Lưu Đán Trạch là một bậc thầy hội họa người Trung Quốc, nổi tiếng với phong cách vẽ nhân vật lịch sử, cổ điển.
Ông nguyên tên là Lưu Hồn, sinh năm 1931, mất năm 2011, nguyên quán Ôn Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Từ nhỏ đã nổi danh thần đồng, năm 10 tuổi từng tổ chức triển lãm tranh riêng, sở trường về tranh nhân vật và tranh hoa điểu, đồng thời cũng là một cây đại thụ trong giới liên hoàn họa. Tranh của ông là sự dung hợp của các lối vẽ công bút, tuyến miêu và bát mặc.
Tranh của hoạ sĩ Lưu Đán Trạch về các thi nhân Trung Hoa bất hủ.

Khuất Nguyên (340 TCN - 278 TCN)
CHI TIẾT DANH SĨ | KHUẤT NGUYÊN 

Giữa thời Chiến Quốc loạn thế, nơi các chư hầu tranh hùng, Khuất Nguyên đứng giữa triều Sở như một tiếng nói cô độc nhưng kiên định. Ông lấy chí hướng thanh liêm làm gốc, dùng thi ca làm vũ khí, viết nên những áng văn chất chứa trung nghĩa và nỗi bi phẫn của bậc sĩ phu


Từng được Sở Hoài Vương trọng dụng, ông dốc lòng phụng sự quốc gia, nhưng bởi kiên quyết phản đối liên minh với Tần mà bị xa lánh, đẩy dần ra khỏi triều chính. Khi Dĩnh Đô thất thủ, nước Sở suy vong, bi kịch thời đại dồn nén đến cực điểm. Giữa tuyệt vọng và phẫn uất, Khuất Nguyên chọn cách kết thúc đời mình nơi dòng Mịch La, để lại một biểu tượng bất diệt của trung liệt và thanh danh ngàn thu.

Từ những vần thơ đau đáu đến cái kết bi tráng giữa dòng nước lạnh, Khuất Nguyên không chỉ là một con người, mà là tiếng vọng của khí tiết và lý tưởng không bao giờ bị dập tắt.

