Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

Cúc Đậu




Chuyện của một thiếu nữ trẻ tên là Cúc Đậu (Củng Lợi thủ vai) bị bán làm vợ cho một tên chủ tiệm làm nghệ nhuộm vải là Dương Kim San. San hành hạ Đậu, thường là vào ban đêm, một cách tàn nhẫn vì nàng không sinh con nối dòng cho hắn. Oái oăm một điều là San lại bất năng và vô sinh. Sự ngược đãi của San bị Dương Thiên Thanh, một người cháu kêu bằng chú của y, thường xuyên chứng kiến. Bị ức chế và cám dỗ, cuối cùng Cúc Đậu lén lút dan díu với Thanh sinh ra một đứa con trai là Thiên Bạch, mà lúc đầu San mừng rỡ cứ ngỡ là con mình và thay đổi thái độ và lối cư xử với Đậu. Bất ngờ một hôm kia, San bị té, bán thân bất toại từ lưng trở xuống, và phải chịu lệ thuộc vào sự chăm sóc của Đậu và Thanh. Để trả thù những sự ngược đãi và hành hạ của San trước kia đối với mình, Đậu ngang nhiên suồng sã và đi lại với Thanh ngay trước mặt San. Nhưng sau khi San bị té xuống hồ nhuộm chết, thì cả hai Đậu và Thanh lại phải càng sống lén lút hơn để tránh những dư luận khắt khe của xã hội Trung Hoa thời bấy giờ. Cuối cùng Thanh lại bị chính con trai của mình là Bạch ngược đãi và liệng xuống hồ nhuộm, chết ngộp, y như cái chết của San. Phim kết thúc khi Đậu, trong cơn đau đớn tột cùng đã phóng hỏa đốt cháy xưởng nhuộm, không rõ nàng có tự thiêu không và số phận của con trai mình là Bạch ra sao.

Cúc Đậu là một cuốn phim Trung Quốc, trình chiếu năm 1991, do Trương Nghệ Mưu đạo diễn. Bộ phim được đề cử cho giải Oscar phim ngoại ngữ hay nhất của năm 1990.

Giống như hầu hết các bộ phim khác, đạo diễn Trương Nghệ Mưu rất chú trọng đến tình tiết, âm thanh, ánh sáng, và bỏ lửng những khúc phim nóng bỏng gay cấn như lúc Thanh lén nhìn trộm lúc Đậu thoát y. Những lúc San hành hạ Đậu mà người xem phim chỉ nghe được những tiếng rên xiết qua sự tức tối và bất an thôi thúc của Thanh... Cảnh đám ma của San mà theo phong tục xưa Đậu và Thanh phải làm bộ khóc thảm thiết, ngăn chận linh cửu đúng bốn mươi chín lần trước khi hạ huyệt. Cảnh San bị tàn phế ngồi trong lu gỗ có bánh xe bị Thanh dùng ròng rọc câu lên để biệt lập. Cánh phơi vải với nhiều màu rực rỡ, cảnh thuốc nhuộm loan ra từ từ trong hồ...là những tiểu tiết xuất sắc, vừa gợi hình, gợi cảm của phim, mà người xem có thể tưởng tượng theo từng cảm giác riêng.

Phim



Đọc thêm.

