Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

TUỔI SÁU MƯƠI

Lớp 10A (1966-1969), Toán đặc biệt Hải Hưng
ông Đào Minh Tân, ngồi hàng đầu, bìa phải.

Cuộc đời bây giờ, nhìn đâu cũng thấy con người và mobile. Con người hiện đại lúc nào cũng đang trò chuyện với ai đó. Chỉ trừ trò chuyện với mình là họ bỏ qua. Tất cả quan tâm dồn vào cả đôi tay. Mà chữ nghĩa bây giờ gọi là: Văn hóa trên hai bàn tay.
Họ quan hệ rất rộng và sẵn sàng kết bạn với những người mới quen. Nhưng bạn cũ thì họ vô tình lảng tránh.
…
Thế hệ chúng tôi không là vậy, ông Đào, người trẻ nhất trong lớp Toán đặc biệt tỉnh Hải Hưng (1966-1969), ngày 1, tháng Mười một (2012), bạn tôi nghỉ hưu. Xưa học cùng, bạn nhỏ nhắn, dáng cậu học trò. Sau 1975, về lại ĐH Bách khoa, học tiếp Toán tin. Ra trường dạy Năng khiếu Tin học Hải Dương, nhiều giải Quốc gia, “Vua biết mặt, Chúa biết tên”, được bạn bè, đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh nể trọng.
  
Thường nhật, gặp nhau tôi vẫn trêu đùa.

“Răng muốn trắng, lại đen 
Tóc cần đen lại bạc 
Chức quyền chẳng chịu cao
Chỉ toàn cao huyết áp.” 

Nay thấy bạn vui. 
Sáu mươi là tuổi thành tài
Được con bổ nhiệm, chăm vài nhân viên

Ngày 30, tháng Mười, Gmail bạn viết.

“Chào bác 
      Tôi vẫn thường xuyên ghé thăm ngôi nhà tinh thần của bác. Hôm nay tôi vừa được cơ quan tổ chức liên hoan chia tay để về nghỉ. Tâm trạng như của bác cách đây vài tháng, rất xúc động trước tình cảm anh em dành cho mình. Tôi cũng có vài lời tâm sự với anh em trong cơ quan và đọc một bài thơ do một anh bạn thời cùng đi bộ đội gửi cho, gửi để bác đọc cho vui…”

Mong các Bạn xuống nhà chơi, rồi vui:

Cứ gọi mày, xưng tao
Như cái hồi đi học 
Dù nhôm nhoam màu tóc
Dù hói nửa mái đầu 
Dù ông nội, ông ngoại 
Kính lão lóa mắt nhau.

 Đăng bài thơ vui, Bạn gửi. 

      
             TUỔI SÁU MƯƠI
         Thời gian nào có đợi ai
Cuộc đời bước ngắn, bước dài tới nơi
        Sáu mươi là tuổi ăn chơi
Sáng, trưa, chiều, tối hết ngồi lại đi
        Sáu mươi là tuổi dậy thì
Rất yêu bác sỹ, bảo gì cũng nghe
        Sáu mươi tuổi, thích bạn bè
Liền anh, liền chị, buôn lê đường dài
        Sáu mươi là tuổi thành tài
Được con bổ nhiệm, chăm vài nhân viên
        Sáu mươi là tuổi thần tiên
Quên ăn, quên uống, khỏi phiền cháu con
        Sáu mươi là tuổi trăng tròn
Con tim loạn nhịp, mạch còn vữa xơ
        Sáu mươi là tuổi mộng mơ
Đêm đêm thao thức, nằm chờ bình minh
        Sáu mươi là tuổi ái tình
Mắt nhìn đắm đuối, một hình thành hai
        Sáu mươi tuổi, giọt sương mai
Nâng niu đừng để phí hoài tuổi xuân
        Sáu mươi là tuổi dừng chân
Quay đầu nhìn lại, xem gần hay xa
        Ngắm nhìn lại quãng đường qua
Đâu là khổ ải, đâu là hiển vinh
        Bằng lòng với số phận mình
Sống vui, sống khoẻ, biết mình, biết ta.
        Sáu mươi tuổi vẫn chưa già
Nếp nhăn trên trán ấy là sợi yêu
        Tơ hồng khoé mắt hơi nhiều
Đó là biểu hiện tình yêu mặn mà.
                         ***
      
     Sáu mươi là tuổi dậy thì
     Bảy mươi chập chững bước đi vào đời
     Tám mươi là tuổi ăn chơi
     Chín mươi là tuổi lên đời, đổi xe.  

