Hiển thị các bài đăng có nhãn SAIGON. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SAIGON. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2024

Vấn đề mỹ học trong quy hoạch đô thị ở Đông Dương

 Vấn đề mỹ học trong quy hoạch đô thị ở Đông Dương



Bài báo này được viết năm 1944, đăng trên tuần san Indochine, tác giả bài viết là kiến trúc sư Louis Georges Pineau, người đã dành nhiều thời gian để sinh sống và làm việc ở Việt Nam. Là người được giao quy hoạch Đà Lạt vào năm 1932, ông nổi tiếng với triết lý quy hoạch “vùng bất kiến tạo” để bảo tồn tối đa cảnh quan cho thành phố này, và triết lý đó đã được các nhà quy hoạch đô thị tuân thủ trong nhiều năm xây dựng Đà Lạt thời trước 1975. Hiện nay vùng bất kiến tạo theo đề xuất của Pineau dành cho Đà Lạt đã không còn vì cảnh quan đã bị phá vỡ và hỗn loạn. Trong bài báo này, Pineau dành nhiều lời chỉ trích việc một số các công trình, khu đô thị ở Đông Dương đã được quy hoạch không theo một quy tắc chung về mỹ học.

Louis Georges Pineau

“Ở một nền văn minh mà sự lịch thiệp không do bẩm sinh, không do giáo dục thì người thầy duy nhất là vẻ lịch sự của những địa điểm đẹp, dáng thanh nhã của những con đường, phong cách đẹp của những công trình nghệ thuật; và cuộc sống trong các đô thị phải tự nó làm nảy nở trong các cư dân của nó ý thức tự trọng và tôn trọng người khác, tức những thứ được gọi một cách chính xác là phép lịch sự” – Jean Giraudoux.

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2023

Chuông Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn

Chuông Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn

Bài đăng của Đình Phú - Tấn Cư - Thanh Hải trên thanhnien.vn



Chuông sol còn gọi là chuông nhất
với đường kính 2,25m, cao 3,5m, nặng 8.785kg


Bộ chuông cổ độc đáo được lắp đặt bên trong hai tháp chuông nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (tọa lạc trên khuôn viên tuyệt đẹp ở Công xã Paris, quận 1, TP.HCM).

P.Launey đã nhận xét về bộ chuông này: “Cả vùng Viễn Đông, không nơi nào có thể sánh được, và ngay cả ở Pháp, nhiều nhà thờ cũng phải ghen tị!”.

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có tên chính thức là Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn, là nhà thờ mẹ của Giáo phận TP.HCM, nơi cử hành những thánh lễ quan trọng của giáo phận TP.HCM và Giáo hội Công giáo.

Tháp chuông khi mới khánh thành có mái bằng (cao 36,6m) nhưng đến năm 1895, kiến trúc sư Gardes thiết kế thêm phần mái nhọn vươn lên cao như ngày nay (nâng tổng chiều cao lên trên 60 m). Độ cao này tương đương với tòa nhà gần 30 tầng nhưng đường dẫn từ mặt đất lên đỉnh tháp chuông chỉ có cầu thang bộ làm bằng đá, gỗ và sắt với độ dốc rất lớn.

Từ đỉnh tháp chuông có thể nhìn thấy phần lớn không gian phố phường Sài Gòn.
Bộ chuông gồm 6 quả chuông nặng tổng cộng gần 30 tấn gắn trên 2 tháp được đánh giá không chỉ độc đáo nhất khu vực Đông Nam Á mà còn khiến cả thế giới phải ghen tị.

Chất liệu chuông bằng đồng, do hãng đúc chuông Bolley chế tác vào năm 1879 tại Pháp với những đường nét họa tiết trên chuông rất tinh xảo và mỗi quả chuông đều có đường nét hoa văn khác nhau. Bộ chuông được phối âm độc đáo với các cung: sol, la, si, do, re, mi.

Chuông sol còn gọi là chuông nhất với đường kính 2,25m, cao 3,5m, nặng 8.785kg; chuông la: chuông 2 với đường kính 1,9m, nặng 5.931kg; chuông si: chuông 3 với đường kính 1,7m, nặng 4.184kg; chuông do: chuông 4 với đường kính 1,69m, nặng 4.315kg; chuông re: chuông 5 với đường kính 1,45m, nặng 2.194kg; chuông mi: chuông 6 với đường kính 1,25m, nậng 1.646kg.

