Thứ Năm, 24 tháng 1, 2019

Địa Danh Cũ Sàigòn.

Địa Danh Cũ Sàigòn. 

Hồi ký Bình Nguyên Lộc


(Boulevard Charner (Đại lộ Nguyễn Huệ) nhìn thẳng Tòa Hôtel de ville hay Dinh xã Tây trong tiếng Việt. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tòa đô chánh Sàigòn)

Phần 1…
Tên đường thời Pháp thuộc:
Song-song với những địa-danh tên Tây, các đường phố và nhiều nơi chốn ở Sàigòn đều có tên Việt, được dân-chúng quen dùng.
Đây là những tên tôi còn nhớ lỏm-bỏm:
Bót cảnh-sát quận nhì, có tên là Xi Nho. Con đường trước bót không bao giờ mang tên Tây Chaigneau hay Signor lần nào cả. Có lẽ là một ông Tây cảnh-sát đã giữ chức-vụ liên-lạc với dân-chúng chăng?

Đầu đường Hồng-Thập-Tự ngày nay, được gọi là đường Hàng Bàng vì hai bên đường trồng hai hàng cây bàng. Tây đặt tên đường là Chasseloup Laubat, nhưng ta bất kể.

Đường Mạc-Đỉnh-Chi ngày nay, có tên Tây là Massiges nhưng ta cứ tiếp-tục gọi là đường Hàng Sao, vì hai bên đường trồng hai hàng sao, có lẽ là trồng trước các đường khác chớ về sau thì đường nào cũng trồng sao cả.

Đường Bùi-Quang-Chiêu là đường Cá Hấp thuở trước vì chỗ ấy nằm cạnh chợ Bến-Thành, các vựa cá hấp đóng đô ở đó.

Đường Bùi Chu, thuở ấy tên Tây là Frère Guillerault, nhưng người ta cứ kêu là đường Huyện Sĩ, vì cái nhà thờ cất ở đó do tiền một tư-nhơn, ông Tri-huyện-hàn Lê-Phát-Sĩ tài-trợ.

Đại-lộ Kitchener (Nguyễn-Thái-Học) được gọi là đường Lò Heo vì lò heo cũ ở đó.

Dĩ-nhiên là đường Phó-Đức-Chính, tên Tây là Alsace Lorraine được gọi là đường Chú Hỏa vì con đường ấy nổi danh nhờ cái cư-xá đồ-sộ của họ Hui-Bon-Hoa.

Đường Khổng-Tử nguyên là đường Gaudot và được gọi là đường Đèn Năm Ngọn.

Đường Phát-Diệm, tên cũ cũng là tên Việt, đường Nguyễn-Tấn-Nghiệm, vậy mà thiên-hạ cứ gọi là đường Cầu Kho. Vậy thì người dân không phải tránh tiếng Tây khó đọc, mà tránh sự bị chỉ-định. Họ ưa theo thói quen hơn.

Nhưng buồn cười lắm là có hai trường-hợp ngược đời, ta ưa Việt-hóa tên Tây, nhưng trong hai trường-hợp ta lại theo Tây một cách mù-quáng. Đó là địa-danh Đakao. Địa-danh ấy nguyên trước là Đất Hộ, bị Tây Pháp-hóa thành Đako, rồi ĐaKao.

Ta lại mù-quáng theo Tây ở một trường-hợp nữa là vùng đất gần cầu Tân-Thuận trước kia là bãi đất hóng mát của dân Sàigòn, tên ta là Láng-Thọ. Tây Pháp-hóa thành Lanto rồi ta lại Việt-hóa thành Lăng-Tô. Không biết cái Lăng đó của Tô-Định hay của ai.

Những con đường tên Tây mà ta không có tên Việt, ta Việt-hóa nó một cách buồn cười.
Chẳng hạn đường Eyriaud des Verges (Trương-Minh-Giảng) được đặt là “Ai-vô rờ-quẹt?”, còn đường Léon Combes được đọc là “Lên-ăn-cơm”.
Đường Dixmude (Đề-Thám) là đường Đít-Xơ-Mít.
Đường Blansubé, tức đoạn Phạm-Ngũ-Lão ngay chợ Thái-Bình được đọc là đường Lan-Si-Bê. Chợ Thái-Bình, cho tới năm 1925, còn được dân-chúng gọi là chợ Lan-Si-Bê.
Đường Huỳnh-Thúc-Kháng (Monlaii) là đường Mộng-Lầu.
Dân-chúng ưa đọc tên đường De Lattre (Công-Lý) nhứt vì tên cũ là Mac Mahon, đọc ra là Mặt-Má-Hồng, nghe hay quá.
Nhưng ngộ-nghĩnh số một là đường Phan-Thanh-Giản (Legrand de la Liraye). Vì tên Tây quá khó đọc, nên đọc ra là “Nhăn răng Rìa ai đi đây?”
Hiệu bán thực-phẩm tươi (épicier) của Tây ở đường Tự-Do, hiệu Guyenot (ngày nay vẫn còn) cứ được gọi là “Hãng Mỡ”, tôi ngạc-nhiên, điều-tra mãi mới hay vì hiệu ấy chuyên chế-tạo xúc-xích (saucisse) nên thừa mỡ rất nhiều. Họ bèn rót mỡ nước vào thùng dầu hỏa bán cho người Quảng-Đông là dân-tộc rất thích ăn mỡ nước, mỗi tháng bán ra hằng mấy trăm thùng, nên nổi danh như vậy.
Đường Tự Do Sàigòn