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Quan thư


Ngày 28, tháng Mười, sinh nhật Võ nương. Bão Sơn Tinh trực chỉ miền Trung, rồi loanh quanh, dạo khắp bờ Đông hải, ghé về quê. Bữa tối cơm đèn đợi gió. Con trai, cháu nội ngoại gọi về rối rít, con rể đội mưa qua nhà, chúc mừng mẹ.

Suốt đêm nước sa, gió rít. Mười bông quỳnh đã hẹn, nở trong mưa bão. Sáng nay,  mưa tạnh bão tan, ta đốt trầm, nghe Chú Đại Bi đón ngày Rằm tháng Chín. Chép đăng lại bài Kinh Thi  do Khổng tử san định, tặng Võ nương. Định viết bài từ bữa qua, sáng mải dọn nhà, nhặt lá, thau sân, bây giờ mới toại.


Quan Thư 1.
關雎一
關關雎鳩,
在河之洲。
窈窕淑女,
君子好逑。

Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.
Tản Đà dịch.
Quan quan cái con thư cưu,
Con sống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.
Dịch nghĩa.
Đôi chim thư cưu hót họa nghe quan quan,
Ở trên cồn bên sông.
Người thục nữ u nhàn,
Phải là lứa tốt của bực quân tử (vua).

Chú giải của Chu Hy.
Chương này thuộc thể hứng.
quan quan 關 關: tiếng chim trống chim mái ứng họa nhau.
thư cưu 雎 鳩: loài chim nước, lại có một tên nữa là vương thư, hình dạng giống như chim phù y, ngay trong khoảng Trường giang và sông Hoài thì có chim ấy. Chim này sống có đôi nhất định mà không hề lẫn lộn. Hai con thường lội chung mà không lả lơi, cho nên sách của Mao công có nói rằng: Đôi chim thư cưu tình ý chí thiết khăn vó đậm đà, nhưng lúc nào cũng giữ gìn cách biệt. Sách "Liệt nữ truyện" cho là người ta chưa từng thấy chim thư cưu sống dư cặp hay sống lẻ loi, là vì tính của nó như thế. Hà, tên thông dụng của những dòng nước chảy ở phương bắc.
châu 洲: cồn đất ở giữa sông có thể ở được.
yểu điệu 窈宨 : là ý u nhàn, u tích yên lặng và nhàn nhã.
thục 淑: hiền lành.
nữ 女: con gái chưa gả chồng, nói nàng Thái Tự, vợ vua Văn vương, lúc còn ở nhà với cha mẹ.
quân tử 君子: chỉ vua Văn vương.
hảo 好: đẹp lành.
cầu 逑: đôi lứa.
Sách của Mao công nói chí là rất, tình ý rất tha thiết đậm đà.
hứng: là trước nói một vật gì để sau dẫn đến lời ca vịnh.
Vua Văn vương nhà Chu sinh có thánh đức, lại được bậc thánh nữ họ Tự để kết hôn. Nhưng người trong cung, lúc nàng Thái Tự mới đến, thấy nàng có đức hạnh u tịch, nhàn nhã và trinh chuyên, bèn làm bài thơ này rằng: Kìa đôi chim thư cưu nghe hót quan quan, đang ứng họa nhau ở trên cồn bên sông. Người thục nữ yểu điệu này há không phải là bạn lứa tốt của bậc quân tử Văn vương hay sao? Có ý nói nàng Thái Tự và vua Văn vương cùng hòa vui mà cung kính lẫn nhau, cũng như tình chí thiết đậm đà mà lúc nào cũng giữ gìn cách biệt của đôi chim thư cưu vậy.
Về sau hễ nói hứng thì ý văn cũng phỏng theo chương này.
Ông Khuông Hành nhà Hán nói rằng: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu, là nói rằng nàng Thái Tự rất mực trinh thục không thay tiết tháo. Những rung cảm về tình dục không hề lẫn vào nghi dung, những ý vui riêng không hề lộ ra cử chỉ, có được như thế rồi mới có thể phối hợp với bậc chí tôn và làm chủ tế tông miếu. Vì đó là đầu mối của cương thường và của nền vương hóa. Giảng Kinh Thi như thế đáng gọi là người khéo nói vậy.

Quan thư 2.

