Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Baroque

Baroque: huy hoàng, lồ lộ, gây xúc động.
Anh Nguyễn biên soạn

Nếu tôi hỏi bạn rằng “Bạn có phải là fan của âm nhạc Baroque hay không?”, có thể bạn sẽ ngần ngừ trước khi trả lời. Nhưng nếu tôi hỏi lại, rằng bạn đã bao giờ nghe tổ khúc Bốn mùa của Vivaldi, hoặc các trích đoạn giao hưởng của Bach và Pachelbel trong vô vàn bộ phim thương mại, từ Twilight đến Cô nàng ngổ ngáo, trong các buổi lễ khánh tiết, trong các đám cưới, trong các bài biểu diễn trượt băng, và bạn gật đầu, thì xin chúc mừng, bạn đã được tiếp cận với âm nhạc Baroque một cách vô thức rồi đó. Thật tuyệt vời khi nhận ra rằng các trào lưu nghệ thuật của quá khứ thật ra chưa bao giờ mất đi và bị lãng quên hoàn toàn, mà chỉ đơn giản được ẩn đi và vẫn lặng lẽ tô điểm cho cuộc sống của chúng ta theo những cách bất ngờ nhất.

Nếu tìm về ngọn nguồn xuất xứ của từ Baroque, ta cần thăm nàng tiên ngọc trai. “Baroque”, hay barroco, là từ chuyên dụng để chỉ những viên ngọc trai có hình dạng méo mó, không cân xứng hoàn hảo với hàm ý chê bai. Và nghệ thuật Baroque cũng bị chỉ trích vì sự thừa thãi, quá đà của nó. Nhưng nếu ngọc trai Baroque có giá trị đặc biệt chính nhờ sự khác thường thì nghệ thuật Baroque cũng như vậy.

Cũng như Mannerism, Baroque, đứa em út, tiếp tục “được” so sánh với Phục Hưng điềm tĩnh, cân xứng, và sự cầu kì, điệu bộ, xa hoa của Baroque bị coi là diêm dúa, quê mùa. Song giữa vô vàn những viên ngọc trai Baroque đã chìm vào lãng quên, ta còn lại các bản giao hưởng của Bach, truyện Don Quixote, cung điện Versailles, đài phun nước Trevi, và còn nhiều ví dụ khác nữa. Trong bài hôm nay, hãy cùng thưởng thức một góc cạnh của Baroque: nghệ thuật.


Mặt dây chuyền trang trí hình thần biển với một viên ngọc trai Baroque làm thân người,
gắn thêm ngà voi, vàng, đá quí, tráng men. Khoảng 1680, Hà Lan.

Martin Luther
Không khác với Mannerism, một phần quyết định tính chất của nghệ thuật Baroque là yếu tố chính trị. Khi Martin Luther viết những tác phẩm đầu tiên chỉ trích giáo hội công giáo vào năm 1517, ông đã bắt đầu một chuỗi sự kiện có tính chất bước ngoặt trong bộ mặt chính trị thế giới. Nhờ có ngành in mới phát triển, ảnh hưởng của chúng càng lan rộng. Để phòng thủ-tấn công, giáo hội Công giáo một mặt vừa cải tổ bên trong, một mặt nhấn mạnh lại những học thuyết, tìm cách gây dựng lại sự sùng kính của các tín đồ.




Hội đồng Trent
Nghệ thuật chính là trợ thủ đắc lực của nhà thờ trong trận chiến đó. Hội đồng Trent, dẫn đầu bởi giáo hoàng Paul III, thành lập năm 1545, quyết tâm sử dụng nghệ thuật như một công cụ hữu hiệu trong việc đánh trực tiếp vào cảm xúc của người dân mà số đông vẫn còn mù chữ. Nghệ thuật ấy cần đẹp, nhưng đẹp không chưa đủ, mà còn phải lộng lẫy, phải vượt quá trí tưởng tượng tầm thường, phải gây một ấn tượng siêu phàm. Có vậy mới khiến những kẻ thất học tin hơn vào quyền năng của Chúa, hay chính xác hơn, của nhà thờ Cơ đốc.
Và hội họa với chủ đề Thiên chúa giáo có đầy đủ những gạch đầu dòng sau:
- Có một cố gắng rõ rệt tìm cách lôi kéo người xem vào tác phẩm, biến người xem thành một phần tác phẩm. Để đạt được điều đó, tranh và tượng Baroque rất thật, cảm xúc mạnh mẽ.
- Không còn sự che giấu, nửa kín nửa hở, đánh đố của Mannerism. Tất cả các hành động, suy nghĩ, tình cảm đều trực tiếp, rõ ràng, mạnh bạo, để cho “ai cũng hiểu được.”
- Để tạo được sự kịch tính, tranh Baroque nhấn mạnh vào sự huy hoàng – huy hoàng của khung cảnh, của cơ bắp, của tình yêu-tình dục. Ánh sáng tương phản mạnh, màu sắc rực rỡ, các thân hình xoay chuyển, rung động, lao vào nhau, đè lên nhau. Baroque là một bộ phim hành động.
- Những chủ đề được ưa chuộng cần tạo ra sự hồi hộp, xúc động, để “câu khách”: sự hiến thân, cái chết, những ảo ảnh, những trạng thái xuất thần.
Tác phẩm điêu khắc “cổ động” tiêu biểu nhất của Baroque, chắc chắn phải là nhóm tượng của Giovanni Bernini.


“Sự xuất thần của thánh Teresa” (The Ecstasy of St. Teresa), 
của Giovanni Lorenzo Bernini, 1652

Diễn tả cảnh tượng thánh Teresa thành Avila trong trạng thái xuất thần, Bernini đã dựa trên lời thuật lại của nữ thánh khi thiên thần xuất hiện và “Tôi nhìn thấy trong tay người một ngọn giáo bằng vàng, đầu giáo dường như có một ngọn lửa nhỏ. Người đâm tôi rồi lại rút ra đâm tiếp vào trái tim tôi, và khiến tôi bốc cháy với tình yêu dành cho Chúa. Nỗi đau đớn lớn đến nỗi nó khiến tôi rên rỉ, vậy nhưng sự ngọt ngào đến từ nó khiến tôi mong nó kéo dài mãi không dừng…” Nếu khi đọc đến đây, bạn có một sự liên tưởng gì hơi… lạ thì yên tâm, ngay cả Bernini đã điêu khắc sự hạnh phúc tột cùng trong đau đớn của thánh Teresa với nỗi hoan lạc trần tục. Hãy nhìn cử chỉ, tư thế, gương mặt, bàn tay của nữ thánh khi thiên thần ở trên đâm bà với ngọn giáo vàng – một ẩn dụ không thể chối cãi.
Một tác phẩm khác, cũng theo dòng chủ đề Baroque thần thánh gặp người trần, là bức tranh diễn tả sự kiện thánh Paul cải đạo trên đường tới Damascus, của Caravaggio.