Sáu quả chuông được thiết kế 2 phần: phía bên phải tháp chuông từ ngoài nhìn vào (phía Bưu điện TP.HCM) gắn 4 chuông sol, do, re và mi. Phía bên trái (phía Hội trường Thống nhất) gắn 2 chuông la và si. Giàn treo tháp chuông được thiết kế độc lập nên khi cùng lúc 6 quả chuông được đổ vang, độ rung tạo ra không ảnh hưởng đến tháp chuông. Ở mặt tiền của tháp chuông có gắn một đồng hồ cổ lớn có đường kính 2m vẫn đang hoạt động bình thường.

Bộ chuông độc đáo này được vận hành bằng điện và có sự hỗ trợ hệ thống đạp bằng chân để tạo lực đẩy khi bắt đầu khởi động đối với những quả chuông có trọng lượng lớn. Độ vang của chuông có thể lan xa ở khoảng cách 10 km.

Một điểm đặc biệt khác là phần móng nhà thờ rất kiên cố. Trải qua hơn 135 năm sử dụng nhưng không có dấu hiệu nghiêng lún hay bị nứt tường dù nhà thờ tọa lạc độc lập trên vị trí xung quanh có mật độ phương tiện lưu thông rất lớn. Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm tồn tại, một số hạng mục của tháp chuông bị hư hỏng, xuống cấp.

Theo quan sát của Thanh Niên Online, mái tôn của tháp chuông không bị gỉ sét nhưng một số điểm đã bị hở khiến nước chảy vào nhà thờ mỗi khi trời mưa. Do đó, để bảo vệ sự bền vững của công trình kiến trúc độc đáo này, Tòa Tổng giám mục Giáo phận TP.HCM đang chuẩn bị tiến hành kế hoạch trùng tu quy mô lớn, dự kiến bắt đầu từ quý 3 năm 2015.

Cùng với trùng tu lại tháp chuông, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn còn được trùng tu phần mái ngói và nội thất nhà thờ. Quan điểm trùng tu của Tòa Tổng giám mục Giáo phận TP.HCM là giữ được vẻ đẹp nguyên thủy, không bị thay đổi kết cấu, hình dạng, màu sắc sau khi trùng tu. Thời gian trùng tu vì vậy có thể sẽ kéo dài trong nhiều năm.


Theo tư liệu của Tòa Tổng giám mục Giáo phận TP.HCM, ngày 7.10.1877, giám mục Isidou Colombert cử hành nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Đức Bà (dài 93m, rộng 35m) và cũng chính ngài cử hành nghi thức khánh thành vào dịp lễ Phục sinh, ngày 11.4.1880.
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn do kiến trúc sư người Pháp Bourad thiết kế, đồng thời trúng thầu thi công dựa trên sự mô phỏng kiến trúc nhà thờ Đức Bà Paris. Toàn bộ vật liệu xây dựng nhà thờ đều được nhập từ Pháp. Màu sắc ít thay đổi và mặt ngoài của vật liệu không đóng rêu.
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sau hơn 135 năm xây dựng và hiện hữu giữa vùng đất từng được mệnh danh là hòn ngọc viễn đông, từ lâu cũng đã trở thành một biểu tượng kiến trúc độc đáo của lịch sử hơn 300 năm của vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định – TP.HCM. Nhà thờ là sự kết hợp hài hòa 2 trường phái kiến trúc cổ điển châu Âu: roman (kiểu vòm cong tròn) và gothic (kiểu mái vòm vuốt nhọn). Sự kết hợp này thể hiện rõ nhất ở phần tháp chuông.



 Quả lắc chuông sol



Thành chuông sol dày hơn gang tay



Bốn chuông sol, do, re và mi (thứ tự từ trái qua phải, dưới lên trên)
trên tháp chuông phía Bưu điện TP.HCM



Chuông la - chuông 2 với đường kính 1,9m, nặng 5.931kg (bên trái) và chuông si - chuông 3 với đường kính 1,7m, nặng 4.184kg (bên phải) trên tháp chuông phía Hội trường Thống Nhất. Hai quả chuông này có gắn bàn đạp bằng chân để hỗ trợ khi vận hành chuông bằng motor điện






Đầu chuông đúc bằng gang để chống gỉ sét.
Qua 135 năm sử dụng vẫn chưa có dấu hiệu nào của sự gỉ sét.







Hoa văn trên mỗi quả chuông được chạm khắc tinh xảo và hoạt tiết không giống nhau, rất đa dạng.















Phần chóp tháp chuông được kết cấu bằng thép, mái tôn được làm thêm vào năm 1895 (15 năm sau nhà thờ khánh thành)














Vật liệu sắt, thép, ốc vít, bulong đều nhập từ Pháp nên có độ bền rất cao



Mái tôn không gỉ sét nhưng một số điểm bị hở sau hơn 100 năm. Thép dây được dùng để buộc những điểm hở mới qua một vài năm đã gỉ sét gần đứt.




