Thứ Hai, 6 tháng 2, 2017

Phi minh túc thực

Đĩa men Phi minh túc thực.

Đây là đồ sứ Trung Hoa vẽ đề tài phổ biến trên các loại đĩa men lam mang ý nghĩa biểu trưng cho sự thăng hoa, sung túc. Đĩa vẽ 5 bức họa, trong đó có 3 bức vẽ đề tài Phi minh túc trực và 2 bức nhỏ vẽ gà hoa. Bức họa chính ở lòng đĩa, chiếm gần hết bề mặt này. Còn 4 bức còn lại ở 4 phía đối xứng ở viền ngoài đĩa, được trang trí khung bằng họa tiết hình học chàm tươi.

Phi minh túc trực vẽ một bầy vịt 5 con bên bờ sông đầy cỏ lau. Đặc biệt, mỗi chú vịt được vẽ trong tư thế khác nhau, con thì đang ngụp lặn tìm thức ăn, con thì ngưỡng cổ lên kêu gọi bạn, con thì chui đầu vào cánh ngủ say, con thì bay liệng trên không, con thì đang nằm nghỉ bên bờ cỏ.

Mới nhìn ta cứ nghĩ rằng đây là những hình vẽ trang trí cho vui mắt, thật ra có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, bày tỏ ước mơ cao đẹp của người xưa. Ý nghĩa này sử dụng theo lối từ đồng âm dị nghĩa của tiếng Hoa thông qua hình ảnh của loài chim.
Chú vịt đang bay dịch theo âm Hán Việt là là “Phi (飛)” có nghĩa là bay lên, biểu tượng cho sự thăng tiến, sự phát đạt. Chim đang hót (kêu), âm Hán Việt đọc là “minh  (鳴)” đồng âm với chữ “minh  (明)” là sáng sủa, tươi sáng, biểu tượng cho tiền đồ quang minh sáng lạn. Chim đang ngủ, âm Hán Việt đọc là “túc (宿)” đồng âm với chữ “túc  (足)” là sung túc, no đủ, biểu tượng cho cuộc sống luôn đầy đủ, giàu có. Chim đang ăn, âm Hán Việt đọc là “thực (食)”, biểu tượng cho sự giàu có, dư ăn dư để. Tổng thể của đề tài “phi, minh, túc, thực (飛, 鳴, 宿, 食)” là cầu chúc cho cuộc sống luôn được no đủ, giàu có, tương lai luôn sáng lạn, thăng hoa phát đạt. Cây hoa mẫu đơn biểu trưng cho sự phú quý.
Bạn hãy chú ý đến bức họa, chi tiết nào cũng rất đẹp và sống động. Cảnh vật bên sông gợi một cảm giác rất thanh bình, êm ả mà ta có thể cảm nhận được làn gió như đang vờn qua những bụi lau, khóm cỏ vậy. Khóm lau mọc bên bờ hay cây mẫu đơn dường như hơi lay động, rung rinh rất nhẹ.
Hình ảnh đàn vịt cũng vậy, mỗi con một vẻ, có thần thái riêng và rất chân thật, chi tiết nhưng đều toát lên vẻ an nhàn, đủ đầy. Con vịt đang bay, đang nằm ngủ hay đang dạo chơi trên bờ đều thể hiện điều ấy, chúng không hề bị điều gì đe dọa, không bận tâm điều gì, một cuộc sống hết sức sung túc, bình yên.

Nhìn kỹ, bạn sẽ nhận ra nét vẽ cây cúc hay khóm lau mọc bên bờ sông vô cùng mềm mại, uyển chuyển làm nổi rõ từng chiếc lá mỏng manh hay gân lá xanh tươi, đầy sức sống.



Bộ Dầm Trà vẽ tích Phi Minh Túc Thực


Đĩa song thụ- thạch trúc


Chiếc đĩa hiệu đề 6 chữ: Đại Minh Thành hóa Niên chế, lối vẽ một nét tơ tóc được các nhà sưu tập đánh giá có niên đại khoảng thời Ung Chính (雍正, Yōngzhèng) (1723-1735) ?

Đề tài vẽ trên có sự kết hợp giữa thi và họa đã bổ sung ý nghĩa cho nhau cũng như tạo vẻ đẹp cân đối hài hòa trên hiện vật.

Trong đó, đôi câu thơ hàm súc tích trong bài cổ cầm nổi tiếng Ngư Tiều Vấn Đáp (Ngư Tiều vấn đáp là một  trong Trung Hoa Thập Đại Danh Khúc):

松 竹 四 时 翠。- Tùng trúc tứ thời thúy
花 開 别 样 红   - Hoa khai biệt dạng hồng

Tùng Trúc bốn mùa xanh biếc
Hoa nở cũng có màu đỏ khác thường
(Trích từ bài cổ cầm Ngư Tiều Vấn Đáp)

Điển tích xưa có câu "Vô tử bất thành tùng”, nghĩa là: tùng mà không có cây tùng con hay đọt tùng mà không tạo hình chữ “tử” thì chẳng gọi là tùng, bởi quân tử ắt có hậu. Cây Tùng là loại cây hay mọc ở những mỏm núi chênh vênh, chịu nhiều sương gió, bão tuyết mà không chết không đổ. Nên cây Tùng nó hiện thân cho đấng trượng phu, đấng anh hùng có ý chí mạnh mẽ.

Bạch Cư Dị trong “Dưỡng trúc ký” có nói:
"Trúc tự hiền, hà tai? Trúc bản cố, cố dĩ thụ đức, quân tử kiến kỳ bản, tắc tư thiện kiến bất bạt giả. Trúc tính trực, trực dĩ lập thân, quân tử kiến kỳ tính, tắc tư trung lập bất ỷ giả. Trúc tâm không, không dĩ thể đạo, quân tử kiến kỳ tâm, tắc tư ứng dụng hư thụ giả. Trúc tiết trinh, trinh dĩ lập chí, quân tử kiến kỳ tiết, tắc tư để lệ danh hạnh, di hiểm nhất trí giả. Phù như thị, cố quân tử nhân đa thụ chi vi đình thực yên.”