Bị cấm chiếu ở Trung Quốc nhưng lại rất thành công ở bên ngoài, Cúc Đậu - đại diện đầu tiên của điện ảnh Trung Quốc trong đề cử Oscar phim nước ngoài xuất sắc nhất sau 40 năm chính quyền này mở cửa với bên ngoài, đã mở đầu những bước thăng trầm trong sự nghiệp của Trương Nghệ Mưu…
Năm 1988, với giải Gấu vàng tại LHP Berlin, bộ phim Cao Lương Đỏ đã trình làng “cặp đôi” đầu tiên của điện ảnh Trung Quốc và cũng là tác phẩm đầu tay của cả hai người: Trương Nghệ Mưu và Củng Lợi. Tuy là người châu Á đầu tiên đoạt giải Gấu Vàng, nhưng Trương chỉ mong thành công bất ngờ của Cao Lương Đỏ sẽ là cầu nối cho bộ phim kế tiếp được sản xuất với kinh phí khá hơn, trang thiết bị tốt hơn, dàn dựng chỉn chu hơn, và quan trọng nhất là sẽ có âm thanh “xịn” hơn. Câu chuyện kế tiếp là sự đồng cảm của Trương với cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Fu-xi Fu-xi của nhà văn trẻ Lưu Hằng. So với chủ nghĩa lãng mạn trong Cao Lương Đỏ thì Fu-Xi Fu-Xi của Lưu Hằng hiện thực khốc liệt hơn.
Ở Trung Quốc lúc ấy, tất cả những bộ phim hợp tác với nước ngoài phải thông qua China Film Corporation. Tại đây, Trương được giới Thiệu với Yasuyoshi Tokuma - một nhà đầu tư người Nhật rất hâm mộ bộ phim Cao Lương Đỏ và Tokuma đồng ý bỏ vốn sản xuất. Tiền đầu tư của Nhật đã giúp Trương Nghệ Mưu thỏa mãn ước mơ quay một bộ phim bằng máy Panavision hiện đại, được sử dụng phim mới không quá hạn (những bộ phim làm trước đó, ông toàn phải sử dụng loại phim đã hết “đát” làm sai lệch màu sắc chuẩn), âm thanh đồng bộ, làm hậu kỳ toàn bộ tại Nhật. Công ty của Tokuma không quan tâm lắm về việc bộ phim sẽ đoạt giải thưởng hay kiếm nhiều tiền. Họ chỉ muốn Trương Nghệ Mưu làm một bộ phim hay.
Ban đầu phim lấy tên là Tiếng Rên, sau đó được đổi thành Cúc Đậu. Chuyện phim kể về một bi kịch gia đình ở nông thôn Trung Quốc những năm 1920. Cúc Đậu là tên của một phụ nữ phải vật lộn với số phận thiên định trong một xã hội đầy những hủ tục phong kiến.
Tiểu thuyết của Lưu Hằng có bối cảnh kéo dài từ thập niên 1920 - 1970. Nhưng đạo diễn cho rằng chủ đề của Cúc Đậu rất nhạy cảm, nếu kéo dài sang xã hội đương đại ở Trung Quốc e khó qua ải kiểm duyệt nên ông quyết định lấy bối cảnh cho bộ phim hoàn toàn ở thập niên 1920.
Trong Cúc Đậu không có vai diễn kiểu mẫu tích cực, không có anh hùng, không có luân thường đạo lý… Các nhân vật đều rất yếu đuối, thậm chí được mô tả là “những con người nhỏ nhen”, không đủ cao thượng. Đó không phải là một cách tiếp cận nhân vật theo kiểu truyền thống xưa nay ở Trung Quốc - một kiểu “Phản Nho giáo” (Anti-Confucian), trong một đất nước Nho giáo hàng nghìn năm.
Thay đổi quan trọng nhất của Trương Nghệ Mưu so với tiểu thuyết là biến bối cảnh của câu chuyện thành một xưởng nhuộm vải. Nhờ đó, Trương mới thoải mái sáng tạo màu sắc của những súc vải và thuốc nhuộm… có tác dụng kích thích cảm xúc của khán giả. Ông tiếp tục mời lại quay phim Cố Trương Vệ (Cao Lương Đỏ) - chịu trách nhiệm tạo nên một bức tranh táo bạo về màu sắc và ánh sáng của bộ phim.
Bộ phim cực kỳ ít nhân vật với chỉ 3 nhân vật chính và 1 đứa trẻ lớn lên theo từng thời kỳ. Củng Lợi (vai Cúc Đậu), Lý Vỹ (vai Dương Kim Sán - chủ lò nhuộm). Do bộ phim rất ít lời thoại và nặng về diễn xuất nội tâm phức tạp, nên Trương Nghệ Mưu mời Dương Phượng Lương - một người bạn rất thân, đã tốt nghiệp Khoa Diễn xuất của Học viện Kịch nghệ Thượng Hải năm 1982 - làm đồng đạo diễn với mình. Công việc của Dương là giải thích cảnh quay và giao tiếp gần gũi với các diễn viên. Trương đứng sang một bên quan sát rồi sau đó hiệu chỉnh lại - điều chỉnh này giữ cho ông được bình tĩnh và sáng suốt.
Đoàn phim chọn một ngôi nhà ở huyện Di, tỉnh An Huy với phong cách kiến trúc rất đặc thù của địa phương và cải tạo nó thành một lò nhuộm. Trước khi khởi quay, Củng Lợi phải đi thực tế ở nông thôn Nam Anh hơn một tháng. Lúc đó, thành công quốc tế đầu tiên với Cao Lương Đỏ đã khiến Trương Nghệ Mưu nổi tiếng khắp đất nước. Khi ông quay Cúc Đậu ở một thôn nhỏ của tỉnh An Huy, nhân dân trong vùng tấp nập đến xem, thậm chí những thanh niên hâm mộ đạo diễn đã đua nhau… cạo trọc đầu như thần tượng của mình!