Liệu Sứ Quân có sẵn sàng lắng nghe tiếng thơ từ dòng Mịch La, nơi một linh hồn trung nghĩa vẫn còn ngân vang giữa Vong Xuyên vạn cổ?
 |
| Thái Văn Cơ (177-249) |
Thái Văn Cơ – Cai WenJi – 蔡文姬
Thái Văn Cơ, tên thật là Thái Diễm hay còn đọc là Sái Diễm, tự Chiêu Cơ, là một trong những nữ văn nhân đầu tiên và là nữ thi nhân duy nhất trong những văn sĩ trứ danh thời Kiến An của Trung Quốc. Bà quê ở Trần Lưu, tỉnh Hà Nam, Việt Châu.
Bà là con gái của đại thi hào Thái Ung, một nhà sử học nổi tiếng tài hoa và cực kỳ uyên bác. Thái Văn Cơ học theo cha nên từ nhỏ đã giỏi văn thơ và thông thạo âm luật.
Năm 16 tuổi, bà lấy chồng là Vệ Trọng Đạo, một danh sĩ khá nổi thuộc một tộc lớn ở Hà Đông, nhưng chẳng được bao lâu thì chồng bà qua đời. Nhà chồng cho là bà khắc mệnh, lại chưa có con nên đuổi về nhà mẹ đẻ.
Tới thời loạn lạc Hưng Bình, bà bị quân Đổng Trác bắt đi, rồi sau biến cố Lý Thôi, Quách Dĩ chiếm cung đình, bà lưu lạc sang đất Hung Nô và bị nạp làm thiếp của Tả Hiền Vương. Bà sống ở đó 12 năm và có 2 người con.
Sau này, Tào Tháo vì là bạn thân với cha của bà nên thương thay số phận bà, mà đem vàng bạc châu báu sang chuộc bà về lại. Giai thoại Thái Văn Cơ dứt ruột từ con mà trở về quê tổ được gọi là “Văn Cơ quy Hán” là một giai thoại nổi tiếng được lưu truyền đến ngày nay.
Bà được Tào Tháo mai mối cho tái giá với người cùng quận là Đổng Tự, nhưng sau đó, Đổng Tự làm quan bị tội, bị khép tội chết, Thái Văn Cơ đã đích thân đi tìm Tào Tháo xin cầu tình. Nhờ tài hùng biện của mình, bà đã khiến Tào Tháo đặc xá cho Đổng Tự.
Vì mang ơn Tào Tháo, nên bà đã giúp ghi lại một phần mười số sách mà cha bà đã sưu tầm rồi trao lại cho bà, số đó sấp sỉ 400 thiên sách đều do tự tay bà nhớ lại và chép, không một chút sai lầm.
 |
| Tào Tháo (155-220) |
Tào Tháo là nhà chính trị, nhà quân sự và còn là một nhà thơ nổi tiếng cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đã đặt cơ sở cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc. Ông được con trai truy tôn là Thái Tổ Vũ Hoàng đế (太祖武皇帝).
 |
| Đào Uyên Minh (365-427) |
Đào Uyên Minh (Đào Tiềm), biểu tự Nguyên Lượng, hiệu Uyên Minh, lại có biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh, là một trong những nhà thơ lớn của Trung Quốc thời nhà Tấn và Lưu Tống.
 |
| Vương Duy (699-761) |
Vương Duy được biết đến với biệt danh Thi Phật. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, nhà thư pháp, họa sĩ với nét họa tài hoa. Có cái tài xuất chúng cùng với tín tâm tròn đầy nơi đất Phật, ông là nhà thơ duy nhất phác họa được cảnh giới tư tưởng Phật gia trong họa, và thổi hồn thiện trong từng ý thơ.
Tác phẩm của ông được đánh giá là: “Xem thơ mà nhìn họa, xem họa mà nghe thanh”, nghĩa là đọc thơ mà như chiêm ngưỡng một bức họa, ngắm họa mà như nghe thanh nhạc.
Vương Duy (701 – 761), tự Ma Cật, người huyện Kỳ, Tấn Trung, Sơn Tây, Trung Quốc. Ông là một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà viết thư pháp và một chính khách nổi tiếng đời Đường. Ông còn được người đời gọi là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) là ba người nổi tiếng về tài thơ ca thời Đường. Ngày nay còn giữ được khoảng 400 bài thơ của ông, với phong cách tinh tế, trang nhã. Vương Duy còn là một nhạc sĩ, một nhà thư pháp, đặc biệt là một họa sĩ nổi tiếng.
 |
| Đỗ Phủ (712-770) |
Đỗ Phủ là một nhà thơ và quan người Trung Quốc vào thời nhà Đường. Ông và Lý Bạch được đánh giá là hai nhà thơ vĩ đại nhất của nhà Đường. Trong suốt cuộc đời, hoài bão lớn nhất của ông là có được một chức quan để giúp nước, nhưng ông không thể thực hiện được điều này.
 |
Lý Bach (701-762)
|
Lý Bạch, biểu tự Thái Bạch, là một nhà thơ người Trung Quốc, được đánh giá là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất và quan trọng nhất của thời nhà Đường, thậm chí là của cả nền thơ Trung Quốc. Đường Văn Tông ngự phong tán dương thơ Lý Bạch, kiếm vũ Bùi Mân và thảo thư Trương Húc là "Tam Tuyệt"
 |
| Lưu Vũ Tích (772-842) |
Lưu Vũ Tích là nhà văn, nhà thơ người Trung Quốc. Ông sinh tại Lạc Dương, Hà Nam, nguyên quán tổ tiên ở Trung Sơn. Lưu Vũ Tích năm mười chín tuổi học ở Trương An, ông đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, sau lại đỗ khoa Bác học hoành từ. Tác phẩm để lại có 40 quyển. Ông là một nhà tư tưởng duy vật thô phác nổi tiếng đời Đường, ông viết ba thiên "Thiên luận" trình bày sâu sắc thêm tư tưởng vô thần, có ý nghĩ rất tiến bộ đối với đương thời. Ngoài ra ông còn đề xướng quan điểm pháp trị đối với chủ nghĩa đặc quyền của xã hội phong kiến. Sống lưu lạc nhiều năm nơi đất khách, nhất là khi hoài bão lớn, tuổi còn trẻ, ông sinh ra căm phẫn xã hội bất công. Vì vậy mà ông viết khá nhiều thơ phúng thích, nổi tiếng nhất là bài thất ngôn tứ tuyệt "Đùa tặng các bậc quân tử xem hoa". Bất chấp bao lần bị đả kích về chính trị, ông vẫn kiên trì, ngoan cường xem kinh kẻ thù của mình. Ông còn làm khá nhiều bài thơ bộc lộ nỗi phẫn uất trong lòng, hoặc mượn cớ vịnh sử để tỏ chí bất khuất, hoặc lấy cớ vịnh vật để chửi nền chính trị thối nát. Từng sống lấu ở vùng sông Sở núi Ba, ông đã yêu mến học tập ca dao địa phương. Điều này đem lại cho thơ ca ông một phong vị mới. Thành tựu thơ ca của Ông có nhiều mặt. Thơ cận thể nổi bật ở âm điu du dương. Thơ hoài cổ của ông cũng rất được truyền tụng. Thơ ông trong trẻo, hùng hồn, tiết tấu khá hài hoà. Đương thời ông sánh ngang với Bạch Cư Dị.
Từ lâu tôi đã thích bài thơ này của ông.
- Ẩm tửu khán mẫu đơn
- Kim nhật hoa tiền ẩm,
- Cam tâm tuý sổ bôi.
- Đãn sầu hoa hữu ngữ,
- Bất vị lão nhân khai.
 |
| Lý Hạ (790-816) |
Lý Hạ là một nhà thơ sống vào thời Trung Đường. Ông có tên tự là Trường Cát, còn có các biệt hiệu Thi Quỷ và Quỷ Tài. Lý Hạ bị cấm tham gia khoa cử vì phạm vào tội húy kỵ. Ông qua đời khi tuổi còn rất trẻ và được miêu tả là có ngoại hình ốm yếu. (đọc thêm)
 |
| Lý Thanh Chiếu (1084-1155) |
Lý Thanh Chiếu, hiệu Dị An cư sĩ, là nữ tác gia chuyên sáng tác từ nổi tiếng thời nhà Tống, cùng Tân Khí Tật xưng gọi 「Tế Nam nhị An; 濟南二安」. Với lối dùng hoa mỹ, bà đứng đầu trường phái "Uyển ước từ" biểu thị sự hoa lệ và giàu sự gợi hình trong khi sáng tác.
 |
| Tân Khí Tật (1140-1207) |
Tân Khí Tật, nguyên tự Thản Phu, sau đổi là Ấu An, hiệu Giá Hiên cư sĩ, là quan thời Nam Tống, và là nhà làm từ nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc.
DANH SĨ TÂN KHÍ TẬT