Vẻ yên bình có phần sang chảnh trên đường Tự Do năm 1960 - Ảnh: Tumblr Amazingvietnam
Xóm Máy Đá trong Chợ lớn ngày nay, có tên như vậy vì buổi đầu hãng Larue phát-tích ở đó, và ngày nay vẫn còn chi-cuộc Larue ở đó nữa.

Thuở tôi còn học trung-học, mỗi lần trường đưa đi viếng kỹ-nghệ trong thành-phố thì viếng hãng Larue tại đó, hãng Sàigòn chưa xây.

Cái ngã sáu ở đầu các đường Lê-văn-Duyệt, Võ-Tánh, Gia-Long, Phan-văn-Hùm ngày nay, phải gọi là Ngã Sáu Quẹt-Đoong, dân-chúng mới hiểu, vì cái ngã sáu trong Chợlớn cao-niên hơn tới 30 tuổi, họ quen với tên cũ, tên mới, phải kêu thêm chút gì để phân-biệt.


Phần 2…
Tên đường thời Đệ Nhị Công Hoà:




Đại lộ Hai Bà Trưng

Đi trên đại lộ Hai Bà Trưng tôi bỗng sực nhớ lại một điều rồi tủi thân cho bọn đàn ông của ta. Là hễ đờn ông được danh vọng thì đàn bà cũng thơm lây, nhưng khi đàn bà nổi danh thì tên tuổi đàn ông chìm sâu thêm.
Một góc đường Hai Bà Trưng năm 1970 - Ảnh Tumblr Amazingvietnam
Đành rằng ông Thi Sách chỉ có mỗi một cái công nhỏ đối với nước nhà là bị viên thái thú Tàu giết thôi, nhưng quên mất ông ấy cũng tội.

Vậy nên tôi đã đi khắp Sàigòn để tìm xem có con phố nào là phố Thi Sách không ? Có. Hoan hô quí vị đặt tên đường đã nhớ dai hơn nhân dân.
Nhưng mà tội quá, ông Thi Sách ở mãi bên kia nhà thương Đồn Đất, ở xóm ngoại nhân, không bao giờ có người Việt bước chân đến. Ông nầy đã chết vì tay ngoại nhân mà hương hồn ngày nay vẫn lẩn quẩn với ngoại nhân.
Ông Thi Sách và Hai Bà Trưng chạy song song với nhau cho tới mé nước, và không bao giờ gặp nhau cả, đó cũng là một điểm đáng buồn cho cặp vợ chồng ấy.
Ông Nguyễn Thái Học mà còn ngậm cười được vì đã gặp Cô Giang, Cô Bắc ở hai ngã ba chợ Cầu Muối, đằng nầy ông chồng Bà Trưng chỉ nghe văng vẳng tiếng bà đâu đó thôi.
Bà Sương Nguyệt Ánh cũng không bao giờ đi thăm cha được, vì bà ở xóm Bùi Chu còn cụ đồ lại qui điền mãi tận trên Tân Định.
Vị nữ anh hùng thứ nhì của ta, Bà Triệu cũng bị ta quên mất vì bà cũng ở xóm ngoại nhân, trong Chợ Lớn.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng đô thành đặt tên rất khéo, Công chúa Huyền Trân ở một căn phố buồn hiu, sau dinh Độc Lập, buồn như con đường thiên lý ngàn dặm băng rừng đưa công chúa từ Việt sang Chiêm.
Còn cái phố có nhiều tiệm mì, tiệm ăn và tửu lâu trong Chợ Lớn mà đặt tên là phố Tản Đà thì tuyệt diệu bởi vì Tản Đà không phải là thi sĩ mà thôi, lại còn là thực sĩ nữa.



