Hiển thị các bài đăng có nhãn DÂN TỘC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DÂN TỘC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Ánh mắt Phụ nữ Hồi giáo



Xem một bộ phim của Nhật, nhân vật chính là một cô gái câm, cô không thể giao tiếp bình thường như mọi người nhưng gương mặt cô, ánh mắt cô thì có thể nói lên tất cả.
Đôi mắt to tròn vui lên rạng rỡ khi cô hạnh phúc, và cũng chính đôi mắt ấy nhiều lần cùng cô và những giọt nước mắt ẩn mình trong căn phòng nhỏ.

Trong chúng ta, không có nhiều người giấu được cảm xúc qua ánh mắt nhưng đôi khi cũng có không ít người chưa biết gửi đến người khác một ánh mắt trìu mến.


         
Phụ nữ Hồi giáo ở Trung Đông thường phải khăn trùm đầu và mạng che mặt. Người ngoài chỉ có thể nhìn thấy đôi mắt của họ. Cũng chính vì điều này mà đôi mắt của phụ nữ đạo Hồi có sức thu hút kỳ lạ, giống như hút hồn người khác. Dường như tất cả những gì tinh anh đều tập trung vào đội mắt của họ. (Clip vanthekt)

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

Hoa mận Tây Bắc

"... anh chợt hiểu ra rằng: Sống lúc nào cũng tỉnh táo, tính toán thì khó rơi xuống vực sâu, nhưng cũng chỉ mãi đứng trên mặt đất mà thôi. Hãy sống như các cô gái Thái- say công việc, say cuộc sống, say với bạn tình- để cho cuộc đời có những giây phút thăng hoa…" (XUANHOANEW)
                                         
LỜI CÔ GÁI THÁI
             
Một ngày đầu xuân, anh cán bộ dưới xuôi lên Tây Bắc công tác. Nắng sớm dịu dàng, mưa xuân bay bay như bụi rắc xuống những cánh rừng mơ hoa nở trắng. Tiếng chim ríu rít gọi bầy khiến lòng anh xốn xang…
   
Anh được đón tiếp trong nhà sàn của trưởng bản. Quây quần bên bếp lửa, ngoài chủ nhà còn có hơn ba chục cô gái Thái. Cô nào da cũng nõn nà, má ửng hồng, mắt sáng long lanh. Họ luân phiên chúc rượu anh. Trong các cô gái ấy, anh tỏ ra cảm tình với cô xinh nhất. Chủ nhà biết ý, nháy mắt với cô gái. Thế là, cứ đến lượt mình chúc rượu, cô lại nấn ná ngồi nói chuyện với khách. Anh thầm nghĩ: "Người Thái tiếp khách tinh tế thật".
  
***
Khi men rượu đã ngấm, mọi người ra sân múa xoè. Cô gái ấy lại đến múa cùng anh.
- Này, sao em không xõa tóc mà búi tóc?
- Con gái Thái búi tóc là có chồng rồi.
- Chồng em có ở đây không?
- Có.
- Em múa với anh, chồng có nghĩ ngợi gì không?
- Chồng em rất tự hào!
Câu trả lời làm anh sững sờ. Anh tin cô gái không nói xã giao mà nói thật. Anh thầm phục: "Trong văn hoá ứng xử của người Thái, có những nét đạt đến đẳng cấp cao".
   
***
Tan múa xoè, anh cùng cô gái ra rừng mơ ven suối. Cô khơi chuyện trước:
- Anh biết vì sao nhiều con trai dưới xuôi lên đây công tác mười mấy năm mà không lấy được vợ không?
- Chịu.
- Vì họ sống tỉnh táo quá. Con gái Thái chúng em vốn say công việc, say cuộc sống, say với bạn tình. Chồng em đến nhà bạn uống rượu phải say em mới thích. Nếu về nhà mà chưa say thì em lấy thêm rượu thịt, để chồng uống say mới thôi. Như anh đây, giả dụ có muốn hôn em thì cũng còn tính toán chán. Sống như thế tẻ nhạt lắm anh ạ!- cô nheo mắt cười như chế giễu…
     