關雎二

參差荇菜、 
左右流之。 
窈宨淑女、 
寤寐求之。 
求之不得、 
寤寐思服。 
悠哉悠哉、 
輾轉反側。


Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mị cầu chi.

Cầu chi bất đắc,
Ngụ mị tư phục
du tai! du tai!
Triển chuyển phản trắc.


Dịch thơ.

So le rau hạnh lơ thơ
Hái theo dòng nước ven bờ đôi bên
U nhàn thục nữ chính chuyên
Nhớ khi thức ngủ triền miên chẳng rời.
Nếu cầu mà chẳng được người
Khi mơ khi tỉnh bồi hồi nhớ thương
Xa xôi trông nhớ đêm trường
Chiếc thân trằn trọc trên giường nào yên
.

Chú giải của Chu Hy.

Chương này thuộc thể hứng.
sâm si 參差: dáng dài ngắn không đồng đều nhau 
hạnh 荇: rau tiếp dư, rễ mọc ở đáy nước, lá màu đỏ tía hình tròn, đường kính hơn một tấc, nổi trên mặt nước. hoặc tả hoặc hữu, vô định không thường, khi bên trái khi bên mặt lưu, thuận theo dòng nước mà hái lấy. hoặc ngộ hoặc mỵ, không lúc nào là không, khi thức khi ngủ đều nhớ đến nàng. 
bặc 服: nhớ. 
du 悠: dài, xa xôi; triển 輾: lăn nửa vòng; chuyển 轉: lăn trọn vòng; phản 反: lăn qua lăn lại; trắc 側: lăn nghiêng; đều là nói nằm không yên giấc. 
Chương này nói vào lúc chưa cầu được nàng Thái Tự: rau hạnh cọng ngắn cọng dài không đều kia, phải thuận theo dòng nước sang bên tả sang bên hữu mà hái. Người thục nữ yểu điệu ấy, khi thức khi ngủ vua không quên lo cầu cho được nàng, vì nàng ấy với đức hạnh ấy trên đời không thường có vậy. Nếu cầu nàng mà không được thì không có ai phối hợp với vua để thành việc nội trị hoàn mỹ. Cho nên vua lo nghĩ sâu xa không xiết đến thế ấy.


Quan thư 3.

關雎三

參差荇菜、
左右采之。
窈宨淑女、
琴瑟友之。

參差荇菜、
左右芼之。
窈宨淑女、
鍾鼓樂之。

Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi.

Sâm si hạnh thái,
tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ.
Chung cổ lạc chi.

Dịch thơ.

Vắn dài rau hạnh bên sông,
Kiếm tìm mà hái theo dòng đôi bên.
Được người thục nữ chính chuyên,
Mến nàng, cầm sắt đánh lên vang dầy. 
Bên sông rau hạnh vắn dài,
Đem về nấu chín mà bầy hai bên.
Được người thục nữ chính chuyên,
Để nàng vui thích, vang rền trống chuông.

Chú giải của Chu Hy.