“Cải đạo trên đường tới Damascus” (Conversion on the way to Damascus), 
của Caravaggio, 1601

Được vẽ riêng cho nhà thờ Santa Maria del Popolo tại La Mã, bức tranh vẽ cảnh thánh Paul, vị giáo hoàng đầu tiên và nền móng của nhà thờ Cơ đốc, khi ấy vẫn mang tên Saul, ngã ngựa trên đường tới Damascus và nghe thấy lời truyền của chúa Jesus. Thánh Paul chính là người nằm ngửa trên mặt đất, hai cánh tay giang ra; bên cạnh chú ngựa là người bạn đồng hành. Caravaggio là một bậc thầy về ánh sáng, và đây là một trong những ví dụ hoàn hảo nhất về tài ba của ông. Giữa màn đêm tối tăm, một điểm sáng cực mạnh chiếu rọi lên thánh Paul, trong khi phần còn lại chìm trong bóng tối – Caravaggio nhấn mạnh rằng thánh Paul chính là người duy nhất trong bức tranh được kết nối với Chúa và được ánh sáng kì diệu của thiên Chúa chiếu rọi. Tuy chú ngựa mới ở chính giữa của bức tranh còn thánh Paul không những bị vẽ rút gọn theo luật xa gần mà còn quay lưng lại, Paul mới là trung tâm, là nhân vật chính. Caravaggio vừa phân bổ ánh sáng, vừa đặt Paul ở vị trí gần  nhất với người xem để làm nổi bật vai trò quan trọng của khoảnh khắc này.
Hãy tạm rời những chủ đề quá mạnh mẽ để chiêm ngưỡng Bốn lục địa của Rubens, một cách tiếp cận tôn giáo lãng mạn và êm ái hơn.

“Bốn lục địa” (The four continents), của Peter Paul Rubens, 1615

Rubens, một họa sĩ Hà Lan đến từ Antwerp không chỉ chịu ảnh hưởng của Michelangelo, Raphael, và Leonardo de Vinci mà còn của Titian và Tintoretto. Trung thành với nhà thờ Cơ Đốc giáo, Rubens hưởng ứng phong trào Cải cách một cách nhiệt thành. Những bức tranh của ông là sự kết hợp của tôn giáo, lịch sử, và thần thoại. Rubens là đại diện của Baroque lãng mạn và quyến rũ. Những người phụ nữ nẩy nở má hồng là một thương hiệu riêng của Rubens, và đến giờ từ “Rubenesque” vẫn được sử dụng để chỉ những cơ thể đầy đặn, phổng phao. Nếu Caravaggio giỏi về ánh sáng thì thế mạnh của Rubens là cách dùng màu sắc tươi nhưng không rợ. Những motif thiên thần, tình yêu, thể xác cũng xuất hiện dồi dào trong tranh của Rubens. Trong bức tranh nay, bốn lục địa được nhân cách hóa thành bốn người phụ nữ quây quần, hòa đồng trong niềm tin tưởng tuyệt đối và sự thần phục hoàn toàn với Thiên chúa. Tuy nhiên nếu không có cốt truyện, thật khó thấy bất kì một mối liên hệ nào giữa những người phụ nữ phốp pháp trong vòng tay các ông râu dài này với sự mộ đạo!
Cuối cùng, để tổng kết lại bài viết nhập môn về Baroque, hãy tới thăm Rembrandt. Bức tranh vẽ Andromeda bị trói trên núi đá là lần thử sức đầu tiên của Rembrandt với tranh khỏa thân.

“Andromeda bị trói vào núi đá” (Andromeda chained to the rocks),
của Rembrandt, 1631

Chủ đề về Andromeda đã bị khai thác không thương tiếc trong nghệ thuật cổ điển – một cái cớ để vẽ một người phụ nữ đẹp không mặc quần áo. Câu chuyện của Andromade được thuật lại trong Metamorphoses của thi hào Ovid, khi sắc đẹp cũng là một lời nguyền (nhất là khi có một bà mẹ huênh hoang). Trước Rembrandt, Andromeda đã “qua tay” Titian, Goltzius, và cả Rubens nữa. Nhưng Rembrandt đã đem đến một góc nhìn hoàn toàn khác về Andromeda. Thay vì đơn thuần phô diễn kĩ thuật vẽ nude, khoe khoang vẻ đẹp kiêu kì của người con gái đẹp, Rembrandt khắc họa Andromeda đúng như một cô gái sợ hãi vì sắp bị ăn thịt phải thế: đôi mắt hoảng sợ, gương mặt nhút nhát, tư thế khom khom. Thân thể trắng lóa của nàng được chiếu sáng không nhằm mục đích ca tụng mà như đặt nàng vào một vị trí nguy hiểm, một mục tiêu dễ dàng, như một chú nai sắp bị ô tô cán đến nơi. Nói cách khác, Andromeda của các họa sĩ trước đây chỉ là người mẫu, nhưng Andromeda của Rembrandt là một nữ diễn viên thực thụ.
Kéo dài từ 1590 đến 1725, những thành tựu của Baroque khiến những người đương thời và các thế hệ sau, dù muốn hay không, cũng không thể không bị nó cuốn hút và chinh phục. Khi Baroque thoái trào, chuyển sang một giai đoạn nhẹ nhõm, tươi tắn hơn, chúng ta có Rococo, một chủ đề sẽ được thảo luận trong tương lai rất gần.

Mời các bạn tìm hiểu các tác phẩm của Vermeer, của nữ họa sĩ Artemisia Gentileschi, và Nicholas Poussin (Baroque Pháp) và chỉ ra các đặc điểm của Baroque vừa được nêu trong bài nhé.
(nguồn: soi.today)

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT


Nhà văn Kim Dung chiếm vị trí quan trọng trong tâm hồn người ghiền kiếm hiệp. Nếu nhà Phật chia tam thiên thế giới thành 3 cõi: cõi trời, cõi người và cõi âm tào, thì với độc giả kiếm hiệp, còn có thêm một cõi thứ tư, là “cõi Kim Dung”; trong đó, nhà văn thay quyền hóa công tạo ra một thế giới kỳ ảo, mang lại cảm giác sảng khoái và cảm khái không nguôi cho người đọc.

