Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Bác Đông A. Ảnh thì đẹp mà lời bình rất tuyệt.

Tịch liêu
Tịch liêu
cũng là niềm vui thú
chiều thu
Thu thâm

Không nhà
chỉ mùa thu đậm thôi
Hoàng hôn trên núi
         
Tịch dương vô hạn hảo
Lý Thương Ẩn
     
Cảnh ở đây không phải là Lạc Du, cũng không phải là bình nguyên, toàn là núi, nhưng tôi lại nhớ tới câu thơ của Lý Nghĩa Sơn. Câu thơ rất ngắn và đẹp. Một đêm ngủ trên núi, lạnh lẽo và hoang vu. Tiếc là không được ngắm bình minh trên núi, vì sáng sương mù dày đặc, cách nhau vài mét là đã không nhìn thấy nhau. Nghĩa Sơn lên Lạc Du vì "ý bất thích", lại thấy tiếc tịch dương sao mà ngắn thế, vừa mới chớm đã bị hoàng hôn nhấn chìm. Thật khó diễn tả được thế nào là tịch dương. Chút ánh sáng cuối cùng của ngày, như chợt bừng lên trong khoảnh khắc rồi chìm trong màn sương lam giăng khắp. Tịch dương đẹp vô cùng hay tịch dương vô cùng đẹp?

Núi gấm

Tấm gấm lá đỏ
của mùa thu
Đường y
Chút nắng vàng thu
Chút nắng vàng thu se nhẹ
Chiều nay,
cũng bỏ ta rồi
Thảo Phương
... Có những con người, họ luôn luôn biến đổi, và lúc nào đấy ta bỗng nhận ra cái không thay đỏi ở họ là sự thay đổi để phù hợp với một tinh thần nào đó, như của thời đại mà Milan Kundera đã từng nói tới.
 
Cánh đồng
Ruộng của anh
ruộng của tôi
cùng xanh cả

Bài haiku này được cho rằng đã thể hiện hoàn cảnh của chính Issa. Issa không có ruộng đất. Mãi đến khi 53 tuổi, ông mới có thửa ruộng của mình. Cái cảm giác được sở hữu đó không làm tách biệt màu xanh như nhau của đồng ruộng. Song bài haiku không giới hạn chật hẹp trong ý tứ đó. Tôi nhớ tới bài thơ trong sách giáo khoa lớp một mà tôi đã từng được học: "Lũy tre xanh xanh / Làng tôi làng anh / Cùng giống nhau nhỉ / Có mái nhà tranh / Có người cày cấy / Nuôi tôi và anh". Mấy chục năm rồi tôi vẫn còn nhớ những câu thơ như vậy. Cánh đồng lúa ở đâu cũng giống nhau, đẹp và gợi nhiều cảm xúc, như là ký ức, như là thân quen, cả khi còn xanh, lẫn khi đã chín.
 
Bao giờ?
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoát thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta?
Quang Dũng

Một tộc người đang được cho là "kỳ lạ"?

Không đông nhưng mắn
1. Tôi từng biết nước mình có tộc người Rục qua các bút ký của Nguyễn Quang Vinh năm 2006. Sau đó nhiều "giật tít câu view" "người Rục" trên báo chí và truyền thông và gần đây tôi suy nghĩ nhiều hơn về: "người Rục đang đói".
Xin nói một điều.
Xưa ấy, loạt bài về "Người Rục định canh định cư", "trồng lúa nước" như người Kinh là
"thông tấn". Có bài phóng viên "cò" với chiêu thức: cho người Rục màn chống muỗi thì họ mang đi đơm cá ở suối. Rồi là cắt đuôi bò của chính phủ cho để nhắm rượu, như là người thành phố về nông thôn, nhìn cái gì cũng có thể bình cho cười vui "hiểu biết", chỉ là lá cải.
Vừa qua Ông Dương Minh Long nói, vào bản Rục đang mùa đói, lũ: "... đi nhưng cơ khổ, người Rục chẳng ai biết chèo  đò. Họ hú họa trên rừng, vắt vẻo trên hốc đá quen rồi, với họ mái chèo là một dụng cụ gần như trừu tượng, một sản vật văn minh khó học hỏi. Không hiểu vì sao?
"
                                                             
Quay lại hang chụp "sắp đặt": Rời hang đá

Thiển nghĩ, cụ Đồ Chiểu xưa, không dùng
savon của Pháp, lội bộ khắp Nam kỳ lục tỉnh chứ không thèm đi đường bộ, đó là ý chí.
Tôi bây giờ, ngủ vẫn không thể đeo tất chân được, nếp cha mẹ quê vùng "chiêm khê mùa thối", có bao giờ biết đến cái "vớ" ấy đâu. Thường nhật, vẫn thích ăn mắm cáy cùng rau muống với dưa cà, thói quê khó sửa.  Đó là tập quán.
Vậy người Rục ra sao, khi mới 50 năm qua họ theo nền văn minh đa số, trong khi đó để chuyển đổi, một hơi thở của xã hội loài người cũng qua hàng thế kỷ. 