Chương này thuộc thể hứng.
thể (thái) 菜: chọn mà hái lấy 
mạo 芼: nấu chín mà dâng lên 
cầm 琴: cây đàn 5 hoặc 7 dây; sắt 瑟: đàn 25 dây, đều là loại đàn dây tơ, loại nhạc khí nhỏ
vĩ (hữu)
友: ý thân ái. 
chung 鍾: cái chuông, loại nhạc khí bằng đồng. 
cổ 鼓: cái trống, loại nhạc khí to bằng da. 
nhạo 樂: ý rất thuận hòa vui vẻ. 
Chương này nói vào lúc tìm được nàng: rau hạnh cọng ngắn cọng dài không đều kia, phải chọn hái rồi nấu luộc mà dâng lên. Người thục nữ yểu điệu ấy đã cầu được rồi, phải thân ái để làm cho nàng vui, vì rằng người ấy với đức hạnh ấy trên đời không thường có vậy. Hôm nay mà cầu được nàng, thì đã được người để phối hợp với vua thành việc nội trị. Cho nên tỏ ý vui mừng tôn kính không xiết như thế vậy. 
Thiên Quan thư có 3 chương, 1 chương 4 câu và 2 chương 8 câu. 
Khổng tử nói rằng: “Thiên Quan thư vui mà không dâm, buồn mà không thương tâm”. Tôi cho rằng: “Lời ấy đối với thơ Quan thư này đúng với sự đoan chính của tính tình và sự điều hòa của thanh khí. Vì rằng đức hạnh như chim thư cưu, tình chí thiết đậm đà mà vẫn giữ gìn cách biệt, thì sự đoan chính về tính tình của bà Hậu phi Thái Tự hẳn đã có thể nhận thấy được một phần rồi. Đến việc thức ngủ lăn qua trở lại, đánh đàn cầm đàn sắt, khua chuông đánh trống, niềm vui buồn đã tột bực và đều không quá khuôn khổ phép tắc, thì sự đoan chính về tính tình của người làm thơ ấy lại có thể nhận thấy được cả toàn thể rồi vậy. Riêng sự điều hòa về thanh khí thì không thể nghe được. Tuy là đáng hận, nhưng học giả hãy thưởng thức nghĩa lý ở trong lời thơ ấy để bồi dưỡng tâm tính, thì cũng có thể nắm được căn bản của việc học Kinh Thi vậy." 
Khuông Hành nói rằng: “Phối hợp thành vợ chồng là mối đầu của việc phồn sinh của dân chúng, là nguồn cội của vạn phúc. Nghi lễ của hôn nhân được chính đáng thì về sau phẩm vật thỏa thuận và thiên mệnh mới hoàn toàn. 
Mạnh tử đã khảo luận Kinh Thi, lấy thiên Quan thư làm đầu, ý nói rằng trên hơn hết là bực cha mẹ dân, đức hạnh của bà Hậu phi phu nhân nếu chẳng ngang bằng với trời đất, thì không lấy gì mà thờ phụng thần linh để điều hòa sự thích nghi của vạn vật. Từ đời trước trở lại, việc hưng phế của ba đời Hạ, Thương, Chu chưa có bao giờ không do ở đấy vậy.


Quan thư hữu cảm (Chu Hy - 朱熹, Trung Quốc)
觀書有感

半畝方塘一鑑開,
天光雲影共徘徊。
問渠那得清如許,
為有源頭活水來。

Bán mẫu phương đường nhất giám khai, 
Thiên quang vân ảnh cộng bồi hồi. 
Vấn cừ na đắc thanh như hứa? 
Vị hữu nguyên đầu hoạt thuỷ lai.
Dịch thơ.
Nửa mẫu đầm vuông một tấm gương
Bồi hồi mây rỡn ánh trời quang
Hỏi sao đầm nước trong như thế? 
Vì ở đầu nguồn nước vẫn buông.

*****
楸下觀書 (Hoàng Đức Lương - 黃德梁- Việt Nam)
開卷深愔下, 
容光照自明。 
靜中心易動, 
落葉作秋聲。


Thu hạ quan thư

Khai quyển thâm âm hạ
Dung quang chiếu tự minh
Tĩnh trung tâm dị động
Lạc diệp tác thu thanh

Dưới bóng cây đọc sách
Dung mạo ánh sáng soi
Cảnh im, lòng dễ động
Lá rụng: tiếng thu rơi.

*****
vanthekt.


Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

西游记-天竺少女 Thiên Trúc Thiếu Nữ

Bách Tính Đích Sự Nhi Khiên Trước Tẩu - 百 姓 的 事 儿 牵 着 走



 百姓的事儿牵着走
(康 熙 微 服 私 访 记 片 尾 曲)
.
春 发 芽 夏 抽 穗
秋 天 满 地 花
东 西 事 南 北事
事 事 谁 当 家
出 了 宫 进 了 殿
忠 奸 明 眼 辩 忠 奸 明 眼 辩
入 了 乡 遂 了 愿
百 姓 才 是
百 姓 才 是 头 上 天
金 瓦 金 銮 殿 皇 上 看 不 见
一 朝 出 了 武 门 口 一 个 名 字 两 只 手
今 晚 金 銮 殿 皇 上 不 坐 殿
一 朝 出 了 京 门 口
百 姓 的 事 儿 牵 着 走 牵 着 走
三 皇 五 帝
千 秋 百 代
万 事 民 为 先