"Không hận cố nhân ta không gặp, hận cố nhân không thấy ta điên cuồng!"

Tân Khí Tật – tự Ấu An, hiệu Giá Hiên Cư Sĩ, một bậc hào kiệt đất Sơn Đông. Sinh trong thời loạn, ông theo Cảnh Kinh khởi nghĩa, ngựa sắt cờ bay, dâng biểu quy Tống, mang hoài bão khôi phục giang sơn.

Ở Vong Xuyên, Tân Khí Tật vẫn giữ uy phong năm nào: Vầng trán nghiêm nghị, khí cốt thanh cao, ánh mắt như xuyên thấu thành trì nơi phương Bắc

Giờ đây, đứng trên nơi cao của Vong Xuyên, Giá Hiên để mặc gió cuốn đi nỗi lòng, nhìn trời đất bao la mà tâm đã nhẹ hơn kiếp trước.

Sứ Quân, liệu người có muốn cùng Giá Hiên leo lên tầng cao, nghe tiếng núi sông kể lại chí lớn của một đời anh hùng?
 |
| Tô Đông Pha (1037-1101) |
Tô Thức, tự Tử Chiêm, một tự khác là Hòa Trọng, hiệu Đông Pha cư sĩ nên còn gọi là Tô Đông Pha, là nhà văn, nhà thơ thời Tống. Ông được mệnh danh là một trong Bát đại gia Đường Tống.