Anh lặng người đi, lưỡi như líu lại, không biết phản ứng thế nào. Khi trấn tĩnh lại, anh chợt hiểu ra rằng: Sống lúc nào cũng tỉnh táo, tính toán thì khó rơi xuống vực sâu, nhưng cũng chỉ mãi đứng trên mặt đất mà thôi. Hãy sống như các cô gái Thái- say công việc, say cuộc sống, say với bạn tình- để cho cuộc đời có những giây phút thăng hoa…

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Hận Đồ Bàn

Bấy lâu vẫn thường hiểu cụm từ “hận đồ bàn” là một thán ngữ trong dân gian, ca cẩm lào phào, trong những cuộc nói chuyện.
Sau rồi mới biết đó là tên một bài hát.
                           

                
Nguyên bài hát này được nhạc sĩ Xuân Tiên sáng tác trước năm 1975 (hình như nay vẫn chưa được phép biểu diễn tại Việt Nam). Người đã từng rất hay trình bày bài này là Chế Linh. Bài hát kể lể nỗi niềm tiếc nhớ trước những dấu vết còn lại của nền văn hóa Chămpa, vẫn còn ghi dấu trên mảnh đất của người Việt.                  
Năm nay là Tân Mão, tròn 540 năm ngày diễn ra sự kiện lớn có gắn với địa danh Đồ Bàn trong bài hát. Vậy xin kể lể ra như sau.
                     
Địa danh Đồ Bàn (hay Chà Bàn) là phiên âm tiếng Việt, để gọi kinh đô cũ Vijaya của Vương quốc Chămpa. Dấu vết kinh đô ấy nay vẫn còn ở tỉnh Bình Định (đi qua Guảng Ngỡi là vào đến Bình Định. Có dạo 2 tỉnh này là 1, tên gọi là tỉnh Nghĩa Bình).
                                                          
                 
Theo quan niệm của người Chăm,
đầu là nơi hội tụ của trí tuệ do thánh A La ban tặng,
mọi người luôn đội khăn, mũ trên đầu
Chămpa từng là quốc gia láng giềng của Đại Việt, trước khi bị sụp đổ về cơ bản vào năm Tân Mão 1471 bởi cuộc tấn công của vua Lê Thánh Tông. Mùa xuân năm 1471, Lê Thánh Tông, vị vua được xếp vào hàng anh hùng bậc nhất trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, sau khi đạt được một loạt thành tựu cải cách đưa Đại Việt trở thành một cường quốc trong khu vực, đã quyết định mở một cuộc tấn công quy mô, hướng vào quốc gia láng giềng Chămpa không mấy thân thiện của mình. Cuộc tấn công này, theo bình luận của D.G.E Hall trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á (NXB Chính trị quốc gia, năm 1997), là đã "giáng một đòn chí mạng vào người láng giềng hay gây chuyện" của Đại Việt. Với sự kiện này, sau gần 500 năm tồn tại và xung đột với Đại Việt (cũng như với các quốc gia của người Khmer ở phía Tây), về cơ bản Chămpa đã không thể gượng dậy được nữa. Tháng 3 năm 1471, sau khi hạ thành Đồ Bàn, bắt vua Chiêm, Lê Thánh Tông đã cho sáp nhập một số vùng đất của Chămpa vào Đại Việt. Lãnh thổ còn lại được chia thành 2 tiểu quốc, phụ thuộc Đại Việt.


Các tiểu quốc đó cũng dần suy vong cùng với công cuộc mở mang của các đời chúa Nguyễn sau này.

.....................

Nhân có lần hỏi chuyện phiếm một bác giảng dạy ngành nhân học, bác ấy chia sẻ quan điểm cho rằng nguyên nhân sụp đổ của Chămpa lúc ấy một phần là do Đại Việt đang ở buổi cực thịnh, phần khác là do nền văn hóa của Chămpa trước đó đã bị khu biệt, rồi dần trở nên suy yếu, dẫn tới việc không thể đứng vững trước sự "tỏa sáng" của người Việt.