Nhà thờ là sự kết hợp hài hòa 2 trường phái kiến trúc cổ điển châu Âu: roman (kiểu vòm cong tròn) và gothic (kiểu mái vòm vuốt nhọn). Sự kết hợp này thể hiện rõ nhất ở phần tháp chuông.











Cầu thang bộ lên xuống tháp chuông.
Độ cao tháp chuông tương đương với tòa nhà gần 30 tầng










Một số ô cửa và kính trên tháp chuông bị hư hỏng. Đây là lý do Tòa Tổng giám mục Giáo phận TP.HCM tiến hành trùng tu để bảo vệ sự bền vững của công trình kiến trúc độc đáo





Hệ thống điện, motor, dây xích truyền lực và trục tròn xoay của các quả chuông




Chuông sol (chuông nhất) vì quá nặng nên bây giờ ít được rung.
Lớp bụi thời gian phủ lên mặt ngoài của chuông.




Hệ thống giàn giáo bằng gỗ làm bệ gắn các quả chuông cũng ố vàng vì thời gian trên trăm năm




Phía trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là giao lộ Nguyễn Du và Đồng Khởi, cạnh bên là Bưu điện TP.HCM cũng có “tuổi đời” hơn 100 năm





Chuông Nhà Thờ Đức Bà-Sài Gòn.
 Bells Of The Sai Gon Notre Dame Cathedral Basilica.



Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

Sài Gòn – Phố Của Sông & Sông Của Phố Tùy bút

Sài Gòn – Phố Của Sông & Sông Của Phố
Tùy bút
Nguyễn Thị Hậu
Một trong những đặc trưng của Sài Gòn là “đô thị sông nước”. Vùng đất này là nơi gặp gỡ của hai dòng sông lớn Đồng Nai và Sài Gòn để cùng đi ra biển; nơi có những kinh rạch mà mức độ lưu thông có thể sánh ngang những con đường giao thông quan trọng nhất như Rạch Bến Nghé, kinh Tàu Hũ, kinh Tẻ kinh Đôi... có những con rạch quanh co xuyên qua thành phố như Nhiêu Lộc, Thị Nghè; có khu vực chằng chịt kinh rạch lớn nhỏ như vùng Chợ Lớn, có con rạch mang tên cả một làng nghề sầm uất và nổi tiếng là rạch Lò Gốm, có cả kinh đào thẳng tắp một thời quan trọng như Kênh Ruột Ngựa. Và Sài Gòn còn là nơi cửa sông gặp biển ở Cần Giờ...
Nhiều con đường ở đô thị Sài Gòn, Chợ Lớn bắt đầu từ sông Sài Gòn – rạch Bến Nghé, nổi tiếng  như đường Đông Khởi hay đường Nguyễn Huệ (từ việc lấp Kinh Chợ Vải nên xưa còn gọi là đường Kinh Lấp)... Nhưng hình thành trước đó là đường ven sông đồng thời là hệ thống bến, bãi của một thời “trên bến dưới thuyền”. Rồi Sài Gòn phát triển đô thị kiểu phương Tây với nhiều đường “dọc” bắt đầu từ sông đan xen với đường “ngang” tạo thành những “ô vuông bàn cờ”, “phố ven sông” được coi là “mặt tiền” của đô thị này.
Trên mỗi chuyến bay về Sài Gòn, khi tiếp viên hàng không nhắc nhở “cài dây an toàn, mở tấm che cửa sổ” là tôi biết đã gần đến nhà... Lần nào cũng vậy, dù ngày hay đêm tôi cũng nhìn qua cửa sổ xuống dưới kia. Thành phố của tôi hiện ra đầu tiên là những dòng sông. Sông rạch ở Sài Gòn không đậm màu phù sa như sông nước miền Tây, cũng không trong xanh như vùng nước lợ nhiễm phèn ven biển... mà có thể nhận diện sông rạch Sài Gòn bằng những vệt nhà cửa hai bên bờ. Ban đêm ánh đèn như đường dài ở hai bên một đường đen thẫm...
           Có lẽ không ở đâu mật độ nhà ven sông dày đặc như ở Sài Gòn. Dày đến nỗi nhiều con đường không thể đi song song bên bờ sông mà phải len lỏi vòng vo giữa những khu nhà, muốn ra đến bờ sông phải theo những con hẻm ngoằn nghèo càng đi càng mất hút... mãi mới nhìn thấy sông. Trước kia phố ven kênh rạch hình như không bao giờ thấy bình minh, ban ngày ánh sáng chỉ nhờ nhờ. Còn đến chiều, bóng tối, không thèm đợi hoàng hôn, sụp xuống rất nhanh. Phố lúc ấy hầu hết là những xóm nhà cấp 4, nhà sàn lội ra giữa kinh rạch... Sông khi ấy hầu hết là kinh đen, nước đặc quánh mùi hôi lưu cữu hàng chục năm... Trên kinh rạch Sài Gòn từ lâu đã ít ghe tàu thông thương, chỉ vài đoạn có cảnh “trên bến dưới thuyền” vào những ngày giáp Tết.
Nhưng khoảng mươi năm gần đây cảnh quan này đã có nhiều thay đổi.
Bắt đầu từ việc mở đại lộ Võ Văn Kiệt từ quận Một đến Nhà Bè, Bình Chánh. Rồi rạch Bến Nghé, Kinh Tẻ Kinh Đôi vào Ch Lớn,  đến lưu vực Nhiêu Lộc, Thị Nghè, Lò Gốm... được nạo vét, kè bờ gọn gàng thì “xóm nhà mái tôn vách ván” trên sông rạch đã lần lượt “biến mất”. Con đường mới thành hình hai bên bờ làm “lộ diện” những ngôi nhà nhếch nhác, xấu xí. Nhưng như một phép màu, chúng được sửa sang hay xây mới rất nhanh. Những con hẻm ngoằn nghèo cũng mở rộng hơn, tráng xi-măng sạch sẽ... “phố ven sông” trở thành phố thị với những ngôi nhà mặt tiền đẹp đẽ, hàng quán khang trang.
Và sông, nước đã trong hơn, hầu như không còn nặng mùi dù trong ngày nước ròng nắng gắt. Người ta đã thả cá xuống kinh rạch, đã dự kiến có “tàu du lịch” xuôi ngược. Hai bên bờ bây giờ là thảm cỏ vườn hoa, đường đi bộ và hàng cây xanh... Phố của sông, sông của phố bên nhau như một đôi bạn thân.
***
Sài Gòn từ khi hình thành đô thị thì “sông của phố” là đường giao thông trong “nội đô” và ra ngoại tỉnh. Từ đường thủy, tính chất giao thương của Sài Gòn đã phát triển. Không phải tự nhiên mà cùng với việc xây Thành Gia Định, chúa Nguyễn Ánh đã dựng Xưởng thủy nơi rạch Thị Nghè gặp sông Sài Gòn, sau này là công xưởng Ba Son nổi tiếng. Từ Xưởng Thủy nghề đóng tàu của người Việt Nam đã trở thành một ngành công nghiệp, nhất là từ cuối thế kỷ 19 khi kỹ thuật đóng và sửa chữa tàu của phương Tây được ứng dụng tại đây.