Cúc Đậu được xem là bộ phim cực kỳ tinh tế trong việc mô tả tình dục. Phim chỉ diễn ra trong xưởng nhuộm, rất ít lời thoại. Củng Lợi đã phát huy thế mạnh ngoại hình của mình trong những trường đoạn lẳng lơ khêu gợi anh chàng Dương Thiên Thanh nhút nhát rụt rè. Những cảnh nhìn trộm Cúc Đậu tắm qua lỗ thùng của chuồng ngựa… Lửa gần rơm… Cảnh hai người ái ân bên bể nhuộm vải là một cảnh quay đẹp, kín đáo nhưng rất gợi tình theo đúng tinh thần Á Đông, thông qua màu sắc, tiếng động, nước và mồ hôi. Trong cảnh ân ái duy nhất của phim này, đạo diễn hầu như chỉ đặc tả diễn xuất của Củng Lợi là có chủ ý, bởi diễn xuất và ngoại hình của cô sẽ tạo cảm hứng mạnh mẽ nhất cho khán giả.
Rồi sau đó là cảnh Cúc Đậu vừa đẻ xong, ngực căng sữa, và cô đề nghị Dương Thiên Thanh giúp cô hút sữa ra để ngực bớt căng. Tất cả chỉ thông qua lời thoại, nhưng cử chỉ và hành động của Củng Lợi tạo hiệu quả rất cao cho cảnh quay.
Rồi đứa trẻ lớn lên, hai người muốn gần nhau phải lén lút ra ngoài, lúc thì ngoài đồng, lúc thì lò gạch, lúc thì trong kho giếng cạn. Diễn xuất của 2 diễn viên tạo cho khán giả cảm giác lén lút ngột ngạt đến nghẹt thở, nhưng sau đó là sự cảm thương với bi kịch của hai nhân vật chính.
Ngày 6.4.1989 tại Bắc Kinh xảy ra sự kiện Thiên An Môn làm rúng động thế giới, dẫn đến tình hình chính trị giữa Trung Quốc với bên ngoài diễn biến hết sức căng thẳng. Lúc ấy, đoàn phim Cúc Đậu đang ở miền quê và biết về sự kiện qua ti-vi. Họ phải dừng lại và giải tán ê-kip làm phim. Hai hay ba tháng sau, chờ cho sự kiện lắng xuống, đoàn phim phải tổ chức lại ê-kip để quay tiếp.
Tuy nhiên, những khó khăn về kiểm duyệt đã bắt đầu nẩy sinh những chính kiến không tốt về Cúc Đậu và chính quyền Trung Quốc bắt đầu lo ngại về chủ đề của bộ phim. Có nhiều hạn chế hơn về sự tự do sáng tạo và kinh phí bị cắt giảm khoảng 1/3, vì cả hai phía Trung - Nhật đều nghĩ làm một bộ phim kinh phí cao trong thời điểm căng thẳng như thế là rất liều lĩnh. Tuy nhiên, may mắn là hợp đồng đã được ký kết trước sự kiện 6.4.1989, và Trung Quốc muốn quảng bá một chính sách kinh tế tự do, nên họ không dừng dự án lại và bộ phim vẫn được thực hiện.
Cúc Đậu hoàn tất và được đưa về chiếu thử ở Bắc Kinh. Bộ phim được khen ngợi là sáng tạo và hoàn chỉnh hơn hẳn Cao Lương Đỏ. Diễn xuất chân thực của các diễn viên được đánh giá cao, đặc biệt là Củng Lợi đã tiến bộ vượt bậc. Nhưng về nội dung thì Cúc Đậu bị chỉ trích kịch liệt vì đã khắc họa một cách tàn nhẫn những hủ tục trong đời sống xã hội ở Trung Quốc. Cúc Đậu chính thức bị cấm chiếu, điều này khiến Trương Nghệ Mưu vô cùng đau đớn.
Lúc ấy bộ phim sắp được gửi tới LHP Cannes, nhưng vì sự kiện Thiên An Môn nên Trung Quốc không thiết tha gửi phim đi, bởi mối quan hệ giữa Trung Quốc và phương Tây đang diễn biến xấu. Nhưng người Nhật lại nghĩ khác. Họ là người bỏ tiền, là chủ bộ phim, và nhất định đòi đưa Cúc Đậu tới Cannes với hi vọng lớn vào giải thưởng.
Tranh giải Cành Cọ vàng tại LHP Cannes lần thứ 43 (9.1990), Cúc Đậu bị xếp lịch chiếu vào ngày cuối cùng của LHP. Đoàn Trung Quốc cảm nhận rõ sự cố ý lạnh nhạt và hờ hững của LHP đối với bộ phim, nhằm phản ứng sự kiện Thiên An Môn. Nhưng khán giả và Ban giám khảo lại rất yêu thích Cúc Đậu, nên dù gần như bị tẩy chay, bộ phim vẫn được trao giải thưởng đặc biệt tại Luis Brunei.
Cùng năm 1990, Cúc Đậu liên tiếp đoạt giải cao nhất tại 3 LHP quốc tế: Valladolid (Tây Ban Nha), Na Uy và Chicago. Song sự kiện chấn động là Cúc Đậu được đề cử Oscar phim nước ngoài xuất sắc nhất - lần đầu tiên sau 40 năm Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài - dù phe bảo thủ ở Bắc Kinh đã hai lần cố gắng tước bỏ tư cách đại diện Trung Quốc của Cúc Đậu tại giải Oscar. Đêm Oscar năm ấy, không có mặt Trương Nghệ Mưu lẫn Củng Lợi.
Sự kiện Cúc Đậu bị cấm chiếu ở Trung Quốc, nhưng lại rất thành công ở bên ngoài, đã mở đầu những bước thăng trầm trong sự nghiệp của đạo diễn Trương. Liên tiếp những bộ phim sau này của ông đều bị giám sát chặt chẽ. Trong 5 bộ phim đầu tiên của ông, đã có đến 3 phim bị cấm chiếu ở Trung Quốc (hiện những lệnh cấm này đã được dỡ bỏ).
Bá Vũ