Có người tổng kết “cõi Kim Dung” bằng hai câu thơ:
Phi tuyết liên thiên xạ bạch lộc 飛雪連天射白鹿
Tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên 笑書神俠倚碧鴛

(Dịch nghĩa: Tuyết bay đầy trời bắn (nhìn) hươu trắng
                    Truyện cười thần hiệp tựa uyên xanh).

Đó là những chữ ghép từ tên của các tác phẩm Kim Dung, gồm 14 bộ:
PHI tức “Phi hồ ngoại truyện” (sáng tác năm 1960);
TUYẾT là “Tuyết sơn phi hồ” (1959);
LIÊN - “Liên thành quyết” (1963);
THIÊN - “Thiên long bát bộ” (1963);
XẠ - “Xạ điêu anh hùng truyện” (1957);
BẠCH - “Bạch mã khiếu tây phong” (1961), một đoản thiên tiểu thuyết đăng kèm nối sau bộ “Tuyết sơn phi hồ”;
LỘC - “Lộc đỉnh ký” (1969)
TIẾU - “Tiếu ngạo giang hồ” (1967);
THƯ - “Thư kiếm ân cừu lục” (1955), tác phẩm đầu tay của Kim Dung;
THẦN - “Thần điêu hiệp lữ” (1959);
HIỆP - “Hiệp khách hành” (1965);
Ỷ - “Ỷ Thiên Đồ Long ký” (1969);
BÍCH - “Bích huyết kiếm” (1956);
UYÊN - “Uyên ương đao” (1961), đoản thiên tiểu thuyết in kèm sau bộ “Tuyết sơn phi hồ”.
Trong toàn bộ các tác phẩm trên, nếu so ra thì võ công ai sẽ là đệ nhất? “Thế giới Kim Dung” có đặc điểm là trong đó nhân vật chính trải trăm phen mài giũa mới luyện thành tuyệt nghệ, nhưng võ công đều thuộc hạng nhì hạng ba, nhường ngôi đệ nhất cho các nhân vật phụ; điều này hấp dẫn người đọc, khiến ta phải ưu tư về sự bất toàn của thân phận con người.
Xứng danh đệ nhất cao thủ, trong “cõi Kim Dung” đếm chưa đầy một bàn tay, xin liệt kê đây để bàn chơi mua vui.

ĐÔNG PHƯƠNG BẤT BẠI

Là đệ nhất cao thủ gây ấn tượng nhất trong truyện Kim Dung, bóng đen của Đông Phương Bất Bại bao trùm không khí khủng bố lên phần lớn “Tiếu ngạo giang hồ”. Tuyệt thế cao thủ này chỉ thật sự xuất hiện vào gần cuối truyện, và sự xuất hiện này thật kinh hồn, khiến người đọc phải nín thở để theo dõi.
Nếu trong “Thiên long bát bộ” có nhân vật Thiên Sơn Đồng Mỗ võ công kỳ tuyệt, thủy chung giết người không phải sử dụng đến chiêu thứ hai, thì trong “Tiếu ngạo giang hồ”, Đông Phương giáo chủ vừa xuất hiện đã bằng một chiêu nhẹ nhàng lấy đi mạng của đường chủ Đồng Bách Hùng, một nhất lưu cao thủ; mà điều đáng sợ là lúc ấy Nhậm Ngã Hành, Lệnh Hồ Xung hiện diện đương trường mà cùng không nhận ra y đã giết người bằng thủ pháp nào.
Tính cách ma quái ái nam ái nữ khiến Bất Bại không còn là người, mà như hiện thân của loài ma mỵ. Một mũi kim thêu yểu điệu trong tay của Đông Phương giáo chủ uy lực hơn cả bảo đao thần kiếm. Ung dung một mình đối phó với 4 người, trong đó có Nhậm Ngã Hành võ công xuất thần nhập hóa tương đương phương trượng Thiếu Lâm, với Lệnh Hồ Xung đã luyện được 7 phần Độc Cô cửu kiếm, thêm Quang Minh Tả sứ Hướng Vấn Thiên oai khiếp quần hùng, Bạch Hổ đường chủ Thượng Quan Vân, vậy mà Đông Phương Bất Bại vẫn ung dung nhàn tản như chơi như đùa, áp đảo tuyệt đối, mãi đến khi y đã tự lao mình xuống vực sâu mà bọn người kia vẫn còn tim thột chân run. Sau trận đấu này, bọn Nhậm Ngã Hành xem như đã có trải nghiệm hãn hữu thế gian: được trở về từ cõi chết.
Đối phó với võ công Quỳ Hoa bảo điển của Đông Phương Bất Bại, e là phải có 5 người tương đương lão ma đầu Nhậm Ngã Hành mới mong giữ được thế quân bình, cho nên tôi dám bảo đây là người duy nhất xứng danh thiên hạ đệ nhất.

ĐỘC CÔ CẦU BẠI

Nhân vật này chỉ xuất hiện gián tiếp (trong hai bộ “Thần điêu hiệp lữ” và “Tiếu ngạo giang hồ”) qua truyền kỳ. Kiếm Ma là người sáng chế “Độc Cô cửu kiếm” độc bá thiên hạ. Về võ công, lấy Đông Phương Bất Bại làm chuẩn, ta cũng chỉ có thể dùng phương pháp gián tiếp để so sánh. Truyền nhân “Độc Cô cửu kiếm” là Phong Thanh Dương, thái sư thúc phái Hoa Sơn. Người này tuy được cả phương trượng Thiếu Lâm lẫn Nhậm Ngã Hành trọng vọng, nhưng võ công chưa chắc có thể chiếm thượng phong trước Nhậm Ngã Hành. Mà võ công Đông Phương Bất Bại thì phải tập hợp được 5 đại cao thủ ngang Nhậm Ngã Hành mới mong thủ hòa một mình Bất Bại. Vậy nên đáng tiếc cho Độc Cô Cầu Bại sinh bất phùng thời: giá đầu thai trễ vài trăm năm, Cầu Bại đã có dịp so tài Bất Bại, thì Kiếm Ma hẳn đã giải tỏa được mối hận, ít ra trong đời sẽ được một lần đại bại.