Chợ Bình Tây



Nếu đô thành có bất công chút ít, chẳng qua là vì quên đó thôi. Chẳng hạn như ông Phan Huy Chú được nêu danh trong Chợ Lớn mà ông Phan Huy Vịnh lại không.

Đô thành lại trọng văn nghệ lắm. Không có nhà văn, nhà thơ nào ngày xưa mà không được lấy tên đặt tên phố cả, khiến lũ văn nhân thi sĩ hậu sanh là ta đây cũng nức lòng muốn cố gắng để có thể được biệt đãi như thế về sau.
Chỉ phiền văn nhân thi sĩ của thế hệ ta đông quá, mà đường phố chỉ có hạn thôi, dễ gì tìm được một chỗ “mần”.
Có một điều đáng chú ý là họ Nguyễn chiếm đa số trong các phố Sàigòn. Dân tộc ta họ Nguyễn cũng như dân tộc Pháp họ Dupont vậy mà!

Đại lộ Nguyễn Huệ

Một người Pháp quen biết kể chuyện rằng thuở Đức chiếm đóng nước Pháp, một khi kia quân đội Đức bố ráp ở một ngoại ô nhỏ tại Ba Lê để bắt ông Dupont nào đó. Cuộc bố ráp thi hành xong thì chúng bắt được tất cả tám trăm mười bảy ông Dupont, vừa già, vừa trẻ, đó là chúng đã loại trừ những cậu Dupont oắt con ra rồi đó.
Một cựu thông ngôn nhà binh Pháp ở đây cũng kể rằng một khi kia Pháp ruồng bố ở làng nọ để bắt Nguyễn Thị Hai nào đó. Chỉ một làng ấy thôi, mà họ đã bắt đến bốn mươi tám Nguyễn Thị Hai chẳn chòi.
Vậy thì họ Nguyễn chiếm đến 55 con phố ở Sàigòn – Chợ Lớn không phải là chuyện lạ. Đó là chưa kể những bà Sương Ngyệt Ánh v.v… cũng là họ Nguyễn mà không nêu họ ra. Bà Đoàn Thị Điểm cũng có người bảo thật ra là Nguyễn Thị Điểm, và biết đâu cô Giang, cô Bắc lại không là họ Nguyễn.
Họ Nguyễn được ưu đãi như thế, còn họ Tô không biết vì sao lại ra rìa. Năm kia trên Hòa – Hưng có một con phố tên là Tô Hiến Thành. Năm nay không thấy tên phố đó nữa.
Ngoại nhân có công với dân tộc cũng được nêu danh, cho công bằng. Nhưng không hiểu ông J.J Rousseau có công trực tiếp gì với dân tộc ta. Còn ba ngoại nhân khác rất có công là Tích Quang, Nhâm Diên, và Sĩ Nhiếp lại vắng bóng.

Đường Lê Thánh Tôn




Đường Phạm Ngũ Lão


Sàigòn có một con phố cong queo một cách rất ngộ nghĩnh, được đặt tên là phố Cống Quỳnh. Thật là khéo, vì cách lập luận và hành động của ông Cống Quỳnh cũng cong cong quèo quẹo như con phố kỳ dị ấy.

Tiếc rằng Cống Quỳnh có lẽ chỉ là một nhân vật tưởng tượng thôi.



Sàigòn đặc biệt vì có phố không vỉa hè, thí dụ đoạn phố Đề Thám trước dãy nhà cũ đối diện với hông nhà thờ Tin Lành.
Thật ra thì có một vỉa hè rộng độ tám tấc, nhưng đã lì xuống bằng với mặt đường, ô tô tha hồ leo lên và người đi bộ rất lắm khi phải nhảy vào nhà người ta để thoát chết.
Lại có vỉa hè mà người đi bộ không được xử dụng, thí dụ vỉa hè Cô Giang tại chợ Cầu Muối. Người đi bộ ở đoạn nầy hễ xuống đường thì bị xe cán, còn lên lề thì bị mấy chị bạn hàng đuổi, vì mấy chị mướn vỉa hè ấy có đóng tiền chỗ đàng hoàng.
Thành ra qua đoạn đường đó y như là qua cầu đoạn trường, lên lề thì đoạn tâm, còn xuống thì đoạn cẳng.
Có lắm vỉa hè công khai dùng làm ga-ra, nói công khai vì xe để trên ấy nằm đó năm nầy qua năm khác mà không sao cả. Thế nên chỉ mướn một căn phố bé nhỏ thôi mà người ta có thể mở ga-ra to là nhờ vậy.
Nói đến vỉa hè không thể không chú ý đến những vỉa hè mức độ khác nhau, khách đang đi bỗng sụp chơn suýt ngã. Ấy, nhà bên nầy xây cao một tấc năm, nhà bên kia chỉ xây một tấc thôi mà. Vì mạnh ai nấy xây vỉa hè nên vỉa hè lại mang đủ màu sắc, có quãng xanh, quãng vàng, quãng xám, và lại kiến thiết bằng đủ cả vật liệu : gạch xi-măng, xi-măng trắng, gạch thẻ, gạch Tàu, nhựa, đá ong. Sợ nhứt là vỉa hè đá ong trên đường Thủ Khoa Huân. Đá ong lổm chổm khiến bộ hành không lọi chân cũng trặc cẳng.
Nếu đô thành tự làm lấy vỉa hè rồi bắt người ta trả tiền thì tình trạng nầy đã không có.
Bình Nguyên Lộc
----------
Hình ảnh đường phố Sài Gòn xưa.