"SỐNG" - VÌ BẢN THÂN SỰ SỐNG MÀ SỐNG…



Sống



Khổ Căn chết rồi, tôi đành phải sống lủi thủi một thân một mình. Tôi cứ nghĩ mình sống chẳng được mấy nả nữa, ai ngờ đã sống những ngần ấy năm. Tôi vẫn như thế, lưng vẫn đau, mắt vẫn lòa, song tai còn thính lắm. Người làng nói chuyện, tôi không nhìn cũng biết là ai đang nói. Có lúc tôi nghĩ mà đau lòng, có lúc tôi nghĩ lại thấy yên tâm, người ruột thịt trong nhà đều do tôi đưa đám, đều do tôi đích thân chôn cất, đến lúc nào đó tôi nhắm mắt xuôi tay, cũng không phải lo cho ai. Tôi nghĩ cả rồi, khi đến lượt tôi chết thì cứ việc chết một cách thanh thản, không phải mong có người chôn cất, bà con dân làng chắc chắn sẽ có người đến chôn tôi, nếu không thì một khi thân thể tôi thiu thối sẽ chẳng ai chịu được cái mùi ấy. Tôi không để người khác chôn tôi không công, tôi đã để sẵn mười đồng tiền ở dưới gối, mười đồng này có chết đói tôi cũng không động đến nó; người làng đều biết mười đồng tiền này là của người sẽ chôn cất cho tôi, họ cũng biết sau khi tôi chết sẽ được nằm cùng với Gia Trân và các con cháu mình.

Khổ Căn chết được hai năm thì tôi góp đủ tiền tậu trâu; thấy mình còn sống được vài năm nữa nên cũng cần phải mua một con trâu. Trâu là một nửa con người, nó có thể làm việc thay tôi, lúc rảnh rỗi cũng có kẻ làm bạn, lúc buồn lòng thì chuyện trò với trâu. Dắt nó ra bờ ao bờ sông ăn cỏ như dắt một đứa trẻ.

Hôm mua trâu, tôi mang tiền trong người đi Tân Phong, ở đó có một cái chợ trâu bò to lắm. Khi đi qua một làng bên cạnh, nhìn thấy một đám người vây quanh sân phơi, tôi bước đến xem thì thấy một con trâu, nó đang nằm trên sân, ngoẹo đầu sang một bên, nước mắt chảy lã chã; một người đàn ông cánh tay để trần ngồi bên cạnh mài dao mổ trâu soàn soạt. Người vây chung quanh đang bảo thọc dao vào chỗ nào là tốt nhất. Tôi nhìn thấy con trâu khóc thương tâm quá, trong lòng cũng thấy bùi ngùi, nghĩ bụng làm thân con trâu thật đáng thương, thay người kéo cày kéo bừa khó nhọc cả một đời, khi về già, không còn mấy sức nữa thì bị người giết ăn thịt.

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

Giới thiệu tác phẩm mới của Dư Hoa “Trung Quốc trong 10 Chữ”

Nhà văn Dư Hoa

Giới thiệu tác phẩm mới của Dư Hoa “Trung Quốc trong 10 Chữ”

Đào Trung Đạo

Dư Hoa là nhà văn trung niên được đọc “lậu” nhiều nhất ở Trung Quốc trong vòng 20 năm nay. Gọi là đọc lậu vì sách của Dư Hoa tuy chỉ được in ấn và lưu hành ở Hồng Kông nhưng vẫn lọt vào nội địa. Quyển Huynh Đệ của Dư Hoa cũng đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản ở trong nước. Quyển tiểu thuyết đồ sộ này là tác phẩm thứ ba được dịch sang Anh ngữ sau các cuốn Chuyện Người Bán Máu, Khóc Trong Mưa Phùn, và Sống. “Trung Quốc trong Mười Chữ” (China in Ten Words) tác phẩm mới nhất của Dư Hoa được xuất bản ở Mỹ vào tháng 11 năm nay là một cuốn luận văn ngắn.

Dư Hoa sinh năm 1960 ở Triết Giang, Trung Quốc. Khi 18 tuổi, sau một thời gian được huấn luyện làm nha công, họ Dư hành nghề khoảng 5 năm rồi bỏ nghề; phần vì làm nha công không những suốt ngày cứ phải “nhìn vào mồm thiên hạ” mà còn kiếm được ít tiền nên khi thấy những cán bộ nhà nước làm cho Trung Tâm Văn Hóa cả ngày chỉ lang thang rong chơi mà lương bổng lại khấm khá, Dư Hoa xoay được một chân trong một trung tâm văn hóa và bắt đầu viết lách. Tên tuổi của Dư Hoa nổi như cồn khi tiểu thuyết Sống được đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu đưa lên màn bạc. Cuốn phim này được trình chiếu và được trao giải ở Đại Hội Điện Ảnh Cannes năm 1995. Dư Hoa cũng được trao giải văn chương Mao Thuẫn.