VÔ DANH LÃO TĂNG



Vô danh lão tăng, hay “tảo địa tăng”, chỉ là người quét dọn Tàng Kinh các trong Thiếu Lâm tự, nhưng đây là người võ công tuyệt đỉnh (nếu riêng tính “Thiên long bát bộ”). 4 đại cao thủ là cha con Tiêu Viễn Phong, Tiêu Phong (bang chủ Cái bang, nhân vật luyện Giáng Long thập bát chưởng đạt thành tựu cao nhất), và cha con Cô Tô Mộ Dung gia lừng lẫy là Mộ Dung Bác, Mộ Dung Phục. Cả Bắc Kiều Phong Nam Mộ Dung hai nhà liên thủ mà vẫn không đối phó nổi một lão tăng già yếu này.

BỒ ĐỀ ĐẠT MA


Tiếng là người sáng lập Thiếu Lâm, Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm, nhưng trong truyện Kim Dung, Đạt Ma chỉ có công sáng chế Dịch Cân kinh và Tẩy Tủy kinh. Bộ Cửu Dương chân kinh trấn môn chi bảo của Thiếu Lâm là do người khác viết, 72 tuyệt kỹ của Thiếu Lâm cũng nhờ các tăng nhân Thiếu Lâm nhiều đời tu luyện phát minh chứ không phải khởi nguyên từ Sơ tổ Đạt Ma. Cho nên nếu chạm mặt so tài, e Bồ Đề Đạt Ma cũng phải dưới Vô danh lão tăng mấy bậc.

* * *
Rốt lại, chỉ còn hai người khả dĩ thuộc hàng thiên hạ vô địch là Đông Phương Bất Bại và Vô danh lão tăng. Nếu hai người này tỷ thí thì ai sẽ thắng? Khó nói lắm, vì bản lĩnh hai bên tương đương. Nhưng nếu cuộc giao đấu diễn ra, tôi sẽ đặt cược vào Đông Phương Bất Bại, nguyên do: lão tăng là người hiền lành chơn chất, mà giáo chủ Minh giáo lại hiểm độc khôn lường. Võ công tương đương thì ma đầu nhất định thắng thế, bởi lời tục có câu “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, nhà Phật khó thắng ma tà.
Nhưng võ công của Đông Phương Bất Bại có thật đã quán thế cổ kim không đối thủ chưa? E rằng chưa, vì hình như ta đã bỏ sót, lướt qua một người!
Hãy thử xét lại uyên nguyên võ công của Đông Phương Bất Bại, đó là học từ Quỳ Hoa bảo điển. Vậy thì chính người viết Quỳ Hoa bảo điển đó mới là nhân vật lợi hại đệ nhất. Nếu người ấy sống lại thì phải 3 đại cao thủ cỡ Đông Phương Bất Bại mới mong đương cự nổi. Kim Dung hầu như đã dùng thủ pháp “Tiềm long vật dụng” để giấu kín danh tính nhân vật này. Đó thật ra là ai?
Theo mô tả của Kim Dung thì đây là một người võ công tuyệt thế, mai danh ẩn tích, chịu làm hoạn quan trong hoàng cung, và những võ công trong Quỳ Hoa bảo điển, trải hơn 300 năm sau đó vẫn không một ai luyện thành trọn bộ.
Lần theo những tiết lộ úp mở về nhân vật thái giám đó, thì người phù hợp nhất không ai khác, chính là Tam bảo thái giám Trịnh Hòa.
Theo sử liệu đời Minh, Trịnh Hòa giỏi võ nghệ, hùng tài thao lược, lập chiến công quan trọng giúp Yên vương Chu Đệ lên ngôi Minh Thành tổ. Sau, Hòa chỉ huy hạm đội hùng mạnh nhất thế giới, mượn cớ thám hiểm hàng hải để đánh cướp các nơi, thu về vô số vàng ngọc châu báu. Trịnh Hòa được sát nhân hoàng đế Chu Đệ kính nể bội phần.
Trong tín ngưỡng dân gian của người Tàu, có ba hệ thống miếu thờ chính (người Việt quen gọi là những “Chùa Tàu”, nhưng trong tiếng Hán thì đều là “miếu”) gồm Thiên Hậu miếu thờ bà Thiên Hậu, Võ miếu thờ Quan Vũ, và “Miếu Bổn đầu công” (chùa ông Bổn) thờ Trịnh Hòa. “Ông Bổn” hay “Bổn đầu công” Trịnh Hòa là vị phúc thần bảo trợ cho thổ trạch và gia đình của Hoa kiều tha hương. Trong tiềm thức dân Tàu, đó là người có công đưa họ ra bốn phương lập nghiệp, giúp chỉnh đốn bang hội và đòi hỏi quyền lợi cho Hoa kiều ở các nơi.

Đô đốc Hải quân Trung Quốc Trịnh Hòa


Phải chăng trong tâm tưởng Kim Dung, với tài trí và căn cơ của một người có huyết thống Hồi Hột, lại có cơ hội chinh phục đánh cướp khắp thiên hạ như Trịnh Hòa, thì việc tập hợp võ công Trung nguyên với Tây Vực, Hồi Hồi, Đại Lý, Mông Cổ, Tây dương... để viết nên Quỳ Hoa bảo điển là việc khả dĩ?
Đến đây, lại thêm câu hỏi nữa đặt ra: nếu giả thuyết vừa nêu là đúng thì liệu Trịnh Hòa có phải thiên hạ vô địch? Thưa rằng chưa, vì hơn 700 năm sau Hòa, có một nhân vật võ công đặc dị nữa xuất hiện, lừng lẫy cổ kim, quả là kỳ tài ngàn năm có một. Đó là ai vậy?
…..
(Lược đoạn cuối) 
theo FB Vinhhuy Le

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

Điêu khắc, những chu kỳ đổi thay

(Trao đổi trên FB, nhà báo Xuân Bình góp ý về một bức ảnh tôi chụp trên Cổng Trời Quản Bạ, Hà Giang. Qua câu chuyện, biết được bài báo này. Vốn ham mê điêu khắc, tôi chép lại cùng các bạn thưởng lãm. Cảm ơn bạn Xuân Bình nhiều.)
--------------------------------------

Điêu khắc, những chu kỳ đổi thay
Cùng với chính trị biến động, văn hóa hưng suy, nghệ thuật thăng trầm, điêu khắc cũng có những phát triển hoặc phân hóa dữ dội.
Ngay từ xa xưa, trong những không gian vật chất luôn có mối quan hệ cộng sinh giữa điêu khắc và kiến trúc. Đôi khi hình thức điêu khắc thoát ly đặc trưng kiến trúc, nhưng về cơ bản chúng không tách rời nhau, luôn bổ sung cho nhau và cùng tập hợp lại trong một trật tự hay cấu trúc có ý thức nhằm tạo nên một chỉnh thể thiên nhiên văn hóa.