Nơi ngã ba sông Sài Gòn tách một dòng là rạch Bến Nghé đi vô Chợ Lớn có cột cờ Thủ Ngữ làm tín hiệu cho tàu ra vào cảng, có bến Nhà Rồng trước là trụ sở của một công ty tàu biển... Dọc rạch Bến Nghé tiếp đến kinh Tàu Hũ, rồi Kinh Tẻ, kinh Đôi hồi đó đất đai rộng rãi, cặp sát bờ sông phía quận Tư, quận Tám còn là vùng đất khá trũng và hoang sơ.  Từ đó dần mọc lên hệ thống bến bãi, nhà máy xay sát lúa gạo, nhà máy sản xuất rượu, nước ngọt, thuốc lá, xà bông... Có thể nói sự kết hợp giữa “phố và sông” ở Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19 làm nên những khu công nghiệp và cảng thị. Tại đây tiếp nhận nông sản từ miền Tây lên, xuất cảng lúa gạo hàng hóa ra nước ngoài. Tại đây có một số chợ đầu mối mua bán hàng hóa sỉ, lẻ cho cả Sài Gòn, Chợ Lớn, xuống miền Tây, ra miền Đông, miền Trung...
Ven sông về phía quận Một, quận Năm, quận Sáu là phố thị. Có nhà máy đèn Chợ Quán và những dãy nhà một trệt một lầu san sát mặt tiền buôn bán sầm uất. Xưa “trên bến dưới thuyền” chủ yếu phía bên này (bên kia nhà máy thì tàu lớn, xà lan), từ rằm tháng Chạp đến ngày 30 Tết ghe chở cây kiểng bông chưng, dưa hấu, trái cây các loại, cả ghe chở than đước ông lò đất, ghe chiếu “Cà Mau” về đậu kín bến sông, ván bắc liền ghe nọ qua ghe kia, trên bờ hình thành chợ Tết.
Sông ở giữa chia đôi hai nửa thành phố, nhưng bên này bên kia liên kết với nhau bởi cùng tính chất kinh tế thương mại, có lẽ tính chất này bắt đầu từ ngôi chợ đầu tiên của thành Gia Định nằm ở bến sông Sài Gòn (khu vực chợ Cũ ngày nay): chợ Bến Thành. Sài Gòn được hình thành từ những dòng sông của phố và phát triển nhờ những đường phố của sông. Bản sắc Sài Gòn cũng là ở đó.  Sông rạch và hệ thống cảng thị là yếu tố Địa – Kinh tế giúp Sài Gòn phát triển nhanh chóng, một thời từng là trung tâm của khu vực Đông Nam Á.
***
Giờ đây, khi thành phố mở rộng nhiều hơn trước, sông Sài Gòn vẫn chia thành phố làm hai nửa: bên quận Một, quận Ba, quận Năm… là trung tâm đô thị  nơi chứa đựng nhiều di tích lịch sử của 320 năm Sài Gòn kể từ năm 1698. Bên kia là quận Bảy, quận Hai, quận Chín, quận Thủ Đức, là vùng “đô thị hóa” nhanh chóng, hiện đại như Phú Mỹ Hưng, bán đảo Kim Cương… Xa hơn là đô thị biển Cần Giờ đang thay đổi từng ngày… Một khúc uốn quanh của sông Sài Gòn ôm trọn “bán đảo” Thủ Thiêm, nơi mà theo quy hoạch sẽ là một thành phố mới. Chỉ mong Thủ Thiêm nhanh chóng vượt qua những tháng ngày nóng bỏng đau đớn để thực hiện được giấc mơ tương lai mà bao làng xóm lâu đời bao con người cần lao đã phải đánh đổi số phận vì nó.
Khu vực cảng lâu đời như Ba Son, Tân Cảng, Khánh Hội ven sông Sài Gòn… đã di dời vì không còn phù hợp trong một thành phố ngày càng mở rộng. Nhưng thay vì ven sông là công viên, cây xanh, bến du thuyền hay đơn giản chỉ là thảm cỏ vườn hoa quán cà phê… để người dân có thể thoải mái đến đây nghỉ ngơi và ngắm nhìn dòng sông con kinh ngày hai lần nước lớn nước ròng, để hít thở ngọn gió trong lành mang theo hơi biển, để những dòng sông vẫn gắn bó với đường phố như trăm năm nay… Thì ở đó các dự án nhà cao tầng cứ mọc lên dày đặc, che bờ sông, chắn gió biển, chặn tầm nhìn xa của thành phố. Cứ như thế liệu có lúc nào đó những khối bê tông kính thép sừng sững hai bên bờ sẽ biến sông Sài Gòn thành một dòng kênh cô đơn, không còn phố không còn đường làm bè bạn?
Là một thành phố gần biển và đang phát triển ra phía biển, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé… cần được coi là “mặt tiền của thành phố”. Mặt tiền khang trang, đẹp đẽ, hiện đại, tốt thôi. Nhưng mặt tiền còn là để nhận dạng ngôi nhà, nhận diện chủ nhân… Đừng để “bản sắc Sài Gòn” biến thành hàng rào bê tông cứng đờ, vô hồn, xa lạ với dòng sông mềm mại và luôn tràn đầy gió biển, xa lạ với những con phố thân thiện luôn tràn đầy sức sống.
Sài Gòn 20.11.2018