Tuy không được đào tạo chính qui về văn chương nhưng Dư Hoa là một người viết chịu khó đọc để học hỏi các nhà văn nổi tiếng thế giới như Fyodor Dostoievsky, William Faulkner, Toni Morrison… (dĩ nhiên chỉ đọc được những nhà văn này qua các bản dịch Trung văn.) Với những tác phẩm viết trước năm 1992 Dư Hoa được coi là nhà văn tiền phong, hiện đại trong văn phong cũng như đề tài. Nhưng từ sau quyển Huynh Đệ, Dư Hoa ngả sang lối viết hiện thực phê phán xã hội, châm biếm theo kiểu Lỗ Tấn trước đây. Tuy không có được căn bản học thuật như Lỗ Tấn nhưng bù lại Dư Hoa lại có sự can đảm cất lên tiếng nói phản biện, thẳng thắn trình bày sự thực.

“Trung Quốc trong 10 Chữ” được Allan H. Barr dịch sang Anh ngữ (China in Ten Words) và được độc giả Mỹ đón nhận khá nồng nhiệt phần vì quyển sách ra mắt đúng thời vụ vào lúc người Mỹ cũng như dân chúng nhiều nước trên thế giới đang chú ý tới Trung Quốc vì nước này có thái độ hung hăng trong vụ tranh chấp Biển Đông mới đây và chính sách trở lại Á Châu của chính quyền Obama. Chúng tôi muốn giới thiệu “Trung Quốc trong Mười Chữ” của Dư Hoa vì thấy có khá nhiều sự việc xảy ra ở Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại rất giống những điều Dư Hoa viết về Trung Quốc. Hơn nữa, cái nhìn hiện thực phê phán của Dư Hoa cũng đáng xem xét để có một bức tranh về những xã hội còn do Đảng Cộng Sản độc quyền cai trị.

Mười chữ Dư Hoa dùng để tóm thực tại xã hội Trung Quốc là: Nhân Dân, Nhà Lãnh Đạo, Đọc, Viết, Lỗ Tấn, Cách Mạng, Cách Biệt Giàu Nghèo, Cùng Đinh, Bắt Chước Rởm, và Bịp. Chúng tôi xin tóm lược những chương quan trọng để đối chiếu với thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay.

Trong chương mở đầu “Nhân Dân” Dư Hoa tự thú cho đến hôm nay khi viết hai chữ này xuống anh vẫn còn cảm thấy nghi ngờ không hiểu mình viết có đúng không vì chữ này đối với anh vừa xa lạ vừa thân quen, và chữ này có lẽ cũng còn là một chữ kỳ quái nhất trong tiếng Hoa: nó hiện diện khắp nơi nhưng hóa ra lại vô hình. Chữ này luôn xuất hiện trên môi các quan chức còn dân chúng lại ít khi dùng tới. Dư Hoa mỉa mai:

“Chúng ta phải ghi công những quan chức này vì nhờ họ mà chúng ta còn chứng tỏ được chữ này vẫn được dùng tới.” Trong quá khứ chữ này rất nặng ký vì tên nước cũng được đặt là Công Hòa Nhân Dân Trung Quốc, Mao chủ tịch bảo chúng ta phải “phục vụ nhân dân”, tờ báo quan trọng nhất của Đảng cũng có tên gọi là Nhân Dân Nhật Báo. Và từ năm 1949 chúng ta được dạy rằng “nhân dân là chủ nhân” đất nước. Hai chữ nhân dân cũng tuyệt với như ba chữ “Mao Chủ Tịch” vậy. Thế rồi thời thế đổi thay. Khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa (CMVH) nếu bạn nói hai chữ nhân dân ra thì nguời khác nhìn bạn với thái độ nghi ngờ vì có lẽ bạn nói trật tuy chẳng có ai phản đối bạn. Trong giai đoạn này người dân hết sức giữ mồm giữ miệng, sơ xảy là bị vu cáo là “phản cách mạng” và bị cho vào tù ngay.

十个词汇里的中国 - Trung Quốc trong 10 từ vựng - China in Ten Words -

十个词汇里的中国

Năm 2012, tôi biết đến cuốn Hoa Lục trong Mười Chữ của nhà văn Dư Hoa (Yu Hua) qua giới thiệu của bạn Hải Hà trên website gio-o.com. 

Đọc một phần tác phẩm, thấy " Thủ giống thủ, xôi giống xôi" thật là tâm đắc.

