Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

Một người có thể là tất cả.

Một người có thể là tất cả.
Vợ, tình nhân và hồng nhan tri kỷ?
Điều làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người vợ, nước mắt của người tình và sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ. Đàn ông cả đời đi tìm không phải là vợ, cũng không phải là người tình mà là hồng nhan tri kỷ.

Thế nào là vợ? Là người con gái mà bạn tình nguyện giao cả gia tài cho cô ấy cất giữ. Thế nào là người tình? Là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ vợ phát hiện. Thế nào là hồng nhan tri kỷ? Là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật, kể cả điều mà bạn không thể nói được với vợ hay người tình.

Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tùy tiện cặp bồ với một người con gái khác. Người tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người vợ. Hồng nhan tri kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.

Vợ sống cùng bạn từng ngày, người tình tiêu tiền cùng bạn, hồng nhan tri kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế người tình, vì vợ không điều khiển được tình cảm như người tình. Người tình không thể thay thế vợ, vì người tình không có được tình thân như vợ. Vợ và người tình đều không thay thế được hồng nhan tri kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.

Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà. Người tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thỏa mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới. Hồng nhan tri kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn nhưng lại có thể chia sẻ cùng bạn những vui buồn phiền muộn.

Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi. Người tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ. Hồng nhan tri kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.

Hồng nhan tri kỷ

Sự quan tâm của người vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hòa. Sự quan tâm của người tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thỏa mãn. Sự quan tâm của hồng nhan tri kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.

Khi vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm. Khi người tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ? Đối với hồng nhan tri kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện người tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng “Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn” sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.
Khi vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ. Khi người tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy: Em đi đâu đó? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm hồng nhan tri kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa vợ và người tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.

Điều làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người vợ, nước mắt của người tình và sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ. Sự lảm nhảm của người vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của người tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.
Người vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy người tình và hồng nhan tri kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của người tình. Hồng nhan tri kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành người tình, thậm chí thành vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.

Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến hồng nhan tri kỷ thành người tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người vợ. Nhưng nếu hồng nhan tri kỷ trở thành vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tùy tiện nói cho vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.

Lấy vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một người tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có hồng nhan tri kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi. Đàn ông cả đời đi tìm không phải là vợ, cũng không phải là người tình mà là hồng nhan tri kỷ.

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Hư vô ...


Tặng Đào M.T.

"Bát tiên quá hải" (cụm trường GL, phòng THPT HD) với ông Đào,

đi Lạng Sơn "bình thơ". Cảm lòng các bạn dành cho nhau.


Vì bận bịu nuôi bộ râu, tôi nhờ vợ đi lĩnh sổ hưu. Về, bà lão đưa, tay cầm một đống hư vô.

Tôi nghĩ, có điều gì luyến tiếc. Hư vô! Là gì nhỉ?

Cũng may cuộc đời làm toán. Tất cả ở trong đầu. Lên lớp giảng bài, trong tay không có gì cả, kể cả hư vô. Giá mà có thì có tốt, khi không cần có thể quẳng nó đi. Toán ở trong đầu, quẳng đi đâu dễ. Mà trong đầu đâu chỉ có toán, có cái không phải của mình. Một đời người, cái đầu nhồi nhét  nhiều thứ. Lòng vẫn nhủ lòng, phải có những thanh RAM trong đầu, để xong việc, giũ bỏ cả đi, để hư vô.

Giá mà trong đầu chỉ có hư vô…
…
Một hôm, sau ngày về hưu, ngồi quán với mấy thầy giáo. Một thanh niên đến chào bên cạnh. Nghĩ: Sao nó không biết mình nhỉ? Nghĩ lại, tại sao nó lại phải biết mình!

Một sớm mai kia khi tất cả sẽ thành hư vô trong đời, ta sẽ mỉm cười.
…
Sinh hoạt đảng khu dân cư lần đầu. Cảm động lòng chào đón, hàn huyên của các bậc lão thành. Chi bộ tôi, 60 ĐV, tuổi bình quân 65, 4/5 có huy hiệu 30 năm tuổi Đảng trở lên. Hóa ra, “mình chưa già”.