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2019

Địa Danh Cũ Sàigòn.

Địa Danh Cũ Sàigòn. 

Hồi ký Bình Nguyên Lộc


(Boulevard Charner (Đại lộ Nguyễn Huệ) nhìn thẳng Tòa Hôtel de ville hay Dinh xã Tây trong tiếng Việt. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tòa đô chánh Sàigòn)

Phần 1…
Tên đường thời Pháp thuộc:
Song-song với những địa-danh tên Tây, các đường phố và nhiều nơi chốn ở Sàigòn đều có tên Việt, được dân-chúng quen dùng.
Đây là những tên tôi còn nhớ lỏm-bỏm:
Bót cảnh-sát quận nhì, có tên là Xi Nho. Con đường trước bót không bao giờ mang tên Tây Chaigneau hay Signor lần nào cả. Có lẽ là một ông Tây cảnh-sát đã giữ chức-vụ liên-lạc với dân-chúng chăng?

Đầu đường Hồng-Thập-Tự ngày nay, được gọi là đường Hàng Bàng vì hai bên đường trồng hai hàng cây bàng. Tây đặt tên đường là Chasseloup Laubat, nhưng ta bất kể.

Đường Mạc-Đỉnh-Chi ngày nay, có tên Tây là Massiges nhưng ta cứ tiếp-tục gọi là đường Hàng Sao, vì hai bên đường trồng hai hàng sao, có lẽ là trồng trước các đường khác chớ về sau thì đường nào cũng trồng sao cả.

Đường Bùi-Quang-Chiêu là đường Cá Hấp thuở trước vì chỗ ấy nằm cạnh chợ Bến-Thành, các vựa cá hấp đóng đô ở đó.

Đường Bùi Chu, thuở ấy tên Tây là Frère Guillerault, nhưng người ta cứ kêu là đường Huyện Sĩ, vì cái nhà thờ cất ở đó do tiền một tư-nhơn, ông Tri-huyện-hàn Lê-Phát-Sĩ tài-trợ.

Đại-lộ Kitchener (Nguyễn-Thái-Học) được gọi là đường Lò Heo vì lò heo cũ ở đó.

Dĩ-nhiên là đường Phó-Đức-Chính, tên Tây là Alsace Lorraine được gọi là đường Chú Hỏa vì con đường ấy nổi danh nhờ cái cư-xá đồ-sộ của họ Hui-Bon-Hoa.

Đường Khổng-Tử nguyên là đường Gaudot và được gọi là đường Đèn Năm Ngọn.

Đường Phát-Diệm, tên cũ cũng là tên Việt, đường Nguyễn-Tấn-Nghiệm, vậy mà thiên-hạ cứ gọi là đường Cầu Kho. Vậy thì người dân không phải tránh tiếng Tây khó đọc, mà tránh sự bị chỉ-định. Họ ưa theo thói quen hơn.

Nhưng buồn cười lắm là có hai trường-hợp ngược đời, ta ưa Việt-hóa tên Tây, nhưng trong hai trường-hợp ta lại theo Tây một cách mù-quáng. Đó là địa-danh Đakao. Địa-danh ấy nguyên trước là Đất Hộ, bị Tây Pháp-hóa thành Đako, rồi ĐaKao.

Ta lại mù-quáng theo Tây ở một trường-hợp nữa là vùng đất gần cầu Tân-Thuận trước kia là bãi đất hóng mát của dân Sàigòn, tên ta là Láng-Thọ. Tây Pháp-hóa thành Lanto rồi ta lại Việt-hóa thành Lăng-Tô. Không biết cái Lăng đó của Tô-Định hay của ai.

Những con đường tên Tây mà ta không có tên Việt, ta Việt-hóa nó một cách buồn cười.
Chẳng hạn đường Eyriaud des Verges (Trương-Minh-Giảng) được đặt là “Ai-vô rờ-quẹt?”, còn đường Léon Combes được đọc là “Lên-ăn-cơm”.
Đường Dixmude (Đề-Thám) là đường Đít-Xơ-Mít.
Đường Blansubé, tức đoạn Phạm-Ngũ-Lão ngay chợ Thái-Bình được đọc là đường Lan-Si-Bê. Chợ Thái-Bình, cho tới năm 1925, còn được dân-chúng gọi là chợ Lan-Si-Bê.
Đường Huỳnh-Thúc-Kháng (Monlaii) là đường Mộng-Lầu.
Dân-chúng ưa đọc tên đường De Lattre (Công-Lý) nhứt vì tên cũ là Mac Mahon, đọc ra là Mặt-Má-Hồng, nghe hay quá.
Nhưng ngộ-nghĩnh số một là đường Phan-Thanh-Giản (Legrand de la Liraye). Vì tên Tây quá khó đọc, nên đọc ra là “Nhăn răng Rìa ai đi đây?”
Hiệu bán thực-phẩm tươi (épicier) của Tây ở đường Tự-Do, hiệu Guyenot (ngày nay vẫn còn) cứ được gọi là “Hãng Mỡ”, tôi ngạc-nhiên, điều-tra mãi mới hay vì hiệu ấy chuyên chế-tạo xúc-xích (saucisse) nên thừa mỡ rất nhiều. Họ bèn rót mỡ nước vào thùng dầu hỏa bán cho người Quảng-Đông là dân-tộc rất thích ăn mỡ nước, mỗi tháng bán ra hằng mấy trăm thùng, nên nổi danh như vậy.
Đường Tự Do Sàigòn


Vẻ yên bình có phần sang chảnh trên đường Tự Do năm 1960 - Ảnh: Tumblr Amazingvietnam
Xóm Máy Đá trong Chợ lớn ngày nay, có tên như vậy vì buổi đầu hãng Larue phát-tích ở đó, và ngày nay vẫn còn chi-cuộc Larue ở đó nữa.