Sau đó, qua bác Vũ Nho giới thiệu tôi tìm đọc trên trang nhà bác Vũ Công Hoan phần Nhân Dân và Lãnh Tụ. Sau này quen biết nhà văn Triệu Xuân, một người cùng tuổi lại đồng hương nên hàng ngày vào website của bác đọc say mê (một website thật đồ sộ và phong phú). Tìm mục 'Dư Hoa' và đọc được đầy đủ tác phẩm này. Hiềm nổi, một trang web văn học đứng đắn vậy mà nhà mạng VNPT luôn chặn. Hôm nay, đọc qua mạng FPT, xin phép chủ trang chép về nhà để mọi người cùng đọc. 

Trong gio-0 dịch là Hoa Lục trong Mười Chữ, nhà văn Vũ Công Hoan dịch là Trung Quốc trong 10 từ vựng.
Quyển sách “China in Ten Words (Hoa Lục Trong Mười Chữ)” của Dư Hoa được xuất bản ở Đài Loan và bằng tiếng Anh ở Hoa Kỳ năm 2011.  

Được viết theo thể loại tiểu luận pha hồi ký, quyển sách có mười chương; mỗi chương dùng một chữ làm tiểu đề, bao gồm People (Nhân Dân), Leader (Lãnh Tụ), Reading (Đọc Sách), Writing (Viết Văn), Lu Xun (Lỗ Tấn), Revolution (Cách Mạng), Disparity (Chênh Lệch), Grassroots (Dân Quèn[1]), Copycat (Bắt Chước), và Bamboozle (Lường Gạt). Dư Hoa bảo rằng để nói cho tận tường mọi khía cạnh về đất nước của ông, có lẽ quyển sách sẽ dài như quyển Một Ngàn Lẻ Một Đêm. Ông chọn mười chữ như mười đôi mắt đặt ở những vị trí thuận lợi giúp ông quan sát và phân tích nhiều khía cạnh, tích cực lẫn tiêu cực của xã hội, lịch sử, chính trị, văn hóa, và kinh tế của Hoa Lục. Với sự nhạy cảm của một nhà văn, Dư Hoa đau cùng với cái đau của Trung quốc. Nói đến nỗi đau của Hoa Lục, thoạt tiên nghe chừng như nghịch lý, vì Hoa Lục hiện nay là một quốc gia siêu cường đứng hàng nhất nhì trên thế giới; nhưng theo Dư Hoa, xã hội Hoa Lục chứa nhiều ung thối, bệnh hoạn đến mức đang ở bên bờ vực tự hủy hoại.
Trong blogspot của tôi có 13 bài, có 2 cặp bài lăp, các bạn có thể đọc 11 bài sau. Các mục từ theo bản của nhà văn Vũ Công Hoan.


01. Nhân Dân. (人民 - People)

02. Lãnh Tụ. (领袖 -  Leader)

03. Đọc sách. (阅读 - Reading)

04. Viết văn (写作 - Writing; trong gio-o dịch là Sáng tác)

05. Lỗ Tấn. (鲁迅 - Lu Xun)

06. Khoảng cách  (差距 - Disparity;  Cách Biệt Giàu Nghèo; trong gio-o dịch là Chênh lệch).

07. Cách mạng (革命 - Revolution)

08. Thảo dân (草根 - Grassroots; Cùng Đinh trong gio-o dịch là Dân quèn)

09. Sơn trại  (山寨 - Copycat; Bắt Chước, Bắt Chước Rởm)

10. Nói xạo   (忽悠 - Bamboozle, Bịp; Lường gạt, NV Vũ Công Hoan dịch là Tán dóc, NV Triệu Xuân cho là Nói xạo)

Đọc thêm.

Giới thiệu tác phẩm mới của Dư Hoa “Trung Quốc trong 10 Chữ”

-------------------------------------------------

Trung Quốc trong 10 từ vựng (10): Nói xạo

Một hình ảnh cổ động cho Đại nhảy vọt năm 1958


Dư Hoa

10. Nói xạo

“Hu you” là phát âm Latinh tiếng Trung, âm Hán Việt là “Hốt du”, ý tứ ban đầu là lướt nhẹ nhàng, hoặc lay động bất định, chập chà chập chờn, ví dụ chiếc thuyền trên biển dập dà dập dềnh, hay chiếc lá cứ chao đi chao lại, rung ra rung rinh, khe khẽ lắc trong gió. Về sau nó trở thành tục ngữ thịnh hành ở vùng đông bắc Trung Quốc. Trở thành tục ngữ, “hốt du” phát âm giống như “hồ dụ”, có nghĩa là dẫn dụ lung tung, y như bệnh lây lan, luôn xuất hiện siêu vi trùng biến dị. Trong đời sống về sau này của từ vựng “hốt du” đã biến đổi thành hàm nghĩa khiến ta chóng mặt hoa mắt. Nói bốc nói khoác và lấy lòng mọi người gọi là “hốt du”, khéo gài hầm chông cạm bẫy và đánh lừa người ta cũng gọi là “hốt du”. Ý cái trước là bốc khoác, cổ động và dung túng, ý cái sau là nói bậy nói láo, đồn nhảm, lừa gạt, lại còn có ý là vui tếu dí dỏm, đùa cợt trêu ghẹo, dựng chuyện, ăn không nói có, đầu cơ trục lợi. Tóm lại sau khi “hốt du” trở hành tục ngữ có thể gọi chung là “tán dóc”(1). (Nhà văn Triệu Xuân: Theo ý tứ trong bài thì nên dịch là nói dóc; người Nam gọi là nói xạo, ba xạo).