Dịch nghĩa.
Trúc cũng như bậc hiền nhân, vì sao vậy? Gốc trúc vững, vững để lập đức, người quân tử trông gốc trúc, thì nghĩ đến việc tạo lập cho mình cái ý chí kiên định không dời. Tính trúc thẳng, thẳng để lập thân, người quân tử thấy tính trúc, thì nghĩ đến sự trung lập thẳng thắn, không thiên lệch. Lòng trúc rỗng không, rỗng không để thể nghiệm lẽ đạo, người quân tử thấy tấm lòng của trúc, thì nghĩ đến việc dùng cái tâm hư không mà dung nạp người. Đốt trúc cứng cỏi, cứng cỏi để lập chí, người quân tử thấy tiết của trúc, thì nghĩ đển việc mài giũa danh hạnh, dù qua khó khăn nguy hiểm vẫn thuỷ chung như nhất. Chính vì như thế, mà bậc quân tử thường trồng trúc đầy quanh sân nhà mình vậy.

Tác giả Trịnh Tiếp (nhà Thanh) có tác phẩm Trúc Thạch:

Giảo định thanh sơn bất phóng tùng,

Lập căn nguyên tại phá nham trung.
Thiên ma vạn kích hoàn kiên kính,
Nhậm nhĩ đông tây nam bắc phong.


Dịch nghĩa:

Bám chặt núi xanh chẳng buông rời,

Gốc mọc bền vững nơi vách xa.
Ngàn đập muôn va vẫn cứng chắc,
Bốn bề gió cuộn mặc thổi qua.

Họ Phạm

BÀN THÊM VỀ HỌ PHẠM
(FB Phạm Lưu Vũ)
Họ Phạm vốn xuất hiện ở Việt Nam từ trước triều đại nhà Mạc rất xa (ví dụ Phạm Ngũ Lão thời nhà Trần...)
Chữ Phạm (范) có nghĩa (đen) là khuôn đúc. Theo truyền thống Phật giáo, Phạm là 1 họ của chư thiên (Phạm Thiên). Ấn độ thời Đức Phật Thích Ca có một dòng tu gọi là Phạm Chí. Dòng Phạm Chí chuyên tu thập thiện để được đầu thai lên cõi trời, nên lấy sẵn họ Trời đặt tên cho dòng tu của mình.

Phạm còn có nghĩa Phạm âm. Là ngôn ngữ chung của mọi chúng sinh. Đức Phật thuyết pháp bằng Phạm âm, tất cả các loài nghe đều hiểu. Không những thế, Phạm âm vi diệu tới mức chúng sinh có căn tính đến đâu, sẽ tiếp thu đến đó. Phật tử thuộc chủng tính nào, sẽ nghe ra pháp của chủng tính đó. Ví dụ người có chủng tính Thanh Văn nghe ra pháp Tứ Đế, người có chủng tính Duyên Giác nghe ra pháp 12 nhân duyên, người có chủng tính Bồ Tát, nghe ra pháp lục độ ba la mật…
Chữ Phạm đậm đặc màu sắc Phật giáo như vậy, cho nên người đầu tiên dùng chữ Phạm làm họ có lẽ là 1 người theo Phật chăng? Nghĩa là họ Phạm có từ rất lâu, ít nhất cũng từ khi đạo Phật truyền sang nước ta.
Sau thời nhà Mạc, xuất hiện thêm một số dòng họ Phạm đổi từ họ Mạc sang để tránh bị triều đình Lê – Trịnh trả thù.
Những người mang họ Mạc đầu tiên nghĩ đến chuyện chuyển sang chữ Phạm, theo tôi có mấy lý do:
1- Chữ Phạm có những ý nghĩa như trên, là một chữ rất lành.
2- Chữ Phạm giữ lại được bộ thảo đầu (艹) của chữ Mạc (莫). Các họ khác cũng có gốc Mạc như họ Phan (蕃); họ Hoàng (黄 ); họ Thái (蔡 )… cũng dùng nguyên tắc này.
3- Họ Phạm vốn đang có sẵn, vì thế rất dễ che giấu lẫn lộn.
4- Phạm còn có nghĩa phạm nhân, phạm tội. Các cụ cũng sẵn sàng tự coi mình là những phạm nhân của chế độ đương thời (cho nên mới phải đổi họ).
Ngoài ra, để nhắc nhở con cháu nhớ đến gốc Mạc của mình, các cụ còn dùng họ kép, nghĩa là thêm 1 chữ nữa, họ có 2 chữ. Như chữ Viết (曰), thành họ Phạm Viết. Chữ Viết là chữ Mạc giữ lại phần giữa, bỏ đi phần đầu và phần cuối. Cụ Phạm Viết Quảng, cận tổ họ Phạm Khắc làng Kinh Thanh lại đổi chữ Viết thành chữ Khắc (克) thành họ Phạm Khắc. Chữ Khắc là chữ Mạc sau khi lược đi 1 nét ở cả 3 bộ.
Các nhà tông tộc học hiện đại hầu như không hiểu điều này, cho rằng nước ta không có họ 2 chữ (họ kép), gọi bừa tuốt tuột chữ thứ 2, thứ 3… trong họ tên con người ta thành “tên đệm”. Thật là 1 sự lười biếng, ngu dốt và vô trách nhiệm.
Làng tôi ngoài họ Phạm Khắc, còn có họ Phạm Văn, họ Phạm Hữu… Phân biệt rõ ràng. Trong đó các chữ “Khắc”; chữ “Văn”; chữ “Hữu” là chữ cấu thành một họ, hoàn toàn không phải “tên đệm”.
------
Các comment trên trang.
Mai Thanh Sơn. Hoàn toàn đồng ý với anh. Hiện tượng họ kép ở Việt Nam khá phổ biến. Tiếc là nhiều khi con cháu của chính những dòng họ đó cũng không hiểu hết nên tùy tiện bỏ một chữ để thay bằng chữ khác mà người ta cho rằng chỉ là tên đệm.