Hôm trước thấy các bạn gọi: “… Phòng THPT và cụm trường GL đang cùng Ông Đào đi Lạng Sơn vui, chia tay”. Xem ảnh vui, gặp lại cố nhân. Khuya tối sau Bá Đ. gọi, tiếng như xa xăm lắm: Tớ sẽ xin ra… Hư vô buồn…
…
Khi về già ta hay hoài cổ? Những năm cuối, nghĩ đến sự nghiệp, vinh quang xưa là mây khói xa vời, ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Chốn xưa, nơi đó là người thân, những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện thời trai, tìm lại được cảm giác khi đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành của niềm vui lớn tuổi già.

M.T. còn nhớ không, xưa trong lớp, bọn mình nhỏ thó, hay bị bắt nạt. Nhớ lần, bọn nó treo xe đạp ông lên cây phượng đầu lớp học 10A, bị vặn tay, vẫn rằng: “Im đi cái giọng mày/ ta thà cam chụi chết…”. Xưa đó, sao chúng mình thuộc bài là vậy. Nhớ những tập báo “Văn” thời NVGP, Cụ nhà đóng lại, ông đưa tôi đọc và hiểu hơn những bài giảng của thầy Bửu, thầy Thanh. Và những tập báo TNTP đầy háo hức và dại khờ cho nhiệt huyết.

Rồi nhớ, ông chăm lo cho em (con thầy Hoàng NT). Rồi có lúc chúng mình chia sẻ những buồn vui, khi đi xa dặn tôi mặc áo ấm, chuẩn bị sẵn thuốc cho tôi…. Mà có một lần, K. gọi điện khắp HD “tìm trẻ lạc”. Mỉm cười về câu thơ trong “Tuổi sáu mươi” của Ngô Đình Miên:

Ngủ một giấc sáng nay thức dậy
Chợt nhớ mình tuổi đã sáu mươi
Tuổi sáu mươi mà đầu chưa bạc
Các cháu kêu anh mắt liếc cười…

Nhớ sao hình ảnh nhẹ nhàng, chu đáo và đầy kỷ niệm đó, đâu có là hư vô!

Ông Descartes không tin vào sự “tồn tại” của chân không. Ông Pascal thì tin. Sau một buổi trò chuyện mà không thuyết phục nổi Pascal, khi ra về Descartes nói một câu châm biếm nổi tiếng: “Trong đầu ông ta có quá nhiều chân không!”.

Có phải ai cũng có thể để chân không trong đầu mình như Pascal đâu!

Ta trở về,

Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải,
Góc thành Nam, lều một gian…



Cần Thơ, tháng Ba 2010, ông Đào không đeo kính.

Tặng bà K. bài hát mà khi chúng tôi “một mình”,

“… Nhớ em giọt mồ hôi tóc mai
Gió sương mòn cả hai vai
Đôi chân chênh vênh con đường nhỏ
Nghiêng nghiêng bóng em gầy…”

Bạn ơi! Chúng mình hãy vứt đi những bận lòng đố kị, day dứt, khổ đau, những ám ảnh về quá khứ và dằn vặt để có hạnh phúc của cuộc đời.

Tuổi sáu mươi thích...
                                     dịu dàng
Mong ai kia vẫn điệu đàng ...
                                               như xưa!

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Thiên đô?



Thăng Long 1000 năm?
Ảnh chụp trên đường Đại Cồ Việt

Không chỉ có Thần đạo,
mất lòng dân mới chính là nhất dao kết liễu nhà... Hồ
Thiên đô?
Sông Mã, sông Bưởi không đủ sức tạo nên một đế đô bền vững muôn đời !
(Xuân Bình) Quy hoạch Hà Nội đến 2030 tầm nhìn 2050 có quá nhiều vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Nhưng có lẽ vấn đề đáng được quan tâm nhất phải là ý tưởng lựa chọn đặt Trung tâm hành chính ở chân núi Ba Vì. Đây mới chính là tâm điểm của đồ án, huyệt đạo của một Hà Nội mở rộng và là nơi ẩn giấu khát vọng đích thực của chủ đồ án.
Nếu quy hoạch trở thành hiện thực, đây sẽ là lần thiên đô tiếp sau Văn Lang- Cổ Loa- Hoa Lư- Thăng Long- Tây Đô- Huế và Hà Nội.
Trong từ Hán – Việt, chữ Thiên có nhiều nghĩa khác nhau: một nghìn; Trời; Tự nhiên; Liên quan đến Thiên tử; Dời đi, thay đổi; Lệch về một bên. Từ cách tiếp cận này, có thể đặt vấn đề: Có hay không khái niệm “Thiên niên bất dịch”? Thăng Long sau 1000 năm liệu có thể tiếp tục dời đô? Thiên đô tới đâu? Khi nào? Ai là người viết chiếu? …
Bài viết này thử điểm lại thiên sử dời đô của Tây Tạng, Trung Quốc và Nhật Bản. Tiếp cận một trục không gian quá dài rộng, người viết chỉ nghĩ đây là một gợi ý nhỏ để mọi người tự tìm ra những mối quan hệ gắn bó, bài học thiết thân với Hà Nội.