Tượng Nhân sư ở Ai Cập



Điêu khắc ở Hong Kong
Điêu khắc gần với kiến trúc theo nghĩa nó gọt đẽo một vật cảm quan. Điêu khắc cho phép ta chiêm ngưỡng cơ thể người và tinh thần được dung hợp thành một toàn thể gắn bó.. Kiến trúc tạo phông nền, thỏa mãn mọi nhu cầu của một đời sống thực; điêu khắc hướng tới việc gây dựng một thế giới ảo, khó định tính hay đong đếm. Kiến trúc khống chiếm diện tích lớn rộng; điêu khắc tìm về một kích cỡ nhỏ bé, khiêm tốn hơn. Kiến trúc thỏa mãn công năng; điêu khắc nhỉnh hơn ở khả năng thoát bỏ những vỏ bọc vật chất, hình hài, màu sắc chất liệu để  bày tỏ một quan niệm nghệ thuật cũng như thái độ sống của một thời đại. Kiến trúc hướng tới không gian; điêu khắc không chỉ mô tả thời gian…
Hiện diện của thần quyền
Trải qua nhiều biến động, lịch sử cổ đại vẫn kịp để lại dấu ấn khó phai trên những tác phẩm điêu khắc và kiến trúc. Khao khát dâng hiến niềm tôn kính và nỗ lực sáng tạo của nghệ sĩ – kiến trúc sư đã hòa quyện, hợp thể kiến trúc và điêu khắc thành những lời tụng ca sức mạnh siêu nhiên của một đời sống ngoài hiện thực trần gian, chỉ thực sự trú ngụ trong trí tưởng tượng của con người. Cùng với kinh kệ, giáo lý, ngôn từ, hội họa…, kiến trúc và điêu khắc trở thành một cầu nối giữa ước vọng sống, giữa niềm tin, đức tin và thế giới tôn giáo, tâm linh.

Điêu khắc “Đàn bà nằm” của Henri Moore

Sẽ hình dung ra thế nào một Ai Cập cổ đại đã bị thời gian, sự hoang dã của sa mạc phế bỏ, vùi lấp mất những lăng mộ Pharaon hay tượng Nhân sư? Các đền đài Hy – La sẽ chẳng lưu giữ được bao nhiêu vẻ quyến rũ, nếu bên các hàng cột, dọc theo các hành lang hay chạy suốt chính điện thờ lại thiếu đi những câu chuyện bằng đá mô tả đời sống huyền hoặc của các vị thần? Văn minh Ấn Độ sẽ nhạt nhòa đến thế nào, nếu vắng bóng những điêu khắc phồn sinh trên những đền thờ từ thời Sanchi? Thật khó hình dung dọc bờ biển Trung Hoa ở Macao, Hong Kong hay Đà Nẵng ở Việt Nam lại thiếu những điêu khắc Quán Thế Âm Bồ Tát?


Điêu khắc Quán Thế Âm Bồ tát ở Macao

Trên một hiện trường xa thẳm của văn hóa, lịch sử chỉ có thế giới Hồi giáo là từ chối điêu khắc như một công cụ để vinh danh Thượng đế và đấng tiên tri.
Môi giới quyền lực thế tục
Lịch sử điêu khắc cận đại, hiện đại thì ghi nhận một thời đoạn mà thần thánh dần nhường chỗ, hoán đổi và chuyển giao vai trò tự trị cho con người. Con người – những sinh linh nhỏ bé, đáng thương đã vội vàng nắm bắt lấy những phương tiện, công cụ hữu hiệu nhất để tự giải thoát bản thân khỏi những nhọc nhằn mưu sinh, cố giành đoạt quyền lực, luôn thèm muốn mở rộng lãnh địa chiếm hữu. Máy móc, công nghệ, vũ khí, chiến tranh… dần mách mối cho con người tự khám phá và phát lộ ra những sức mạnh, quyền năng ghê gớm của chính mình. Chỉ một thoáng mong manh ấy thôi cũng đủ khiến đồng hồ văn minh vùn vụt lướt qua hàng thế kỷ. Điêu khắc và kiến trúc đã gắng hết mọi nỗ lực để thay đổi, biến hóa gương mặt đô thị hoặc tất cả các trung tâm mà con người tụ sinh.
Vết dấu mà hậu sinh còn cơ hội chứng kiến và khám phá những giá trị tinh thần từ quá khứ, chính là các tượng đài cực kỳ hoành tráng.


Trích đoạn đài phun nước Người Áo chinh phục biển cả ở mặt tiền Quảng trường Hofburg

Tác phẩm kiến ​​trúc cảnh quan của KTS John Nash đã làm nền cho Cột Nelson cao vút ở Quảng trường Trafalga London (Anh). Tác phẩm điêu khắc ghi nhớ vị anh hùng vĩ đại nhất của Anh quốc trong chiến tranh và cũng là vị chỉ huy thủy binh kiệt xuất nhất trong lịch sử nước này. Trận chiến này không chỉ là chiến thắng quan trọng nhất của quân Anh trong những cuộc đối đầu chống Napoléon. Nó mở ra một kỷ nguyên mới, trật tự thế giới mới.


Tượng đài Hoàng đế Wilhelm I ở thành phố Koblenz (Đức)

Hoặc là tượng đài Hoàng đế Wilhelm I ở thành phố Koblenz (Đức). Trước sự hòa hợp của hai con sông lớn Mosel và Rhein, tổ hợp kiến trúc – điêu khắc hoành tráng này là nơi tưởng niệm và nhắc nhở đến một nước Đức thống nhất.
Trong Khu Tưởng niệm Quốc gia trên núi Rushmore gần thành phố Keystone, bang South Dakota (Mỹ) là một tác phẩm điêu khắc bốn vị Tổng thống George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln. Tác phẩm được tạc vào khối đá granite của cha con Gutzon Borglum đã trở thành biểu trưng cho lịch sử 150 năm đầu tiên của Hoa Kỳ.
Ở đại điện Hendelplatz (Áo), nổi bật điêu khắc của Thái tử Karl. Con ngựa chiến tung vó như báo hiệu những bất an của cả châu Âu và thế giới khi Đại chiến thứ nhất bùng nổ…
Hướng tới giá trị nhân bản
Mấy thế kỷ qua, cùng với chính trị biến động, văn hóa hưng suy, nghệ thuật thăng trầm, điêu khắc cũng có những phát triển hoặc phân hóa dữ dội. Sự tôn vinh các anh hùng dân tộc, khúc khải hoàn ngợi ca những con người tạo nên chuyển biến lịch sử nhân loại và sự khẳng định uy quyền thế tục đã dần biến đổi.