Alex Smith. Bác xem lại sách Đông Chu Liệt quốc sẽ thấy có họ Phạm trước khi có đạo Phật. Họ Phạm là lục khanh nước Tấn, sau bị diệt. Phần lớn họ người Việt lấy theo họ TQ, cũng như người Philippine lấy họ theo người Tây ban nha. Điều này thường xảy ra do ảnh hưởng văn hóa xã hội khi một dân tộc bị nô dịch một thời gian dài hoặc bị ảnh hưởng văn hóa, tương đồng về ngôn ngữ(nếu không tương đồng về ngôn ngữ sẽ như trường hợp người Nhật bởi phải đặt họ 2 chữ các họ như Bản kỳ, Tây hương, Đức xuyên ...). Họ 2 chữ của người Việt là do ý muốn phân chi ngành thành ra đặt thêm họ đệm (không phải tên đệm). Thí dụ: họ Đặng có Đặng Đình, Đặng Xuân, Đặng Văn, Đặng Trần, Đặng Vũ ... đều là cùng 1 tổ là cụ Đặng Hiên. Nhưng, trong cách đặt tên của người Việt cũng có tên đệm, tên lót ... thành ra có tên 4 chữ (không giống tên 4 chữ của nhật nghe) như Phạm Khắc Xuân Mai ... ngày này còn đặt kèm theo họ mẹ nữa thành ra cá biệt có tên 5 chữ: Đặng Vũ Lê Minh Anh ...

Phạm Lưu Vũ. Tôi nói họ Phạm ở nước ta, không nói họ Phạm bên Tàu. Vả lại tôi cũng không khẳng định, mà nói "ít nhất... " Bạn thông thạo tông tộc thế giời như vậy thì cũng nên đọc kĩ trước khi bắt bẻ.

Thường Dương. Các tộc người Việt trước đây theo mẫu hệ, chỉ dùng tên, không dùng họ... Sau chịu ách đô hộ của Trung Quốc, để quản lý hộ tịch, hộ khẩu...họ ghi chép sổ sách, gắn họ cho dân bản địa. Nhiều họ hiện nay vốn là của người gốc Trung Hoa...Mặt khác chuyện chữ nghĩa, ghi chép của người gốc Việt vốn hạn chế nên phả hệ, dòng họ gặp nhiều khó khăn trong nghiên cứu, tìm hiểu.

Phạm Lưu Vũ.  Điều này đúng thời kì sơ khai, nhưng bản thân người Việt sau khi đã "Việt hóa" âm Hán, về sau tất có nhiều vị tổ tự đặt họ cho mình, (tất nhiên cũng học theo chữ Tàu).

Nguyen Duy Quang. Không chỉ có một phần họ Mạc chuyển thành họ Phạm để tránh khủng bố mà trước đó, họ Lý tự chuyển thành họ Mai, họ Bùi, họ Nguyễn...để lánh nạn khi Trần Thủ Độ tuyên bố: nhổ cỏ phải nhổ tận rễ.

Alex Smith. Mượn tút của bác Lưu Vũ Phạm để nói về họ tên, không có ý bắt bẻ các vị đâu nghe nhưng sẵn sàng tranh luận (không tranh cãi) với bạn nào coi tranh luận một sự tôn trọng cao nhất với tri thức.
Về việc đặt tên họ. Đúng như bạn Thường Dương nói, nột số họ bị áp đặt do nhu cầu hộ tịch, một số do làm con nuôi, nô tỳ của quan lại Thời Bắc thuộc nhưng tôi nghĩ (đoán thôi, không có chứng cứ) một phần lớn họ việt là do tự đặt. Vì sao?! Vì lúc đó xã hội Giao Châu đã phát triển khá cao(không còn xã hội mẫu hệ thuần túy, có lạc hầu, lạc tướng, lạc vương ...) nên có khả năng tầng lớp trên tiếp thu các họ Trung hoa, hoặc viết, hoặc đổi họ mình theo họ TH và chọn những họ ná ná như âm Giao chỉ để viết ... và do biến đổi của ngữ âm nên đến nay chưa phát hiện họ nào thuần Việt, trừ các dân tộc thiểu số phía nam như các họ của người Chăm, người Tây Nguyên như Dahma , Ksor ... (các dân tộc thiểu số phía bắc cũng mang họ TH nhưng đọc theo kiểu dt thiểu số để nhấn mạnh vẻ dtts thôi, thí dụ, Lưu Xuân Lý chính là Lù Xéo Lỷ - bác Lý quá đứng đắn nên không chịu đầu cơ tên họ). Tôi nghiêng về khả năng người Việt có họ trước khi rơi vào ách đô hộ của Tàu, có điều chúng ta chưa tìm được dấu tích thôi. Vì sao?! Vì tất cả người Việt đều có họ từ xa xưa. Chưa thấy sắc lệnh nào của các Triều đại yêu cầu phải mang họ. Không như trường hợp Nhật bản, tới tk 19, chỉ có quý tộc, quan lại mới có họ, xã dân không có họ, họ gọi nhau kiểu như anh Tư lò rèn, chị Ba cối xay ...
Về cách đặt họ, hiện tượng phổ biến là lấy tên nghề nghiệp hoặc đất đai làm họ, còn thấy rõ ở họ nước Anh như Schmith (thợ rèn), hay TBN như Cabrrero (chăn dê) ... tên đất như York (Anh), Borbones (Pháp) ... hay họ TH như Trần (nước Trần), Đặng (nước Đặng ) ... thế nên nói họ thuần Việt của người kinh là không còn dấu tích. Tôi không bàn về việc đổi họ do sự kiện lịch sử như Trần đổi thành Đặng, Mạc đổi thành Phạm hay bị buộc phải đổi họ như Lý đổi ra Nguyễn ...