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

MẨU CHUYỆN NHỎ

Truyện tuy đơn giản, không nhiều chi tiết éo le, nhưng khiến người đọc suy tư. Xin giới thiệu với các bạn, một dịch giả tài hoa (và rất quen thuộc vì nổi tiếng từ lâu ở các trang mạng khác) và trang mạng của nhà thơ Phạm Cao Hoàng và các bạn của ông. Không ồn ào nhưng qui tụ nhiều cây bút tài hoa. Tôi cũng thích đọc Lỗ Tấn.
Từ FB bạn Hải Hà


 MẨU CHUYỆN NHỎ 

Dịch và giới thiệu: THÂN TRỌNG SƠN


Lỗ Tấn sinh năm 1881 tại Thiệu Hưng, Chiết Giang, trong một gia đình nho học. Tên thật là Chu Chương Thọ (周樟寿), bút danh đầu tiên là Chu Thụ Nhân (周树人).

Cha mất sớm, có thể là do bệnh lao, sau thời gian chạy chữa thuốc men, tốn kém nhiều vẫn không qua khỏi.
           
Năm 17 tuổi, bà mẹ gởi đi học ở Nam Kinh, trường thuỷ quân, sau chuyển sang trường cầu đường. Nơi đây, LỗTấn được tiếp thu những môn học mới, như vật lý, hoá học, và cả văn học phương Tây. Tốt nghiệp trường này, Lỗ Tấn được cấp học bổng đi Nhật học. Ban đầu, ông học tiếng Nhật, và tiếng Đức, sau hai năm, vào học trường y ở Tiên Đài, ông là sinh viên nước ngoài duy nhất của trường.
             
Năm 1903, bà mẹ gọi ông về gấp vì đau nặng, thực ra là để ép ông cưới vợ, một phụ nữ thất học. Ông đành chấp nhận, nhưng bỏ đi về Nhật ngay sau bốn ngày.
            
Một sự kiện xảy ra trong thời gian này tạo ra một ngả rẽ trong cuộc đời ông. Trong buổi xem chiếu phim về chiến tranh Nga - Nhật, ông nhìn thấy cảnh một người dân Trung Quốc bị trói tay còng chân sắp bị hành hình vì bị cho là làm gián điệp cho Nga, thế mà một số người Trung Quốc lạnh lùng đứng xem. Lỗ Tấn nghiệm ra rằng việc chữa bệnh tinh thần cho người Trung Quốc còn cần kíp hơn chữa cái thân thể suy yếu của họ.” 救国救民需先救思想” (cứu quốc cứu dân nhu tiên cứu tư tưởng). Muốn chữa cho tinh thần được lành mạnh thì ngoài văn nghệ ra không có thuốc gì.
             
Năm 1906, ông bỏ học ngành y và bắt đầu hoạt động văn nghệ. Cùng vài người bạn đồng hương, ông lập ra nhật báo 新生 (Tân sinh) nhưng thất bại. Năm 1908, ông gia nhập Quang phục hội, và  bắt đầu dịch các tác phẩm văn học châu Âu. Sau đó, ông viết các tiểu luận về văn học Trung Quốc, châu Âu, nghiên cứu xã hội, tôn giáo Trung Quốc ...
          
Năm 1909, vì hoàn cảnh gia đình, ông từ chối học bổng đi Đức và về nước.
         
Ông dạy lý hoá ở trường trung học Thiệu Hưng, có thời gian làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Hoạt động dạy học của ông trải dài nhiều năm tại các trường cao đẳng và đại học ở Bắc Kinh và Phúc Kiến.
           
Sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn bắt đầu với truyện ngắn “Nhật ký người điên”, đăng ở tạp chí Tân thanh niên. Lấy tên dựa vào truyện “Nhật ký của một người điên”  (Записки сумасшедшего) của nhà văn Nga Gogol (Николай Васильевич Гоголь), tác phẩm này công kích mạnh mẽ chế độ gia tộc phong kiến và đạo đức lễ giáo cũ Trung Quốc. Nhân vật người điên là người mắc bệnh “bách hại cuồng” trông thấy cái gì cũng tưởng là có người sắp hại mình, qua đó, lên án lịch sử 4000 năm chế độ  phong kiến Trung Quốc là lịch sử ăn thịt người, thực chất của cái gọi là “nhân nghĩa, đạo đức” phong kiến chỉ có mấy chữ “thịt người”.

Qua con mắt người điên, cuộc sống dưới chế độ phong kiến thật là đáng sợ, con người lúc nào cũng nơm nớp đề phòng, người với người là lang sói  “mình thấy rõ trong lời nói của họ có thuốc độc, trong  giọng cười của họ có dao găm. Răng thì nhăn ra trắng hếu. Toàn là bọn ăn thịt người”. Rõ ràng, trong bối cảnh ấy, nhân dân lao động phải chịu đựng một cuộc sống cơ cực về vật chất và tối tăm về tinh thần.

“Nhật ký người điên” nhanh chóng gây tiếng vang, tạo bước ngoặt trong sự nghiệp văn chương của Lỗ Tấn, được xem như sáng tác căn bản của văn học mới Trung Quốc. Đây cũng là lần đầu ông ký bút danh Lỗ Tấn, - Lỗ là họ mẹ.
      
Lỗ Tấn tiếp tục khuynh hướng công kích xã hội phong kiến với một loạt truyện ngắn khác in trong tuyển tập “吶喊”  (Nột hám). Nột hám, nghĩa đen là hò reo, chỉ tiếng hò reo trong hát tuồng. Trong hát tuồng, có những quân lính cầm cờ đi theo ông tướng, gọi là “chạy hiệu”, thường đồng loạt phát ra những tiếng hò reo. Tuyển tập Nột hám, bản tiếng Việt dịch là Gào thét, gồm 14 truyện, trong đó có tác phẩm nổi tiếng “阿Q正传”, “A Q chính truyện”

Khác với Nhật kí người điên,  AQ chính truyện lại là tiếng kêu xé lòng của những người thuộc tầng lớp bần nông dưới xã hội cũ. AQ không có nhà cửa, không ruộng vườn, không nghề nghiệp, không họ hàng thân thích thậm chí không có nổi một cái tên. Quanh năm, ai thuê gì thì làm nấy, Y phải lao động cật lực để nuôi sống bản thân mình. Y quần quật làm thuê mà vẫn không đủ ăn, không đủ mặc, lại bị nhà Cụ Cố nhà họ Triệu bóc lột sức lao động đến tàn tệ, bị mọi người khinh thường thậm chí có lắm khi y còn bị tước cả cái quyền làm thuê. Cuộc đời AQ là một chuỗi ngày đau khổ bất hạnh. Có lẽ chính vì vậy mà y đã tìm ra phép thắng lợi tinh thần để an ủi mình trong những lúc bị bắt nạt, bị đánh đập, bị hành hạ. “Phép thắng lợi tinh thần” là biểu hiện rõ nét của sự đầu hàng, đầu hàng kẻ áp bức mình, đầu hàng số phận, và đầu hàng cả bản thân mình. Truyện đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.
  

Tháng  năm 1924, Lỗ Tấn bắt đầu mắc bệnh lao. Từ 1934 đến 1926, ông viết nhiều tiểu luận, tập hợp lại thành tuyển tập “朝花夕拾” (Triêu hoa tịch thiệp, Hoa ban sáng hái buổi chiều), một tập thơ văn xuôi, “Cỏ dại” (野草, dã thảo), và một tập truyện ngắn khác “Bàng hoàng” (彷徨). Tất cả tác phẩm của giai đoạn này đều nhuốm màu buồn thảm, đôi chút cay đắng, có thể do thất vọng về chính trị, phần nào do việc rạn vỡ quan hệ với em trai. 

Từ 1928 cho đến khi mất,  ông viết tập truyện ngắn “Chuyện cổ viết lại”,  “故事新编”  Cố sự tân biên,  “Lược sử tiểu thuyết Trung Quốc” (中国小说史略), gồm những bài giảng của ông tại Đại học Bắc Kinh, được xem như tác phẩm phê bình văn học chủ yếu của Trung Quốc thế kỷ XX. Cũng thời gian này, ông xuất bản nhiều bản dịch tác phẩm tiếng Nga, nhiều nhất là tác phẩm của Gogol. Năm 1936, bệnh lao khiến ông suy yếu dần và qua đời tháng 10 năm đó.