Ở Trung Quốc hiện nay, “tán dóc” đã là từ vựng mới, quí trong tiếng Hán, địa vị giang hồ của nó có thể so sánh với “sơn trại”. Hai từ này đều là những “hộ phất lên trông thấy” trong từ vựng, nhưng lịch sử phát tích của chúng có khác nhau. Hiện tượng “sơn trại” xuất hiện như măng mọc sau trận mưa xuân bằng phương thức chủ nghĩa tập thể. Sự thịnh hành của “tán dóc” bắt nguồn từ chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Vị anh hùng này là Triệu Bản Sơn đến từ vùng đông bắc, một nghệ sĩ hài, một ngôi sao gây cười có ảnh hưởng nhất Trung Quốc. Trong tiểu phẩm “Đánh lừa”- kịch vui nhộn nổi tiếng của mình, Triệu Bản Sơn đã long trọng tung ra từ “tán dóc”. Ông gọi nó là: tôi có thể tán dóc, biến thẳng thành xiên, biến héo rũ thành tươi vui, biến đanh đá, the thé thành ngập ngừng lúng túng, biến hai vợ chồng trẻ đang sống rất hòa hợp thành chia lìa. Hôm nay tôi “tán dóc”, hai chân bạn đang nguyên vẹn hẳn hoi có thể biến thành què thọt!

Câu chuyện “tán dóc” chính là thông qua lớp lớp “tán dóc”, hay nói cách khác là bày ra liên tiếp hết hầm chông này đến cạm bẫy khác về tâm lý, để phát huy một cách tinh tế sâu sắc những cú đánh lừa, cổ vũ, dung túng và xỏ xiên nói xằng nói bậy, khiến một người hai chân đang lành lặn hẳn hoi cảm thấy mình què quặt, từ đó mà bỏ tiền mua một cái gậy chắc bền.

Những tiểu phẩm kịch vui tinh tế sâu sắc khiến người xem cứ ôm bụng mà cười, mấy năm trước, sau khi phát trong đêm xuân ba mươi Tết có tần số nghe nhìn cao nhất trên CCTV, từ “tán dóc” đã lập tức loang ra cả nước. Một hòn đá ném xuống tung lên muôn lớp sóng, khiến các hiện tượng bốc khoác, cổ vũ, dung túng, nói láo, đồn nhảm, bịp bợm, trêu chọc, nhạo báng, vui đùa tồn tại lâu nay đã ào ào trỗi dậy trong biển nghĩa từ ‘tán dóc”. Đồng thời những tâm tư tâm trạng không nghiêm chỉnh, bôi bác và xỏ xiên, thiên thối, lèo lá, gây cười trong xã hội cũng mở cờ gióng trống trong “tán dóc”. Từ vốn mang nghĩa xấu sau khi đi vào cửa “tán dóc” đã lần lượt được thân phận của từ trung tính.

Triệu Bản Sơ đã làm cho già trẻ gái trai Trung Quốc há mồm, ngậm mồm đều là “tán dóc”. “Tán dóc” hình như nước bọt ở trong miệng mọi người, lại giống như nước bọt từ trong miệng bắn ra. Chính trị, lịch sử, kinh tế, xã hội văn hóa, ký ức, tình cảm, ham muốn... tất tần tật đều có thể nhẩy “tăng gô”, lướt nhẹ nhàng trong “tán dóc”. “Tán dóc” đã trở thành chìa khóa vạn năng, một khi đi vào kho từ, có thể mở toang hết cửa này đến cửa khác của nghĩa từ hữu quan với nó.

Đương nhiên, “tán dóc” không phải luôn tiêu cực, cũng có khi tích cực. Khi có người quay lại chuyện xưa, từ “tán dóc” có thể dùng để sửa lại chuyện đánh lừa nối dối nghĩa xấu trước đó. Mẹ tôi là một ví dụ như thế.

Thời kỳ sau thập niên 1950, để tiêu diệt hoàn toàn bệnh sốt rét, Mao Trạch Đông đã tổ chức các y tá hộ sĩ trong thành phố thành các đội điều trị, thời ấy gọi là đại đội phòng dịch đi về nông thôn nghèo khổ và thiếu thầy, thiếu thuốc, chữa bệnh sốt rét miễn phí cho bà con nông dân.