                                                                              
Làm lúa nước như xã viên "hợp tác"
Xem các ảnh  về tộc người Rục thời nay, thấy ít bóng dáng đàn ông, sao vậy? Nhận quà thì là nữ rồi, cho ăn ảnh, cho thỏa hiếu kỳ; còn cấy lúa thì ai, cũng họ. Khó khăn là cho con bú, ai thay! và còn là bữa ăn nữa chứ. Đàn ông thì săn bắn, thú rừng đâu còn; đẵn gỗ thì rừng lại xa, đâu cần, đã có nhà làm sẵn; sửa nhà ư, ở hang lâu rồi, đâu biết ..., nên ảnh hiếm thấy đàn ông người Rục. Sao mà phụ nữ Rục khổ vậy, như người vợ vùng thôn quê nước Thái.
                                                    

                                      
Phải chăng ta đã
đưa người Rục khỏi môi trường lâu đời của họ chưa đúng cách.

                                         
Đường vào làng Rục thăm thẳm xa.
Băng qua rừng non và khoảnh đất buồn.
Nhà nước có nhiều hoạch định và chăm lo cho ngươi Rục, cũng là muốn một cộng đồng đều hòa hơn về đời sống, như nhiều quốc gia khác. Không xa,  ở nước Úc, khi chọn thủ đô: Cái tên "Canberra" được lấy từ tiếng thổ dân Ngunnawal, có nghĩa là "nơi gặp mặt". Năm 1967, cuộc trưng cầu dân ý được hơn 90% người đi bầu ủng hộ việc cho phép chính quyền liên bang thông qua luật bảo vệ thổ dân và tính họ vào cuộc điều tra dân số. Ở México, người da đỏ bản địa là những cư dân đầu tiên, do vậy các ngôn ngữ của họ được chính phủ México công nhận là ngôn ngữ quốc gia và được bảo vệ. Nhưng sao ta chưa làm được hiệu quả cho tộc người bé nhỏ này, phải chăng là chưa bài bản, nên có ai đó nói: "người Rục ăn sắn là phải". Bài học nước Nga, vùng "Sông Đông êm đềm" bị tàn phá đến từng gia đình qua nội chiến, mà sau này không bù đắp, không nghĩ về họ để góp phần đến tan hoang "Liên bang" huyền thoại ấy. Rồi với "nắm cơm, quả cà", người Quỳnh Lưu cũng không thể rời làng lập "đại công trường" lâu được.

Em trông em cho mẹ em đi bừa
Về người Rục, "Cái nhìn của mỗi cá nhân, dù cho bất kỳ ai cũng luôn chủ quan nhưng bản chất của sự kiện là khách quan, cần đánh giá nhiều chiều. Các nhà sử học mà còn có quan điểm khác nhau một trời một vực nhưng điểm giống nhau là phải tôn trọng lịch sử và sự thật. Khi chúng ta ngần ngại không dám nhìn thẳng vào quá khứ thì khó mà có bản lĩnh tự tin bước vào tương lai." (Quang Đông)
...                           
2. Theo tiếng dân tộc Chứt (bao gồm nhóm người Rục) ở Quảng Bình, Rục có nghĩa là nơi nước lặn xuống đất để chảy ngầm dưới đất hoặc nước từ ngầm nổi lên trên.
Nhóm người Rục được phát hiện muộn nhất (năm 1959) ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa và đến năm 2004 có 85 hộ với 428 nhân khẩu và cũng là nhóm nhỏ nhất so với toàn bộ các nhóm dân tộc khác trên đất nước Việt Nam.
              

Bữa ăn của người già
Để trồng lúa khô hoặc ngô thì người đứng đầu bản phải mơ thấy thần linh cho làm có kết quả thì họ mới làm, nếu không thì họ phải vào rừng kiếm thức ăn bằng cách đào củ mài, củ ráy. Các loại rau xanh chủ yếu từ nguồn măng tre nứa và các loại rau rừng. Nguồn thịt cung cấp cho bữa ăn một phần rất lớn được thu thập từ việc săn, bẫy thú nhỏ, bắt cá, cua, ếch, nhái, lấy mật ong.
                                                 
leo cây "ăn ong"
là nghề tổ vậy
Nhà cửa thì rất đơn giản, thường bằng tre hoặc cây gỗ nhỏ và lợp lá cây nên chỉ tồn tại được vài năm.