Trong nền văn học Trung Quốc hiện đại, Lỗ Tấn có một vị trí quan trọng, ông đã góp phần vào việc cách tân các thể loại, từ văn xuôi, thơ, đến dịch thuật, thậm chí cả phê bình.
  ---------------------------
  
Từ khi tôi rời làng quê lên xứ kinh thành thấm thoắt đã sáu năm trôi qua. Trong thời gian này, tôi đã mắt thấy tai nghe đủ thứ chuyện gọi là việc nước việc nhà, nhưng chẳng có việc gì gây cho tôi chút ấn tượng nào. Bây giờ nếu ai hỏi chúng có ảnh hưởng gì không, tôi có thể nói rằng chúng chỉ làm cho tôi thêm bực tức và thiệt tình là khiến tôi ngày càng chán ghét mọi người thôi.

Vậy mà, có một việc nhỏ tôi thấy có ý nghĩa, kéo tôi ra khỏi trạng thái bực tức, khiến tôi không sao quên được mãi đến tận bây giờ.

Chuyện xảy ra vào một ngày mùa đông 1917. Gió bấc rét buốt đang thổi mạnh, tôi vì sinh kế phải dậy sớm đi ra ngoài. Trên đường hiếm thấy có bóng người, khó khăn lắm tôi mới gọi được một xe kéo đưa tôi đến Cửa S - Lúc này, gió đã dịu bớt, quét sạch bụi trên đường, để lại con đường sạch bóng, người phu xe chạy nhanh hơn. Vừa đến gần Cửa S, có người nào đó băng qua đường, vướng vào càng xe và chầm chậm ngã xuống.

Đó là một người đàn bà mái tóc hoa râm, áo quần rách rưới. Bà từ lề đường vụt chạy ngang qua trước cái xe, người phu xe đã cố tránh, nhưng cái áo khoác của bà không cài cúc, phất phơ theo gió, vướng vào càng xe. May mà người phu xe đã vội ngừng kịp, nếu không bà đã ngã nặng và thế nào cũng bị thương.

Bà ta nằm dưới đất, người phu xe dừng lại. Tôi chắc rằng bà già ấy không bị thương tích gì, lại không có ai chứng kiến sự việc xảy ra, nên tôi không bằng lòng lắm thái độ của người phu xe, tự mình chuốc lấy phiền toái, và làm chậm việc của tôi.

“Ổn cả thôi mà” tôi nói, “anh chạy tiếp đi!”
Tuy nhiên, anh ta chẳng để ý gì, có lẽ không nghe thấy. Anh đặt càng xe xuống và nhẹ nhàng giúp bà già ngồi dậy. Đỡ lấy cánh tay bà, anh hỏi:

“Bà không sao chứ?”
“Tôi bị thương rồi.”

Tôi đã nhìn thấy bà ngã xuống chậm thôi, và hẳn là không thể nào bị thương được. Bà làm bộ thế thôi, thật là tồi tệ. Anh phu xe tự chuốc khổ vào thân, giờ thì lãnh đủ. Anh phải tự xoay xở lấy thôi.

Nhưng anh ta chẳng ngần ngại phút nào sau khi bà già nói bà bị thương. Anh dìu bà  chậm rãiđi tới. Tôi rất ngạc nhiên. Nhìn ra phía trước, tôi thấy một đồn cảnh sát. Gặp lúc trời gió lớn, không có ai bên ngoài, anh phu xe giúp bà già tiến gần đến cổng đồn.

Bỗng nhiên, tôi có một cảm giác lạ kỳ. Cái bóng đầy bụi bặm phía sau người phu xe kia chợt cao lớn lên. Và anh càng bước tới lại càng thấy lớn hơn, phải ngước nhìn mới thấy. Cùng lúc đó, có vẻ như anh đang thể hiện một uy lực đối với tôi, khiến lấn át cả cái tôi nhỏ bé dưới lớp áo da.

Sức sống của tôi chừng như ngừng lại, tôi ngồi bất động, đầu óc trống rỗng, cho đến khi người cảnh sát đi ra mới bước khỏi xe.
Người cảnh sát tới gần tôi nói: “Ông gọi xe khác đi. Anh ấy không chạy cho ông được nữa đâu.”

Chẳng nghĩ ngợi gì, tôi vốc trong túi một nắm tiền xu đưa cho người cảnh sát và nói: “Nhờ anh đưa cho anh ấy!”