BÁCH TÍNH ĐÍCH SỰ NHI KHIÊN TRƯỚC TẨU
(Khang Hy vi phục tư phỏng ký phiến vĩ khúc)
.
Xuân phát nha Hạ trừu huệ
Thu thiên mãn địa hoa
Đông Tây sự, Nam Bắc sự
Sự sự thuỳ đương gia
Xuất liễu cung tiến liễu điện
Trung gian minh nhãn biện trung gian minh nhãn biện
Nhập liễu hương trục liễu nguyện
Bách tính tài thị
Bách tính tài thị đầu thượng thiên
Kim ngõa Kim loan điện Hoàng thượng khán bất kiến
Nhất vãn Kim loan điện Hoàng thượng bất tọa điện
Nhất triêu xuất liễu kinh môn khẩu
Bách tính đích sự nhi khiên trước tẩu khiên trước tẩu
Tam Hoàng Ngũ Đế
Thiên thu bách đại
Vạn sự dân vị tiên.
.
Dịch nghĩa:
Việc của trăm họ đem lên hàng đầu
(Ghi lại chuyện Khang Hy mặc thường phục tự điều tra, khúc cuối)


Xuân đâm chồi, Hạ trổ bông
Trời Thu khắp mặt đất đầy hoa
Đông Tây có việc, Nam Bắc có việc
Việc việc ai đảm đương
Ra khỏi cung, không vào điện
Người trung kẻ gian nhìn thấy rõ ràng, người trung kẻ gian nhìn thấy rõ ràng
Đến thôn quê thỏa lòng mong mõi
Trăm họ vừa thấy
Trăm họ vừa thấy người đứng đầu
Ngói vàng Kim Loan điện Hoàng thượng thấy không nhìn
Một buổi Kim Loan điện Hoàng thương cũng không ngồi
Người đứng đầu triều đình xuất kinh ra ngoài
Việc của trăm họ đem lên hàng đầu, đem lên hàng đầu
Tam Hoàng Ngũ Đế
Ngàn năm trăm đời
Mọi việc vì dân trước nhất.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Am ni cô


AM NI CÔ


Mã Bảo Sơn



Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô.

Trong am ni cô có hai ni cô, ni cô già năm mươi tuổi là sư phụ, ni cô trẻ mười sáu tuổi là đệ tử. Hai thầy trò ngày nào cũng làm bài tụng kinh và tiếp nhận đồ lễ của vài khách hành hương. Họ sống những ngày dài trong tiếng chuông buổi sớm và tiếng mõ ban chiều.

Trước am là một dòng sông, bên bờ sông có một mái nhà tranh, trước nhà tranh là một vạt ruộng vườn mới vỡ hoang. Một cặp vợ chồng trẻ, mủa xuân gieo cấy, mùa thu gặt hái trên thửa ruộng mảnh vườn. Ngày tháng cứ vui vẽ trôi đi trong tiếng nói tiếng cười của đôi vợ chồng.

Ở nơi vắng vẻ nến sáng lửa xanh, ni cô trẻ làm bài thường bị tiếng nói cười vui vẻ bay trên cánh đồng gây xáo trộn tâm tư. Cô thầm nghĩ, cuộc sống chồng cày ruộng, vợ dệt cửi thật là hạnh phúc.

Ni cô trẻ thường ra sông kiếm nước, nên hay gập đôi vợ chồng trẻ cày cấy ở ruộng. Lâu dần họ quen nhau, ngày mưa ngày gió, anh nông dân trẻ còn giúp ni cô gánh nước lên chùa. Một hôm, ni cô trẻ lại ra bờ sông kiếm nước, đôi vợ chồng trẻ cũng đang nghỉ giải lao ở bờ sông. Thế là có một cuộc nói chuyện thú vị.

Anh nông dân hỏi:
- Hàng ngày chú tiểu làm gì trong chùa?

Ni cô đáp:
Làm bài, tu đạo, cầu kiếp sau ...

Anh nông dân lại hỏi:
- Cầu nhân duyên mỹ mãn phải không?

Ni cô lại trả lời:
- Người tu hành thanh tâm, ít ham muốn.

- Cầu quan to lộc đầy phải không?

-Tăng ni kiêng cấm, danh lợi mờ nhạt.

- Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chăng?

- Cửa Phật coi trọng yên tĩnh thanh thản...

Anh nông dân cả cười:
- Phải chăng chú tiểu còn cầu mong kiếp sau lại được làm chú tiểu?

Trong mắt ni cô trẻ càng mơ màng, mờ mịt. Cô nhìn am ni cô vắng vẻ dưới núi, thở dài thầm nghĩ: "Mình tu tâm dưỡng tính, nếu kiếp sau còn làm chú tiểu thì hôm nay còn cần cầu gì nữa?"