Quần áo của nhóm người này được tự đan lấy bằng sợi của vỏ cây sui, loài cây có nhựa mủ độc nhưng vỏ có nhiều sợi.

Người Chứt có quan hệ vợ chồng bền vững. Lễ cưới được tổ chức bên nhà gái trước lễ đón dâu. Lễ vật trong đám cưới ngoài lợn, gà, luôn phải có thịt khỉ sấy khô.

Người Rục sống rải rác, rất hoang dã trong các thung lũng và núi đá ở núi Ma Ma, họ vẫn muốn từ chối sự giúp đỡ về nhà cửa, trường học, y tế, gia súc của chính quyền.
                              

Bếp "tái định cư"
Việc ma chay của người Chứt đơn giản, chỉ cúng bái, rồi đưa người chết đi chôn. Mộ được đắp thành nấm đất, không có nhà mồ bên trên. Sau 3 ngày, tộc trưởng làm lễ gọi hồn cho người chết về ngụ tại bàn thờ tổ tiên ở nhà tộc trưởng, từ đó người thân không chăm sóc mộ nữa.


Người Chứt tin có ma rừng, ma suối, ma không trung, ma bếp...  họ tin có Thần nông bảo vệ mùa màng và là vị thần tối cao.



"Tam đại đồng"... sàng
Người Chứt có làn điệu dân ca Kà-tưm, Kà-lềnh. Nhạc cụ có khèn bè, đàn ống lồ ô loại cho nam và loại cho nữ, sáo 6 lỗ... Dân tộc Chứt có vốn truyện cổ và văn nghệ dân gian phong phú, gồm nhiều đề tài khác nhau.


Và các nhà văn hoá học xem đây là một đối tượng cần phải gìn giữ như một di sản phi vật thể của dân tộc.





                   
3. Chuẩn thoát đói của Việt Nam mà Nông lương thế giới nói là chuẩn gạo. Không ai lấy sắn ra làm chuẩn thoát đói. Và Việt Nam là cường quốc xuất khẩu lúa gạo mà người Rục đói gạo là rất lạ.
                 

Bữa ăn của em đây

Mẹ em cấy lúa "chăng dây"

"Em ngồi, em mơ , một ngày có cơm ..."

Em mặc áo hoa ...
  ...
cho anh chụp ảnh.

Mẹ ới mẹ ơi!
                                                  trời trưa vừa tròn bóng.

Em đi vác gỗ ... rừng xa



Em đi học. Ảnh Báo GDTĐ

Giúp mẹ em

Người Rục nhớ rừng

"Bữa cơm thường trong bản Rục"

Ngồi buồn nhớ lại hang xưa ...

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

NHỮNG CÂU THƠ ĐAU ĐẾN THẮT LÒNG

Nhớ các bạn xưa

Gửi Bằng Lăng _Yến Yến và các bạn cùng thời.
                    

Tôi yêu Thời hoa đỏ vì màu hoa rực rỡ. Hoa phượng bây giờ có lắm "tông màu": trắng, vàng, tím … của thời hoa "hội nhập", nhưng trong tôi chỉ có hình ảnh hoa phượng đỏ xưa. 

Bài thơ này tôi được đọc trong những năm chiến tranh chống Mỹ, nhà thơ đã nói hộ chúng tôi: những người trai với nỗi nhớ Hải Phòng, "Nơi cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ", nỗi nhớ cháy bỏng về một thời tuyệt đep.
                

... Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
...
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê một thời thiếu nữ
...
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi ...
     

Tôi nhớ về thành phố Hải Phòng phù hoa, xô bồ thời tạm chiếm, nhớ về màu xanh liễu bên hồ Tam bạc, đường Cầu Đất, Lạc Viên, với nỗi nhớ thủy chung như bằng lăng hoa tím đến dại khờ của thời hoa niên ấy.
Bài thơ Thời hoa đỏ được nhạc sĩ Đình Bảng phổ nhạc đã trở thành khúc đồng hành kỳ diệu theo suốt chúng tôi trên nẻo đường chiến trận, lúc nào cũng dịu dàng say mê và đằm thắm đến tận cùng.
              
 ... Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết
                 
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say ...


Cảm ơn nhà thơ_ Người thợ Thanh Tùng 
                                



TA CÒN BỎ QUA NHỮNG THỨ GÌ NỮA TRONG ĐỜI ?