Gió đã lặng hẳn, con đường vẫn yên tĩnh. Tôi vừa đi vừa suy nghĩ, nhưng hầu như e ngại, không dám nghĩ về mình. Gác lại những gì vừa xảy ra, cái vốc tiền xu đó có ý nghĩa gì? Là tiền thưởng chăng? Có phải tôi phán xét người phu xe? Tôi không thể tự trả lời mình được.

Việc ấy đến nay tôi vẫn còn nhớ mãi. Nó thường khiến tôi ray rứt, cứ cố nghĩ về chính mình. Bao nhiêu chuyện văn chuyện võ tôi đã quên hết sạch, cũng như tất cả sách vở thánh hiền tôi đã học lúc thiếu thời. Vậy mà câu chuyện nhỏ này cứ đọng mãi trong tôi, lúc nào cũng sinh động, dạy cho tôi biết xấu hổ, thúc giục tôi sửa mình, giúp tôi thêm dũng khí và hy vọng.
  
THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
(1/2019)

Nguồn: 
Selected Stories of Lu Hsun
Translated byYang Hsien-yiand Gladys Yang 
http://www.coldbacon.com/writing/luxun-calltoarms.html#Wineshop


Mưa chiều miền Trung

"Miền Trung đất bồi phù sa. Người miền Trung gian khổ từ nhiều đời qua,... Mùa đông mây lững lờ trôi. Trời miền Trung mưa lắm bạn tình ơi...” (Mưa chiều miền Trung - Hồng Xương Long). Những lời ca chân chất, thiết tha này qua tiếng hát ca sĩ Dương Hồng Loan càng gây xúc động cho người nghe, nhất là trong thời gian qua khi thiên tai bão lũ đổ ập lên mảnh đất miền Trung.


------------------------------------------

Rất nhiều người xúc động khi nghe Quốc Linh hát, bởi giọng của em mượt mà, đong đầy cảm xúc không kém gì các ca sĩ chuyên nghiệp như Quang Lê, Quang Linh... . "Nghe cậu bé hát mà thấy mọi hình ảnh của miền Trung ruột thịt cứ hiện dần lên trong nỗi buồn man mác yêu thương dải đất này khó tả..."
Một khán giả tâm sự: "Nghe bé hát hay đến nhói lòng. Giọng hát hay nội dung bài hát cũng quá hay và xúc động. Thương về Miền Trung quá".

Thứ Ba, 22 tháng 1, 2019

Sông Hiền Lương

Cầu Hiền Lương, bắc qua sông Bến Hải, 7 nhịp, dài 178m, nay đã trở thành cây cầu nối những bờ vui, không còn cảnh đêm Nam ngày Bắc suốt 21 năm. An Thuyên viết bản nhạc Sông Hiền Lương: Chiều Hiền Lương như tranh và mây nước trong lành/ Một ngọn khói mong manh /Ai nhen bếp lửa bên bờ tre xanh / Cho tôi nhớ về câu hò năm xưa / Hò ơi, ơ hò ơi / Câu hò ngày xưa bến cách sông ngăn / Xao động lòng tôi đất nước quê hương / Đôi bờ máu đổ, tình em vẫn không phai mờ/ Đôi bờ cách trở, tình em vẫn đợi vẫn chờ...
An Thuyên viết: “Đi trên chiếc cầu mà nước mắt rơi” là tâm trạng rất thật của không ít người khi đi qua chiếc cầu trên dòng sông lịch sử này. Ca khúc này, các ca sĩ Phạm Phương Thảo, Diệu Hương, Vân Khánh, Cẩm Tú thể hiện hết sức da diết, bùi ngùi, gợi nhớ gợi thương một thời.











----------------------

Gửi Sông Hiền Lương (Xuân Diệu)

Sông Hiền ơi, gặp nhau về hai tháng
Đến hôm nay tôi mới nói nên lời,
Lòng hãy còn nghẹn đắng ở trên môi
Thăm hỏi Cửa Tùng, Bến Hải…
Vượt đèo Ngang
Qua sông Gianh tôi vào Đồng Hới,
Qua Truông nhà Hồ
Vào Hộ Xá tôi tới Hiền Lương.
Tôi đến đây đem mến đem thương,
Tôi trở về đem thương đem nhớ.
Xa gì xa bề ngang chiếc đũa!
Chỉ bắc cầu giải yếm cũng vừa sang;
Soi đôi bên mặt anh lẫn mặt nàng,
Xa gì xa trong bàn tay mở!
Lên trên nguồn có bờ đâu nữa;
Xuống dưới biển
cửa sông chỉ vài đòn gánh mà thôi;
.........