Cách tiếp cận ấy để lại nhiều suy nghĩ. Ngẫm lại mới thấy rằng, có lẽ đúng là bản chất của các cuộc chiến tranh, xích mích trong lịch sử là sự xung đột của các nền văn hóa. Văn hóa là tập hợp của thói quen sống (nói theo GS.Trần Quốc Vượng). Mà anh nào chẳng muốn áp đặt thói quen sống của mình lên anh khác. Ở cấp độ quốc gia với nhau, để áp đặt văn hóa, người ta dùng công cụ ngoại giao, kinh tế, và cuối cùng lắm khi là .. nắm đấm, tức quân sự.
.................

Kể về người Chăm, ông cha già Guảng Ngỡi của mình có lần từng nói, điệu hát của người Chăm buồn lắm. Đất Guảng Ngỡi quê choa vẫn còn nhiều nơi ghi dấu nền văn hóa của người Chăm. Điệu hát người Chăm buồn, là do chất liệu làm nên những điệu hát ấy buồn, hay là vì tâm trạng của người hát buồn, nỗi buồn của những người vong quốc ?
................

Âu cũng là cái liễn. Dấu vết thành Đồ Bàn vẫn còn đấy, nhưng anh ca sĩ Chế Linh kia cũng chẳng nên buồn làm gì. Là người dân tộc Chăm, trong bài hát anh cũng đã thể hiện lòng tự hào về vua Chế Bồng Nga của dân tộc anh đấy thôi. Ngài ấy cũng vượt biển mà xộc thẳng vào Thăng Long vài bận, khiến hậu duệ của nhà Trần anh hùng thế cũng phải chạy re kèn. Nếu không có chiến thắng của Trần Khát Chân, tiêu diệt được Chế Bồng Nga, thì người Chăm có dừng lại không ?!


May mắn cho người Việt, nền văn hóa Việt đã luôn có sức sống mãnh liệt. 



Và người Việt đã luôn đứng vững trước nhiều cơn sóng gió, phải chăng cũng là vì sức sống của nền văn hóa ấy ?

...........



Ta hẹn một ngày về tới vùng đất cũ người Chăm, cũng gần quê ta thôi, tận mắt ngắm tháp Chàm trong nắng chiều, để cảm nhận tiếng vọng từ lịch sử, kể lể nỗi niềm những người anh hùng đã khuất.

Ngẫm rằng trong một cuộc sinh tồn tiến hóa bất tận, tổ tiên người Việt đã vượt lên, có lẽ, đó đã là sự sắp đặt của số phận !
 
Trương Chi

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

Vẻ đẹp thiếu nữ Chăm.

                      Champa music - Thei mai


em đi, như chiều đi
gọi chim vườn bay hết
   
Khăn "Khanh ma om"
em về tựa mai về
rừng non xanh lộc biếc
 

Ánh mắt thiếu nữ Chăm. Ảnh Nguyễn Bách Thảo
em ở, trời trưa ở
nắng sáng màu xanh tre
                    
Sắc mầu làng Chăm

tình em như sao khuya
rãi hạt vàng chi chít
   
Mẫu Chăm

sợ gì chim bay đi
mang bóng chiều đi hết
  

tình ta như lộc biếc
gọi ban mai lại về
  
Thiếu nữ Chăm - Ảnh Hoàng Chí Hùng

dù nắng trưa không ở
ta vẫn còn sao khuya
  

hạnh phúc trên đầu ta
mọc sao vàng chi chít
 

Phụ nữ Chăm có hai loại áo dài truyền thống
áo Tăh và áo Doa Bong.
mai, hoa em lại về...
  
Nụ cười thiếu nữ Chăm

Bài thơ 'Tình ca ban mai' của thi nhân họ Chế

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Một tộc người đang được cho là "kỳ lạ"?

Không đông nhưng mắn
1. Tôi từng biết nước mình có tộc người Rục qua các bút ký của Nguyễn Quang Vinh năm 2006. Sau đó nhiều "giật tít câu view" "người Rục" trên báo chí và truyền thông và gần đây tôi suy nghĩ nhiều hơn về: "người Rục đang đói".
Xin nói một điều.
Xưa ấy, loạt bài về "Người Rục định canh định cư", "trồng lúa nước" như người Kinh là
"thông tấn". Có bài phóng viên "cò" với chiêu thức: cho người Rục màn chống muỗi thì họ mang đi đơm cá ở suối. Rồi là cắt đuôi bò của chính phủ cho để nhắm rượu, như là người thành phố về nông thôn, nhìn cái gì cũng có thể bình cho cười vui "hiểu biết", chỉ là lá cải.
Vừa qua Ông Dương Minh Long nói, vào bản Rục đang mùa đói, lũ: "... đi nhưng cơ khổ, người Rục chẳng ai biết chèo  đò. Họ hú họa trên rừng, vắt vẻo trên hốc đá quen rồi, với họ mái chèo là một dụng cụ gần như trừu tượng, một sản vật văn minh khó học hỏi. Không hiểu vì sao?
"
                                                             