Nguyễn Hồng Hưng. Một số nhân vật trong cổ tích, truyền thuyết Việt đã có họ rồi. Ví dụ như anh Thông họ Lý...ca tên và họ này trước đời Ân (giặc ân) người Việt đã có họ và tên thuần Việt. Còn trước nữa có thể là thời mà tộc Việt chưa di dời xuống vùng miền Bắc Việt Nam hiện nay, mà còn ở quanh hồ Động Đình và núi Ngũ Lĩnh (vùng này hiện nay thuộc Quảng Nam bên tàu) cũng đã có họ liền với tên. Tất nhiên sau này hòa lẫn đông đúc với người Hán và Hán lai bách Việt, Hán lai Giao Chỉ,v.v. Thực ra có thể nói ngược lại người Hán phía Nam lai họ của người Bách Việt được không nhỉ ?

Nguyen-Truong Hoan. Truyền thuyết/ cổ tích đó kể chuyện "trước đời Ân" nhưng quan trọng là người ta sáng tác ra truyền thuyết /cổ tích đó khi nào?

Alex Smith. Các truyền thuyết này chủ yếu được sáng tác vào thời Lý để hình thành nên ý thức dân tộc, con rồng cháu tiên, họ hồng bàng, con cháu 18 đời vua Hùng. Chuyện Thạch Sang, Lý Thông thì còn ra đời muộn hơn nhiều ở phía nam.

Nguyen-Truong Hoan. Cho nên không có cơ sở để nói họ Lý của nhân vật Lý Thônh đã tồn tại từ "trước đời Ân".

Mon Pham. Mình đọc 1 số bài ở trang nghiencuulichsu có viết thời ở phía Nam sông Dương Tử, quanh vùng Lĩnh Ngoại, dân tộc Việt đã có họ. Và họ Hùng với họ Mị là 1 trong những họ cổ của người Việt.

Anh Phan. Ý thức về dòng họ có lẽ xuất hiện trong dân gian chưa lâu lắm. Ngay bá hộ cự phú như họ Hồ Tây sơn đổi thành Nguyễn nhẹ không. Nữa là dân gian!

Pham Terry. Thế Các cụ từ 5 đời trước họ Phạm nhà tôi đều mang tên đệm Phạm Khắc, không hiểu sao đến đời ông nội tôi lại là Phạm Bá.
Cám ơn bài viết của anh.

Tú Trung Hồ. Hồ Quý Ly và Lê Thánh Tông ban cho người Chàm các họ như Phạm, Đinh. (Lười tra nhưng nhớ đâu chừng 5 họ)

Anh Phan. Xưa có công lớn, ncc được (bị) ban cho họ của vua, nhằm hạn chế họ hàng nc công ăn theo nữa
Phong Ba. Tôi họ Phạm nhưng tôi hiểu gốc gác các họ của người Việt nói chung và họ Phạm nói riêng hơi khác các quan điểm trên nhưng tranh luận trong thời buổi dân tộc cực đoan dễ bị lên án nên chọn cách "tọa sơn quan nhân luận" thôi.

Pham Hữu Thành. Họ Phạm ở Việt Nam, đã nối gia phả được rất nhiều. Phần lớn là hậu duệ của Phạm Cự Lượng.

Lại có họ Phạm ở Quảng Nam, gia phả có từ thời nhà Tần. Những người nói, họ của người Việt đặt theo tàu là chẳng biết gì. Nhiều họ có gia phả từ rất xưa. Lịch sử của người Việt còn xưa hơn người tàu. Bọn tàu toàn học lỏm, copy, dốt đặc, nên mới đốt sách để xoá đi chứng cứ. Ngay như kinh dịch hay thuyết âm dương ngũ hành, người tàu không hiểu được, chỉ dùng để bói toán , vì không biết nguyên lý gốc , chỉ có số ít người Việt hiểu.

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Cẩm Giàng - Sông Gấm


Mảnh đất này có cách đây gần bốn trăm năm, trong thư tịch cổ gọi là Cẩm Giang (sông Gấm), rồi sau vì tránh tên huý của chúa Trịnh Giang mà đổi, gọi chệch thành Cẩm Giàng. Phía bắc thị trấn là ngã ba sông, mềm mại nh­­ư dải lụa. Đây là chỗ giao thoa hai vùng văn hoá quan họ Kinh Bắc và vùng văn hoá hào hiệp, khoa cử xứ Đông. Từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 đất này thuộc xã Kim Quan, tổng Kim Quan, huyện Cẩm Giàng.


Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838) lỵ sở huyện Cẩm Giàng từ thôn Trữ La chuyển về khu đất phía đông bắc thôn Kim Quan cùng xã. Thế là  Kim Quan thành danh giá, thành thủ phủ Cẩm Giàng, có  huyện đường đông vui sầm uất. Vì thế, chẳng bao lâu ở cái đất đồng bằng, có ngã ba sông, hình thành phố lẻ, chợ nhỏ, thu hút dân các vùng về đây lập nghiệp. Từ khi có cầu Cẩm Giàng, ga xe lửa thì đất lỵ sở ngày càng có giá, việc đi lại buôn bán càng tấp nập. Khoảng năm 1925 xảy ra  mâu thuẫn về đất cát, quyền lợi của nhân dân và hương lý sở tại, và để giải quyết mâu thuẫn đó, ở đây đã lập ra khu vực hành chính riêng,  tách làng thành phố(tức phố thuộc làng). Cách mạng tháng Tám thành công, nhưng phải đến tháng 4 năm 1946 xã Kim Giang mới được thành lập. Khu phố có huyện lỵ đóng nằm trên địa bàn xã Kim Giang. Hơn chục năm sau, ngày 19 tháng 9 năm 1958 Uỷ ban hành chính liên khu 3 quyết định thành lập thị trấn Cẩm Giàng trên cơ sở phố huyện cũ. Vậy là thị trấn Cẩm Giàng trở thành một trong 19 đơn vị cơ sở hành chính của huyện Cẩm Giàng- một huyện nổi tiếng về hiếu học và khoa bảng.