Nơi tiếp giáp với trời

Ngậm ngùi cố đô Gyantse
Lhasa thủ phủ của người Tây Tạng được đặt trên nóc nhà thế giới. Ý nghĩa của từ Lhasa còn được hiểu là nơi ở của thần linh. Miền đất của Mật tông nổi tiếng nhân gian với “Tử Thư” học thuyết bàn về cái chết và tái sinh này từng có ảnh hưởng huyền hoặc tới một số phận Lý Thái Tổ thông qua câu chuyển đầu thai, chuyển kiếp của Từ Đạo Hạnh.
Tây Tạng ít thiên đô. Lhasa có lịch sử 365 năm. Từ khai sinh một thân phận, quyết định dựng xây một tu viện cho đến sự kiện di dời thủ phủ ở vùng đất này đều ẩn giấu trong nó những điều thần bí, khó lý giải.
Vào thế kỷ 17, Lobsang Gyatso (1617–1682) vị Dalai Lama thứ 5, đã chinh phục Tibet và dời thủ phủ từ Gyantse về Lhasa. Đó là trung tâm hành chính, chính trị và tôn giáo có không gian địa lý rộng lớn hơn, tiện lợi giao thông, dồi dào tiềm năng kinh tế và có vị thế văn hóa vượt bậc…
Nhưng những thủ lĩnh tinh thần có khả năng tiên tri cũng chưa có ai dám nghĩ rằng có lúc Lahsa chỉ còn là bệ bục vỹ đại để người Tạng ngắm nhìn lại một giai đoạn lịch sử quá thăng trầm của dân tộc mình.
Ngay cả khi bắt đầu xây dựng đền Jokhang để trấn quỷ dữ cho thành Lhasa, xuất chúng như Songsten Gampo (Tùng Tán Cương Bố) hay bất kỳ người Tạng hoang tưởng nào cũng không thể ngờ có ngày vong quốc. Một bậc thức giả, tài trí khác người, có thể nhận thức cả những việc từng xảy ra trước, sau thực tại hàng trăm năm như Lobsang Gyatso cũng khó có thể tin rằng sau gần nửa thiên niên kỷ, hậu thân của mình lại phát ngôn rằng:
“Nếu tôi mất đi trong tình trạng tỵ nạn, dĩ nhiên sự tái sinh của tôi sẽ xảy ra bên ngoài Tây Tạng”.
Từ Lhasa-là nơi gần “Thiên đình” nhất, bất chợt nhận thấy một điều quá giản đơn: không có “chung cư” cho cả thánh thần và những kẻ phàm trần. 

Potala được xây trên núi Hồng. Nơi đây, Hồ Cẩm Đào từng đội mũ sắt và đứng trước xe tăng để chỉ huy binh sỹ “tô” thêm máu đỏ cho Lhasa?