Quay lại hang chụp "sắp đặt": Rời hang đá

Thiển nghĩ, cụ Đồ Chiểu xưa, không dùng
savon của Pháp, lội bộ khắp Nam kỳ lục tỉnh chứ không thèm đi đường bộ, đó là ý chí.
Tôi bây giờ, ngủ vẫn không thể đeo tất chân được, nếp cha mẹ quê vùng "chiêm khê mùa thối", có bao giờ biết đến cái "vớ" ấy đâu. Thường nhật, vẫn thích ăn mắm cáy cùng rau muống với dưa cà, thói quê khó sửa.  Đó là tập quán.
Vậy người Rục ra sao, khi mới 50 năm qua họ theo nền văn minh đa số, trong khi đó để chuyển đổi, một hơi thở của xã hội loài người cũng qua hàng thế kỷ. 

                                                                              
Làm lúa nước như xã viên "hợp tác"
Xem các ảnh  về tộc người Rục thời nay, thấy ít bóng dáng đàn ông, sao vậy? Nhận quà thì là nữ rồi, cho ăn ảnh, cho thỏa hiếu kỳ; còn cấy lúa thì ai, cũng họ. Khó khăn là cho con bú, ai thay! và còn là bữa ăn nữa chứ. Đàn ông thì săn bắn, thú rừng đâu còn; đẵn gỗ thì rừng lại xa, đâu cần, đã có nhà làm sẵn; sửa nhà ư, ở hang lâu rồi, đâu biết ..., nên ảnh hiếm thấy đàn ông người Rục. Sao mà phụ nữ Rục khổ vậy, như người vợ vùng thôn quê nước Thái.
                                                    

                                      
Phải chăng ta đã
đưa người Rục khỏi môi trường lâu đời của họ chưa đúng cách.

                                         
Đường vào làng Rục thăm thẳm xa.
Băng qua rừng non và khoảnh đất buồn.
Nhà nước có nhiều hoạch định và chăm lo cho ngươi Rục, cũng là muốn một cộng đồng đều hòa hơn về đời sống, như nhiều quốc gia khác. Không xa,  ở nước Úc, khi chọn thủ đô: Cái tên "Canberra" được lấy từ tiếng thổ dân Ngunnawal, có nghĩa là "nơi gặp mặt". Năm 1967, cuộc trưng cầu dân ý được hơn 90% người đi bầu ủng hộ việc cho phép chính quyền liên bang thông qua luật bảo vệ thổ dân và tính họ vào cuộc điều tra dân số. Ở México, người da đỏ bản địa là những cư dân đầu tiên, do vậy các ngôn ngữ của họ được chính phủ México công nhận là ngôn ngữ quốc gia và được bảo vệ. Nhưng sao ta chưa làm được hiệu quả cho tộc người bé nhỏ này, phải chăng là chưa bài bản, nên có ai đó nói: "người Rục ăn sắn là phải". Bài học nước Nga, vùng "Sông Đông êm đềm" bị tàn phá đến từng gia đình qua nội chiến, mà sau này không bù đắp, không nghĩ về họ để góp phần đến tan hoang "Liên bang" huyền thoại ấy. Rồi với "nắm cơm, quả cà", người Quỳnh Lưu cũng không thể rời làng lập "đại công trường" lâu được.