Điêu khắc Thời gian của Dali
Ở không ít các xứ sở của độc tài, toàn trị, điêu khắc đã mau mắn góp phần bơm bít, tạo dựng những giá trị ảo, phi nhân. Mỗi tác phẩm đều hớt hơ hớt hải, cuống cuồng biến thái thành công cụ cho một thứ chủ nghĩa sùng bái cá nhân. Nghệ thuật lạnh lùng trở thành phương tiện khủng bố tinh thần dân chúng.
Trong khi đó, ở những xã hội có xu thế tiến bộ, điêu khắc hướng tới âm thầm ca ngợi vẻ đẹp sâu kín trong tâm hồn con người. Tiếp đến, vẻ đẹp lãng mạn được thay thế bởi những cảm xúc đa dạng, đa chiều, phức tạp hơn của con người thời hiện đại. Những biến cố trong đời sống, những bi kịch, đau khổ trong tâm thức, nỗi hoang mang lo sợ về hiện tại, khả năng mất định hướng trong tương lai cũng được khai thác như những đề tài đầy nhân văn.
Hình thể nhường chỗ cho cảm xúc. Sự suy ngẫm, chất trí tuệ được đề cao. Cái bắt mắt được thay thế bởi khả năng nhận thức sâu sắc hơn những biến đổi về thân phận con người. Ý thức khai sáng trong từng tác phẩm điêu khắc như được hiện diện trong mỗi góc gallery, bảo tàng, công viên hay quảng trường…


“Alison Lapper mang thai” của Marc Quinn

Nguồn cơn đó, xu thế đó đã thúc đẩy điêu khắc “Alison Lapper mang thai” của Marc Quinn – điêu khắc gia hàng đầu của nước Anh xuất hiện tại Quảng trường Trafalga, London. Đặt bên cạnh và ngang bằng với các vị thần, các bậc anh hùng nước Anh trong thế kỷ 19 như vua George IV, Sir Charles Napiner, tướng Henry Havelock… là một cô gái tật nguyền, một nghệ sĩ tạo hình, một biểu tượng của cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ, mệt mỏi trước những rủi ro, bất hạnh của phận người.
Marc Quinn đưa ra một thái độ, cách cảm nhận từ tác phẩm của mình: “Thay vì sáng tác hình tượng một ai đó chinh phục thế giới bởi sức mạnh của quân đội, tôi muốn thể hiện một người đang phải đương đầu với bất hạnh trong cuộc sống hằng ngày, một người đang sống một cách viên mãn và cũng để thể hiện tương lai”

 Bài & ảnh: XUÂN  BÌNH
KTNĐ tháng 12-2012

Nguồn ở đây

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Tinh thần Phật giáo­­ trong Thiên long bát bộ


Tác giả Anh Nguyễn
Thiên Long Bát Bộ là tác phẩm dài nhất của Kim Dung. Với gần hai triệu chữ được đăng liên tục trong vòng bốn năm trên Minh báo Hồng Kông và Nam Dương thương báo Singapore, Thiên Long Bát Bộ có cấu trúc phức tạp, hệ thống nhân vật rộng lớn, phạm vi trải dài mênh mông từ Đại Tống đến Thổ Phồn, Tây Hạ, Đại Lý, Đại Liêu, … Nhà phê bình Trần Mặc đã gọi Thiên Long Bát Bộ là một cuốn “Lục Quốc diễn nghĩa” có bối cảnh võ hiệp. Ngoài ra Thiên Long Bát Bộ còn nổi bật vì chứa đựng tinh thần Phật giáo hết sức rõ rệt. 
Ngày 27. 10. 1994 tại đại học Bắc Kinh trước sự đón chào của hơn một ngàn sinh viên hâm mộ, Kim Dung đã trả lời câu hỏi của khán giả: “Thiên Long Bát Bộ phải chăng là biểu đạt quan niệm nhân sinh của ngài?”. Ông đáp: "Trong Thiên Long Bát Bộ, có phần biểu đạt quan niệm nhân sinh của tôi. Lúc ấy trong tôi có tư tưởng triết học Phật giáo. Phật giáo khá bi quan đối với nhân sinh, cho rằng đời người là bể khổ. Vô luận nhân sinh tốt đẹp đến thế nào, cuối cùng rồi cũng chết. Nhưng Phật giáo còn có quan niệm khác, tuy con người không tránh được cái chết, nhưng vẫn còn có lúc tái sinh, sau này có thể đời sống tốt hơn, có thể cống hiến được sức mình, có thể giúp đỡ được người khác.”
Bìa sách Thiên Long Bát Bộ thời kỳ đầu
Tinh thần Phật giáo của Thiên Long Bát Bộ được biểu đạt ngay từ tựa đề tác phẩm. Thiên Long Bát Bộ là cụm từ chỉ tám bộ chúng sinh, trong đó có loài giống người nhưng không phải người (nhân- phi- nhân) thường đến nghe Phật thuyết giảng trong kinh Đại Thừa. Các loài này đều có nguồn gốc từ tín ngưỡng Ấn Độ giáo. Trước khi Phật giáo ra đời, người dân Ấn Độ đã thờ phụng tám loại thần linh đó rồi. Về sau chúng được kết nạp vào đạo Phật, trở thành các vị thần hộ trì thế gian nhưng vẫn chưa thoát khỏi kiếp luân hồi.
Tựa đề Thiên Long Bát Bộ rất khó dịch ra tiếng Anh, hiện tại có ba cách dịch chính: Demi-Gods and Semi-Devils, Eight Books of the Heavenly Dragons, và phiên âm Tian Long Ba Bu. Khi mới bắt đầu bắt tay viết Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung đã có ý định dựng tám nhân vật chính theo tám vị thần Hộ pháp nhà Phật, thế nhưng câu chuyện càng đi sâu càng phức tạp và việc phân loại “ai là ai” trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Đây vẫn là một chủ đề được ưa thích trong giới Kim học. Bài viết này không nhằm nỗ lực phân chia rạch ròi các nhân vật theo tám bộ chúng sinh mà trên hết muốn khơi gợi một cuộc đối thoại giữa những người am tường Kim Dung và Phật học.
Phần 1: Ai là Thiên, ai là Long? 