         

Thị trấn Cẩm Giàng có chiều dài gần một nghìn mét, nằm dọc tuyến đường sắt Hà Nội- Hải Phòng. Dấu hiệu nhận ra cái phố huyện bé nhỏ này là cây cầu sắt dài 35 mét, bắc trên sông Cẩm Giàng từ năm 1901.
Không chỉ  là vựa lúa, là trung tâm kinh tế của huyện, miền đất ấy còn là nơi giao thông thuận lợi, trên bến d­­ưới thuyền, có mối giao thương với các huyện Bình Giang, Mỹ Hào( Hưng Yên), Lang Tài, Gia Bình ( Kinh Bắc). Ga Cẩm Giàng là cái gạch nối giữa Hải Phòng và Hà Nội. Đ­ư­­ờng bộ, đ­­ường sắt, đường thuỷ đi các tỉnh bạn dễ dàng, bán buôn trao đổi với các vùng  tiện lợi, nên dân tứ chiếng về đây lập c­­ư, coi là đất lành cò đậu. Từ đời này qua đời khác, họ sinh sôi nẩy nở, làm ăn buôn bán rồi thành người Cẩm Giàng, chứ chẳng mấy ai quê gốc, trừ rất ít người từ xó lân cận dịch chuyển về. Đất chật, như­­ng thị trấn hội đủ yếu tố thiên nhiên, con ng­­ười và không gian văn hoá, nó tiêu biểu cho cả một vựng quê có truyền thống khoa bảng từ đời xưa.

          Sử sách nước ta còn ghi, năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông có ông Lê Văn Thịnh, người Kinh Bắc đã khai khoa cho sĩ tử nước nhà. Lại đến năm 1086, ông Mạc Hiển Tích, quê Nam Sách là người mở khoa cho cỏc nho sĩ xứ Đông. Phải gần 100 năm sau (năm 1185), ông Bùi Quốc Khái, quê Ngọc Liên là người   mở đầu cho khoa cử trên đất Cẩm Giàng . Ông Khái học  tài, như­ng không chịu đi thi. Khi 44 tuổi mới ra ứng thí, đỗ hội nguyên, làm quan đến chức Đô ngự sử d­ưới thời vua Lý Cao Tông. Khi triều đình đổ nát, gian thần lộng hành, ông treo ấn từ quan, xuất gia đầu Phật, thọ 93 tuổi. Dân chúng thờ ông ở chùa Thiên Niên gần hồ Tây, và đặt bài vị thờ ở đình làng Trinh Sài – Hà Nội.

Khoa thi 1246- Thiên ứng Chính Bình 15, triều Trần có lệ lấy Tam khôi, thì ông Phạm Văn Tuấn, xã Cẩm Vũ đỗ Bảng nhãn. Đây là vị tam khôi đầu tiên ở Xứ Đông  xư­a. Cẩm Giàng có nhiều ngư­ời cùng đỗ trong một khoa thi. Đó là khoa  năm 1484 triều vua Lê Thánh Tông có tới 5 ngư­ời đỗ Hoàng giáp và Tiến sĩ. Ngoài ra chư­­a kể cú khoa thi tới  ba, bốn ngư­ời cùng đỗ. Xã Cẩm Sơn  có 11 vị tiến sĩ, hoặc xã Ngọc Liên có 8 tiến sĩ đều là niềm tự hào của quê hư­ơng.
Theo Văn chỉ Cẩm Giàng, thì từ khoa năm 1185, khi có vị tiến sĩ đầu tiên, cho đến khoa 1754, trải dài 569 năm, qua 44 khoa thi dư­ới các triều đại,  có 59 vị đại khoa, chiếm 1,97% tiến sĩ cả n­ước. Khoa thi 1754, niên hiệu Cảnh H­ưng 15- Lê Hiển Tông, ông Nguyễn Điệu Huyễn, xã Ngọc Liên là ngư­ời đỗ tiến sĩ cuối cùng trên đất Cẩm Giàng.
     Từ năm 1655 ở đây có Văn chỉ, ghi tên các nhà khoa bảng trong  huyện. Năm 1920, trường Kiêm bị là trường học đầu tiên duy nhất thành lập, cho học sinh cả huyện đến học tập.
     Có phải phong thổ Cẩm Giàng đã tạo ra gần sáu chục đại khoa thời trước, trong đó thôn Kim Quan (sau này tách ra thành một phần thuộc đất thị trấn) có 6 tiến sĩ,  để đời sau đã sinh ra tài năng văn học trong một gia đình có ba anh em ruột là các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam? Cả ba người đều là người sáng lập, trụ cột của Tự lực văn đoàn, một tổ chức văn chương nổi tiếng trên văn đàn nước nhà từ những năm ba mươi thế kỷ trước.

Phố huyện Cẩm Giàng.
     Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược nước ta, thực dân Pháp bỏ cấp phủ. Tri phủ  đóng ở huyện nào thì trực tiếp cai trị huyện ấy.
     Cẩm Giang ngày xưa, bây giờ gọi Cẩm Giàng, có một phố huyện nhỏ, lại nghèo cách tỉnh lỵ Hải Dương chừng hơn chục cây số theo đường chim bay, còn về Hà Nội lại tròn bốn mươi cây số. Ở đây có đường đá về tỉnh lỵ Hải Dương, đường về thị trấn Sặt, đường liên tỉnh sang tận Lang Tài , Bắc Ninh lân cận. Vì thế phố huyện tuy nhỏ hẹp nhưng cũng là nơi thông thoáng với ngoài. Đó là chưa kể đầu phố còn có dòng sông, một thời thuyền mắm muối từ xứ Nghệ, Hà Tĩnh lần ra tận đây trao đổi hàng hoá rồi ra đi.. Phố huyện thời ấy lèo tèo mấy căn nhà gạch, còn lại mấy chục căn nhà tranh tre nứa lá nằm sát con đường sắt Hà Nội - Hải Dương. Bốn chung quanh là cánh đồng quê, và xa tít là những luỹ tre xanh ngắt bao bọc lấy làng xóm ngàn đời lam lũ nắng mưa.