Joshua Bell
Một trong những nghệ sĩ vĩ cầm đương đại lừng danh nhất thế giới, Joshua Bell, chỉ kiếm được vỏn vẹn... 32,17 USD khi chơi vĩ cầm trong một ga tàu điện ngầm ở Washington.
Trong suốt 45 phút, Bell đã biểu diễn sáu tiểu phẩm của Fritz Kreisler, Bach, Franz Schubert, Jules Massenet, Manuel Ponce trên chiếc đàn vĩ cầm do chính Antonio Stradivari chế tác năm 1713 (Bell đã mua với giá 3,5 triệu USD).
1.070 khách bộ hành đã lướt qua anh, chỉ 27 người vừa đi vừa ném tiền, và vỏn vẹn một phụ nữ nhận ra Joshua Bell, nghệ sĩ mà giá vé cho mỗi buổi hòa nhạc khoảng 100 USD!
Đây là kết quả một thử nghiệm của các nhà báo The Washington Post. Theo đề nghị của các tác giả cuộc thử nghiệm, Bell phải ăn mặc thật bình thường (quần jean, áo thun thể thao, mũ kết có logo đội Washington Nationals) và chơi đàn trong giờ cao điểm (7g45).
Nơi biểu diễn là ga L'Enfant Plaza, có nhiều tòa nhà các bộ của liên bang. Những nhà thử nghiệm muốn chắc khán thính giả của anh sẽ là tầng lớp trung lưu: khách đi metro giờ đó tại ga này chỉ có thể là các công chức, nhà phân tích ngân sách, chuyên gia dự án, nhà tư vấn, kế toán viên...
Một nhà báo The Washington Post sẽ bí mật ghi hình phản ứng của những người qua đường. Với những khách dừng lại nghe hoặc ném tiền vào chiếc hộp đàn của Bell, một nhà báo khác sẽ phỏng vấn khi họ ra khỏi ga.
Các tác giả cuộc thử nghiệm lúc đầu tưởng rằng tại Washington, một trong những đô thị phát triển nhất nước Mỹ về nhạc giao hưởng, Bell có thể thu hút một lượng lớn khán thính giả đến nỗi họ có thể phải nhờ cảnh sát can thiệp.
Vậy mà kết quả cuộc thử nghiệm làm chính Bell bối rối. Đa số những người đi qua thậm chí không thèm ngoái đầu nhìn anh, như anh không hiện hữu vậy. Một phụ nữ đánh giày tại ga để ý Bell chỉ vì “anh ta chơi nhạc quá to, nhưng do anh ta khá dễ thương nên đây là lần đầu tiên tôi không gọi cảnh sát khi có ai đó làm ồn” - bà này kể lại.
Và chỉ có một “nhân vật văn hóa” - như các nhà báo Washington Post gọi - một người đàn ông hói đầu tên Picarello làm việc tại bưu điện. Picarello lớn lên ở New York, am hiểu nhạc cổ điển vì ông từng học và mơ trở thành nghệ sĩ vĩ cầm, nhưng từ bỏ ước mơ này năm 18 tuổi.
Dẫu vậy, Picarello tiếp tục nghe nhạc cổ điển nên khi đi ngang ga sáng ấy, ông nhận ra ngay ngón đàn tuyệt vời của nghệ sĩ. Ông dừng lại tới chín phút để thưởng thức (nhưng không biết đó là Joshua Bell) và hào phóng ném vào hộp đàn 5 USD.
Còn người duy nhất nhận ra Bell là Stacy Furukawa. Furukawa làm việc tại Bộ Thương mại, không am hiểu về nhạc cổ điển như Picarello nhưng ba tuần trước cô có đi nghe Bell biểu diễn nên phát hiện Bell ngay. Furukawa đã bỏ vào hộp đàn của Bell 20 USD và tự giới thiệu mình khi Bell ngưng đàn.
Các tác giả cuộc thử nghiệm chỉ muốn biết liệu cái đẹp có vượt qua được sự tầm thường của tình huống và thời điểm không thuận lợi hay không?
Tác giả Gene Weingarten kết luận trong bài báo trên tờ The Washington Post (8-4-2007).
“Nếu trong đời mình chúng ta không thể dừng lại trong khoảnh khắc để lắng nghe một trong những nghệ sĩ lừng danh nhất trên Trái đất chơi những giai điệu hay nhất từng được viết, nếu cuộc sống hiện đại quá chế ngự ta khiến ta trở nên mù điếc trước những thứ như thế, thì ta còn bỏ qua những thứ gì nữa trong đời?”.
DUY VĂN
(Theo Washington Post)

Joshua Bell playing Ave Maria.

                 

ĐÒ LÈN

thơ Nguyễn Duy


Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế                                                                                                               

bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!
                                   
    
9-1982

                     

                       
Tôi đi lính lâu không về quê ngoại/ dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi/ khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!
Câu thơ giản dị nhất, đau xót nhất, cho ta nhiều day dứt nhất: Khi tôi biết thương bà thì đã muộn là tất cả linh hồn của bài thơ. Và tôi coi Đò Lèn là bài thơ hay nhất, mang đậm phong cách thơ Nguyễn Duy.