Bố tôi lúc bấy giờ sống ở Hàng Châu xinh đẹp. Ông công tác ở trạm phòng dịch tỉnh Triết Giang. Bố tôi cả đời chỉ đi học có sáu năm, ba năm trường tư thục, còn ba năm là giáo dục đại học chính quy. Chương trình học ở giữa là do ông tự học khi làm y tá trong quân đội Đảng cộng sản. Trong chiến tranh, ông thu được một quyển tự điển, trên đường hành quân, ông vừa đi, vừa ghi từ mới. Đơn vị của ông dọc đường đánh đến tỉnh Phúc Kiến miền nam Trung Quốc. Sau đó lại quay về Hàng Châu Triết Giang, chuyển ngành làm công tác tại bệnh viện địa phương, trở thành một nam y sĩ. Tại đấy ông quen một nữ y tá, chính là mẹ tôi. Mẹ tôi dạy ông học số học, vật lý và hóa học, sau đó nhờ nỗ lực không mệt mỏi của bản thân, ông đã thi đậu đại học y khoa Triết Giang, học ba năm chương trình đại học. Sau khi tốt nghiệp ra trường, ông không muốn tiếp tục công tác ở trạm phòng dịch tỉnh. Nguyện vọng lớn nhất của ông là làm một bác sĩ ngoại khoa. Nhưng ông không có quyền chọn công tác mình thích. Lãnh đạo yêu cầu ông đi trạm phòng dịch, ông đành phải đi.

Trong bối cảnh như thế, bố tôi gia nhập đại đội phòng dịch, bước đi đầu tiên để trở thành bác sĩ ngoại khoa. Nguyện vọng mãnh liệt này khiến ông không tiếc bỏ cuộc sống ở Hàng Châu. Là đội trưởng đại đội phòng dịch, sau khi đến địa khu Gia Hưng, ông đi ra khỏi đại đội phòng dịch, vào bệnh viện Gia Hưng. Nhưng lãnh đạo Gia Hưng lại hi vọng ông đi nhận giáo vụ trưởng trường y tế địa khu Gia Hưng. Bố tôi từ chối, đã đến huyện Hải Diêm nơi nhỏ bé hơn. Hải Diêm vừa thành lập bệnh viện huyện, không có bác sĩ ngoại khoa, cuối cùng bố tôi được toại nguyện.

Trong bệnh viện Hải Diêm, bố tôi trổ hết tài hoa, ông đã mổ cắt tạng lá lách cho rất nhiều người mắc bệnh sốt rét; toàn là những phẫu thuật lớn trong bệnh viện lớn của thành phố lớn, đều do bác sĩ chủ nhiệm khoa ngoại về phần bụng thân chinh cầm dao mổ; mà cũng toát hết mồ hôi, lần đầu tiên phải mổ trong bảy, tám tiếng đồng hồ. Trong bệnh viện Hải Diêm bố tôi mỗi ngày cắt bỏ tạng lá lách của bốn năm người bệnh. Sau khi tay nghề thành thục, một cuộc phẫu thuật bỏ tạng lá lách cũng phải hết khoảng ba bốn tiếng đồng hồ.

Thời đó mẹ tôi nuôi tôi và anh trai vẫn sống ở Hàng Châu. Mẹ tôi công tác trong bệnh viện Triết Giang tốt đẹp, hơn nữa bà rất yêu mến Hàng Châu, yêu mến Tây Hồ xinh đẹp, bà không muốn dời Hàng Châu.

Bố tôi mỗi ngày sau khi cắt bỏ mấy tạng lá lách, ngồi trong văn phòng nho nhỏ bên ngoài phòng mổ viết thư cho mẹ tôi bằng giấy kê đơn thuốc. Trong thư ông mô tả Hải Diêm như thiên đường. Tôi không được đọc những thư đó, nhưng sau khi tôi đi khỏi Hải Diêm, trong thư bố gửi cho tôi, tôi thấy giọng văn bố viết hay lắm, có thể bằng lối viết hay đó, ông đã mô tả Hải Diêm vừa nhỏ bé con con, vừa nhếch nhác thời đó như mô tả cảnh đẹp Hàng Châu. Những lời đường mật ngọt ngào đến kiến cũng phải bò ra khỏi lỗ liên tiếp tới tấp của bố tôi, đã khiến mẹ tôi động lòng tưởng thật, cứ tưởng Hải Diêm là Hàng Châu thu gọn. Bà đã quyết định bỏ cuộc sống ở Hàng Châu, đem anh em tôi đến Hải Diêm. Đối với mẹ tôi, đây là sự lựa chọn dũng cảm. Chế độ hộ tịch khắt khe nghiêm ngặt của xã hội Trung Quốc, trong thời đại trước bắt một người chỉ được sống và công tác ở một nơi, chỉ khi nào chết mới được đi khỏi, giống như một cái đinh sắt bị vĩnh viễn đóng tại chỗ, cho đến khi han rỉ đứt, mới cho phép dời đi. Mẹ tôi đã bỏ hộ khẩu ở Hàng Châu, bỏ luôn cả hộ khẩu của hai anh em tôi ở Hàng Châu. Khi mẹ tôi dẫn hai con trai của bà ngồi ô tô đường dài đi đến Hải Diêm, là bước lên con đường không bao giờ quay trở lại.