Ni cô trẻ khe khẽ lau giọt lệ trong vắt trên hai má, gánh nước về am. Trên bờ sông, cuộc đối thoại của hai vợ chồng vẫn còn tiếp tục, chỉ có điều tăng mùi vị trêu ghẹo.

Anh hỏi vợ:
- Nếu có kiếp sau thật, em cầu gì?

Chị đáp:
- Anh đoán xem ...

- Cầu quan to lộc đầy phải không?

Chị lắc đầu.
- Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chứ?

Chị vừa lắc đầu vừa xua tay. Anh "ồ" một tiếng:
- Anh hiểu rồi, chắc chắn là em cầu kiếp sau làm một ni cô trẻ thanh tịnh ...

Chị giơ nắm tay nhỏ đấm lên ngực anh, nói:
- Bậy nào, bậy nào, anh bậy quá ...

Anh chộp luôn tay chị, hỏi dồn:
- Vậy rốt cuộc em cầu gì nào?

Chị đỏ ửng mặt, đáp:
- Không cần quan to, chẳng cần giàu sang, chỉ cầu kiếp sau nhân duyên tốt lành, chỉ cầu kiếp sau lại làm vợ anh!

Cuộc đối thoại trên bờ sông và cuộc vui đùa của đôi vợ chồng bên bờ sông đã làm xao động trái tim xuân của ni cô trẻ, tới mức cô cứ bần thần háo hức, không còn lòng dạ nào ngồi yên làm bài, không còn chăm chỉ tu đạo. Ni cô già nhận thấy học trò của mình đã hết duyên nơi cửa Phật, liền đưa cô ra khỏi am.

Ni cô trẻ bơ vơ không nơi nương tựa, tạm dừng chân trong gia đình anh nông dân nhà tranh vách nứa bên sông.

Ni cô trẻ không còn là ni cô nữa, vợ chồng anh nông dân liền gọi cô là Tiểu Nê.

Cùng vợ chồng anh nông dân trẻ, Tiểu Nê mặt trời mọc ra đồng, mặt trời lặn về nghỉ, cơm nhạt, trà thô của nhà nông khiến Tiểu Nê càng khỏe càng đẹp ra, mái tóc xanh mượt mà dần dần mọc trên đầu khiến cô trở thành một người thật xinh đẹp.

Người phụ nữ đã hoàn tục, thì có tính tình của người thường. Người phụ nữ có tính tình của người thường sẽ dễ dàng tạo ra những chuyện của con người bình thường. Mà chuyện của con người ta thì cứ na ná như nhau. Câu chuyện và chi tiết tầm thường đến mức không chịu nổi, xin miễn kể ra tỉ mỉ ở đây. Tóm lại như thế này: Có một hôm, ông mặt trời tỏa nắng rực rỡ xuống trái đất, con chi trên cây cũng hót líu lo vui tai. Chị chủ nhà đi chợ mua muối về, vừa bước vào trong ngôi nhà tranh đã kêu giãy nảy lên một tiếng, tiếp theo là tiếng khóc kéo dài. Tiếng khóc cứ bám riết lấy bước chân của người đàn bà như đang nổi cơn điên, loạng chà loạng choạng chạy ra bờ sông. Chị định nhảy xuống sông thì nước sông lại cạn. Chị lảo đà lảo đảo leo lên vách núi định nhảy xuống, song vách núi không cao, Sau đó, chị bỏ chạy vào am ni cô dưới chân núi.

Ở nơi vắng vẻ nến sáng lửa xanh, ni cô già sống những ngày hết sức tĩnh mịch, rất muốn biết người đàn bà đang đứng trước mặt mình có hy vọng gì đối với kiếp này và kiếp sau:
- Xin hỏi nữ thí chủ, chịu ở tạm thời hay ở lâu dài trong am nhỏ này?

Chị đáp:
- Ở lâu dài, xin thầy thu nhận con làm đệ tử, thưa thầy!

Ni cô già lại hỏi:
- Chị vào cửa Phật cầu quan to lộc đầy phải không?

Chị lắc đầu. Ni cô già lại hỏi:"Cầu vinh hoa phú quý chứ?" Chị vẫn lắc đầu.

- Vậy cầu kiếp sau có được nhân duyên mỹ mãn chăng?"

Lời ni cô già chưa dứt, thì nước mắt đau đớn của chị đã tuôn trào ...

Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô. Trong am có hai ni cô, một ni cô già một ni cô trẻ mới đến, ngày nào họ cũng làm bài, tụng kinh, cầu kiếp sau ...