Thuở tôi còn học trung-học, mỗi lần trường đưa đi viếng kỹ-nghệ trong thành-phố thì viếng hãng Larue tại đó, hãng Sàigòn chưa xây.

Cái ngã sáu ở đầu các đường Lê-văn-Duyệt, Võ-Tánh, Gia-Long, Phan-văn-Hùm ngày nay, phải gọi là Ngã Sáu Quẹt-Đoong, dân-chúng mới hiểu, vì cái ngã sáu trong Chợlớn cao-niên hơn tới 30 tuổi, họ quen với tên cũ, tên mới, phải kêu thêm chút gì để phân-biệt.


Phần 2…
Tên đường thời Đệ Nhị Công Hoà:




Đại lộ Hai Bà Trưng

Đi trên đại lộ Hai Bà Trưng tôi bỗng sực nhớ lại một điều rồi tủi thân cho bọn đàn ông của ta. Là hễ đờn ông được danh vọng thì đàn bà cũng thơm lây, nhưng khi đàn bà nổi danh thì tên tuổi đàn ông chìm sâu thêm.
Một góc đường Hai Bà Trưng năm 1970 - Ảnh Tumblr Amazingvietnam
Đành rằng ông Thi Sách chỉ có mỗi một cái công nhỏ đối với nước nhà là bị viên thái thú Tàu giết thôi, nhưng quên mất ông ấy cũng tội.

Vậy nên tôi đã đi khắp Sàigòn để tìm xem có con phố nào là phố Thi Sách không ? Có. Hoan hô quí vị đặt tên đường đã nhớ dai hơn nhân dân.
Nhưng mà tội quá, ông Thi Sách ở mãi bên kia nhà thương Đồn Đất, ở xóm ngoại nhân, không bao giờ có người Việt bước chân đến. Ông nầy đã chết vì tay ngoại nhân mà hương hồn ngày nay vẫn lẩn quẩn với ngoại nhân.
Ông Thi Sách và Hai Bà Trưng chạy song song với nhau cho tới mé nước, và không bao giờ gặp nhau cả, đó cũng là một điểm đáng buồn cho cặp vợ chồng ấy.
Ông Nguyễn Thái Học mà còn ngậm cười được vì đã gặp Cô Giang, Cô Bắc ở hai ngã ba chợ Cầu Muối, đằng nầy ông chồng Bà Trưng chỉ nghe văng vẳng tiếng bà đâu đó thôi.
Bà Sương Nguyệt Ánh cũng không bao giờ đi thăm cha được, vì bà ở xóm Bùi Chu còn cụ đồ lại qui điền mãi tận trên Tân Định.
Vị nữ anh hùng thứ nhì của ta, Bà Triệu cũng bị ta quên mất vì bà cũng ở xóm ngoại nhân, trong Chợ Lớn.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đô thành đặt tên rất khéo, Công chúa Huyền Trân ở một căn phố buồn hiu, sau dinh Độc Lập, buồn như con đường thiên lý ngàn dặm băng rừng đưa công chúa từ Việt sang Chiêm.
Còn cái phố có nhiều tiệm mì, tiệm ăn và tửu lâu trong Chợ Lớn mà đặt tên là phố Tản Đà thì tuyệt diệu bởi vì Tản Đà không phải là thi sĩ mà thôi, lại còn là thực sĩ nữa.



Chợ Bình Tây



Nếu đô thành có bất công chút ít, chẳng qua là vì quên đó thôi. Chẳng hạn như ông Phan Huy Chú được nêu danh trong Chợ Lớn mà ông Phan Huy Vịnh lại không.

Đô thành lại trọng văn nghệ lắm. Không có nhà văn, nhà thơ nào ngày xưa mà không được lấy tên đặt tên phố cả, khiến lũ văn nhân thi sĩ hậu sanh là ta đây cũng nức lòng muốn cố gắng để có thể được biệt đãi như thế về sau.
Chỉ phiền văn nhân thi sĩ của thế hệ ta đông quá, mà đường phố chỉ có hạn thôi, dễ gì tìm được một chỗ “mần”.
Có một điều đáng chú ý là họ Nguyễn chiếm đa số trong các phố Sàigòn. Dân tộc ta họ Nguyễn cũng như dân tộc Pháp họ Dupont vậy mà!