Bài ca trên núi

Núi chỉ có hai người yêu nhau




Với kết cấu hàm súc, cô đọng, “Bài ca trên núi” được đánh giá là một bài tình ca hay những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.
Bài hát cực kỳ ngắn gọn: “Bầu trời có sao chiều, sao sớm. Đầu núi kia có hai người, dù đi cùng trời, dù đi khắp núi. Trời chỉ có sao sớm sao chiều, núi chỉ có hai người yêu nhau”.
Đó là toàn bộ lời bài hát. Tất nhiên, người hát có thể hát đi hát lại nhiều lần hoặc lặp lại (reprise) một hai câu nào đó theo ý thích riêng. Bài hát ít lời, cực kỳ hàm súc, cô đọng như thế này chỉ có thể bắt gặp trong kho tàng dân ca (ví như “Cây trúc xinh” hoặc “Hoa thơm bướm lượn”).

Bài hát ra đời trong hoàn cảnh, đạo diễn Mai Lộc mời nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương làm nhạc cho bộ phim truyện “Vợ chồng A Phủ”, chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Tô Hoài. Bộ phim đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng khán giả.
Ngoài hai nhân vật khá thành công, được thể hiện qua diễn xuất của hai nghệ sĩ tài năng (Đức Hoàn vai Mỵ và Trần Phương vai A Phủ), người xem còn không thể quên được một bài hát vang lên trong bộ phim. Đó là “Bài ca trên núi”. Giọng hát ngọt ngào, mượt mà của một ca sĩ thành danh lúc đó đã lôi cuốn người nghe, giúp họ cảm nhận sâu sắc thêm nội dung phim.
Mối tình thắm thiết của đôi trai gái tủi cực, cơ hàn người Mông được khắc họa khá thành công càng khiến người xem cảm động khi bài hát vang lên, đặc biệt ở trong trường đoạn A Phủ và Mỵ cùng bỏ trốn khỏi nhà thống lý Pá Tra, nương náu trong một hang đá. Bài ca là lời hẹn ước son sắt, thủy chung của cặp uyên ương. Mà đã là lời nguyền thì chỉ có thể ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu.
Lối nói của nhạc sĩ cũng là lối nói của người vùng cao: ví von, ám chỉ, giàu biểu cảm. Bầu trời thì có sao chiều, sao sớm, còn đầu núi thì có hai người yêu nhau. Và họ nguyện cùng “đi cùng trời, khắp núi” với nhau. Tha thiết, mãnh liệt và dứt khoát biết bao khi cặp trai gái chỉ thấy có “sao sớm, sao chiều” và “hai người yêu nhau” giữa bầu trời này. Sức sống mạnh mẽ, khát vọng cháy bỏng đòi được tự do, ấm no, hạnh phúc của người dân miền núi trong xã hội cũ - là chủ đề tư tưởng của bộ phim - cũng được thể hiện trọn vẹn trong “Bài ca trên núi”.
Về mặt âm nhạc, tác giả xử lý rất tài tình. Chất liệu dân ca Mông hiện rõ trong bài hát với âm hưởng xa gần ẩn hiện, văng vẳng vang vọng cho ta cảm giác đúng là nghe giọng hát ở trong hang đá, đến tiếng “có” trong câu “trời chỉ có sao sớm sao chiều” âm thanh được vút lên khá đột ngột. Có cảm giác khát vọng trái tim của đôi trai gái mạnh đến mức vượt ra khỏi hang đá chật hẹp, vang vọng giữa bầu trời vô tận, không gì có thể cản ngăn, nén ghìm được.
Giai điệu uyển chuyển, uốn lượn, tiết tấu mang tính ngâm ngợi, kết cấu cực kỳ chặt chẽ, ngắn gọn, lại có những quãng thú vị đã khiến bài hát đầy vẻ lãng mạn được công chúng nhanh chóng ưa thích và thế hệ trẻ xem phim ngày ấy nhớ đến bây giờ./.
Nhạc sĩ Nguyễn Đình San (Báo TNVN)





BÀI CA TRÊN NÚI

Sáng tác: Nguyễn Văn Thương
Lời: Tô Hoài

Hơ hơ….ơ ơ…….hơ hơ….
Đầu trời có sao chiều sao sớm
Đầu núi kia có ớ ơ hai người
Dù đi cùng trời, dù đi khắp núi
Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau

Hơ hơ ơ ớ ơ…. hơ hơ….
Đầu trời có sao chiều sao sớm
Đầu núi kia có ớ ơ hai người
Dù đi cùng trời, dù đi khắp núi
Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau

Hơ… rừng chiều có tiếng khèn ai đó
Khèn hát lên những lời mong chờ
Đường đi về rừng, đường đi xuống núi
Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau
Đường đi về rừng, đường đi xuống núi
Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau