trưng cho lòng nhớ nhau (cho sự tương tư của nam nữ). Theo phong tục ở  đất Giang Nam khi người ta xa nhau, họ thường cài đậu hồng trên tóc để tỏ lòng nhớ nhau. Khi đậu hồng bị vứt bỏ là biểu hiện lòng không còn nhớ nhau nữa. Đây là hình ảnh đã trở thành  ẩn dụ trong văn họcTrung Quốc, xuất hiện từ thời nhà Đường.




Thanh văn khúc 晴雯曲- hồng lâu mộng