Đại lộ Nguyễn Huệ

Một người Pháp quen biết kể chuyện rằng thuở Đức chiếm đóng nước Pháp, một khi kia quân đội Đức bố ráp ở một ngoại ô nhỏ tại Ba Lê để bắt ông Dupont nào đó. Cuộc bố ráp thi hành xong thì chúng bắt được tất cả tám trăm mười bảy ông Dupont, vừa già, vừa trẻ, đó là chúng đã loại trừ những cậu Dupont oắt con ra rồi đó.
Một cựu thông ngôn nhà binh Pháp ở đây cũng kể rằng một khi kia Pháp ruồng bố ở làng nọ để bắt Nguyễn Thị Hai nào đó. Chỉ một làng ấy thôi, mà họ đã bắt đến bốn mươi tám Nguyễn Thị Hai chẳn chòi.
Vậy thì họ Nguyễn chiếm đến 55 con phố ở Sàigòn – Chợ Lớn không phải là chuyện lạ. Đó là chưa kể những bà Sương Ngyệt Ánh v.v… cũng là họ Nguyễn mà không nêu họ ra. Bà Đoàn Thị Điểm cũng có người bảo thật ra là Nguyễn Thị Điểm, và biết đâu cô Giang, cô Bắc lại không là họ Nguyễn.
Họ Nguyễn được ưu đãi như thế, còn họ Tô không biết vì sao lại ra rìa. Năm kia trên Hòa – Hưng có một con phố tên là Tô Hiến Thành. Năm nay không thấy tên phố đó nữa.
Ngoại nhân có công với dân tộc cũng được nêu danh, cho công bằng. Nhưng không hiểu ông J.J Rousseau có công trực tiếp gì với dân tộc ta. Còn ba ngoại nhân khác rất có công là Tích Quang, Nhâm Diên, và Sĩ Nhiếp lại vắng bóng.

Đường Lê Thánh Tôn




Đường Phạm Ngũ Lão


Sàigòn có một con phố cong queo một cách rất ngộ nghĩnh, được đặt tên là phố Cống Quỳnh. Thật là khéo, vì cách lập luận và hành động của ông Cống Quỳnh cũng cong cong quèo quẹo như con phố kỳ dị ấy.

Tiếc rằng Cống Quỳnh có lẽ chỉ là một nhân vật tưởng tượng thôi.



Sàigòn đặc biệt vì có phố không vỉa hè, thí dụ đoạn phố Đề Thám trước dãy nhà cũ đối diện với hông nhà thờ Tin Lành.
Thật ra thì có một vỉa hè rộng độ tám tấc, nhưng đã lì xuống bằng với mặt đường, ô tô tha hồ leo lên và người đi bộ rất lắm khi phải nhảy vào nhà người ta để thoát chết.
Lại có vỉa hè mà người đi bộ không được xử dụng, thí dụ vỉa hè Cô Giang tại chợ Cầu Muối. Người đi bộ ở đoạn nầy hễ xuống đường thì bị xe cán, còn lên lề thì bị mấy chị bạn hàng đuổi, vì mấy chị mướn vỉa hè ấy có đóng tiền chỗ đàng hoàng.
Thành ra qua đoạn đường đó y như là qua cầu đoạn trường, lên lề thì đoạn tâm, còn xuống thì đoạn cẳng.
Có lắm vỉa hè công khai dùng làm ga-ra, nói công khai vì xe để trên ấy nằm đó năm nầy qua năm khác mà không sao cả. Thế nên chỉ mướn một căn phố bé nhỏ thôi mà người ta có thể mở ga-ra to là nhờ vậy.
Nói đến vỉa hè không thể không chú ý đến những vỉa hè mức độ khác nhau, khách đang đi bỗng sụp chơn suýt ngã. Ấy, nhà bên nầy xây cao một tấc năm, nhà bên kia chỉ xây một tấc thôi mà. Vì mạnh ai nấy xây vỉa hè nên vỉa hè lại mang đủ màu sắc, có quãng xanh, quãng vàng, quãng xám, và lại kiến thiết bằng đủ cả vật liệu : gạch xi-măng, xi-măng trắng, gạch thẻ, gạch Tàu, nhựa, đá ong. Sợ nhứt là vỉa hè đá ong trên đường Thủ Khoa Huân. Đá ong lổm chổm khiến bộ hành không lọi chân cũng trặc cẳng.
Nếu đô thành tự làm lấy vỉa hè rồi bắt người ta trả tiền thì tình trạng nầy đã không có.
Bình Nguyên Lộc
----------
Hình ảnh đường phố Sài Gòn xưa.