Ga Cẩm Giàng là món quà vô giá đối với cái phố huyện nửa cổ nửa kim này. Tuy chỉ là chiếc ga xép, lại bị ép chặt bởi đoạn đường sắt chạy qua, không thể phình ra được… nhưng phố huyện tự hãnh diện vượt lên trước các làng xã xung quanh. Không chỉ tự hào là đất huyện lỵ, là nơi giao lưu buôn bán khu vực, còn là chỗ tụ tập tinh hoa của vùng. Những tin tức, chuyện lạ gần xa khắp nước được ùa vào cái phố nhỏ này thường qua mồm khách đi tàu. Chuyện chính trị, quốc gia, quốc tế theo con tàu mỗi ngày lên xuống Hải Phòng, Hà Nội rồi gửi lại chỉ cần một ít lâu dần cũng thành nhiều. Thành ra có người bảo con gái phố huyện khôn ngoan và thạo giỏi  hơn, đẹp hơn con gái làng khác. Vậy mà ga Cẩm Giàng chỉ lèo tèo vài chiếc quán dựng tạm bợ, hai bên trồng rào găng. Đến mùa, găng chín đỏ hấp dẫn bọn trẻ con nhà nghèo, nhưng chẳng mấy đứa dám ăn, bởi nó có mùi vị hắc đáng sợ. Đêm đêm,  những khi có chuyến tàu ngược xuôi, thì hình như có một bàn tay vô hình đánh thức, phố ga choàng tỉnh dậy  rộn rã ào ạt lên chốc lát. Tiếng bánh xe sắt nghiến đường ray xa dần, thì đêm đen lại lọt thỏm vào cảnh vắng vẻ, buồn thiu.
     Tiếng là huyện lỵ giữa một vùng đồng bằng, nhưng bấy giờ nó chỉ sang hơn làng quê khác nhờ cái chợ và mấy hiệu bán hàng của Hoa kiều, ông hai Phóng, tư Vầy, bà năm Tầu. Cuối phố có lối rẽ  xuống bến đò sông Sen, hai bên xanh biếc những dặng tre. Người đi qua lối này đều ngó vào cổng huyện màu xám, có hai người lính lệ đứng gác như hai con tốt đỏ trong bộ quân tam cúc, nhưng vẫn phảng phất của chút uy quyền của một chính phủ bù nhìn cho Pháp . Những ngày nắng còn đỡ, chỉ cần mưa một ngày đêm, cả phố huyện sũng nước và nhầy nhụa bùn như thể ruộng bừa chuẩn bị cấy. Và cái phổ ga càng ảm đạm, buồn thiu, thấp thoáng vài con người lầm lũi, tan vào các con đường nhỏ, rồi mất hút trong các luỹ tre xanh.
Bài thơ của Nguyễn Duy Huệ, ông giáo về hưu, từng sống những năm trên đất này, tuy mới  chấm phá nhưng vẫn gợi lên nét sinh hoạt khá sinh động nơi phố huyện Cẩm Giàng:
Bạn cũ giờ này sống nơi đâu?
Có còn nhớ buổi  tắm chân cầu
V­ườn chùa hái ổi ai trèo nữa
Lỗ đáo sân ga bỏ đã lâu.


Nhà th­ương ông ký ngồi xem truyện

Ngõ cụt thằng tây huýt sáo mồm
Im bặt sân trư­ờng ông đốc nói
Buồn thiu mẹ ốm đã m­ươi hôm...

Chuồn chuồn bay thấp cơn m­ưa tới
Cá nổi ao nghè lá rụng them
Hành khất quẩn quanh quầy thuốc bắc
Cụ già dắt cháu bư­ớc qua thềm.

Cổng chợ cò cư­a ông xẩm hát
Cửa quan cậu ấm đứng tồng ngồng
Trong nhà cụ chánh lau khăn áo
Tới dự phiên chầu buổi nghị đông.


Chính cái phố huyện bé nhỏ, buồn thiu ấy là nơi chôn rau cắt rốn của một dòng họ mà sau này sinh ra những nhà văn nổi tiếng trên văn đàn nước nhà: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, từng làm trụ cột  Tự Lực văn đoàn những năm 1930 –1945 ở nước
     Nhưng cũng ít người biết những nhà văn ấy nguồn gốc họ Nguyễn Tường. 



Khúc Hà Linh.