Từ Tây sang Đông

Đường Tăng: biết đi
hướng nào, về đâu?
Tử Cấm Thành hay là thành không cấm Tử?
Từ nóc nhà thế giới, thử xuôi đến nhiều điểm trọng yếu dọc sông Hoàng Hà để quan sát Trung Hoa, một nền văn hóa có nhiều ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến các quốc gia lân bang như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…
Từ Tây sang Đông, dao động chung quanh trục Trung Hoa- Trung Quốc, thiên đô đã vẽ ra những đường đồ thị lạ lùng nhất trong lịch sử đầy bi hùng của dân tộc này.
Sau lần đầu tiên thống nhất Trung Hoa, kinh đô Hàm Dương- trở thành huyệt Đan Điền của một cơ thể Trung Hoa gồm Yên, Tề, Ngô, Sở. Nơi đây chứng kiến và dung dưỡng khát vọng trường tồn cho đến Vạn thế của Tần Thủy Hoàng. Vậy mà chỉ 4 năm sau khi Tần vương nằm xuống, nhà Tần đã hoàn toàn sụp đổ. Dấu vết của một đế quốc hùng mạnh chỉ còn vương đọng trên những gương mặt cô hồn của những binh mã dũng bị chôn vùi sâu trong lòng đất.
Vào năm 206 trước Công lịch, sau khi xóa Tần, loại bỏ Hạng Vũ, Hán Cao tổ đã dời đô về Lạc Dương rồi Trường An. Hàm Dương chỉ còn lại với những vần thơ buồn của tiến sỹ Hứa Hồn:
Lên tới lầu cao vạn dặm sầu,
Cỏ gai dương liễu tựa đinh châu.
Mây khe vừa nổi, trời sau gác,
Mưa núi sắp qua, gió khắp lầu.
Chim lẩn bụi xanh, Tần uyển tối,
Ve rên lá úa, Hán cung thu.
Người qua chớ hỏi ngày xưa nữa,
Cố quốc theo dòng Vị đã lâu.

Đến thế kỷ 13, Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt) bỏ Hoa Lâm lấy Bắc Kinh làm Đại Đô của một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới. Nhưng ai có thể ngờ rằng vó ngựa Nguyên- Mông từng ngược xuôi Đông Âu, Trung Đông, Nga… lại cũng gục ngã trên chính nơi này. Bắc Kinh chứng kiến một triều đại chỉ tồn tại 97 năm, ngắn nhất trong lịch sử Trung Hoa.
Năm 1368, Chu Nguyên Chương gầy dựng Nam Kinh trở thành kinh đô của một triều đại hưng thịnh, sáng láng bậc nhất lịch sử Trung Hoa. Đổi tên Bắc Kinh thành Bắc Bình, coi nơi đây như một thành đô hòa bình, phên rậu ở phía Bắc, Hoàng đế nhà Minh đâu có nghĩ rằng chính con cháu trực hệ của ông lại quyết tâm trở lại định đô ở Bắc Kinh để lại bắt đầu một thời kỳ… suy vong?
Trải qua gần 30 vương triều, Trung Hoa là một trong những quốc gia có nhiều lần thiên đô nhất trong lịch sử thủ đô. Bắc Kinh ngày nay cũng có hai lần là kinh đô với thời gian chừng 160 năm. Với người Trung Hoa, mỗi lần thiên đô đều như có ý Trời hoạch định. Mỗi kế hoạch dịch chuyển đều được thực thi bởi những bậc Thiên tử có công nghiệp hiển hách. Tuy nhiên sau mỗi lần thiên đô, không phải khi nào Trung Hoa cũng đều mở ra những vận hội phát triển mới.
Hiện nay Trung Quốc đang vật vã lột xác để hùng mạnh nhất trong lịch sử và trở thành một trong những quốc gia đáng gờm nhất trên chính trường quốc tế. Nhưng những thành tựu mà những người cộng sản Trung Quốc đang cố làm như đường tàu cao tốc lên Lhasa, những đường bộ cao tốc nơi với Yangoon, Hải Phòng; những chuyến thử nghiệm của Thần Châu… chỉ gợi cho tôi nhớ tới một đế chế hùng mạnh từng được phát triển ở châu Âu bởi Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Đức Quốc xã) của Adolf Hitler. Biết đâu lịch sử Trung Hoa lại lặp lại những biến cố như thời của Nguyên Thế Tổ? Chừng 50 năm nữa thôi, Bắc Kinh sẽ lại “phân mảnh” thành những New Xian, Tràng An mới hay Tân Nam Kinh của một thời Ngũ hay Lục quốc tranh hùng?
Trí tuyến khác

Tác phẩm hoàn hảo của Thoát Á luận.
Vượt biển Hoa Đông, từ Trung Hoa lục địa đến xứ sở Phù Tang. Nơi đây từng có một cố đô Heijo-kyo của triều đại Nara hay một Kyoto của triều đại Heian. Hai cố đô này cùng được coi là mô phỏng kiến trúc của Tràng An, Trung Hoa.
Kyoto có lịch sử phát triển gần một thiên niên kỷ (794- 1603). Một trong những kinh đô tồn tại liên tục, lâu dài nhất trong lịch sử kinh đô của thế giới. Nơi đó, khi toàn bộ bộ máy nhà nước đã chuyển về Tokyo mà Hoàng gia vẫn ở lại. Họ còn lưu luyến rất lâu với biệt thự Katsura, khu vườn Shugaku-in hay chùa Vàng… những kiến trúc đẹp nhất xứ sở. Tokyo ấn tượng tới mức người Mỹ không dám lựa chọn làm mục tiêu để ném bom nguyên tử trong những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ hai.…
Cùng nằm chung quanh 30 vĩ độ Bắc- giới tuyến được thế giới ghi nhận như trục văn hóa chính của nhân loại nhưng người Nhật đã tạo cho mình một Trí tuyến khác.
Edo (tên cũ của Tokyo) không huyền hoặc như Lhasa. Những đại diện ưu tú của người Nhật đã gắn sự phát triển của đất nước với quá trình tiếp cận tinh hoa tư tưởng, triết học, văn hóa ẩn sau những thành tựu vật chất thịnh vượng của văn minh phương Tây chứ không chỉ bò lết quanh các tu viện, thánh đường và luôn mồm tụng đọc Úm ma ni bát mê hồng.
Cùng chung ảnh hưởng về tư tưởng, triết học, tôn giáo, văn hóa phương Đông nhưng người Nhật có những tiếp thu chắt lọc Phật giáo- Nho giáo. Những nỗ lực tách Thần đạo ra khỏi ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời Minh Trị còn có ý nghĩa bảo hộ, khích lệ cho những ý thức dân tộc, độc lập, tự cường. Trong khi những Thiên tử ở Bắc Kinh vẫn rạp mình trên Thiên đàn để mưu cầu quyền lực tối cao cho cá nhân mình thì ở Tokyo Nhật Hoàng bắt đầu nghiên cứu Tân thư- Bàn về tự do của John Stuart Mill.
Cùng có xu hướng dời đô về hướng Đông; Cùng định đô bên những dòng sông nhưng con cháu, hậu duệ của Trịnh Hòa thì chỉ còn lấy những lần tuần du dọc ngang trên những con sông đào mang danh đại vận hà làm vui thú, mãn nguyện. Trong lúc đó hạm tàu Kanrin-maru Nhật Bản thì dong buồm vượt biển tới San Francisco, Hawai; tàu Odin thì lượn một vòng Trung Á, châu Phi, châu Âu…
Dời bỏ Kyoto là lộ trình lớn để giữa thế kỷ 19, Tokyo khởi xướng Duy Tân tạo ra một giao thoa mạnh mẽ giữa Nhật Bản và phương Tây. Không thuần túy là dời đô, chính sự thay đổi tầm nhìn, ý thức hệ đã mở ra cho xứ sở Mặt trời mọc một chân trời mới mà Tây Tạng không thể ước mơ. Với Thoát Á luận, Phù Tang đã có những bước phát triển thần kỳ mà Trung Quốc khó sánh nổi.

Làm gì có Muôn năm, Thiên niên bất dịch hay Vạn đại dung thân! - ảnh: lăng Gia Long

Có chút tình thoảng như gió vội… tôi chợt nhìn ra tôi…

Sự sinh, sự chết và sự sống: Đọc “Báu Vật Của Đời” của Mạc Ngôn


Phạm Xuân Nguyên


Nhà văn Mạc Ngôn trong một cuộc phỏng vấn
tại nhà riêng ở Bắc Kinh năm 2009 - Ảnh: Reuters

1.

Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Trung Quốc dày 860 trang chữ Việt kể cuộc đời một phụ nữ nhà quê Trung Hoa tên là Lỗ Toàn Nhi, năm 16 tuổi bỏ tục bó chân, lấy chồng là Thượng Quan Thọ Hỷ; chồng bất lực – không có khả năng truyền giống – mẹ chồng khát cháu trai nối dõi tông đường, Toàn Nhi lấy giống đàn ông thiên hạ, sinh cho nhà Thượng Quan một đàn con chín đứa, gồm tám gái, một trai. Trong số đó, Lai Đệ và Chiêu Đệ là giống của ông chú dượng chỉ biết đánh bạc, bắn chim. Vu Bàn và Lãnh Đệ của một anh chàng bán vịt dạo; Tưởng Đệ, của một thầy lang bán thuốc rong; Phán Đệ, của Lão Béo bán thịt chó; Niệm Đệ, giống hòa thượng Trí Thông chùa Thiên Tề; Cầu Đệ, giống của bốn tên lính thất trận; sau chót, cặp sinh đôi Ngọc Nữ và Kim Đồng, của mục sư Malôa.
"Mẹ nhận ra một chân lý nghiệt ngã: là đàn bà không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được. Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khoát phải sinh con trai." (tr.783).
Nhưng Kim Đồng, đứa con trai duy nhất sau chuỗi sinh nở dằng dặc một đời người của Lỗ thị lại suốt đời bám vú mẹ trong khi các cô gái nhà Thượng Quan đều quyết liệt dấn thân vào đời. "Phong nhũ phì đồn" (mông to, vú nẩy ) trước hết là nói cái sự sinh ấy. Lỗ thị trước hết, là số phận người phụ nữ Trung Quốc trong một xã hội phong kiến coi rẻ giá trị, phẩm giá của người phụ nữ. Chuyện ăn nằm, thụ thai, và sinh nở của Lỗ thị trước hết, là sự tung hê, thách thức cái xã hội ấy. Chỉ nội mặt này – cứ tạm gọi là về phương diện phong tục, tập quán – Lỗ thị xứng đáng là một bà mẹ vĩ đại.

Deco phồn sinh
2.

Đàn con của Lỗ thị có đủ mọi thành phần xã hội, nói rộng ra, có đủ mọi giống người. Họ được bà mẹ vĩ đại sinh ra đúng vào lúc đất nước Trung Quốc cũng đang trong cơn quặn đau quặn đẻ. Giặc ngoại xâm, các thế lực chính trị thay nhau đến rồi đi, bao biến thiên, bao bi kịch xảy đến với vùng đất Cao Mật, với gia đình Thượng Quan. Mỗi đứa con chọn một con đường, một cách sống, và một cách chết trên con đường đời đầy gian truân khổ ải. Họ thậm chí còn xung khắc, thù ghét nhau theo sự chọn lựa chính kiến, lý tưởng, nhưng điểm tựa duy nhất, nguồn an ủi duy nhất của họ, là người mẹ Lỗ thị. Đất nước cũng vật vã thăng trầm như đời mẹ. Lỗ thị càng là một bà mẹ vĩ đại. Đó không còn là thân phận người phụ nữ nữa. Đó là thân phận đất nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương. Đau thương và vĩ đại như cơn lốc tràn qua lục địa Trung Hoa mênh mông, xoáy quật thân phận một người phụ nữ như Lỗ thị đến chết vẫn chưa được yên.
Mở đầu truyện, người mẹ sinh Kim Đồng trong cơn ngất lịm. Kết thúc truyện, Kim Đồng thức chong đêm canh mộ mẹ, sợ "ông Chính Phủ" bắt đào lên dù chôn tại một bãi đất hoang. "Anh trông thấy phía sau mộ mẹ, nơi không bị giẵm nát, có rất nhiều hoa đang nở, những bông hoa mầu nhợt nhạt, chỉ một bông giữa là màu đỏ nhờ nhờ. Loại hoa này có mùi thơm. Anh bò lên mấy bước, giơ tay ngắt lấy bông hoa rồi đưa vào miệng. Cánh hoa rất giòn, như thịt tôm sống, nhưng khi nhai thì xộc lên mũi toàn một mùi máu. Vì sao hoa nở có máu? Vì trên mảnh đất này thấm đẫm máu người." (tr. 859).

3.

Xét trên phương diện văn học, Lỗ thị là một nhân vật ghê gớm – một phụ nữ tượng trưng của một đất nước ở cái khả năng thiên phú mà dù con người có chà đạp tiêu diệt đến đâu thì vẫn trường tồn, bởi vì nếu nó mất đi thì mất luôn cả sự sống. Đêm nằm bên mộ mẹ, ngước mắt nhìn lên trời sao, ngẫm về cả cuộc đời đau khổ chất chồng của mẹ mình, Kim Đồng chỉ thấy hiện ra những bầu vú. "Báu vật trên trời là mặt trời mặt trăng và những vì sao. Báu vật của đời là vú to mông nẩy!". Cả lịch sử của đất nước nhà văn tóm lại ở bốn chữ ấy: phong nhũ đồn phì. Mạc Ngôn, do đó, ở phương diện này, là một nhà văn ghê gớm.
Mạc Ngôn là ai? Đọc tiểu sử của ông, qua lời giới thiệu của bản Việt ngữ, chúng ta được biết, ông sinh năm 1935, hiện là sáng tác viên bậc một của Cục Chính Trị, Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc, cuốn "Phong nhũ phì đồn", in năm 1995, và được trao giải thưởng cao nhất về truyện cùng trong năm. Trước đó, ông đã nổi tiếng với cuốn "Cao Lương Đỏ" , và trở thành nổi tiếng trên thế giới cùng với sự xuất hiện của cuốn phim dựa theo tác phẩm do đạo diễn lừng danh Trung Quốc, Trương Nghệ Mưu, chuyển thể; cuốn phim đoạt giải Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim ở Cannes (Pháp) năm 1994.
Những chi tiết trên có gì đáng nói, với độc giả người Việt? Thứ nhất, Mạc Ngôn thuộc lớp nhà văn trẻ ở Trung Quốc. Tiếp đó, ông dám viết về cái hiện thực bề sau, bề sâu, của lịch sử hiện đại nước ông. Thứ nữa, cái viết của ông được chấp nhận, và đón nhận.
4.

Tác phẩm trên của Mạc Ngôn, xét về nghệ thuật viết tiểu thuyết, không hẳn là xuất sắc. Trong chừng mực nào đó, nó vẫn thuộc truyền thống của lối kể chuyện mang tính cổ truyền của Trung Quốc. Người đọc có cảm tưởng, ở phần cuối, tác giả có vẻ lan man, khi tản mạn về vùng đất Cao Mật bước vào thời kỳ mở cửa. Có vẻ như tác giả hơi tham nữa. Nhưng tôi thích ở đây, là cái nhìn nghệ thuật-lịch sử tỉnh táo và sắc sảo của nhà văn. Ông không nương nhẹ, không xuê xoa quá khứ. Mạch văn của ông cũng gây ấn tượng đối với tôi ở chỗ, nó cho thấy được dòng chảy của cuộc đời như vốn dĩ thể, không đứt đoạn, không tách bạch, dù các sự kiện rất khác nhau xoay vần cuộc đời nhân vật theo các nẻo số phận khác nhau. Tính liên tục lịch sử – đây là điều theo tôi, ở dạng truyện như thế này, các nhà văn ta thường bị gãy. Ví như ở hai thời điểm hai đội quân của Tư Mã Khố và của Lỗ Lập Nhân thế nhau về lại Cao Mật, nhà văn ta trong trường hợp này dễ phết lên bức tranh hiện thực hai màu tương phản theo chủ quan, còn Mạc Ngôn vững tay để chỉ có một màu phủ lên cuộc đời của mẹ con Lỗ Thị, như khách quan nó phải như thế.

5.

Đọc Mạc Ngôn ở Phong nhũ phì đồn tôi nghĩ nhiều đến Lỗ Tấn. Có lẽ, bởi cả hai nhà văn Trung Quốc này, một đầu và một ở cuối thế kỷ 20, đã có sự gặp nhau trong suy nghĩ về đất nước mình. Nhân vật người điên của Lỗ Tấn thấy ai cũng muốn ăn thịt mình; nhân vật người không rời vú mẹ của Mạc Ngôn thấy bông hoa bốc mùi máu; hai hoàn cảnh lịch sử, hai chế độ chính trị khác nhau giữa hai thời kỳ sống của hai nhà văn. Nhưng có một cái không khác, đó là tình yêu nước, và trách nhiệm nhà văn của hai người, và không chỉ của riêng họ. Nhà văn, cũng như người phụ nữ vậy, phải có niềm vui và nỗi đau của sự mang thai và sinh nở những giá trị mới, nhận thức mới cho người đọc. Và xã hội phải có tinh thần làm bà đỡ mát tay cho những cuộc sinh nhọc nhằn và không ít nguy hiểm đó.

2001
Phạm Xuân Nguyên
Sưu tầm nhân Nhà văn Mạc Ngôn nhận giải thưởng Nô ben văn học 2012 (vanthekt)