Em trông em cho mẹ em đi bừa
Về người Rục, "Cái nhìn của mỗi cá nhân, dù cho bất kỳ ai cũng luôn chủ quan nhưng bản chất của sự kiện là khách quan, cần đánh giá nhiều chiều. Các nhà sử học mà còn có quan điểm khác nhau một trời một vực nhưng điểm giống nhau là phải tôn trọng lịch sử và sự thật. Khi chúng ta ngần ngại không dám nhìn thẳng vào quá khứ thì khó mà có bản lĩnh tự tin bước vào tương lai." (Quang Đông)
...                           
2. Theo tiếng dân tộc Chứt (bao gồm nhóm người Rục) ở Quảng Bình, Rục có nghĩa là nơi nước lặn xuống đất để chảy ngầm dưới đất hoặc nước từ ngầm nổi lên trên.
Nhóm người Rục được phát hiện muộn nhất (năm 1959) ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa và đến năm 2004 có 85 hộ với 428 nhân khẩu và cũng là nhóm nhỏ nhất so với toàn bộ các nhóm dân tộc khác trên đất nước Việt Nam.
              

Bữa ăn của người già
Để trồng lúa khô hoặc ngô thì người đứng đầu bản phải mơ thấy thần linh cho làm có kết quả thì họ mới làm, nếu không thì họ phải vào rừng kiếm thức ăn bằng cách đào củ mài, củ ráy. Các loại rau xanh chủ yếu từ nguồn măng tre nứa và các loại rau rừng. Nguồn thịt cung cấp cho bữa ăn một phần rất lớn được thu thập từ việc săn, bẫy thú nhỏ, bắt cá, cua, ếch, nhái, lấy mật ong.
                                                 
leo cây "ăn ong"
là nghề tổ vậy
Nhà cửa thì rất đơn giản, thường bằng tre hoặc cây gỗ nhỏ và lợp lá cây nên chỉ tồn tại được vài năm.

Quần áo của nhóm người này được tự đan lấy bằng sợi của vỏ cây sui, loài cây có nhựa mủ độc nhưng vỏ có nhiều sợi.

Người Chứt có quan hệ vợ chồng bền vững. Lễ cưới được tổ chức bên nhà gái trước lễ đón dâu. Lễ vật trong đám cưới ngoài lợn, gà, luôn phải có thịt khỉ sấy khô.

Người Rục sống rải rác, rất hoang dã trong các thung lũng và núi đá ở núi Ma Ma, họ vẫn muốn từ chối sự giúp đỡ về nhà cửa, trường học, y tế, gia súc của chính quyền.
                              

Bếp "tái định cư"
Việc ma chay của người Chứt đơn giản, chỉ cúng bái, rồi đưa người chết đi chôn. Mộ được đắp thành nấm đất, không có nhà mồ bên trên. Sau 3 ngày, tộc trưởng làm lễ gọi hồn cho người chết về ngụ tại bàn thờ tổ tiên ở nhà tộc trưởng, từ đó người thân không chăm sóc mộ nữa.


Người Chứt tin có ma rừng, ma suối, ma không trung, ma bếp...  họ tin có Thần nông bảo vệ mùa màng và là vị thần tối cao.



"Tam đại đồng"... sàng
Người Chứt có làn điệu dân ca Kà-tưm, Kà-lềnh. Nhạc cụ có khèn bè, đàn ống lồ ô loại cho nam và loại cho nữ, sáo 6 lỗ... Dân tộc Chứt có vốn truyện cổ và văn nghệ dân gian phong phú, gồm nhiều đề tài khác nhau.


Và các nhà văn hoá học xem đây là một đối tượng cần phải gìn giữ như một di sản phi vật thể của dân tộc.





                   
3. Chuẩn thoát đói của Việt Nam mà Nông lương thế giới nói là chuẩn gạo. Không ai lấy sắn ra làm chuẩn thoát đói. Và Việt Nam là cường quốc xuất khẩu lúa gạo mà người Rục đói gạo là rất lạ.
                 

Bữa ăn của em đây

Mẹ em cấy lúa "chăng dây"

"Em ngồi, em mơ , một ngày có cơm ..."

Em mặc áo hoa ...
  ...
cho anh chụp ảnh.

Mẹ ới mẹ ơi!
                                                  trời trưa vừa tròn bóng.

Em đi vác gỗ ... rừng xa



Em đi học. Ảnh Báo GDTĐ

Giúp mẹ em

Người Rục nhớ rừng

"Bữa cơm thường trong bản Rục"

Ngồi buồn nhớ lại hang xưa ...