Tuổi Thơ Nguyễn Nhược Pháp

Tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp

Hai tuổi mồ côi mẹ, hưởng dương tròn hai Giáp (24 năm), người con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh thật là điển hình của sự bất công tạo hóa.
Thế nhưng tạo hóa đã bù lại, ban cho con người những thiên bẩm, tài hoa đặc biệt. Đó là một trang nam nhi tuấn tú, đa tài, gắn trên bầu trời thi ca nước Việt những ánh sao lung linh - nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp là kết quả mối tình sét đánh giữa học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một người đa tài, đa tình đất Hà thành và cô gái Lạng Sơn, Phan Thị Lựu.
Năm 1913 ông Vĩnh có khách sạn Trung Bắc ở nhà 50 phố Hàng Trống, gần hồ Gươm - Hà Nội… Cô Lựu thường qua lại trọ ở khách sạn, nên quen biết ông Vĩnh. Rồi do duyên số, họ nên vợ nên chồng.
  Khách sạn Trung Bắc nằm trong khuôn viên rộng mấy nghìn mét vuông. Mặt trước quay chính phố Hàng Trống, mặt sau quay ra phố Lý Quốc Sư. Cả hai mặt đều có cổng lớn, bên trong xung quanh có vườn, cây cối xanh tươi và cổ thụ. Giữa khuôn viên này là một biệt thự ba tầng, trang bị hiện đại để làm nhà khách sạn.
Bà Phan Thị Lựu ở tầng hai. Tại mảnh đất thơ mộng này, ngày 12-12-1914, Nguyễn Nhược Pháp ra đời, sau này tên tuổi in đậm trong “Thi nhân Việt Nam”.
Ông Vĩnh đi làm, đến trưa thì nghỉ lại khách sạn với người vợ hai, tối mới về phố Mã Mây với vợ cả và các con. Tưởng thế cũng là yên ổn, nhưng số phận con người đa tài, đa tình lại vướng bận thêm nhiều và không thể dừng ở đó.
Vừa tuổi lên 2 (năm 1916), Nguyễn Nhược Pháp mồ côi mẹ. Khi biết tin ông Vĩnh có thêm một người đàn bà khác, mà là một cô đầm lai đẹp như thiên thần, thì Phan Thị Lựu không làm chủ được tình cảm của mình. Nỗi ghen tuông đã trào lên và bà đã tìm cái chết để giải thoát.
Chập chững những bước chân trên đường đời, Nguyễn Nhược Pháp được bà Đinh Thị Tính - vợ cả ông Vĩnh - mẹ cả đón về nuôi như con đẻ, với một câu thở than: Cái bà Lựu ghen ngược. Người ghen phải là tôi…
Từ đó cho đến lúc lìa đời, suốt 22 năm (1916 - 1938), Nguyễn Nhược Pháp đều sống với những người anh em cùng cha khác mẹ, trong một đại gia đình, thật vui vẻ và nhiều kỷ niệm sâu sắc.
Đọc những trang hồi ức của những người thân trong gia đình phần nói về tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, mới thấy rằng đây là một con người có nhiều phẩm chất cao quý, khi còn ấu thơ. Năm 1923, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã chuyển từ phố Mã Mây về phố Thụy Khuê, trước trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) gần hồ Tây.
Đây là một trong những tài sản lớn của ông F.H Schneider- một người Pháp, vốn là đồng nghiệp làm nhà in, xuất bản báo, vì yêu mến ông Vĩnh đã chuyển nhượng cho trước khi ông này về hưu ở cố quốc.
Nhà ông Vĩnh đông người, nhiều con, lại thêm bạn các con ở tỉnh lẻ về ở nhờ để tiện bề ăn học… vậy mà vẫn rất thoải mái.
Gia sản đất đai của Schneider là một khu đất rộng hơn ba nghìn mét vuông. Trong này có biệt thự hai tầng, có xưởng máy giấy mái vòm, bê tông cốt thép, không cột. Ông Vĩnh sửa lại thành nhà thờ và nhiều phòng để ở. Có mười gian nhà ngang, có bếp, nhà để xe, các phòng cho người nhà sinh hoạt…
Bấy giờ hai người con lớn của bà Vĩnh là Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đang đi học ở nước ngoài. Còn ba người con gái: Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Thị Vân đã lớn, được ở khu biệt thự với bà Vĩnh và một người cô ruột là bà Nguyễn Thị Tý, làm dược sỹ ở nhà thương Phủ Doãn… Nguyễn Nhược Pháp được ở chung với 7 anh chị em còn nhỏ tuổi ở khu nhà ngang.
Trong đó có Nguyễn Thị Mười, Nguyễn Dực, Nguyễn Hồ còn quá nhỏ, không tự lực được trong sinh hoạt, nên có một u già trông nom… Họ sống rất thoải mái, tự do và khép kín, tự quản, dường như người lớn không ai để ý đến…
Buổi sáng hằng ngày, Nhược Pháp cùng anh chị em học chữ nho khoảng nửa giờ do ông tú tài Phùng Năng Tĩnh người Bát Tràng làm gia sư, dạy dỗ. Rồi họ đạp xe đi học trường tư. Mọi sinh hoạt khác như giặt quần áo, cơm nước đã có người lo hết.
Trong số 7 anh em, Nhược Pháp là con bà hai, được coi là anh, mặc dù sinh sau Nguyễn Dương (con mẹ cả) mấy tháng. Thời xưa xã hội coi những người con vợ bé, chỉ là con thêm vợ nhặt. Nhưng nhà ông Vĩnh không hành xử theo lối ấy.
Theo kể lại, Nguyễn Nhược Pháp thông minh, đẹp trai, học giỏi có đầu óc tổ chức, nhiều sáng kiến, làm đầu tầu cho các em trong các hoạt động, sinh hoạt thể thao, vui chơi rất văn hóa. Nhược Pháp có sáng kiến làm một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người cần tránh, ví như những từ ngữ: đếch, bỏ mẹ, bỏ xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói… Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.
Nhược Pháp bày trò tập bơi. Khi thì hồ Tây, khi thì ra ao đình làng Thụy Khuê, lúc đến hồ Trúc Bạch. Bảy anh em đều biết bơi kể cả con gái. Nhược Pháp yêu môn bơi lội nhất. Cho tới những ngày mới bị bệnh, anh vẫn chưa chịu bỏ bơi.
Ngày chủ nhật, Nhược Pháp tổ chức đua xe quanh Hồ Tây, có giải thưởng, thu hút các bạn học cùng tham gia. Lại tổ chức trượt pa-tanh. Ban đầu chơi trên đường Hoàng Hoa Thám, sau đường đua dài đến Quần Ngựa, vòng trở về lối Thụy Khuê… Rồi tổ chức tham quan du lịch bằng xe đạp, quanh Hồ Tây, rồi quanh Hà Nội và đi xa hơn.
Mỗi tuần, cha thường cho các con tiền đi xem chiếu bóng, Nhược Pháp rủ rê mấy anh chị lớn hơn, để dành tiền ấy, làm vốn in báo Tuổi Cười. Nhược Pháp làm chủ nhiệm, Nguyễn Phổ làm chủ bút, Nguyễn Kỳ quản lý nhà in. Báo in thạch, hai màu đỏ và tím.
Mỗi tháng một số, có 16 trang, khổ 15x20 cm. Nội dung tờ báo là thông báo những tin tức gia đình, nêu tên ai học giỏi, phê phán những việc xấu. Lại có trang thể thao, biểu dương kỷ lục mới (trong gia đình), có quảng cáo các buổi diễn kịch, diễn xiếc do anh chị em tổ chức trong nhà. Trang cuối có in thơ của Nhược Pháp sáng tác.
Mỗi số ra 10 tờ, bán 5 xu cho người lớn và các anh chị lớn. Báo phát hành được mấy năm. Sau này lớn lên, Nhược Pháp đã chọn những bài thơ trong báo Tuổi Cười, thành tập thơ Ngày Xanh.
Nhược Pháp còn tổ chức một đội kịch gia đình, mà chính anh viết kịch bản và đạo diễn… Các anh chị em làm diễn viên.
Nhà có xưởng in rộng, họ kê bàn ghế thành sân khấu, tạm dùng câu đối nhà thờ trang trí, lại làm phông màn, chăng điện… nghĩa là như sân khấu thật. Giá vé 5 xu một chỗ ngồi.
Những người lớn trong nhà cũng mua vé và ngồi xem cổ vũ con em mình… Có buổi ông Vĩnh cũng ngồi xem các con diễn, ông thấy lòng tràn ngập niềm vui… Nhược Pháp còn hướng dẫn thành lập đội xiếc, phân vai diễn: Người diễn xiếc xe đạp, người làm ảo thuật, người dậy thú, người thổi kèn.