1. Thiên

Đứng đầu trong tám bộ chúng sinh là Thiên, còn gọi là Thiên chúng hay Thiên thần. Trong tiếng Ấn Độ, phiên âm của Thiên là Deva, bao gồm các chúng sinh ở sáu cung trời có thân hình phát hào quang rực rỡ. Deva luôn là nam (dạng nữ của Thiên là Devi) làm thiện, nói thiện, và nghĩ thiện. Chư thiên tuy được hưởng phúc báu to lớn hơn người thường nhưng vẫn nằm trong vòng sinh tử. Trước khi chết, chư thiên sẽ có năm triệu chứng: quần áo mủn nát, hoa trên đầu tàn héo, thân thể bốc mùi, nách đổ mồ hôi, đứng ngồi không yên, đó là thời kỳ đau khổ nhất của chư thiên. Vua trời Đế Thích (Indra) là thủ lĩnh chư thiên.

Tượng Đế Thích (Indra) ở Myanmar
Dựa theo miêu tả trên, có thể kết luận nhân vật tương ứng với địa vị chư thiên chính là Tiêu Phong. Khi Tiêu Phong lần đầu tiên xuất hiện, uy vũ của chàng đã khiến Đoàn Dự chấn động tâm thần, không kiềm được nảy lòng ngưỡng mộ.
Một đại hán ngồi ở phía tây nghe thế quay đầu lại nhìn, đôi mắt lạnh lùng sáng quắc lướt qua mặt chàng. Đoàn Dự thấy người đó thân thể thật là cao lớn, chừng trên dưới ba mươi, mặc áo vải màu tro cũ kỹ đã sờn rách, mày rậm mắt to, mũi cao miệng rộng, khuôn mặt vuông vức hình chữ quốc, tuy nhuốm vẻ phong sương nhưng đầy vẻ uy nghiêm.Đoàn Dự trong bụng tấm tắc khen thầm: “Quả là một đại hán hiên ngang! Hẳn đây là một tráng sĩ bi ca khẳng khái của nước Yên nước Triệu nơi miền bắc chứ Giang Nam hay Đại Lý không thể có được người như thế này. Bao Bất Đồng tự mình huênh hoang anh khí ngất trời nhưng phải người như thế này mới xứng đáng bốn chữ đó”.
Tranh vẽ Tiêu Phong trên bìa sách “Thiên Long Bát Bộ”
Nếu coi vị sư già quét chùa Thiếu Lâm công phu siêu phàm nhập thánh, từ bi vô hạn là Phật sống, thì chỉ còn Tiêu Phong xứng đáng vị trí số một trong “thế giới chúng sinh” của Thiên Long Bát Bộ. Từ võ công, phẩm chất, đến tính cách anh hùng, chàng đều khiến nhân sĩ Tống Liêu, giang hồ hai phe hắc đạo bạch đạo phải nghiêng mình thán phục. Tiêu Phong hào sảng mà không thô lỗ, anh phong lẫm liệt mà vẫn kín đáo khôn ngoan. Chỉ một lộ Hàng Long Thập Bát Chưởng đủ để Tiêu Phong trấn áp quần hào Tụ Hiền Trang, về sau lại đánh cho bọn Mộ Dung Phục, Đinh Xuân Thu lác mắt. Tiêu Phong trước là bang chủ Cái Bang nhà Tống, sau lãnh chức Nam Viện đại vương nhà Liêu, khí chất lãnh tụ luôn hiển hiện. Chàng vì một mảnh chân tình với A Châu mà hết lòng chiếu cố cho cô em gái điêu ngoa của nàng là A Tử, phần đời còn lại không màng nữ sắc lẫn danh vọng, lại đem thân mình đánh đổi cuộc sống yên lành cho nhân dân hai nước.

Tiêu Phong thỏa mãn tất cả những tiêu chí hào quang, nhân hậu, vĩ đại của một bậc chư thiên, và cũng không tránh khỏi cái chết. Nếu năm triệu chứng trước khi qua đời của chư thiên được gọi là “thiên nhân ngũ suy,” thì Tiêu Phong cũng trải qua năm bi kịch cá nhân: cha mẹ bị hại, Cái Bang khai trừ, bằng hữu tuyệt giao, giết lầm A Châu, phản lại Khiết Đan. Cái chết của Tiêu Phong là sự dâng hiến cho hoà bình, nhưng cũng là cách tự kết thúc đau khổ.


Một bìa sách Thiên Long Bát Bộ 
2. Long:

Đứng thứ hai trong tám bộ là rồng, còn gọi là Long chúng hay Long thần.

Trong Ấn Độ giáo, Long chính là Naga, là chủ các loài thuỷ tộc sống ở biển. Loài rồng có vị trí rất quan trọng trong tín ngưỡng Phật giáo và cũng được người dân Ấn Độ tôn sùng. Theo truyền thuyết, rồng của Ấn Độ không có chân nên hình dáng giống loài rắn, nhưng ở đây là loại rắn chúa, rắn thần để phân biệt với rắn thường Sarpa. Nhiều khi rắn Naga còn là loại hổ mang bành bảy đầu. Trong kinh Udana, khi Đức Phật thiền định dưới gốc cây Bồ đề thì trời đất tối sầm, mưa to ập xuống kéo dài suốt bảy ngày liền, lúc đó một con rắn thần tên là Mucalinda xuất hiện quấn quanh đầu ngài, bảo vệ cho đức Thế Tôn khỏi mưa gió. Trong các kinh khác thường xuất hiện rắn thần đến lễ Phật; rắn cũng là sinh vật đầu tiên (ngoài người) quy y Tam bảo. Khi Naga du nhập vào Trung Hoa thì trở thành Long vương và gắn liền với hoàng gia cao quý. Thiên tử mặc áo long bào, ngồi ghế long ỷ, mặt mày gọi là long nhan, thân mình gọi là long thể, đó là bắt nguồn từ sự kính trọng với loài rồng mà ra.

Long thần Naga bảy đầu che cho Đức Phật ngồi thiền
Nhân vật tương ứng với Long thần của Thiên Long Bát Bộ là Đoàn Dự.

Đoàn Dự là nhân vật có thật trong lịch sử, chính là vị vua thứ 16 của Vương quốc Đại Lý. Ông trị vì từ 1108 đến 1147, cũng là quân vương tại vị lâu nhất trong lịch sử Đại Lý. Cháu nội Đoàn Trí Hưng của ông cũng được tiểu thuyết hóa thành Nam đế trong Xạ Điêu Anh Hùng truyện. Suốt phần lớn chiều dài Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự là một vương tử trẻ trung có phần ngờ nghệch nhưng đã có uy của loài rồng.

Thứ nhất, chàng là con trai duy nhất của Đoàn Diên Khánh chính tông nhà Đại Lý, là thái tử chân truyền. Cuối truyện chàng lên ngôi đường hoàng làm vua Đại Lý, chính là trở về “nguyên bản” loài rồng.

Thứ hai, hoàng gia Đại Lý sùng đạo Phật, các triều hoàng đế khi rời ngôi đều xuất gia ở Thiên Long tự. Bản thân Đoàn Dự cũng có tấm lòng hướng Phật, chàng thường xuyên trích dẫn kinh Phật, ghét bạo lực, nhân ái thương người, coi thường vật chất.

Thứ ba, Đoàn Dự học được Bắc Minh Thần Công có thể hút nội lực người khác, nhờ cơ duyên kì ảo lại luyện môn Lăng Ba Vi Bộ, di chuyển thoắt ẩn thoắt hiện, chẳng khác nào loài rồng kỳ bí và mạnh mẽ.
Tranh minh họa Đoàn Dự
Theo kinh Phật, trong tám loại thần chỉ có Thiên được hưởng phúc vi diệu, và Long có thần nghiệm màu nhiệm nhất, còn sáu loài còn lại tuy có tài biến hóa nhưng tâm chưa đủ tốt. Thế nên Thiên và Long đứng đầu tám bộ chúng sinh, dẫn đến gọi tắt là Thiên Long Bát Bộ. Trong tác phẩm này của Kim Dung, Tiêu Phong và Đoàn Dự cũng là hai nhân vật chính số một, số hai ăn khớp với thứ hạng của Thiên và Long.

Phần 2: Ai là Dạ Xoa, ai là Atula? 

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

HOA SỮA NGÀY XƯA

Nghe nói, năm 1992, Đồng Hới trồng hoa sữa thay cho những cụm hoa hồng bên thềm từng căn nhà, dọc phố. Những con đường xưa gió nồm, từ buổi xế trưa, mát hây hẩy, lại nồng nàn mùi bọt sóng, mùi cánh buồm chằm bằng đệm cừa xứ Nghệ, xứ Thanh khô nẻ, dính đầy vẩy cá chợt lóa chói trong ánh mặt trời. 
Cái đặc trưng cho Đồng Hới như Vinh trong xanh những tán lá bàng. 
Báo viết, bây giờ nơi Đồng Hới dân đóng cửa cả đêm, hoa sữa rơi như lá me bay, lả tả những đốm hoa hình sao trắng trên ly café sáng.  Tìm đâu thấy những con đường gió nồm ngày xưa. Phố nơi đây, mất cả gió nồm.

Dân Đồng Hới kêu quá trời nhưng chính quyền chưa có tiền để chặt.

Xứ Tam Kỳ “nghe hay mang về trồng tạo nét riêng cho mình”. Chắc lại nghe đồn thơm, say yêu nhạc sĩ Đồng Đăng, thổn thức trong thơ của nữ sĩ Hải Như: “Thành phố ngủ riêng hoa sữa thức/ Như tình yêu hoa sữa thơm nồng ...”.

Đông Hà, với ngổn ngang sắc lính, xe cộ, tiếng ồn, bụi bặm, những khu vực sống xen kẽ giữa người dân và trại lính thời VNCH, nay lại khác. Họ thực tế hơn, bây giờ thời cây sữa, cứ đêm đêm chặt trộm. Đà Nẵng thì đang lùng tùng tìm cách chữa bệnh dị ứng hoa sữa …

Căn nhà của tôi ở An Ninh (nơi phố huyện), chủ cũ trồng một cây hoa sữa, cổ thụ rồi. Có lần một hàng xóm không ngủ được, lén sang cắt bóc tròn vỏ gốc, chú cạnh nhà vác dao sang hỏi chuyện (vì cây này ngay sát cổng nhà ông ấy – cắt cây là độc lắm !?). Mình nghe kể lại mới biết. Bây giờ cây hoa sữa đã liền da, đầy thịt và đêm đêm dữ dội lắm.

Tôi có một thời cũng yêu hoa sữa như tình yêu. Cái thời “Máu và hoa” ấy, cái thời rất đỗi “Hồn bướm mơ tiên”. Một “Vụng dại và tôi”. Các bạn có cùng cảm nhận? Đọc bài viết hơi “ngố” của tôi ngày xưa nhé.

HOA SỮA
(bài viết năm 2011)

"Tôi thích dạo đêm cùng anh dưới trời đêm mùa thu hoa sữa". 
Chúng tôi bồi hồi cùng nghĩ về hoa sữa ngày xưa qua câu trả lời của bạn đồng hành "Vượt qua thử thách". Không bàn về cuối thu hay chớm đông của mùa hoa ấy. 
Những năm đó, chúng mình nắm tay nhau nơi đường Nguyễn Du hoa sữa, hồ Thiền Quang trăng và sương. Mùa này, hoa sữa nồng nàn. Hoa trong mùi phở đêm thèm muốn, cồn cào gọi cái bụng đói khuya của những năm đại học. “Thôi chúng mình chia tay, hai đứa cười nóng mặt” (thơ VĐV). Em về Yết Kiêu, còn ta lang thang đường Cầu Giấy ... 

Cả mùa hoa ấy, với bao nhiêu ngọt ngào, kín đáo, tha thiết  gom hết vào nồng nàn, da diết nhớ thương, ngào ngạt của đôi lứa chúng mình. Khi ở chiến trường, lòng người xa nhớ về sắc thu và mùi hoa sữa cuối mùa dữ dội mỗi đêm. Gọi nhớ nhung về trong cơn gió lạnh đầu mùa, co mình mảnh chăn đơn bộ đội, mà sao thấy cần hơi ấm biết bao nhiêu.

Loài hoa ấy chưa bao giờ ngừng toả hương trong tâm trí chúng mình, lại tự hỏi hương của hoa sữa hay hương của ký ức thân thương.
Rồi thời gian qua mau cho chúng mình những điều ước nguyện. Nhớ câu viết trong Văn nghệ quân đội những năm đọc ở chiến trường: "Hạnh phúc như chùm hoa sữa nồng nàn đưa ta vào tháng Mười và cứ đêm đêm tỏa hương dữ dội trên đường phố"
Ngày ấy nhà mình thật nghèo.

... Đã xa rồi năm tháng thương yêu, đã xa rồi một thời say đắm. Ta còn lại ngát thơm của hoa cau vườn mỗi sớm mai, chút dạ hương còn vương vấn  bên cửa sổ thềm nhà, còn lại chúng mình với bao kỷ niệm đẹp ngày xưa ...
(trích bài viết trên blog thời “Hồn bướm mơ tiên”- trích đăng thành entry này.)