Nguyễn Nhược Pháp có những thú vui thật giản dị, không giống bất cứ một thiếu gia nào thời bấy giờ. Chăm chỉ học hành, yêu quý mọi người, và biết tự lập. Viết xong một bài thơ, một truyện ngắn, vở kịch… khi có tiền nhuận bút thì rủ một hai em, hay vài bạn bè đi ăn phở xách Nghi Xuân bang thất ở phố Hàng Đàn, giá 5 xu một bát…
Nhược Pháp đã viết được một số vở kịch, và có một ước mơ, là cùng với Phạm Huy Thông, bạn học thời ở Trung học Albert Saraut, tri kỷ văn chương, cùng nhau tổ chức một Đoàn kịch không chuyên, đưa lên sân khấu vở kịch Người học vẽ của mình.

Nhược Pháp như một trang giấy trắng thơm, một bông hoa thanh khiết. Vào những năm cuối đời, trái tim chàng thi sỹ, tác giả bài thơ Chùa Hương đã xôn xang trước một cô gái áo đen, phố Hàng Đẫy, như một lời tỏ tình.
Đó là một tiểu thư, một trong tứ mỹ Hà thành bấy giờ. Hằng ngày đạp xe qua nhà, đứng bên này đường nhìn vào vườn nhà em, ngắm nhìn bóng em thấp thoáng. Rồi hình ảnh cô gái áo đen trong vườn của nhà họ Đỗ ở phố Hàng Đẫy, cứ sống mãi trong tim Nhược Pháp...
Nhược Pháp chưa tường mặt thân mẫu của mình, nhưng được mẹ cả hết lòng yêu thương, như con đẻ. Trước khi nhắm mắt ra đi về cõi vĩnh hằng, bà dặn lại Hãy đặt mộ của tôi nằm bên cạnh Nhược Pháp.
Nguyễn Nhược Pháp sinh ra là hoạt động, cả đến khi nhuốm bệnh vẫn không ngừng ý chí vươn lên vượt qua số mệnh.
Từ 2 tuổi Nhược pháp sống với mẹ cả ở Mã Mây rồi đi học vỡ lòng. 6 năm tiếp theo học phổ thông trường Trí Tri (phố Hàng Đàn và Trung Bắc học hiệu - phố Lý Quốc Sư). 14 tuổi thi đỗ lớp 6 Trường trung học Albert Saraut. 20 tuổi đỗ tú tài phần nhất, 1935 đỗ tú tài phần hai, vào Đại học luật. Nhược Pháp luôn học giỏi, xứng đáng cho các em noi theo.
Từ năm 1930 trở đi, kinh tế gia đình Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu khó khăn trầm trọng. Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi tú tài, thi đại học Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ… để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi tiêu của gia đình cho mình…
Từ sau khi chị Nội đang đi học Luật năm thứ ba mắc bệnh mất (1933), rồi cha mất (1936), chị Vân mất (1938), và tin anh Hải mất trong Nam… Nhược Pháp buồn đau, nhuốm bệnh lao hạch…
Ngày 19-11-1938 ông trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đồn Thủy, hưởng dương 24 tuổi.
Ông để lại ba bức thư. Một bức viết bằng chữ Pháp, cám ơn các thầy thuốc đã hết lòng cứu chữa. Một bức thư vĩnh biệt mẹ cả và gia đình (khi ấy ông Vĩnh mất được hai năm).
Một bức gửi cho người anh là nhà thơ Nguyễn Giang, với tâm nguyện, hãy chăm sóc mẹ cả và các em nhỏ tốt hơn nữa.
Ban đầu, thi hài Nhược Pháp được mai táng ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai Động, Hà Nội, sau được bốc mộ về làng Phượng Dực, quê cha.


KHÚC HÀ LINH
--------------

Tứ đại mỹ nhân Hà Thành xưa.